Mộtthông số đơn lẻ chẳng hạn như thông số nâng cao độ che phủ rừng, tăng diện tíchrừng trồng, công bằng về chia sẻ lợi ích, hay xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng cóthể làm nổi bật sự thàn
Trang 1Chương 3: Những vấn đề cơ bản trong Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
3.1 Các biện pháp và yếu tố để thành công 1
Thành công trong quản lý rừng cộng đồng được xác định đa chiều, đa thông số Mộtthông số đơn lẻ (chẳng hạn như thông số nâng cao độ che phủ rừng, tăng diện tíchrừng trồng, công bằng về chia sẻ lợi ích, hay xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng) cóthể làm nổi bật sự thành công này trên một khía cạnh nào đó, nhưng nếu chỉ xem xéttính thành công dưới một góc độ riêng lẻ thì chúng ta không thể xác định được tínhbền vững cũng như sự thành công của quản lý rừng cộng đồng Ví dụ: mặc dù điều kiện rừng (mật độ cây, độ tàn che, và sự đa dạng loài) có thể đã được cải thiện, nhưng việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân địa phương vẫn chưa được cải thiện đáng kể Điều này là
do các quy định còn hạn chế, mà các quy định được thiết lập chỉ để giúp cải thiện điều kiện rừng Về mặt lý thuyết, định nghĩa về sự thành công trong quản lý rừng cộng đồng cần phải kết hợp với tích tính bền vững sinh thái, công bằng xã hội, và hiệu quả kinh tế để đáp ứng mong đợi của xã hội và người sử dụng.
Biện pháp thành công trong quản lý rừng cộng đồng đã được thảo luận và phân chia thành 3 nhóm chính là: bền vững về mặt sinh thái, công bằng, và hiệu quả
1 Sinh thái bền vững bao gồm:
Cải thiện điều kiện rừng (ví dụ: tăng diện tích rừng, tăng đa dạng loài, tăngnăng suất của rừng, và tăng số lượng các loài có giá trị)
Giải quyết các vấn đề suy thoái môi trường (ví dụ: tái trồng rừng, bảo vệ xóimòn đất, và quản lý lưu vực)
2 Khía cạnh công bằng liên quan tới:
Nâng cao công bằng trong chia sẻ chức năng quản lý (quyền quản lý), quyềnhạn (quyền tiếp cận và kiểm soát), và có trách nhiệm đối với vùng được giaohay đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên
1Adchraporn Pagdee và các cộng sự 2005
Trang 2và giảm nghèo
Giảm xung đột giữa các cộng đồng địa phương và các cấp chính quyền
Kiểm soát tham nhũng
Giải quyết được các vấn đề trong khúc mắc trong quản lý (ví dụ: sự mất cânbằng quyền lực hành chính, và sự mất cân bằng giữa giữa sinh thái môi trường
và kinh tế xã hội)
Giảm việc sử dụng rừng sai mục đích của cá nhân (ví dụ: buôn lậu gỗ)
Tuy nhiên, để quản lý rừng thành công thì quan trọng nhất là phải đáp ứng được nhucầu của người dân địa phương, cải thiện điều kiện rừng, giải quyết các vấn đề môitrường và phân chia lợi ích công bằng Những biện pháp này là để đạt được các mụctiêu trước mắt trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Các yếu tố quan trọng dẫn đến thành công trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng cóthể được chia thành 9 nhóm chính như sau:
Trang 3 Các quy tắc để điều tiết việc sử dụng các sản phẩm rừng trong cả hai hình thứcchính thức và không chính thức
2 Các tổ chức
Thực thi hiệu quả các quy tắc bằng các quy định để kiểm soát những ngườithực hiện sai nguyên tắc, và mang ra phán xét những người này
Giám sát các phương pháp để đánh giá xem khuôn khổ thể chế vẫn còn có thể
áp dụng được đối với cộng đồng hay không
3 Các ưu đãi và lợi ích
Lợi ích về giá trị: một nguồn tài nguyên có giá trị ở một mức độ nào, đó là giátrị mà cộng đồng phải thành lập các nhóm địa phương chịu trách nhiệm đểquản lý tài nguyên
Thây đổi chi phí trong đầu tư quản lý rừng cộng đồng và thay đổi thể chế
