HÚT THUỐC LÁ VÀ TÌNH TRẠNG NHA CHU Ở NAM GIỚI 35 – 44 TUỔI TÓM TẮT Mục tiêu: Xác định tỉ lệ hiện mắc và mức độ trầm trọng của bệnh viêm nha chu ở nam giới 35 - 44 tuổi tại quận 5, TP.
Trang 1HÚT THUỐC LÁ VÀ TÌNH TRẠNG NHA
CHU Ở NAM GIỚI 35 – 44 TUỔI
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ hiện mắc và mức độ trầm trọng của bệnh viêm nha chu ở
nam giới 35 - 44 tuổi tại quận 5, TP.HCM; so sánh tỉ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh nha chu ở nam giới 35-44 tuổi trong cư dân quận 5, TP.HCM có và không hút thuốc lá; xác định mối liên quan giữa lượng thuốc sử dụng, thời gian hút thuốc
và mức độ phơi nhiễm tích lũy với các chỉ số của bệnh nha chu: độ trụt nướu, độ sâu túi, mất bám dính, chảy máu nướu, mảng bám răng
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện ở các công dân nam tuổi từ 35 – 44, đang sinh sống tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, miền Nam Việt Nam
Kết quả: Tỉ lệ người hiện đang hút thuốc lá là 60%, trong đó 75% là nghiện nặng
(hút trên 10 điếu mỗi ngày) Chỉ số mảng bám (CSMB 1 là 42,5 % và CSMB 2 là
48 %) và tỉ lệ vôi răng cao (trên 22 răng trong 28 răng được khám) Tỉ lệ viêm nha chu là 19,3% Mảng bám ở nhóm hút thuốc lá nhiều hơn nhóm không hút thuốc lá,
Trang 2nhưng chảy máu nướu ở nhóm hút thuốc lá ít hơn ở nhóm không hút thuốc lá và nhóm hút thuốc lá nhưng đã bỏ (p<0,05) Trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính ở nhóm hút thuốc lá cao hơn so với nhóm không hút thuốc (p<0,01) Kết luận: có mối liên quan giữa tình trạng nha chu (mảng bám, chảy máu nướu, trụt nướu, độ sâu túi, mất bám dính) với số điếu hút mỗi ngày, số năm hút thuốc và mức độ phơi nhiễm tích lũy
Objective: To determine tobacco smoking and the relationship between tobacco
smoking and periodontal status in 35- 44 years old males, in district 5, hochiminh city, 2007
Methods: A cross-sectional study was conducted among males aged from 35 to 44
years old, living in district 5 of HoChiMinh City
Results: The prevalence of smokers was 60%, among them 75% were heavy
smokers (>10 cigarettes/day) Plaque index (PlI 1: 42.5% and PlI 2: 48%) and Calculus index (>22 teeth out 28 examined ones) were equally high Dental plaque index among smokers was higher than in non smokers, however Bleeding index was lower as compared to non smokers group and to group that quitted smoking
Trang 3(p<0.05) Gingival recession, pocket depth and loss of attachment among smokers were more important than in non smokers (p<0.01)
Conclusion: There was a correlation between periodontal status (plaque, gingival
bleeding, recession, pocket depth, loss of attachment) and the number of cigarettes consumed per day, the duration of smoking habit and the cumulative exposure level to tobacáco smoking
