1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYỂN LƯU NƯỚC TIỂU CÓ KIỀM CHẾ THEO NGUYÊN TẮC MITROFANOFF pot

11 367 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 183,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYỂN LƯU NƯỚC TIỂU CÓ KIỀM CHẾ THEO NGUYÊN TẮC MITROFANOFF TÓM TẮT Mục tiêu: Dùng niệu quản để tạo hình miệng chuyển lưu nước tiểu có kiềm chế theo nguyên tắc Mitrofanoff, trong tr

Trang 1

CHUYỂN LƯU NƯỚC TIỂU CÓ KIỀM CHẾ THEO NGUYÊN TẮC

MITROFANOFF

TÓM TẮT

Mục tiêu: Dùng niệu quản để tạo hình miệng chuyển lưu nước tiểu có kiềm

chế theo nguyên tắc Mitrofanoff, trong trường hợp không dùng được ruột thừa như phương pháp Mitrofanoff nguyên thủy

Phương pháp: Dùng ~ 8 cm niệu quản đoạn cuối, không bị trào ngược BQ

– NQ, mở ra da để tạo miệng chuyển lưu dùng thông tiểu cách quãng

Kết quả: Đã thực hiện được 12 trường hợp trong khoảng thời gian

1996-2007 Tỉ lệ thành công ~ 91,7%

Bàn luận và kết luận: Miệng chuyển lưu có kiềm chế bằng niệu quản có thể

thực hiện khá đơn giản và hiệu quả Khả năng kiềm chế nước tiểu trong nghiên cứu của chúng tôi tương đương với các báo cáo khác trong y văn

ABSTRACT

Trang 2

Purpose: Using ureter to perform urinary continent stoma according to the

principle of Mitrofanoff, in case of impossibility to use appendix as the original Mitrofanoff’s procedure

Method: Using ~ 8cm of non-refluxing distal ureter to realize a

catheterizable stoma

Result: 12 cases were performed during 1996-2007 Successful ratio ~

91.7%

Discussion & Conclusion: Urinary continent stoma using ureter can be

performed simply and effectively The possibility of urinary continence in our research is similar to other reports in literature

Trang 3

GIỚI THIỆU

Kể từ khi Mitrofanoff báo cáo việc sử dụng ruột thừa để tạo van chuyển lưu nước tiểu có kiềm chế năm 1980(6), cho đến nay đã có rất nhiều tác giả báo cáo áp dụng thành công phương pháp này

Tuy nhiên nhiều trường hợp sẽ gặp trở ngại khi không có ruột thừa hoặc có ruột thừa nhưng quá ngắn hoặc quá nhỏ, nên một số tác giả đã mô tả khả năng sự dụng dùng những ống nhỏ tương tự kích cỡ của ruột thừa (niệu quản, vòi trứng, ống hồi tràng cắt hẹp, cuốn ống từ thành bàng quang, từ manh tràng hay từ dạ dày, dùng túi thừa Meckel v.v…), gọi là theo nguyên tắc Mitrofanoff(2,3,4,5,6,9,10,11,12,13)

Chúng tôi đã thực hiện 16 t/h tạo van chuyển lưu nước tiểu bằng ruột thừa trong 2 năm 2006-2007, cũng được báo cáo trong hội nghị này(7) Trong luận văn tốt nghiệp nghiên cứu sinh năm 2002, chúng tôi đã trình bày 31 t/h tạo van bằng cách dùng ống hồi tràng cắt

Bài nghiên cứu này trình bày việc sử dụng niệu quản làm vật liệu tạo hình miệng chuyển lưu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Trang 4

Đối tượng nghiên cứu

Là những bệnh nhân bị suy giảm trầm trọng chức năng tống xuất nước tiểu của bàng quang và không thuận lợi để thực hiện thông tiểu cách quãng qua ngả niệu đạo Nhiều trường hợp có biến chứng ứ nước thận

Điều kiện để thực hiện van chuyển lưu có kiềm chế là bàng quang phải bảo đảm chức năng chứa đựng, tức là có dung tích đủ lớn và áp lực chứa đựng thấp Vì vậy, chúng tôi thực hiện trên 2 nhóm bệnh nhân:

- Nhóm thứ I gồm những trường hợp bàng quang nhược trương, với BQ có dung tích chứa đựng khá lớn và áp lực chứa đựng thấp

- Nhóm thứ II gồm những trường hợp bàng quang tân tạo bằng ruột áp lực

thấp (low pressure neobladder)

Một điều kiện khác là b/n không có ruột thừa do đã phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa, hoặc nếu còn ruột thừa thì không thuận lợi về chiều dài, vị trí hoặc cuống mạc treo

Phương pháp nghiên cứu

Đây là nghiên cứu tiền cứu, mô tả, cắt ngang

Các bệnh nhân sau khi được mổ, theo dõi hậu phẫu rồi xuất viện sẽ được hẹn

Trang 5

tái khám định kỳ sau 3 tháng, 6 tháng và 1 năm để theo dõi: sự hữu hiệu của van, sự dung nạp của bệnh nhân với biện pháp tự thông tiểu sạch cách quãng qua van, biến chứng của miệng chuyển lưu nếu có

Sự hữu hiệu của van được đánh giá là: Tốt – nếu khoảng thời gian trung bình giữa 2 lần thông tiểu qua van > 3 giờ; Trung bình – nếu từ 2 - 3 giờ; Kém –

nếu < 2 giờ

KẾT QUẢ

Từ 1996 đến 2007, chúng tôi đã thực hiện 12 t/h tạo hình miệng chuyển lưu nước tiểu có kiềm chế bằng niệu quản

Trang 6

Hình 2- Van chuyển lưu dùng NQ phải

11 t/h được kiểm tra không có trào ngược bàng quang – niệu quản ở phía niệu quản dùng làm van chuyển lưu Trường hợp còn lại biết là có trào ngược bàng quang – niệu quản bên trái: cắt ngang niệu quản trái, đầu trên cắm lại vào bàng quang theo phương pháp Politano-Leadbetter, đoạn dưới được thực hiện kỹ thuật tạo đường hầm dưới niêm mạc để chống trào ngược trước khi mở ra da tạo van chuyển lưu Tất cả 12 t/h đều xuyên cơ thẳng bụng khi mở niệu quản ra da Các số liệu được ghi nhận:

Tuổi và phái

Trang 7

- Tuổi TB = 32 ± 15

(min = 13, max = 58)

- Phái: nam / nữ = 5 / 7

Thực hiện van chuyển lưu trên nền của bàng quang

- Bàng quang nhược trương: 6 t/h (trong đó có 2 t/h là BQTK nhu tính do biến chứng của tiểu đường, 1 t/h là BQTK nhu tính do biến chứng của spina bifida, 3 t/h còn lại không rõ nguyên nhân)

- Bàng quang tân tạo bằng ruột áp lực thấp (low pressure neobladder): 6 t/h

+ Trong đó 5 t/h là BQTK co thắt hoặc tăng trương lực do chấn thương cột sống, 1 t/h còn lại bàng quang tăng trương lực không rõ nguyên nhân

+ Tất cả 6 t/h đều được dùng hồi tràng để mở rộng bàng quang theo kỹ thuật

xẻ ống ruột

Thời gian nằm viện

- Nhóm 1 = 16,5 ± 3,9 ngày

- Nhóm 2 = 14,0 ± 1,2 ngày

Trang 8

(khác biệt không có ý nghĩa thống kê)

Thời gian theo dõi

- Trung bình = 14,0 ± 11,5 tháng

(min = 3 tháng, max = 10 năm)

Hiệu quả của miệng chuyển lưu có kiềm chế

- 1/12 t/h (8.3 %) bị thất bại Đây chính là t/h trước khi mổ đã biết bị trào ngược bàng quang-niệu quản trái và đã được thực hiện kỹ thuật tạo đường hầm dưới niêm mạc Tuy nhiên sau mổ nước tiểu chảy dầm dề qua miệng chuyển lưu, khiến chúng tôi phải mổ lại cắt cột niệu quản trái sát bàng quang, rồi mở bàng quang ra da

- 11/12 t/h (91,7 %) thành công, cho phép các b/n thông tiểu sạch cách quãng qua van mỗi 4 – 6 giờ Theo dõi lâu dài những bệnh nhân này: 1 t/h bị hẹp miệng chuyển lưu phải nong định kỳ khoảng mỗi 3 tháng (hình 3)