Mang đến lợi ích cho người dân thôn, bản khi tham gia các chương trình quản
lý rừng
Phụ thuộc vào rừng Rừng được coi là một nguồn tài nguyên đáp ứng nhữngnhu cầu cơ bản của cộng đồng (ví dụ: thực phẩm, củi đun, và các loại thuốc,
và là nơi có những hoạt động truyền thống của người dân địa phương)
Chia sẻ những lợi ích chung sẽ tạo nên sự quản lý trong cộng đồng
4 Hỗ trợ tài chính và nguồn nhân lực
Đồng ý với các cấp chính quyền và nhân viên để thực hiện quản lý rừng cộngđồng
Hỗ trợ nguồn tài chính và nhân lực từ các tổ chức phi chính phủ, các cơ quanchính phủ, các tổ chức quốc tế, và cá nhân
Hỗ trợ kỹ thuật từ của các quan trong ngành lâm nghiệp cho cộng đồng địaphương
Trang 4 Tính đa dạng (ví dụ: các loại rừng, sự đa dạng về mặt sinh thái, mật độ câyrừng cao hay thấp)
Mức độ suy thoái tài nguyên hiện tại Mức độ suy thoái có thể ảnh hưởng tớiđộng lực tham gia quản lý rừng cộng đồng
Xu hướng phá rừng đang gia tăng, ổn định, hay suy giảm
Khả năng dự báo các nguồn tài nguyên (1) Có thể dự đoán được một cáchtương đối và (2) không thể dự báo một cách tương đối
6 Các đặc trưng của cộng đồng bao gồm:
Quy mô cộng đồng: cộng đồng có quy mô lớn hay nhỏ
Địa điểm: sống gần rừng
Dân số tăng nhanh
Mức độ di cư tăng
Có tranh chấp giữa người dân địa phương và người bên ngoài
Social-cultural diversity = heterogeneity
Đa dạng về văn hóa xã hội (tính không đồng nhất)
Điều kiện kinh tế của các thành viên trong cộng đồng
Có kinh nghiệm trong các công việc chung
Các hoạt động thực tiễn truyền thống Người dân vẫn duy trì các kỹ thuậttruyền thống để sử dụng và khai thác lâm sản
Trang 5o Sự công nhận mang tính pháp lý của nhóm người địa phương (có thẩmquyền trong quản lý rừng)
o Sự công nhận không chính thức của người dân địa phương: không có tưcách pháp lý của nhóm người địa phương, nhưng các quan chức làm việccùng với cộng đồng
o Sự chấp nhận của người dân địa phương: không có tư cách pháp lý, không
có công việc hợp tác giữa các quan chức và cộng đồng, nhưng những ngườidân địa phương vẫn tự cho phép được làm việc
o Không có sự công nhận của địa phương
Xác định rõ các thủ tục quản lý ở địa phương
Xây dựng lại chức năng hành chính cho người dân địa phương (địa phươngchịu trách nhiệm)
Xây dựng lại các nguồn ngân sách cho các cơ quan (chính quyền địa phương)
9 Ảnh hưởng của công nghệ và thị trường
Thay đổi về mặt kỹ thuật
Yêu cầu của thị trường cao hơn về các sản phẩm rừng và tăng giá trị kinh tếcác sản phẩm rừng
Giới thiệu về cơ sở hạ tầng
Bất ổn và biến động về điều kiện thị trường
3.2 Vấn đề tổ chức cộng đồng và ra quyết định
Như được mô tả trong chương 1, một cộng đồng là một nhóm người sống chung trongmột khu vực Nhóm người này có cùng mối quan tâm và cùng làm việc với nhau vàtôn trọng đến lợi ích chung của họ Một cộng đồng lâm nghiệp là một nhóm ngườisống gần rừng hoặc sống trong rừng Họ cùng quản lý và sử dụng tài nguyên rừng chosinh kế của họ Ở các nước Đông Nam á, một cộng đồng lâm nghiệp bao gồm hộ giađình trong một làng hay một xã Theo truyền thống, một cộng đồng có một ngườilãnh đạo và ra quyết định về các hoạt động của cộng đồng
Trang 6giới của thôn bản Phù hợp với quy định của chính phủ, chính quyền thôn cũng cóquyền ban hành quy tắc thôn bản để điều tiết việc sử dụng đất đai và tài nguyên rừngtrong phạm vi thôn bản Thôn bản có thể thành lập các hiệp hội quản lý rừng trongthôn (viết tắt là VFMA) để tham gia quản lý rừng sản xuất trên cơ sở hợp đồng cótrước2 Trưởng thôn là người đứng đầu trong thôn và là người hướng dẫn việc đưa raquyết định trong các cuộc họp thôn.