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Hút thuốc lá là thói quen phổ biến ở người trưởng thành Tỉ lệ hút thuốc lá đang giảm dần ở các nước phát triển nhưng tăng dần ở các nước đang phát triển Nhiều nghiên cứu cho thấy hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh nha chu(1,2,4,6,9) Tuy nhiên, có một số nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt giữa người hút thuốc lá và không hút thuốc đối với một số tổn thương mô nha chu Ở Việt nam, tỉ lệ người hút thuốc lá ở mức cao, đặc biệt là nam giới, nhưng có rất ít nghiên cứu về mối liên quan giữa việc hút thuốc với tỉ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh nha chu(12,16)
Hiện nay phòng chống hút thuốc lá là một nhiệm vụ được đặc biệt quan tâm của nhà nước và ngành y tế Riêng quận 5, TP.HCM đã và đang thực hiện chiến dịch phòng chống hút thuốc lá, tuyên truyền và giáo dục cho người dân giảm hút thuốc
và sau đó bỏ hút thuốc Câu hỏi đặt ra là tình hình hút thuốc lá của cư dân tại quận
5 như thế nào? Tình trạng bệnh nha chu của người trưởng thành ở quận 5, TP.HCM thực sự ra sao? Hút thuốc lá có liên quan đến bệnh nha chu ở người trưởng thành như thế nào? Để trả lời những cu hỏi trên đây, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài “Hút thuốc lá và tình trạng nha chu ở nam giới 35-44 tuổi trong cộng đồng dân cư quận 5, TP.HCM”
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Trang 5Xác định tình trạng hút thuốc lá, bệnh nha chu và mối liên quan giữa hút thuốc lá
và bệnh nha chu ở nam giới 35 - 44 tuổi tại quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, năm
2007
Mục tiêu chuyên biệt
1 Xác định tỉ lệ hiện mắc và mức độ trầm trọng của bệnh viêm nha chu ở nam giới 35 - 44 tuổi tại quận 5, TP.HCM (năm 2007)
2 So sánh tỉ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh nha chu ở nam giới 35-44 tuổi trong cư dân quận 5, TP.HCM có và không hút thuốc lá (năm 2007)
3 Xác định mối liên quan giữa lượng thuốc sử dụng, thời gian hút thuốc và mức
độ phơi nhiễm tích lũy với các chỉ số của bệnh nha chu: độ trụt nướu, độ sâu túi, mất bám dính, chảy máu nướu, mảng bám răng (năm 2007)
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế, địa điểm, đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có sử dụng bộ câu hỏi, ở các công dân nam tuổi từ 35
- 44 đang sinh sống tại quận 5, TP HCM trong thời gian từ 5/6/2006 đến 4/2007
Tiêu chí chọn mẫu
Người trong nhóm tuổi nghiên cứu có hộ khẩu thường trú quận 5 Có trạng thái tinh thần bình thường, trả lời được câu hỏi, hợp tác khi khám và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ
Trang 6Người trong mẫu nghiên cứu không có mặt lúc điều tra hoặc không có khả năng trả lời phỏng vấn hay không đồng ý tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
400
Kỹ thuật chọn mẫu: chọn mẫu cụm – phân tầng nhiều bậc
Giai đoạn 1: dựa theo thống kê tình trạng kinh tế - xã hội của các phường trong địa bàn quận 5 và dựa theo cách phân tầng của Petersen chia mẫu làm 3 nhóm phường:
Nhóm thu nhập cao: phường 2, phường 10, phường 12, phường 14
Nhóm thu nhập trung bình: phường 8
Nhóm thu nhập thấp: phường 1, phường 6
Trang 7Giai đoạn 2: chọn ngẫu nhiên phường theo tỉ lệ phân bố dân cư nam giữa các cụm Giai đoạn 3: bốc thăm ngẫu nhiên tổ, liệt kê danh sách cư dân nam từ 35-44 tuổi
hộ gia đình theo danh sách, khám tất cả các cá thể đã chọn
Các bước tiến hành
Hướng dẫn cụ thể trả lời bộ câu hỏi
