NONG CỨNG, NONG BÁN CỨNG VÀ NONG WEBB TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu: So sánh hiệu quả và các biến chứng của ba dụng cụ nong khác nhau: nong cứng, nong bán cứng, nong Webb trong phẫu thu
Trang 1NONG CỨNG, NONG BÁN CỨNG VÀ NONG WEBB
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: So sánh hiệu quả và các biến chứng của ba dụng cụ
nong khác nhau: nong cứng, nong bán cứng, nong Webb trong phẫu thuật lấy sỏi thận qua da
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiền cứu trên những bệnh nhân được áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da tại bệnh viện Bình Dân từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 12 năm 2007
Kết quả: Tổng số 175 bệnh nhân trong đó 62 bệnh nhân được sử dụng dụng
cụ nong là ống cứng chiếm 35,4%, 13 bệnh nhân dùng ống bán cứng chiếm 7,4% và 98 bệnh nhân dùng nong Webb chiếm 56%, 2 bệnh nhân phải chuyển qua mổ hở vì đặt thông niệu quản thất bại chiếm 1,2% Tỉ lệ được đánh giá tốt ở nhóm dùng ống cứng là 74,2%, nhóm ống bán cứng là 75% và nhóm dùng nong Webb là 61,6% và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p = 0,05 Tỉ lệ có biến chứng chảy máu ở nhóm dùng nong cứng là 6,5%, nhóm dùng nong bán cứng là 8,3% và nhóm dùng nong Webb là 4,0% Tỉ lệ sót sỏi
ở nhóm dùng nong cứng là 23%, nhóm dùng nong bán cứng là 10%, nhóm dùng nong Webb là 31,6% Thời gian mổ trung bình ở nhóm dùng nong
Trang 2cứng là 78,3 phút, nhóm dùng nong bán cứng là 83,5 phút, nhóm dùng nong Webb là 72,8 phút Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Kết luận: Hiệu quả tốt có tỉ lệ cao hơn ở nhóm dùng nong cứng và nong bán
cứng so với nong Webb có ý nghĩa thống kê Các so sánh khác như tỉ lệ phải truyền máu, tỉ lệ sót sỏi, thời gian mổ trung bình không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
ABSTRACT
Objectives To compare the efficacy and complications among three groups
of different dilatation instruments: rigid, semi – rigid dilator and Webb in percutaneous nephrolithotomy
Methods Prospective, descriptive study on the patients undergone
percutaneous nephrolithotomy in Binh Dan hospital from December 2005 to December 2007
Result In 175 patients, 62 patients in rigid dilator group made up 35.4%, 13
in semi-dilator group made up 7.4% and 98 in Webb dilator group made up 56% 2 transferred to open surgery made up 1.2% Proportions of excellent outcome were 74.2%, 75% and 61.6% for rigid, semi-rigid and Webb dilator respectively The difference was statistically significant with p = 0.05 The proportions of transfusion were 6.5%, 8.3% and 4.0% for rigid, semi-rigid
Trang 3and Webb dilator respectively The proportions of residual stone were 23% 10% and 31.6% for rigid, semi-rigid and Webb dilator respectively The mean time of operation was 78.3 minutes, 83.5 minutes and 72.8 minutes for rigid, semi-rigid and Webb dilator respectively These differences were not statistically significant
Conclusions The efficacy of excellence was significantly higher in rigid
and semi-rigid dilator than Webb dilator The proportions of transfusion,
residual stone, mean time of operation were not statistically significant
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Lấy sỏi thận qua da (Percutaneous Nephrolithotomy – PCNL) là kỹ thuật ít xâm hại mới được áp dụng vào những năm 70 của thế kỷ trước Do là kỹ thuật ít xâm hại, hiệu quả cao, giảm giá thành điều trị do thời gian nằm viện rút ngắn nên kỹ thuật lấy sỏi thận qua da phát triển rất nhanh chóng Hiện nay tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi thận qua da là hai kỹ thuật được lựa chọn hàng đầu trong điều trị sỏi thận
Năm 1976 Fernstrom và Johannson lần đầu tiên thực hiện kỹ thuật lấy sỏi thận qua da đến những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 kỹ thuật lấy sỏi thận qua da ở các nước phát triển đã trở thành thường quy Còn tại Việt Nam, năm 1997, Vũ Văn Ty và cộng sự tại khoa niệu bệnh viện Bình Dân đã tiến hành kỹ thuật lấy sỏi thận qua da và thu được một số kết quả ban đầu(Error! Reference source not found.) Năm 2001 tại bệnh viện Việt Pháp Hà nội cũng đã tiến hành kỹ thuật lấy sỏi thận qua da và cho thấy tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này(Error! Reference source not found.)