Ở Campuchia, một cộng đồng thôn bản chỉ đơn giản là một nhóm người cùng sống
và làm việc trong một khu vực, chia sẻ những giá trị chung, các ý tưởng chung, vànhững lợi ích trong và ngoài ngoài thôn.Thôn bản là đơn vị hành chính của chính phủ.Thường có bốn đến 7 thôn trong một xã Trong thôn có vài nhóm người cùng chungsống với nhau, và thuộc một hay nhiều gia tộc khác nhau Thôn bản là nơi mà ngườidân địa phương trao đổi với nhau trong cuộc sống đời thường Thông thường, trưởngthôn là người có ảnh hưởng lớn đối với các thành viên trong thôn3
Ở Việt Nam, thôn bản không phải là một đơn vị hành chính, mà nó được định nghĩa
như là một đơn vị địa lý nhân văn Thôn bản không phải là tổ chức thuộc nhà nước,tuy nhiên, nhà nước công nhận tổ chức lâu đời này gồm có trưởng thôn, già làng, các
hộ gia đình, và các cá nhân, ban quản lý rừng của thôn, tổ chức đảng và các tổ chứccộng đồng, các nhóm hộ gia đình, các nhóm sở thích, hoặc tổ chức cộng đồng về bảo
vệ rừng, các cán bộ khuyến nông-lâm trong thôn4
2Khamphay Manivong & Phouthone Sophathilath 2007
3KEA KIRI Renol 2005
4Nguyen Ba Ngai và các cộng sự 2005
Trang 7Trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng, cộng đồng địa phương thành lập nên các tổchức để quản lý bền vững các khu rừng trong ranh giới của thôn bản Các tổ chứcđược đặt tên khác nhau, phụ thuộc vào địa điểm và các quốc gia, chẳng hạn như nhómquản lý rừng của thôn, hay các đơn vị, hiệp hội, tổ chức hoặc các ủy ban nhân dân Tổchức đó có một nhà lãnh đạo/ chủ tịch được các thành viên của thôn bầu ra thông quacuộc họp thôn Cơ cấu các tổ chức quản lý rừng thôn bản thay đổi theo quốc gia Tuynhiên, việc đưa ra quyết định về quản lý và sử dụng rừng, càng có nhiều người thamgia thì càng tốt Tốt nhất là khi cả cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định
Tại thôn Nampheng (huyện Namo, tỉnh Oudomaxay, Lào), nơi triển khai dự án Lâmsản ngoài gỗ của IUCN (IUCN-NTFP) với sự hỗ trợ tài chính của chính phủ Hà Lan,trưởng thôn chính là trưởng nhóm tiếp thị lâm sản ngoài và nhận được được mộtkhoản tiền khuyến khích của nhóm tiếp thị lâm sản ngoài gỗ trong thôn Dự án thànhlập các nhóm tiếp thị lâm sản ngoài gỗ bằng cách tiếp cận có sự tham gia dựa trên nhucầu của người dân Mục tiêu của nhóm tiếp thị là cải thiện khả năng thương thảo củangười dân trong thôn với các nhà tiểu thương, thiết lập hệ thống quản lý măng đắngbền vững, tăng thu nhập cho hộ gia đình, và tăng quỹ phát triển dựa vào thôn bản.Trong nhóm tiếp thị cộng đồng có các nhóm nhỏ như sau: nhóm tiếp thị cộng đồng,nhóm giám sát, nhóm tài chính và kế toán, và tất cả các thành viên trong thôn đều làthanh viên của nhóm Một người trong hộ gia đình đại diện tham dự các cuộc họpnhóm, để cùng tham gia trong quá trình ra quyết định và các quy định Thông quanhóm này, tất cả các hộ gia đình đều tham gia vào các hoạt động tiếp thị và quản lý5.Cấu trúc của các nhóm tiếp thị lâm sản ngoài gỗ trong thôn được thể hiện trong sơ đồsau:
5ISHIKAWA Miyuki và DOUANGPHOSY Boonthavy 2003