Khám lâm sàng: Mảng bám – Vôi răng – Chảy máu nướu – Độ trụt nướu – Độ sâu túi - Mức độ mất bám dính
Việc khám lâm sàng sẽ do một người thực hiện cho tất cả các đối tượng, người khám không biết lịch sử hút thuốc của bệnh nhân
Mảng bám sử dụng chỉ số Loe & Silness để đánh giá ở mặt ngoài sáu răng chỉ số:
tất cả các răng cối lớn thứ nhất, răng cửa giữa hàm trên bên phải và răng cửa giữa hàm dưới bên trái
Vôi răng được ghi nhận có hay không ở mỗi vị trí, không cần quan tâm đến số
lượng và sự khác biệt giữa vị trí trên nướu và dưới nướu
Chảy máu nướu: được xem là dương tính khi quan sát thấy máu chảy trong vòng
20 đến 30 giây sau khi thăm dò bằng cây đo túi
Độ trụt nướu: được đo từ đỉnh bờ nướu viền đến đường nối men-xê măng, tính
bằng mm Vị trí được đo ở giữa ngòai và gần ngòai của mỗi răng trừ răng khôn
Độ sâu túi: là khoảng cách từ đỉnh bờ nướu viền cho đến đáy khe nướu, tính bằng
mm Vị trí được đo ở giữa ngòai và gần ngòai của mỗi răng trừ răng khôn
Trang 8Tình trạng hút thuốc lá được chia thành các nhóm hiện đang hút, hút nhưng đã bỏ
và không hút Mức sử dụng thuốc lá được tính theo số điếu hút mỗi ngày và chia
thành hai mức: nặng (hút ≥10 điếu/ngày) và nhẹ (hút <10 điếu/ngày) Thời
gian hút thuốc được tính theo số năm hút thuốc và chia thành hai mức:
nặng (hút ≥15 năm) và nhẹ (hút <15 năm) Mức độ phơi nhiễm tích lũy được tính theo đơn vị điếu-năm (số điếu hút mỗi ngày nhân với số năm hút thuốc) và cũng chia thành hai mức: nặng (≥200 điếu-năm) và nhẹ (<200
điếu-năm)
Tình trạng vệ sinh răng miệng được đánh giá dựa trên ba chỉ tố: mảng bám, vôi
răng và chảy máu nướu Mảng bám được đánh giá theo trung bình chỉ số mảng bám và tỉ lệ phần trăm từng mức chỉ số mảng bám Vôi răng và chảy máu nướu được đánh giá theo số răng có vôi răng hay có chảy máu nướu
Thông số đánh giá tình trạng nha chu của nghiên cứu là tỉ lệ, phân bổ, mức độ
trầm trọng của mất bám dính và phân chia tình trạng bệnh dựa trên mất bám dính
và độ sâu túi Mất bám dính được tính bằng cách cộng độ sâu túi và độ trụt nướu ở mỗi vị trí Tỉ lệ mất bám dính là phần trăm số cá thể có ít nhất một vị trí có mức độ mất bám dính cao hơn một ngưỡng nhất định Phân bổ hay phạm vi mất bám dính được tính theo trung bình số vị trí có mất bám dính cao hơn ngưỡng Mức độ trầm trọng của mất bám dính được tính là mất bám dính trung bình của tất cả các vị trí có mức độ mất bám dính ≥ 2mm
Trang 9Những trường hợp có viêm nha chu được xác định theo tiêu chuẩn mà Beck sử dụng là những cá thể có từ hai vị trí trở lên mất bám dính ≥ 5mm và ít nhất một vị trí có độ sâu túi ≥ 4mm
Thu thập và phân tích dữ liệu
Dữ liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 15.0 Sử dụng kiểm định Chi bình phương để đánh giá mối liên quan giữa hút thuốc lá với các yếu tố khác Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập và phân tích ANOVA một yếu tố để
so sánh sự khác biệt về tỉ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh nha chu giữa các nhóm Khảo sát tương quan Pearson để đánh giá mối tương quan giữa tình trạng nha chu và các thông số liên quan đến tình trạng hút thuốc lá
