1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx

27 796 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 251,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM TÓM TẮT Đặt vấn đề: Một quan tâm lớn của nhiều người dân “sống chung với lũ” là chăm sóc trẻ an toàn.. Một số thống

Trang 1

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN

VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Một quan tâm lớn của nhiều người dân “sống chung với lũ” là chăm sóc trẻ

an toàn Một số thống kê cho thấy rằng chết đuối ở trẻ em là một vấn đề xã hội đang gia tăng

trong khi mức độ của vấn đề và nguyên nhân của nó vẫn chưa được rõ

Mục tiêu: (1) Xác định kiến thức, thái độ và thực hành ở các cộng đồng ở vung đồng

bằng sông Mekong về sự an toàn của trẻ trong mùa lũ và (2) Xác định đặc tính dịch tễ của trẻ

chết đuối dưới 10 tuổi

Phương pháp: Đây là mộ t cuộc điều tra cắt ngang kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng, được tiến hành trong hai xã có tỉ lệ chết đuối cao Các ca chết đuối cũng được điều tra để mô tả các đặc điểm dịch tễ Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 100 hộ gia đình để phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi đã soạn sẵn và một nhóm 15 hộ gia đình được phỏng vấn sâu Ủy ban phòng chống lụt bão của xã và huyện cũng được phỏng vấn sâu về chết đuối của trẻ và các

giải pháp Số liệu được phân tích trên phần mềm thống kê Epi 2000

Kết quả: 71% trẻ chết đuối là dưới 3 tuổi trong đó 65% là bé trai và 35% bé gái

Nguyên nhân phổ biến nhất đưa đến chết đuối ở trẻ là “sự bất cẩn” (81%) trong chăm sóc trẻ

Trang 2

và nguyên nhân phổ biến thứ hai la “trẻ bơi mà không có sự giám sát” (7,8%) 74% hộ gia

đình có bận tâm lớn nhất là trẻ chết đuối

Kết luận: “Sự bất cẩn” trong chăm sóc trẻ là nguyên nhân quan trọng nhất trong chết

đuối của trẻ Kết quả nghiên cứu gợi ý nhận thức của người trưởng thành về các nguy cơ trẻ

chết đuối còn thấp và thiếu các biện pháp dự phòng hiệu quả

ABSTRACT

Background: A big problem concerned many people “living together with flood” is the

safety and care of children Several local reports show that drowning in children is a matter of

growing concern whereas the extent of the problem and its causes remains unclear

Objectives: (1) To identify the knowledge, attitude and practice in Mekong delta communities regarding the safety of children during flood, (2) To identify epidemiological characteristics of drowning children under ten years old

Methods: It was a cross-sectional survey that combined the qualitative and quantitative

methods The survey was carried out in two communes with high drowning rate Data of childhood drowning cases in each community were investigated for descriptive epidemiology

In each commune, randomly selected 100 households were interviewed by the prepared KAP questionnaire and a group of 15 households was in-depth- interviewed Members of Flooding

Mitigating Committee of communes and districts were also in-depth interviewed on Results:

71% of drowned children were under 3 years old 65% of them were male and 35 % female The most common reason led to be drowned was “carelessness” (81%) and the second reason

Trang 3

was “swimming without supervision” (7.8%) 74% of the households had the greatest concern about children’s drowning

Conclusions: Adults’carelessness appears to be the most important cause of childhood

drowning This finding suggests that the adults’ perception about their children’s drowning risks was low There is a lack of effectively preventive measures

Ackowlegement: We would like to thank the WHO sponsored this study

Many thanks to colleagues and Chau Thanh and Chau Phu District committees for

support

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mùa lũ xảy ra hàng năm thường bắt