Trang 8Nguồn: ISHIKAWA Miyuki và DOUANGPHOSY Boonthavy 2003
Trong các dự án Quản lý rừng bền vững và dự án Phát triển nông thôn, có nhu cầuthành lập một tổ chức lâm nghiệp trong thôn (VFO) Một VFO về cơ bản gồm có: (1)các thành viên VFO nói chung bao gồm những người đăng ký là thành viên của VFO,
và (2) tập hợp cán bộ những người cùng nhau lập nên Ủy ban lâm nghiệp thôn bản(VFC) của VFO Một VFC gồm có chủ tịch VFO, một thư ký, một thủ quỹ, và ít nhấtmột người làm lâm nghiệp trong thôn Nên có ít nhất một người phụ nữ là thành viêntrong VFC Ngoài chủ tịch VFO, người đồng thời là trưởng thôn, những cán bộ VFOkhác nên được các thành viên trong VFO lựa chọn Tiếp theo là thành lập các nhómtrong thôn để phụ trách các hoạt động cụ thể của PSFM, ví dụ như điều tra rừng.Những người trong thôn làm nghề rừng lập nên các nhóm với xác nhận của chủ tịchVFO6 Cơ cấu tổ chức của hội lâm nghiệp thôn được trình trong sơ đồ sau7:
6Ministry of Agriculture and Forestry 2008
7Ministry of Agriculture and Forestry 2001
Organizational Structure of Village Forestry Association
Trang 9Ở Ratanakiri, Campuchia, ủy ban lâm nghiệp cộng đồng thôn bản (VCFC) và các ủyban lâm nghiệp cộng đồng xã (CCFC) được thành lập thông qua sự bầu cử dân chủcủa các thành viên của các thôn liên quan Các thành viên của ủy bản lâm nghiệp cộngđộng xã được lựa chọn từ các đại diện của ủy ban lâm nghiệp cộng đồng thôn Nhiệm
vụ của VCFC tập trung vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tài nguyênthiên nhiên có sự tham gia trong thôn có liên quan, bao gồm có việc lập kế hoạch,thực hiện, tuần tra, cũng như giải quyết xung đột trong thôn Cơ cấu tổ chức ủy banlâm nghiệp cộng đồng thôn bản ở Ratanakiri, Campuchia được trình bày như sau:
Organizational Structure of Village Community Forestry
Committee in Ratanakiri, Cambodia
Trang 103.3 Cơ chế chia sẻ lợi ích 8
Thuật ngữ "chia sẻ lợi ích" được hiểu khác nhau tùy theo mỗi người Quản lý rừngdựa vào cộng đồng có thể mang lại cho cộng đồng những lợi ích như sau:
• Thu nhập bằng tiền mặt từ bán tài nguyên hoặc từ công việc quản lý rừng dựavào cộng đồng
• Những lợi ích không tính được bằng tiền như sử dụng nguồn tài nguyên phục
vụ cho cuộc sống đời thường, yên tâm hơn về quyền sử dụng các nguồn tàinguyên, trao quyền hợp pháp của chính phủ cho các nhóm bị cách ly với xãhội, nâng cao năng lực cộng đồng và học tập được từ các thành viên và cácnhóm, giữ gìn các giá trị văn hóa, tôn giáo gắn liền với tài nguyên thiên nhiên
Đồng thời, lợi ích của những người tham gia vào quản lý rừng dựa vào cộng đồng là lợi ích về mặt môi trường, bao gồm cả việc duy trì các dịch vụ môi trường như bảo vệvùng phòng hộ đầu nguồn, tích lũy carbon, và bảo tồn đa dạng sinh học
-8Mahanty, S và các cộng sự 2007
Cơ cấu tổ chức nhóm sử dụng rừng (FUGs) ở Nepal