Đến nay (2007) kỹ thuật lấy sỏi thận qua da cũng đã trở thành thường quy ở một số bệnh viện như: Bv Bình Dân Tp Hồ Chí Minh, Bv Đại Học Y Dược
Tp Hồ Chí Minh, Bv Pháp Việt Tp Hồ Chí Minh, Bv Chợ Rẫy Tp Hồ chí Minh, Bv Việt Đức Hà Nội, Bv Việt Pháp Hà Nội…v.v…
Trang 5Kỹ thuật lấy sỏi thận qua da cũng được cải tiến Từ việc phải tiến hành lấy sỏi làm hai thì cách nhau khoảng 1 tuần (thì chọc và nong vào thận, thì soi lấy sỏi) nay cả hai thì chỉ cần làm trong một cuộc mổ Từ nong vào thận bằng ống cứng đồng trục Alken đến nong bằng các ống mềm rồi nong bằng bóng và gần đây là nong bằng nong Webb với một lần nong duy nhất Từ dẫn lưu thận bằng ống lớn sau mổ đến dẫn lưu thận bằng ống nhỏ và gần đây
là các kỹ thuật không dẫn lưu sau mổ trong phương pháp lấy sỏi thận qua da
Từ việc áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da trên những bệnh nhân thông thường đến việc áp dụng rộng rãi hơn cho những bệnh nhân đặc biệt như: Thận móng ngựa, thận ghép, thận lạc chỗ(Error! Reference source not found.,Error!
Reference source not found.,Error! Reference source not found.)
Tại Việt Nam, với mốc thời gian vào năm 1997 tại bệnh viện Bình Dân Tp
Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da thì đến nay (2007)
đã có bề dầy kinh nghiệm là 10 năm Đã có một cuốn sách chuyên đề về lấy sỏi thận qua da(7) và khoảng 10 đề tài nghiên cứu về lấy sỏi thận qua da đăng trên các tạp chí chuyên ngành Với mục đích tìm hiểu hiệu quả và những biến chứng khi áp dụng các dụng cụ nong khác nhau (ống cứng, ống bán cứng, nong Webb) chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 6So sánh hiệu quả và các biến chứng của ba dụng cụ nong khác nhau: nong cứng, nong bán cứng, nong Webb trong phẫu thuật lấy sỏi thận qua da
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bị sỏi niệu quản đoạn hông lưng, sỏi thận được chỉ định mổ lấy sỏi bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da (PCNL: Percutaneous Nephro-Lithotomy) tại bệnh viện Bình Dân từ tháng 12/2005 đến tháng 12/2007
Tiêu chuẩn nhận bệnh
Tất cả những bệnh nhân được mổ lấy sỏi thận và sỏi niệu quản trên bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da tại bệnh viện Bình dân từ tháng 12 năm
2005 đến tháng 12 năm 2007
Tiêu chuẩn loại trừ
Tất cả những bệnh nhân đã lên chương trình mổ theo phương pháp lấy sỏi thận qua da, nhưng vì những lý do như: gây mê hồi sức, điều kiện phòng
mổ, dụng cụ hoặc thay đổi phương pháp mổ khác… không tiến hành lấy sỏi thận qua da quyết định trước khi tiến hành đặt thông niệu quản
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiền cứu
Trình tự tiến hành
Thì đặt thông niệu quản