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu có 400 người tham gia phỏng vấn và khám lâm sàng,
có một người bị mất răng toàn bộ, do đó mẫu nghiên cứu còn lại là 399 người Cán
bộ công chức chiếm 49,5%, doanh nhân và những người lao động phổ thông có tỉ
lệ tương đương Hầu hết đều tốt nghiệp phổ thông cơ sở (90%), trong đó 44% tốt nghiệp phổ thông trung học, 22% trung học chuyên nghiệp và 22% đại học và trên đại học Đa số là dân tộc kinh (74,5%), còn lại là dân tộc Hoa (25%) Tất cả ở độ tuổi 35 – 44 tuổi, đại diện cho lứa tuổi trung niên ở Quận 5 TP.HCM
Tình hình hút thuốc lá ở lứa tuổi trung niên
Trang 10Kết quả điều tra cho thấy tỉ lệ người hiện hút thuốc lá là 60%, nếu cộng thêm những người đã từng hút thuốc thì tỉ lệ này lên đến 72% Trong đó, 75% hút trên 10 điếu thuốc mỗi ngày và 81,5% hút thuốc từ 15 năm trở lên Như vậy, thói quen hút thuốc lá vẫn còn rất phổ biến trong cộng đồng dân cư Đây thực sự là những con số đáng báo động, đòi hỏi cần đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cho mọi người Thực thi những biện pháp làm thế nào hạn chế thanh niên hình thành thói quen hút thuốc lá và khuyến khích từ bỏ thuốc lá
Hút thuốc lá phổ biến nhất ở người lao động phổ thông (70,4%) Trình độ học vấn cũng
có mối liên hệ mật thiết, người có trình độ càng cao thì tỉ lệ hiện đang hút thuốc càng thấp (40%) và tỉ lệ bỏ thuốc lá cũng cao (17%) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả Điều tra Y tế quốc gia 2001-2002
Việt nam là một trong những nước có tỉ lệ đàn ông hút thuốc lá cao trên thế giới
Vì thế, hút thuốc lá là mối quan tâm lớn đối với tình trạng sức khỏe người Việt Nam Nếu không có những biện pháp hữu hiệu để làm giảm tỉ lệ nam giới hút thuốc và ngăn chặn thanh thiếu niên tiếp cận với thuốc lá, chúng ta sẽ phải đối mặt tình trạng sức khỏe ngày càng tồi tệ và gánh nặng kinh tế trong tương lai gần Nghiên cứu này mong muốn góp thêm bằng chứng khoa học về tác hại của thuốc
lá và từ đó giúp mọi người ý thức rõ hơn về sự cần thiết từ bỏ thuốc lá và không đến với thuốc lá
Hút thuốc lá và tình trạng vệ sinh răng miệng
Trang 11Tình trạng vệ sinh răng miệng trong nhóm nghiên cứu kém, hầu hết đối tượng nghiên cứu có mảng bám tích tụ và chủ yếu nằm ở mức chỉ số mảng bám cao (1 và 2) Mảng bám ở nhóm có hút thuốc (1,63 ± 0,57) nhiều hơn nhóm không hút thuốc (1,38 ± 0,56; p ≤ 0,05), ngược lại tình trạng chảy máu nướu ở nhóm hút thuốc lá (0,85 ± 2,20) ít hơn ở nhóm không hút (1,56 ± 3,14; p ≤ 0,05) Tình trạng vôi răng tính chung cho tất cả các răng không có sự khác biệt giữa các nhóm Tuy nhiên, khi khảo sát từng răng thì tình trạng vôi răng tập trung ở các răng 15, 14, 13, 12,
Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh nha chu trong dân số nghiên cứu
Phơi nhiễm thuốc lá và tình trạng mô nướu
Trang 12Số răng chảy máu nướu ở những người có hút thuốc lá ít hơn những người không hút thuốc lá Điều này có thể giải thích do tác dụng tại chỗ của nicotine trong việc làm giảm lưu lượng máu Kết quả này tương tự nghiên cứu của Preber và Bergstrom(1,3), mức