Khác các cộng đồng có thứ bậc theo kiểu truyền thống thường gặp,FUGs nâng cao tính dân chủ trong việc ra quyết định và các hoạt động tổchức Quyền và trách nhiệm của các thành viên của FUG được thể hiệntrong quy chế, điều lệ và quy định Tư cách thành viên của một nhómbao gồm các thành viên đại diện cho các hộ gia đình Các thành viêncùng tham gia vào Ban đại diện (một tổ chức hoạch định chính sách caonhất của FUG) Họ bầu ra các cán bộ tạo thành ủy ban thực thi hay ủyban của những người sử dụng rừng (FUC) có trách nhiệm quản lý hoạtđộng của nhóm cùng với các quyết định kịp thời hơn
Trang 11Ngoài lợi ích nói trên, còn có khoản tiền hỗ trợ cho những người tham gia quản lýrừng cộng đồng Ví dụ, cộng đồng địa phương đồng ý sử dụng nguồn tài nguyên cógiới hạn, đồng ý cam kết thời gian vào các hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng– đó là chi phí cơ hội cho việc người tham gia phải bỏ thời gian, công sức, đất đai, vàcác tài nguyên khác để thực hiện quản lý rừng Các chi phí cơ hội khác bao gồm:
• Thu thập thông tin để lập kế hoạch quản lý tài nguyên, các quyền hạn truyềnthống, các loại hình sử dụng tài nguyên hiện tại, những nguyên nhân dẫn đếnsuy thoái nguồn tài nguyên, và các điều kiện xã hội
• Xây dựng các quyền hạn của cộng đồng để sử dụng và quản lý một khu vực
Ví dụ: các thủ tục trong quá trình đăng ký để thành lập nhóm sử dụng rừng,hoặc để xin cấp giấy chứng nhận hợp pháp của nhà nước
• Thỏa thuận về đề quản lý, bao gồm có việc xây dựng các quy định về quản lý,
ra soát lại quy định có trước, và dung hòa những tranh chấp nếu có;
• Phục hồi những nguồn tài nguyên đã bị suy thoái
• Kiểm tra việc tuân thủ các quy định, giám sát, bảo vệ
Đi đôi với hưởng lợi, các chi phí quản lý rừng dựa vào cộng đồng của các nhóm khácnhau trong một cộng đồng có thể không đồng đều Để hiểu được cơ chế chia sẻ lợi íchnày, đòi hỏi chúng ta phải xem xét ai là người phải trả phí, và số lượng chi phí tươngđối trên lợi ích của các nhóm khác nhau
Có hai vấn đề chính được đề cập khi phân tích cơ chế chia sẻ lợi ích: Thông qua hoạtđộng quản lý tài nguyên có sự của cộng đồng, lợi ích nào thực sự dành cho cộngđồng? Lợi ích và chi phí sẽ được phân bổ như thế nào trong cộng đồng?
Các vấn đề về quản lý, điều kiện tài nguyên cũng như các điều kiện kinh tế xã hộitrong cộng đồng có thể đóng vai trò chủ chốt trong việc phân bổ chi phí và lợi ích.Trong khi sự tổ chức quản lý cấp địa phương và các điều kiện kinh tế xã hội (các điềukiên cộng đồng) có thể làm sáng tổ việc phân bổ lợi ích cấp cộng đồng, các điều luật
và chính sách, nhân tố liên quan đến tài nguyên có thể góp phần hiểu rõ dòng chảy lợiích vào cộng đồng
Trang 12Khung phân tích chia sẻ lợi ích
Dòng chảy lợi ích vào cộng đồng
Cần có kiến thức về các điều kiện quản lý (quyền sở hữu: cộng đồng có những loạiquyền nào?; và các điều luật và chính sách khác: có chính sách và điều luật hiện hànhhướng dẫn về dòng chảy lợi ích, thí dụ như: trả thuế và tiền quyền bản quyền; nếu cócác chính sách và điều luật liên quan thì tính khả kha và công bằng của chúng sẽ nhưthế nào?; và các điều kiện tài nguyên (xác định điều kiện tài nào nằm dưới sự quản lýcủa cộng đồng, thí dụ như như giá trị tài nguyên cao hay bị suy giảm?, và xác địnhcác mối liên quan đó đối với dòng chảy lợi ích?)