Trang 7Bệnh nhân nằm ngửa theo thế sản khoa Dùng máy soi bàng quang luồn thông niệu quản lên thận có sỏi mổ Bơm thuốc cản quang sơ bộ xác định vị trí sỏi so với các đài thận và tiểu đài thận Sơ bộ lựa chọn đài thận để chọc
và nong vào
Thì mổ lấy sỏi
Đặt bệnh nhân nằm sấp, kê gối vùng ngực và bụng, hai chân để thấp Dưới hướng dẫn của máy X quang, thuốc cản quang bơm qua thông niệu quản đặt trước đó Chọc kim vào đài thận đã được xác định là thuận lợi cho thao tác lấy sỏi Sau khi kim đã vào đúng đài thận mong muốn rút nòng kim sẽ có nước tiểu chảy ra Luồn dây dẫn (guide wire) qua kim chọc Rạch da khoảng 1,5 – 2 cm, dùng kéo tách rộng thành bụng sau vào đến khoang thận Nong rộng đường chọc bằng một trong ba dụng cụ: nong cứng, nong bán cứng và nong Webb Luồn Amplatz Rút các dụng cụ nong ra Bơm nước qua thông niệu quản xác định Amplatz đã nằm trong hệ thống bài tiết Tiến hành soi thận, tán vỡ sỏi (với sỏi lớn) và gắp sỏi ra Kiểm tra trên màn hình máy X quang xác định đã hết sỏi hoặc còn sót sỏi mà do nhiều lý do không tiếp tục cuộc mổ được và ghi nhận là hết sỏi hoặc còn sót sỏi Đặt thông Foley 22F
mở thận ra da May da và cố định thông Foley Kết thúc cuộc mổ Tính thời gian cuộc mổ từ khi bắt đầu đặt thông niệu quản đến khi băng bó xong vết thương Ghi nhận các biến số thống kê vào trong phiếu thu thập số liệu
Trang 8Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Số liệu được thu thập theo một mẫu thống nhất như sau:
PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU
Ngày xuất viện
Thời gian nằm viện: _ngày
Thận mổ: P(1), T(2), Đài thận để chọc: Trên(1), Giữa(2), Dưới(3), Độ (so
với cột sống) _
Ứ nước: Không(0), Độ 1 (1), Độ 2 (2), Độ 3 (3), Số lượng sỏi: 1(1) 2(2) trên2(3)
Trang 9Vị trí sỏi: Đài trên(1), Đài giữa(2), Đài dưới(3) Bể thận(4), Niệu quản(5) Trên hai vị trí(6)
Thời gian bắt đầu (Từ khi đặt sonde niệu quản):
Trong thời gian mổ: _
Trong thời gian nằm viện:
Trang 10Đánh giá hiệu quả chung: Tốt (1) Khá (2) Trung bình (3) Kém (4)
Đánh giá hiệu quả chung được chia làm 4 mức độ
Tốt: Lấy hết sỏi, không biến chứng
Trung bình: Có các biến chứng như ở loại khá và phải can thiệp bổ sung
bằng các phương pháp khác để giải quyết (nội soi niệu quản, tán sỏi ngoài
cơ thể, lấy sỏi qua da lần hai…)
Kém:
Trang 11+ Không tiến hành lấy sỏi thận qua da được phải chuyển qua phương pháp khác
+ Có các biến chứng phải chuyển qua mổ hở để giải quyết
+ Chảy máu phải truyền máu
+ Bệnh nhân tử vong mà nguyên nhân liên quan trực tiếp
đến phương pháp lấy sỏi thận qua da
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 12 năm 2007 chúng tôi đã tiến hành lấy sỏi thận qua da trên 175 bệnh nhân Phân bố dân số nghiên cứu như sau:
Tuổi
Biểu đồ 1 Phân bố theo tuổi bệnh nhân
Trang 12Độ lệch chuẩn
Tỉ lệ
