Phương pháp phẫu thuật: cắt bán phần cực dưới thận trái giống trường hợp trên... Kết quả mô học: Carcinoma tế bào thận, loại tế bào hạt Hình 3 Hình 3: Bệnh phẩm cắt thận bán phần cực dư
Trang 1PHẪU THUẬT CẮT THẬN BÁN PHẦN QUA NỘI SOI Ổ BỤNG
CHO BƯỚU ÁC CHỦ MÔ THẬN
TÓM TẮT
Mục tiêu: Dùng ruột thừa để tạo hình miệng chuyển lưu nước tiểu có kiềm
chế theo phương pháp Mitrofanoff có cải biên
Phương pháp: Cắt ruột thừa ở gốc manh tràng với sự bảo tồn mạch máu mạc
treo, rồi đem xuống nối tận-bên một đầu vào bàng quang hoặc bàng quang tân tạo có áp lực thấp (không tạo đường hầm dưới niêm mạc), đầu kia mở ra da xuyên cơ thẳng bụng để tạo miệng chuyển lưu cho thông tiểu cách quãng ở 1/4 dưới bụng
Kết quả: Đã thực hiện được 16 trường hợp trong 2 năm 2006-2007 Tỉ lệ
thành công ~ 94%
Bàn luận và kết luận: Miệng chuyển lưu nước tiểu có kiềm chế bằng ruột
thừa có thể thực hiện khá đơn giản và hiệu quả Khả năng kiềm chế nước tiểu trong nghiên cứu của chúng tôi tương đương với các báo cáo khác trong
y văn
ABSTRACT
Trang 2Objective: To report and to assess the outcome of the two first cases of
laparoscopic partial nephrectomy for small malignant renal tumor initially performed at the Department of Urology of Binh Dan hospital
Patients and Method: Two cases of laparoscopic partial nephrectomy for
small malignant renal tumor were initially performed at the Department of Urology C (Section of High Technology Treatment) of Binh Dan hospital in the first 2 months of 2007 The patients were placed in a modified nephrolithotomy position, intraperitoneal laparoscopic partial nephrectomy performed, using the technique of arterial control with a vascular lace Outcome of the operations was assessed in the postoperative recovery
Results: One left renal tumor, lower pole, size of 31 x 34 mm (MSCT),
detected by ultrasound because of flank pain; One left renal tumor, lower pole, size of 30 mm (MSCT), detected incidentally by ultrasound Patients were placed in a modified nephrolithotomy position Intraperitoneal laparoscopic partial nephrectomy was performed, using 3 – 4 ports Operating time: 90 -180 minutes Estimated blood loss: 100 – 150 ml Postoperative recovery: Mild postoperative pain; Postoperative analgesics administration: 4 – 5 days; Recovery of bowel movements after 2 -3 days; Drain removal at day 4 postop in one case and discharge with drain in place
in the other case; Postoperative hospital stay: 4 -6 days
Trang 3Conclusion: Laparoscopic partial nephrectomy is a safe and feasible
minimally invasive procedure It can be applied more commomly for small malignant renal tumors in our practice The long-term oncologic outcome of this procedure is to be specified
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều năm qua, tại Khoa-Phân môn Niệu bệnh viện Bình Dân chúng tôi đã thực hiện cắt thận tận gốc qua nội soi ổ bụng – cả đường trong và sau phúc mạc – cho bướu ác thận(20) Tuy nhiên, đối với bướu thận nhỏ, khuynh hướng hiện nay là cắt thận bảo tồn thận (nephron-sparing nephrectomy) ngay cả khi chức năng thận đối diện còn tốt