Khả năng áp dụng TTSCQ

- 9 b/n tự thực hiện TTSCQ dễ dàng qua miệng chuyển lưu

Trang 9

- 3 t/h khác, gồm 2 trẻ em và 1 t/h bị CTCS cổ, phải nhờ thân nhân thực hiện Bệnh nhân bị CTCS cổ do thân nhân không rảnh nên về sau lưu ống thông thường trực qua miệng van

Hình 3- Miệng van chuyển lưu bị hẹp, phải nong định kỳ

BÀN LUẬN

- Tuy có khá nhiều bài viết mô tả khả năng dùng niệu quản làm van chuyển lưu theo nguyên tắc Mitrofanoff, nhưng khi tham khảo trong y văn, chúng tôi nhận thấy có khá ít báo cáo cụ thể về số liệu

Trang 10

+ Bài viết của Woodhouse (1993)(12) trình bày 16 t/h dùng niệu quản (bên cạnh 29 t/h dùng ruột thừa và 1 t/h dùng vòi trứng) để tạo van chuyển lưu có kiềm chế Tỉ lệ kiềm chế của van đạt 91%

+ Van Savage (1996)(11) tường thuật 60 t/h tạo van theo nguyên tắc Mitrofanoff, trong đó 48 cas dùng ruột thừa, còn 12 cas dùng niệu quản Khả năng thông tiểu cách quãng qua van là 94% đối với ruột thừa và 84% đối với niệu quản, còn tỉ lệ kiềm chế nói chung là 97%

+ Tỉ lệ đạt hiệu quả kiềm chế trong loạt bệnh của chúng tôi là 91,7%, có thể xem là tương đương với các tác giả khác

- Hinman (1998)(5) có mô tả kỹ thuật tạo đường hầm dưới niệm mạc để chống trào ngược cho đoạn niệu quản dùng làm van (hình 4) Tuy nhiên chúng tôi áp dụng kỹ thuật cho 1 t/h và bị thất bại Thành thử quan điểm của chúng tôi hiện nay là chỉ sử dụng đoạn niệu quản vốn không bị trào ngược

để tạo van chuyển lưu

Trang 11

Hình 4- Tạo đường hầm dưới niêm mạc của NQ đoạn cuối để chống trào

ngược (Nguồn Hinman (5))

- Để đánh giá khả năng chống trào ngược của van, ngoài biện pháp chụp cản bàng quang lúc rặn tiểu (VCUG) trước khi mổ, chúng tôi còn có kinh nghiệm cho bớm nước làm căng đầy bàng quang > 400 ml rồi quan sát không thấy nước trào ngược lên đoạn niệu quản dùng tạo van

KẾT LUẬN

Niệu quản có thể được dùng để tạo van chuyển lưu nước tiểu có kiềm chế với tỉ lệ thành công cao (> 90%)

Chúng tôi hy vọng rằng báo cáo này sẽ đóng góp thêm tư liệu vào y văn về việc dùng niệu quản để tạo van chuyển lưu theo nguyên tắc Mitrofanoff

Ngày đăng: 01/08/2014, 06:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2- Van chuyển lưu dùng NQ phải - CHUYỂN LƯU NƯỚC TIỂU CÓ KIỀM CHẾ THEO NGUYÊN TẮC MITROFANOFF pot
Hình 2 Van chuyển lưu dùng NQ phải (Trang 6)
Hình 3- Miệng van chuyển lưu bị hẹp, phải nong định kỳ - CHUYỂN LƯU NƯỚC TIỂU CÓ KIỀM CHẾ THEO NGUYÊN TẮC MITROFANOFF pot
Hình 3 Miệng van chuyển lưu bị hẹp, phải nong định kỳ (Trang 9)
Hình  4-  Tạo  đường  hầm  dưới  niêm  mạc  của  NQ  đoạn  cuối  để  chống  trào - CHUYỂN LƯU NƯỚC TIỂU CÓ KIỀM CHẾ THEO NGUYÊN TẮC MITROFANOFF pot
nh 4- Tạo đường hầm dưới niêm mạc của NQ đoạn cuối để chống trào (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w