Trang 13Độ lệch chuẩn
Tổng
số
32 79 54.6 8,84 175
Thận mổ
Trang 16Biểu đồ 6 Phân bổ tỉ lệ dùng dụng cụ nong khác nhau Bảng 6: Dụng cụ nong
Trang 17Hai bệnh nhân khuyết: 1 do đặt thông niệu quản thất bại (bệnh nhân số 2), 1
do không đẩy được sỏi từ niệu quản lên thận (bệnh nhân số 74)
Độ lệch chuẩn
Trang 19Khuyết 9 bệnh nhân chuyển qua mổ hở trước khi kết thúc mổ lấy sỏi qua da (bệnh nhân số: 2, 9, 42, 66, 72, 74, 76, 93, 105)
Thời gian nằm viện
Biểu đồ 9 Phân bố thời gian nằm viện
Bảng 9: Thời gian nằm viện
Độ lệch chuẩn
Phân tích ảnh hưởng của dụng cụ nong
Trang 20Ảnh hưởng lên hiệu quả chung
Bảng 10: So sánh hiệu quả giữa các dụng cụ nong khác nhau
Hiệu quả chung
Dụng
cụ
nong Tốt Khá
Trung bình
Trang 21Biểu đồ 10 Hiệu quả giữa các dụng cụ nong khác nhau
Ảnh hưởng tới biến chứng chảy máu
Bảng 11: So sánh tỉ lệ chảy máu giữa các dụng cụ nong khác nhau
Biến chứng chảy máu
% Dụng cụ
nong Không chảy
máu
Chảy máu
Trang 22Webb 96,0 4,0 100
P = 0,70 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Biểu đồ 11 Tỉ lệ chảy máu giữa các dụng cụ nong
Ảnh hưởng tới tỉ lệ sót sỏi
Bảng 12: So sánh tỉ lệ sót sỏi giữa các dụng cụ nong khác nhau
Tỉ lệ sót sỏi %
Dụng cụ nong
Hết sỏi
Không hết sỏi
Tổng
Trang 23Biểu đồ 12 Tỉ lệ sót sỏi giữa các dụng cụ khác nhau
Ảnh hưởng tới thời gian mổ trung bình
Bảng 13: So sánh thời gian mổ giữa các dụng cụ nong khác nhau
Trang 24Các thông số thống kê Dụng cụ
nong Số bệnh
nhân
Thời gian
mổ trung bình (phút)
Độ lệch chuẩn
So sánh giữa nhóm dùng ống cứng và nong Webb có P = 0,17
So sánh giữa nhóm dùng ống mềm và nong Webb có P = 0,19
Như vậy thời gian mổ trung bình giữa các nhóm dùng dụng cụ nong khác nhau không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
BÀN LUẬN
Trang 25Đặc điểm dân số trong nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ nam cao hơn nữ, 53,1%
so với 46,9% Tuy nhiên sự chênh lệch là không đáng kể Theo những thống
kê của các tác giả nước ngoài (Blacklock, 1969, Fitter và Zimskind, 1961, Inada và cộng sự, 1958, Pak, 1987(Error! Reference source not found.).) thì tỉ lệ là 3 nam cho 1 nữ Tuy nhiên đây là những thống kê tỉ lệ sỏi nói chung còn theo nghiên cứu của Lê Sĩ Trung bệnh viện Việt Pháp Hà Nội trong một nghiên cứu áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da thì tỉ lệ này là 27 nam cho 13
nữ(Error! Reference source not found.) Về tuổi theo nhiều tác giả nước ngoài (Bailey
và cộng sự, 1974, Burkland và Rosenberg, 1955, Fetter và Zimskind, 1961, Frank và cộng sự, 1959, Prince và scardino, 1960) tuổi bị sỏi tiết niệu chủ yếu ở lứa tuổi 30 đến 50 Theo nghiên cứu của Lê Sĩ Trung tuổi trung bình