Từ đầu năm 2007, tại Khoa Niệu C bệnh viện Bình Dân, chúng tôi đã tiến hành cắt bán phần thận qua nội soi ổ bụng cho 2 trường hợp bướu ác thận có kích thước nhỏ đầu tiên Bài viết này báo cáo lại và đánh giá tính khả thi của phẫu thuật cắt thận bán phần qua ngã nội soi ổ bụng qua 2 trường hợp này
BỆNH ÁN 1
Bệnh nhân
Phùng Thị Th., nữ, 45 tuổi Số hồ sơ: 207/02501
Địa chỉ: 55/2 Bình Tiên, P7, Q6, thành phố Hồ Chí Minh
Lý do vào viện: đau hông lưng trái
Trang 4Lâm sàng
Ấn đau hông lưng trái
Cận lâm sàng
Siêu âm
U cực dưới thận trái 34 x 37 mm
MSCT thận
Bướu thận trái cực dưới 31 x 29 x 34 mm, lồi ra ngoài (exophytic), chưa phá
vỡ vỏ bao thận (Hình 1)
Trang 5Hình 1: MSCT: Bướu đặc thận trái cực dưới 34 mm, lồi ra ngoài
Phẫu thuật: ngày 29/01/2007
Tư thế bệnh nhân: nằm nghiêng phải 70 độ (tư thế mổ thận biến đổi)
Nội soi ổ bụng trong phúc mạc
Số trocar sử dụng: 3
Phương pháp phẫu thuật: cắt bán phần cực dưới thận trái Tiến hành bóc tách động mạch thận gốc và từng nhánh động mạch thận ở mặt trước, khống chế động mạch thận bằng một dây “lacet” mạch máu Kẹp clip mạch máu cực dưới trước, sau đó cắt chủ mô thận bằng dao siêu âm (harmonic scalpel) Cầm máu chủ mô thận bằng đốt điện mặt cắt và khâu đắp mép cắt bằng giá
đỡ là1 cuộn Surgicel
Thời gian mổ: 90 phút
Trang 6Ước lượng máu mất: 100 ml
Hậu phẫu: Đau sau mổ ít, thời gian dùng thuốc giảm đau sau mổ: 4 ngày
Có nhu động ruột: ngày hậu phẫu 2
Rút ống dẫn lưu: bệnh nhân mang ống dẫn lưu về, rút ống khi tái khám Nằm viện sau mổ: 4 ngày
Kết quả mô học: Carcinoma tế bào thận, loại tế bào hạt
BỆNH ÁN 2
Bệnh nhân
Hồ Thị L., nữ, 59 tuổi Số hồ sơ: 207/ 02542
Địa chỉ: 233A Quốc lộ 1, Cam Lợi, Cam Ranh, Khánh Hòa
Lý do vào viện: siêu âm tình cờ có bướu thận trái
Lâm sàng
Ấn tức nhẹ hố thắt lưng trái
Cận lâm sàng
Siêu âm
U cực dưới thận trái 26mm nghi AML (?)
Trang 7MSCT thận
Bướu thận trái cực dưới 30 mm, mặt sau, chưa phá vỡ vỏ bao thận (Hình 2)
Trang 8Hình 2: MSCT: Bướu đặc thận trái cực dưới 30 mm, mặt sau
Phẫu thuật: ngày 07/01/2006
Tư thế bệnh nhân: giống bệnh nhân trên
Số trocar sử dụng: 4
Nội soi ổ bụng trong phúc mạc
Phương pháp phẫu thuật: cắt bán phần cực dưới thận trái giống trường hợp trên
Thời gian mổ: 180 phút
Ước lượng máu mất: 150 ml
Hậu phẫu: Đau sau mổ ít
Thời gian dùng thuốc giảm đau sau mổ: 5 ngày
Trang 9Có nhu động ruột:hậu phẫu 3
Rút ống dẫn lưu ngày hậu phẫu 4
Nằm viện sau mổ: 6 ngày
Kết quả mô học: Carcinoma tế bào thận, loại tế bào hạt (Hình 3)
Hình 3: Bệnh phẩm cắt thận bán phần cực dưới
BÀN LUẬN
Chỉ định cắt bán phần thận trong bướu ác thận
Đầu tiên, chỉ định cắt thận bán phần trong bướu ác thận là bệnh nhân có bướu chủ mô thận hai bên hay bướu thận trên thận độc nhất Chỉ định khác
là bướu thận một bên mà thận bên kia bị các bệnh lý có thể làm suy giảm chức năng thận trong tương lai như hẹp động mạch thận, thận ứ nước, viêm thận bể thận, trào ngược bàng quang-niệu quản, sạn niệu hay các bệnh hệ thống như tiểu đường hay xơ hoá thận (nephrosclerosis)(21)
Trang 10Ngày nay nhiều tác giả(3,13,16,18,21,23) thống nhất rằng phẫu thuật cắt bán phần thận có thể tiến hành ở bệnh nhân có bướu ác đơn độc, bướu nhỏ (< 4 cm) và thận bên kia có chức năng bình thường
Mổ nội soi hay mổ hở?