Phân bổ lợi ích trong cộng đồng
Cần có thông tin về cơ cấu quản lý cấp địa phương (các quyết định về chia sẻ lợi íchđược hình thành như thế nào? Và vai trò của các tổ chức địa phương hiện có và mớithành lập trong phân bổ lợi ích là gì?) và các thông về điều kiện địa phương (điều kiệncộng động ảnh hưởng như thế nào đên việc phân chia cơ chế hưởng lợi gồm có nộilực, mối quan tâm, năng lực, trách nhiệm, và mối quan hệ khác nhau giữa các cá nhan
và các nhóm trong cộng đồng?
Trang 13Cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng ở Cambodia
Để giải quyết vấn đề suy giảm tài nguyên rừng ở khu vực Tonle Sap, Siem Reap, một
dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia đã được thành lập với mục tiêunâng cao tinh thần trách nhiệm của người dân trong cộng đồng, duy trì tài nguyênthiên thiên theo yêu cầu địa phương, và phát triển quá trình có sự tham gia để đạtđược mục tiêu tổng quát Một Ủy ban lâm nghiệp cộng đồng đã được các thành viêncộng đồng bầu chọn 10% kinh phí được dành cho xã củng cố tinh thần trách nhiệm
và cơ cấu chia sẻ lợi ích, 90% được cộng đồng sử dụng trong việc trồng cây, bảo vệrừng, phát triển cơ sở hạ tầng, và hỗ trợ những người nghèo nhất trong xã Cho tớinay, khai thác đem lại lợi ích lớn nhất cho cộng đồng Siem Reap Số tiền thu được đãđược sử dụng để xây trường học, đầu tư các hoạt động phát triển khác Chia sẻ lợi íchbao gồm việc đảm bảo sử dụng bền vững các sản phẩm rừng và lâm sản ngoài gỗ(NTFPs) theo cách truyền thống, quản lý thương mại, và phân bổ lợi ích trực tiếp vàgián tiếp Ngoài ra, cũng cần phải thiết lại nguồn tài nguyên rừng để đảm bảo nó cótính bền vững lâu dài
Các yếu tố chính xác định sự thành trong chia sẻ lợi ích của quản lý tài nguyên thiênnhiên dựa vào cộng đồng ở Campuchia được trình bày như sau:
Trang 14Chia sẻ lợi ích trong quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng tại Lào
Ở Lào, người ta đã tiến hành thử nghiệm các hệ thống khác nhau trong quản lý rừngbền vững và việc phân chia lợi ích về sự tham gia của cộng đồng Tuy nhiên, BộNông và Lâm nghiệp đã đưa ra các quy định về cơ chế chia sẻ lợi ích của nhữngngười tham gia trong quản lý rừng bền vững Trong đó, phần thu nhập cố định củachủ sở hữu rừng từ việc khai thác gỗ được nộp cho ngân sách quốc gia, phần thu nhập
dư ra từ bán gỗ sẽ được phân chia như sau:
30% dành cho ngân sách nhà,
20% cho quỹ phát triển rừng quốc gia,
25% để thực hiện kế hoạch quản lý rừng và
25% cho quỹ phát triển địa phương
Nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ rất khó kiểm soát Người dân trong thôn thu đượcnhiều lợi ích từ lâm sản ngoài gỗ, việc phân chia nguồn tài nguyên này trong cộngđồng phụ thuộc chủ yếu vào việc thu hái lâm sản ngoài gỗ của từng người Do đó, lâmsản ngoài gỗ có tiềm tăng lớn trong việc tạo thu nhập và bảo đảm lương thực cho hộgia đình Những kinh nghiệm ở Lào cho thấy, bằng cách thêm giá trị cho các chuỗibán hàng thông qua khâu chế biến, tiếp thị nhóm, có khả năng sẽ mang lại lợi ích