đầu từ tháng 8 đến tháng 12 ở đồng bằng

sông Mekong Lũ thường gây thiệt hại to lớn

về con người, tài sản và vụ mùa.Theo Ủy ban

phòng chống thảm họa thiên tai của tiểu vùng

sông Mekong có hàng trăm người chết trong

năm 2000 và 2001 Tỉnh An Giang, năm

2000, có 134 người chết, trong đó có 94 trẻ;

năm 2001 có 134 người chết, trong đó có 104

trẻ do hậu quả của hai cơn lũ liên tiếp xảy ra

trong tỉnh(1) Điều này không chỉ xảy ở An

Giang mà cũng ghi nhận tương tự cho các tỉnh khác ở vùng sông Mekong

Chết đuối trẻ em không chỉ gây ra thiệt hại con người và đau khổ không thể

lắng cho cộng động, đặc biệt khi mùa lũ đến Mặc dù hệ thống truyền thông đưa tin

về chết đuối như một sự cảnh báo và chính quyền của các địa phương kêu gọi mọi người chú ý chăm sóc trẻ trong mùa lũ, nhưng thực tế tỉ lệ chết đuối ở vùng đông bằng sông Mekong vẫn được ghi nhận rất

Trang 4

cao Tuy nhiên, không có nghiên cứu về

chết đuổi ở trẻ em ở vùng này Vì thế,

chúng tôi tiến hành một cuộc điều tra về

kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) để

tìm hiểu nguyên nhân và biện pháp dự

phòng chết đuối ở trẻ em trong vùng lũ ở

đồng bằng sông Mekong, nhằm giúp người

dân hiểu được tình trạng chết đuối trong

cộng đồng và tìm ra các biện pháp dự

phòng thích hợp

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm

hiểu KAP trong các cộng đồng vùng đồng

bằng sông Mekong về sự an toàn của trẻ

trong mùa lũ Các mục tiêu cụ thể như sau:

Xác định đặc tính dịch tễ của các ca chết đuối

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là một nghiên cứu cắt ngang kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính

và định lượng Nghiên cứu này được tiến hành trong 2 xã có tỉ lệ chết đuối cao- xã Phú Hữu tỉnh Đồng Tháp và xã Thạnh Mỹ Tây, tỉnh An Giang từ tháng 10-12 năm 2003

Cỡ mẫu được tính theo công thức sau: n=4 pq / d2 (d = 0,1: độ chính xác tuyệt đối, với d cố định; tích pq đạt cực đại khi p= 0,5, q=0,5; thay vào công thức trên ta có cỡ mẫu

n = 100)

Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 100 hộ gia đình để phỏng vấn KAP và một nhóm 15 hộ gia đình được phỏng vấn sâu và một số

Trang 5

trường hợp chết đuối điển hình Thêm vào

đó, phỏng vấn sâu một nhóm thành viên của

Ủy ban Phòng Chống Bão Lụt xã và huyện

về chết đuối và các giải pháp phòng chống

Số liệu được phân tích với phần

mềm Epi 2000 Kết quả bao gồm tỉ lệ KAP,

đặc tính dịch tễ của ca chết đuối và những

thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn

sâu dùng để giải thích nguyên nhân của

chết đuối và đề nghị các giải pháp

KẾT QUẢ

Nghiên cứu định tính

Bảng1: Đặc điểm kinh tế- xã hội của

mẫu nghiên cứu

Đặc điểm

Tần suất

(n=2 00)

(n=2 00)

Trang 6

Đặc điểm

Tần suất

(n=2 00)

(n=2 00)

21

10,5

Nông dân

170

8

5

N ghề

Trang 7

Đặc điểm

Tần suất

(n=2 00)

(n=2 00)

hộ gia đình sống trong nhà lợp bằng tre gỗ và

Trang 8

( n=200 )

( n=200 )

Trang 9

( n=200 )

( n=200 )

Trang 10

( n=200 )

Tờ bướm, tờ rơi

( n=200 )

ỉ lệ

%)

Đưa trẻ đến nhà giữ trẻ

6,9

Thông báo về chết đuối

2

Sơ cứu chết đuối

2,3

,3

Trang 11

( n=200 )

( n=200 )

Trang 12

( n=200 )

Dốc nước ra rồi hô hấp

tỉ lệ nhỏ không nhớ nội dung thông tin

Trong số 200 người được phỏng vấn,

¼ cho rằng họ biết hồi sức cấp cứu Thực tế, chỉ có 12,3 % người biết hô hấp nhân tạo, 36