Schiff(22) chủ trương cắt thận bán phần nội soi cho bướu chủ mô thận nhỏ còn cắt thận bán phần bắt buộc hay bướu thận lớn nên mổ hở cắt thận bán phần vì nói chung mổ nội soi có thời gian thiếu máu nóng dài hơn và có nhiều biến chứng hơn mổ hở(11)
Theo Lane và Gill(8,15): tại bệnh viện Cleveland (Hoa Kỳ) hiện nay cắt thận bán phần qua nội soi là một kỹ thuật có thể thay thế mổ hở bất kể vị trí của bướu và ngay cả bướu trên thận độc nhất
Nội soi ổ bụng trong phúc mạc hay sau phúc mạc?
Theo Gill(10,19) thì tùy thuộc vào vị trí bướu: bướu mặt sau hay sau bên thì nội soi sau phúc mạc, bướu mặt trước, trước bên hay bên hay bướu cực trên thì nên nội soi trong phúc mạc Trong 50 trường hợp đầu tiên của ông(10) có
28 trường hợp nội soi trong phúc mạc và 22 trường hợp nội soi sau phúc mạc
Các kỹ thuật cầm máu trong cắt thận bán phần
Trong mổ hở
Trang 11Để cầm máu chủ mô thận các tác giả thường phải dùng kẹp Satinsky kẹp cả cuống thận (cần chú ý thời gian thiếu máu nóng)(21) hay kẹp chọn lọc chủ mô thận (không cần chú ý thời gian thiếu máu nóng)(3) kết hợp với khâu cầm máu chủ mô thận tại chỗ Để kéo dài thời gian thiếu máu nóng thì dùng đắp lạnh (ice slush) quanh chủ mô thận(21)
Trong mổ nội soi ổ bụng
Guillonneau(12) khuyên nên kẹp cuống thận kết hợp (Hình 4, 5) với khâu cầm máu chủ mô thận được làm lạnh qua ống thông niệu quản sẽ ít mất máu hơn và thời gian mổ sẽ ngắn hơn
Hình 4: Satinsky nội soi kẹp cuống thận en bloc
Trang 12Hình 5: Kẹp bulldog riêng biệt ĐM và TM thận trong nội soi trong phúc
mạc trong nội soi sau phúc mạc
Làm lạnh thận: có 3 kỹ thuật(25): bơm dung dịch Saline lạnh qua ống thông niệu quản, truyền vào động mạch thận dung dịch Saline lạnh và đắp lạnh thận như trong mổ hở
Khâu cầm máu cổ điển có làm lạnh thận đi kèm hay không(4,5,10): kinh nghiệm của bệnh viện Cleveland trên 275 bệnh nhân đầu tiên với kích thước bướu trung bình là 2,9 cm, cho cả bướu thận trên thận độc nhất, bướu nằm ở vùng trung tâm(14) và rốn thận
Các chất bịt kín mô (tissue sealants)(25): như các hạt thrombin/gelatin (Floseal), keo fibrin (Tisseel), polyethylene glycol hydrogel (Coseal), keo cyanoacrylate (Dermabond), Surgicel, … Johnston(14) khuyên chỉ dùng keo
Trang 13fibrin nếu hệ bồn đài thận chưa bị cắt mở, nếu hệ bồn đài thận đã bị cắt mở thì phải dùng kỹ thuật khâu trên giá đỡ (sutured bolster)
Các dụng cụ cắt và cầm máu chủ mô thận khác như(25): dao siêu âm, dao đốt điện lưỡng cực, tia argon (argon-beam coagulation), microwave tissue coagulator (MTC), radiofrequency dissector (TissueLink), laser (KTP hay YAG) trên động vật thực nghiệm…
Hình 6: Khâu chủ mô thận trên giá đỡ