là 48,8 (31 – 75)(Error! Reference source not found.) Còn theo nghiên cứu của Lê Hoàng Đức và Micheal Wong tại Singapore tuổi trung bình là 53 tuổi Trong nghiên cứu này tuổi trung bình là 47.38 (16 – 78) với độ lệch chuẩn là 12,82 Trong biểu đồ cho thấy phân bố tuổi khá gần với đường phân bố chuẩn Tương tự như phân bố của tuổi, cân nặng cũng có biểu đồ gần với đường phân bố chuẩn Cân nặng trung bình của bệnh nhân là 54.6 Kg với độ lệch chuẩn là 8,84 Đặc biệt trong nghiên cứu này không có bệnh nhân nào chỉ định lấy sỏi vì thể trọng quá mập hay quá ốm hoặc dị dạng như trong báo cáo của Lerov, A.I., Segura, I W., William, H I., và Patterson, D.I năm
Trang 261992 trong đó có 7 trường hợp bệnh nhân quá mập chiếm 10%, 1 bệnh nhân quá ốm và 2 bệnh nhân bị cong vẹo cột sống(Error! Reference source not found.)
Các đặc điểm về dân số nghiên cứu tương đối đồng đều sẽ là một thuận lợi trong phân tích đánh giá các biến số trong nghiên cứu này
Ảnh hưởng của dụng cụ nong lên hiệu quả chung là có ý nghĩa thống kê với
p = 0,05 với tỉ lệ được đánh giá là tốt của nhóm dùng ống cứng là 74,2, nhóm dùng ống bán cứng là 70,0 và nhóm dùng nong Webb là 61,6 Có thể việc dùng nong Webb mới được áp dụng nên trong thời gian đầu chưa có nhiều kinh nghiệm nên hiệu quả chưa cao Do nong Webb chỉ nong một lần duy nhất nên đầu nong có khoảng vát khá dài do vậy trong những trường hợp thận không ứ nước hoặc chỉ ứ nước độ I chúng tôi chủ động dùng nong cứng Alken do độ vát của nong ngắn dễ nong vào đúng vị trí sỏi Tuy nhiên
ở nhóm dùng ống bán cứng tỉ lệ được đánh giá là khá và trung bình là 0% nhưng tỉ lệ có biến chứng chảy máu ở nhóm này lại cao 8,3% so với 6,5% của nhóm dùng ống cứng và 4,0% của nhóm dùng nong Webb Theo S R Payne và cộng sự thì khi dùng nong bán cứng do phải nong từng cỡ tách biệt nên thời gian mổ kéo dài và dễ chảy máu
Ảnh hưởng lên tỉ lệ có biến chứng chảy máu tuy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p=0,7 nhưng ở nhóm dùng nong bán cứng có tỉ lệ chảy máu cao nhất (8,3%) Thứ nhì là nhóm ống cứng (6,5%) và ít nhất là nhóm
Trang 27dùng nong Webb Phải chăng yếu tố phải dùng nhiều ống đồng trục nong nhiều lần làm tăng tỉ lệ biến chứng chảy máu? Vì khi sử dụng nong Webb đường nong lúc nào cũng được chèn bởi ống nong hoặc Amplatz do vậy các mạch máu bị chèn không gây chảy máu
Với tỉ lệ sót sỏi giữa 3 nhóm dụng cụ nong khác nhau cũng có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên tỉ lệ sót sỏi nhiều nhất là ở nhóm dùng nong Webb (31,6%), ít nhất là nhóm dùng nong bán cứng (10%), còn ở nhóm dùng nong cứng tỉ lệ sót sỏi là 23,0% Tỉ lệ sót sỏi trong các nghiên cứu rất khác nhau do đối tượng nghiên cứu khác nhau Bảng tổng kết dưới đây cho thấy tỉ lệ sót sỏi rất khác nhau giữa các tác giả
Sót sỏi (%)