% biết cách dốc cho nước chảy ra ngoài, 49,2

% biết dốc nước và hô hấp nhân tạo

Bảng 3: Thái độ của dân vùng lũ về

tình trạng trẻ chết đuối

Trang 13

Thái độ

T

ần suất

( n=200)

( n=200)

Trang 14

Thái độ

T

ần suất

( n=200)

( n=200)

Trang 15

Thái độ

T

ần suất

( n=200)

( n=200)

Trang 16

Bảng 3 cho thấy thái độ người dân về

tình trạng chết đuối của trẻ em Gần 2/3 hộ

gia đình cho trẻ em chết đuối là nghiêm

trọng, gần 1/3 cho rằng mức độ vừa phải Nói

cách khác, hầu hết gia đình cho rằng chết

đuối ở trẻ em là vấn đề cần được quan tâm

Tuy nhiên, 7,5 % không quan tâm tới tình

trạng này Hơn ½ hộ gia đình cho rằng quan

tâm của chính quyền địa phương là không tốt

(59%), vừa phải (22 %), tốt (19 %)

Gần 95 % hộ gia đình đồng ý rằng

không biết bơi là nguyên nhân chính của chết

đuối và dạy cho trẻ biết bơi là cần thiết Hầu

hết các gia đình báo cáo rằng người dạy bơi

cho trẻ là các thành viên trong gia đình Gần

70 % hộ gia đình mong có sự giúp đỡ từ cộng

ỉ lệ (%)

Trang 17

Thực hành

T

ần suất

ỉ lệ (%)

Ở nhà không có người

coi

1.5

ỉ lệ (%)

Nghiên cứu định lượng

Bảng 5: Đặc tính dịch tễ của 52 ca

chết đuối ở huyên Châu Thành và Châu Phú 2002-2003

Trang 18

iới

34,6

11.5

28.9

30,8

uổi

9,6

9,6

9,6

80,8

Bơi không có giám sát

4

7,8

một mình

2

3,8

sinh

2

3,8

dẫn đến chết đuối

3,8

Trang 19

Nguồn: Số liệu từ Chau Thanh &

Chau Phu District

Bảng 5 cho thấy hơn 80% ca chết

đuối là trẻ dưới 5 tuổi, trong đó hơn 70% là

trẻ dưới 3 tuổi Trẻ trai có tỉ lệ cao hơn nữ

Lý do chính đưa đến chết đuối được ghi nhận

là do bất cẩn và trẻ bơi mà không có người

giám sát

BÀN LUẬN

Kiến thức

“Bất cẩn” của người giữ trẻ được xem

như nguyên nhân quan trọng nhất của chết

đuối ở trẻ em Được xem là “ bất cẩn” khi

người giữ trẻ không trông chừng trẻ một cách

liên tục Hậu quả là trẻ đi khỏi tầm nhìn và và

rơi xuống nước xung quanh nhà và chết đuối

Một số ví dụ minh họa như sau:

“ M là một trẻ trai 2 tuổi, ngủ với mẹ

M thức dậy trong khi mẹ vẫn còn ngủ Em

chơi một mình và rơi xuống nước ở dưới nhà

và chết”

“Bà mẹ N vừa làm và vừa trông chừng trẻ nhưng bà ta quên chú ý đôi phút, hậu quả con của bà tự chơi và rớt xuống nước”

“Bà nội trông trẻ và cảm thấy buồn ngủ Bà ta buộc trẻ với một cái khăn mặt Sau

đó, khăn tuột ra vì trẻ cố gắng bò đi xa, và rồi trẻ rơi xuống nước và chết

“Ở các gia đình nghèo, đứa lớn trông đứa nhỏ, nhưng đưa lớn thường thích chơi và

để đứa nhỏ một mình Đứa nhỏ đi vòng vòng

và té xuống nước

“Có gia đình nghĩ rằng hàng rào xung quanh nhà đủ an toàn để bảo vệ trẻ không bị chết đuối khi chơi trong nhà mà không cần ba

mẹ trông coi Nhưng khi cả nhà đang ngủ, đứa trẻ phá rào ra ngoài và rơi xuống nước