Tác giả Châu Quý Thuận(2), qua nội soi sau phúc mạc, dùng kỹ thuật kiểm soát động mạch thận bằng một nơ chỉ chromic được thắt cách quãng mỗi 5 phút kết hợp với mũi khâu chủ động chủ mô thận bằng 2 sợi chỉ vicryl cài răng lược hình số 8 cách bờ bướu 2 cm
Trang 14Các kỹ thuật nội soi hỗ trợ khác: bao gồm nội soi hỗ trợ bằng bàn tay
(HALPN)(7), hay robot (RALPN)(9)
Thông số của cuộc mổ theo một số tác giả (7)
Trang 15Tác giả
Số
BN
Kích thước bướu
Kiểm soát cuống
Khâu đài bểthận (%)
Cầm máu
Máu mất (ml)
Thời gian mổ (giờ)
Nằm viện sau
mổ
Theo dõi (tháng)
Janetschek
25 1,9 Không 0 Lưỡng cực,
Argon, Keo
287 2,7 5,8 22,2
Kim 79 2,5 Có - Khâu giá đỡ 391 3,0 2,8 -
Rassweiler
53 2,3 - - Siêu âm,
Lưỡng cực, Argon, Nd:YAG
725 3,2 5,4 24
Gill 100 2,8 Có (91) 64 Khâu giá đỡ 125 3,0 2,0 18
Guillonneau
28 1,9 Không
(12)
Có (16)
0
11
Lưỡng cực, Siêu âm, Khâu giá đỡ
708
270
3,0 2,0
4,7 4,7
12,2 1,2
Châu Quý
Thuận
2 4,0 Không
(1)
0 Khâu giá đỡ 75 2,6 4,5 -
Trang 16Có (1)
2 ca này
2 3,2 Không 0 Clip nhánh
ĐM cực dưới, Khâu giá đỡ
125 2,25 5 -
Trang 17Hai trường hợp của chúng tôi
Trong điều kiện của chúng tôi không có đầu dò siêu âm nội soi trong khi
mổ, không có kẹp Satinsky nội soi cũng như các chất bịt kín mô, chúng tôi khởi đầu bằng những ca bướu nhỏ, cực dưới, lồi ra ngoài bề mặt thận Vì 2 trường hợp bướu đều ở cực dưới nên giải pháp tách từng nhánh động mạch
để clip nhánh cực dưới trước khi cắt bỏ hẳn cực dưới thận có bướu là một giải pháp chấp nhận được tuy có thể phí phạm một số nephron
Tuy có kinh nghiệm cắt thận qua nội soi trong và sau phúc mạc(20,24), chúng tôi vẫn chọn ngã trong phúc mạc để dễ tìm và bóc tách các nhánh động mạch thận, nếu bướu mặt sau sẽ lật thận lên để dễ dàng tiếp cận bướu Dao cắt siêu
âm là một phương tiện cầm máu tốt, khi được bổ sung bằng kỹ thuật khâu đắp mép chủ mô thận bằng một cuộn Surgicel làm giá đỡ nên kết quả cầm máu là đầy đủ “Lacet” mạch máu đặt dưới động mạch thận (để khi cần sẽ nâng lên để cầm máu) tỏ ra không cần thiết
Kết quả lâu dài của phẫu thuật
Allaf, 9/2004(1), trên 48 bệnh nhân với thời gian theo dõi 37,7 tháng có 46/48 bệnh nhân không có bướu tái phát (95,8%) Chỉ có 2 bệnh nhân tái phát (4,2%) trong đó có 1 bệnh nhân tái phát sau 4 năm
Trang 18Báo cáo đầu tiên của bệnh viện Cleveland, 1/2007(15), trên 56 bệnh nhân sau thời gian theo dõi 5,7 năm cho kết quả rất tốt so với mổ hở(6,13): không có di căn xa (0%), một trường hợp tái phát tại chỗ (2,7%) Tỉ lệ sống sót chung và sống sót không có ung thư sau 5 năm, theo thứ tự, là 86% và 100%
KẾT LUẬN
Cắt thận bán phần qua nội soi ổ bụng là một phẫu thuật xâm lấn tối thiểu an toàn, khả thi và có triển vọng áp dụng rộng rãi hơn cho bướu ác chủ mô thận kích thước nhỏ trong điều kiện của chúng tôi Các kỹ thuật cầm máu chủ mô thận cần được hoàn thiện hơn và kết quả lâu dài của phẫu thuật về mặt ung thư học cần được kiểm chứng thêm