độ viêm nướu giảm ở người hút thuốc lá có hiệu ứng đáp ứng liều Phát hiện này cần được quan tâm vì biểu hiện chảy máu nướu khi thăm dò là một trong những dấu hiệu trước tiên của bệnh, có thể giúp chẩn đoán sớm sự phá hủy mô nha chu Hơn nữa, chảy máu nướu khi thăm dò cũng là tiêu chuẩn cho kế hoạch điều trị nha chu Do đó, nếu không để ý đến khuynh hướng giảm chảy máu nướu ở những người hút thuốc lá thì có thể đánh giá sai lệch (nhẹ đi) tình trạng bệnh nha chu và hậu quả là điều trị không đúng mức, kịp thời(1,8,10)
Phơi nhiễm thuốc lá và sự phá hủy mô nha chu
Bảng 1: Tình trạng viêm nha chu ở các nhóm
Có viêm nha chu
Không có viêm nha chu
Tổng số 77 19,3 322 80,7
Không hút thuốc
13 11,6 99 88,4
Hiện đang 52 21,8 186 78,2
Trang 13Kết quả của nghiên cứu cho thấy tình trạng trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính
ở nhóm những người có hút thuốc lá luôn có khuynh hướng cao hơn so với nhóm những người không hút thuốc lá (p ≤ 0,01)(bảng 2) Tỉ lệ, phân bổ và mức độ trầm trọng của mất bám dính ở những người có hút thuốc lá luôn cao hơn so với những người không hút thuốc(1,2,3,5,915)
Bảng 2: Tình trạng trụt nướu, độ sâu túi, mất bám dính theo trung bình tất cả các
vị trí của các nhóm
Nhóm
TB trụt nướu giữa ngoài (TB
TB trụt nướu gần ngoài (TB
TB độ sâu túi giữa ngoài (TB
±ĐLC)
TB độ sâu túi gần ngoài (TB
±ĐLC)
TB mất bám dính giữa ngoài (TB
TB mất bám dính gần ngoài (TB
Trang 14±ĐLC)±ĐLC) ±ĐLC) ±ĐLC)
Không hút thuốc
1,44 ± 1,01#
1,33 ± 0,85#
2,10 ± 0,22# @
2,11 ± 0,21# @
3,54 ± 1,15#
3,38 ± 1,02# *
Hiện đang hút
1,79 ± 0,91#
1,65 ± 0,82#
2,20 ± 0,27#
2,20 ± 0,26#
3,96 ± 1,09#
3,82 ± 1,01#
Hút nhưng
đã bỏ
1,77 ± 1,09
1,65 ± 1,00
2,23 ± 0,28@
2,24 ± 0,28@
3,98 ± 1,31
3,87 ± 1,23*
One-way ANOVA Tukey post hoc test *: khác biệt theo cặp p ≤ 0,05 # và @: khác biệt theo cặp
p ≤ 0,01
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan bệnh học giữa hút thuốc lá và sự phá hủy
mô nha chu Trong mẫu nghiên cứu, những người hút thuốc lá luôn có tỉ lệ, phạm
vi và mức độ trầm trọng của tình trạng trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính cao hơn đáng kể so với những người không hút thuốc lá và có sự giảm nhẹ về tình trạng tổn thương nha chu ở nhóm hút thuốc nhưng đã bỏ so với nhóm hiện vẫn đang hút thuốc (bảng 3) Mối tương quan còn chắc chắn hơn vì trong nghiên cứu này các yếu tố góp phần khác đã được kiểm soát Độ tương quan giữa hút thuốc lá
Trang 15và tình trạng tổn thương nha chu ở mức ý nghĩa cao Cũng qua khảo sát mối tương quan này, cho thấy có hiệu ứng đáp ứng liều của hút thuốc lá đối với bệnh nha chu, nghĩa là hút thuốc càng nhiều thì tình trạng tổn thương nha chu càng nặng(4,6,8,10) Hơn nữa, ảnh hưởng của việc hút thuốc lá có thể giải thích rõ nhờ những hiểu biết hiện nay về tiến trình của bệnh Vì thế, hút thuốc lá có liên quan rõ rệt với tình trạng bệnh nha chu trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3: Tương quan giữa các yếu tố tình trạng nha chu và các thông số liên quan
đến tình trạng hút thuốc lá
Số điếu hút mỗi ngày
p
Số năm hút thuốc
p
Mức
độ phơi nhiễm tích lũy
p
TB Chỉ
số mảng bám
r = 0,181*
<0,05
r = 0,168*
<0,05
r = 0,198*
<0,05
Chỉ r = <0,05 r = <0,05r = <0,05