Trang 20

76 % hộ gia đình nhận được thông tin

về chết đuối Điều đó có nghĩa là tỉ lệ phủ

chưa đủ cho toàn cộng đồng Những hộ này

là những hộ có tivi hay/và radio Thêm vào

đó, họ thường là sống gần loa phát thanh

thường được đặt ở trung tâm xã Các hộ

không có tivi/radio nghèo hơn và sống ở

những làng xa mà tiếp cận của họ đối với

phương tiện truyền thông rất hạn chế Thật

vậy, các loa phóng thanh là phương tiện

truyền thông chính của chính quyền địa

phương nhưng không phủ khắp các xã, đặc

biệt là các làng xa xôi Nội dung thông tin

chủ yếu nhắc nhở “cẩn thận, để ý chăm sóc

trẻ”, “thông báo tình hình chết đuối” Các

thông tin này quá chung chung, không thật sự

cung cấp các biện pháp bảo vệ Thêm vào đó,

thời gian phát thanh quá trễ, khi người dân đã

đi làm và môi trường quá ồn ào khiến cho

nghe thông tin bị hạn chế

Các phương tiện truyền thông khác

không đa dạng và không thực tế Thí dụ như

cuốn sách mỏng với nhan đề “sống với lũ” có

“9 lời khuyên cho người lớn bảo vệ trẻ” và“ 8 lời khuyên” trẻ cần chú ý như: “không cho phép trẻ bơi trong trong dòng nước cuốn”,

“cần để trẻ ở nơi cao có người lớn chăm sóc” Các hộ gia đình có thể không cần đến các lời khuyên như vậy vì chúng quá hiển nhiên, không cung cấp thêm thông tin hữu ích Không có thông tin nào viết về “sự bất cẩn khi trông trẻ” Mặc dù chết đuối là mối quan ngại lớn nhất của người dân trong cộng đồng

xã, ít có buổi họp nào nói hay thảo luận về vấn đề chết đuối Điều cần thiết là cung cấp thông tin cho người nghèo và ở xa không có tivi/radio Vì thế, cần có chương trình truyền thông hiệu quả dựa trên nhóm có nguy cơ cao

Trang 21

sinh trên kênh” sau nhà Chẳng may, bé rơi

xuống kênh Vài phút sau, mẹ bé phát hiện

và đem bé lên bờ Bà không làm gì cả mà

chỉ biết đưa bé ngay đến trạm y tế xã Tại

đó, người ta đã cố gắng cứu nhưng bé đã

chết

Số hộ gia đình biết cách sơ cứu chết

đuối rất thấp Chỉ hơn 10 % của 200 hộ gia

đình trả lời biết Số còn lại biết chút chút và

đôi khi biết sai Thí dụ, khi được hỏi khi gặp

trẻ sắp chết đuối sẽ làm gì, họ trả lời “đem trẻ

tới trạm y tế gần nhất” hay “để tro lên người

để hút nước ra” Thiếu kiến thức một phần do

hiểu sai thông tin y tế hay do kinh nghiệm

sai

Thái độ về trẻ chết đuối

Từ thảo luận nhóm sâu và phỏng vấn

từng người, đa số cho là “trẻ chết đuối là vấn

đề và trách nhiệm chính của gia đình” hơn là

của chính quyền Nâng cao nhận thức của

chính quyền là một việc làm cần thiết để làm giảm tỉ lệ chết đuối

Thực hành ngăn ngừa chết đuối

Rõ ràng là các hộ gia đình có thái độ tốt bảo vệ con mình không bị chết đuối Họ cũng cố gắng hết sức mình để giữ cho con mình an toàn Mặc dù có nhiều nỗ lực, chết đuối vẫn xảy ra thường xuyên Điều này cho thấy nhận thức của người giữ trẻ về nguy cơ chết đuối chưa đủ và điều này có thể được giải thích như sau:

Trước hết, hầu hết các hộ sống trong môi trường có nhiều nguy cơ: nước ở dưới hay xung quanh nhà Trẻ có thể rơi xuống nước bất kỳ lúc nào Vì thế, cha mẹ khó mà giữ cho trẻ an toàn từ ngày này sang ngày khác Thật ra, chỉ có 24 % hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi nhà có hàng rào và như vậy dường như không có nhiều nhà có thể làm hàng rào

Trang 22

Thứ hai, hàng rào là biện pháp tốt

nhưng không phải lúc nào cũng đảm bảo bảo

vệ trẻ không bị ngã xuống nước vì có thể

hàng rào không vững chắc Nhưng các bà

mẹ, người quá tin cậy vào hàng rào nên

chuyện không may có thể xảy ra

Thứ ba, giữ trẻ-nghĩa là luôn luôn để

mắt đến trẻ Đây là một quá trình liên tục và

lâu dài khiến cho người giữ trẻ nhàm chán và

mệt mỏi Thật vậy, trẻ năng động và quá khó

để kiểm soát liên tục Hậu quả là, sai sót

thường không thể tránh khỏi Thí dụ, họ đôi

khi vừa làm vừa trông trẻ và lơ đễnh trong

vài phút Hậu quả, trẻ té xuống nước và chết

Lý do cuối cùng là trách nhiệm trông

trẻ không rõ ràng hay trẻ bơi mà không có sự

giám sát của người lớn

Giải pháp

Nhà giữ trẻ dường như là giải pháp an

toàn và hiệu quả cho cha mẹ về vấn đề an

toàn cho trẻ trong mùa lũ Thực tế, không có nhiều nhà giữ trẻ ở cộng đồng Vấn đề xây nhà trẻ mới hay tìm nơi có thể thuê nhà để làm nhà giữ trẻ là một thách thức Một vấn đề khác nên được xem xét về mặt nhân sự và nhân lực chẳng hạn như giáo viên, dinh dưỡng cho trẻ, di chuyển và các chi phí khác

Cuối cùng, các gia đình nghèo không

có tiền trả cho nhà giữ trẻ và họ không có thuyền đưa đón trẻ khi gửi trẻ ở nhà trẻ Thực

tế là chỉ có một số nhỏ gia đình gửi trẻ ở nhà giữ trẻ Sống tập trung trong vùng chống lũ không phải luôn luôn là một giải pháp tốt bởi

vì các gia đình nghèo thường thấy khó sống trong một môi trường mới không thuận lợi cho công việc mưu sinh của họ Vì thể để giải quyết vấn đề này, chính quyền địa phương đề nghị phải được hướng dẫn, chỉ thị và giúp đỡ

từ các cấp và nguồn lực bên ngoài

Mặc dù các hộ gia đình biết rằng biết bơi là một kỹ năng quan trọng để sống sót

Ngày đăng: 01/08/2014, 08:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1 cho thấy đặc điểm  kinh tế  xã  hội  của  200  hộ  gia  đình  có  trẻ  em  dưới  10  tuổi trong mẫu nghiên cứu - KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx
ng 1 cho thấy đặc điểm kinh tế xã hội của 200 hộ gia đình có trẻ em dưới 10 tuổi trong mẫu nghiên cứu (Trang 7)
Bảng  2:  Kiến  thức  của  người  dân - KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx
ng 2: Kiến thức của người dân (Trang 8)
Bảng  3:  Thái  độ  của  dân  vùng  lũ  về  tình trạng trẻ chết đuối - KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx
ng 3: Thái độ của dân vùng lũ về tình trạng trẻ chết đuối (Trang 12)
Bảng  4:  Thực  hành  về  phòng  tránh - KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx
ng 4: Thực hành về phòng tránh (Trang 16)
Bảng 3 cho thấy thái độ người dân về - KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx
Bảng 3 cho thấy thái độ người dân về (Trang 16)
Bảng  5:  Đặc  tính  dịch  tễ  của  52  ca  chết đuối ở huyên Châu Thành và Châu Phú  2002-2003 - KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx
ng 5: Đặc tính dịch tễ của 52 ca chết đuối ở huyên Châu Thành và Châu Phú 2002-2003 (Trang 17)
Bảng  4  cho  thấy  thực  hành  trên  dự  phòng chết đuối của trẻ. Hầu hết trẻ được giữ - KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẾT ĐUỐI TRẺ EM ppsx
ng 4 cho thấy thực hành trên dự phòng chết đuối của trẻ. Hầu hết trẻ được giữ (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w