1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương

315 651 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương
Tác giả Trần Văn Quảng, Vũ Văn Quý, Vũ Thị Hường, Trần Thu Hường, Nguyễn Thị Nhung
Người hướng dẫn Trần Thu Hường - Vụ Tổ chức Cán bộ, Vũ Văn Quý - Vụ Tổ chức Cán bộ, Vũ Thị Hường - Vụ Tổ chức Cán bộ, Ths Phan Xuân Trường - Trường Đại học Luật Hà Nội, TS Trần Quang Minh - Vụ Đào tạo, Bộ Nội vụ, TS Trần Quang Minh - Vụ Đào tạo, Bộ Nội vụ, TS Lờ Hồng Sơn - Cục Kiểm tra VBQPPL, Ths Nguyễn Thanh Thủy - Cục Thi hành án dân sự
Trường học Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp
Chuyên ngành Luật pháp, Quản lý nhà nước
Thể loại đề tài khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 315
Dung lượng 9,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của công tác đào tạo bồi dưỡng trước yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay, việc tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

Trang 1

Bộ tư pháp Viện khoa học pháp lý

Đề tài KHOA HọC CấP Bộ

Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng

đội ngũ công chức tư pháp địa phương

7524

22/10/2009

Hà Nội, 2007

Trang 2

Bộ tư pháp Viện khoa học pháp lý

Đề tài khoa học cấp bộ

đội ngũ công chức tư pháp địa phương

Hà Nội, 2007

Trang 3

Bộ t− pháp

Viện khoa học pháp lý

Đề tài khoa học cấp bộ

đổi mới công tác đào tạo, bồi d−ỡng

Trang 4

MỤC LỤC

Phần thứ nhất: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC

TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG

10

I Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức tư pháp địa phương 10

1 Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức tư pháp địa phương 10

2 Thực trạng năng lực của đội ngũ công chức tư pháp địa phương 14

II Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương 20

1 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng 21

2 Đặc điểm của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương

24

Phần thứ hai: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ

CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG

33

I Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng 33

1 Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch 33

2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng 36

3 Chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng 36

4 Hình thức đào tạo, bồi dưỡng 41

5 Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng 42

2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 50

Phần thứ ba: PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI

DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG

Trang 5

2 Đổi mới tổ chức bộ máy các cơ quan và bố trí, sử dụng hiệu quả đội ngũ công chức tư pháp địa phương

56

3 Xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng 57

4 Đổi mới chương trình, nội dung, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng 58

5 Đa dạng hoá hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng 61

6 Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 63

7 Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác đào tạo, bồi dưỡng 65

III Một số kiến nghị 65

CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thực trạng năng lực và yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương

8 Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng thi hành án dân sự cho cán bộ, công chức

tư pháp địa phương - thực trạng và phương hướng đổi mới

178

Trang 6

9 Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan tư pháp địa phương thông qua đội ngũ cán bộ tư pháp

PGS - TS Nguyễn Tất Viễn - Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật

12 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp ở thành phố Hải Phòng - thực trạng

và phương hướng đổi mới

TS Nguyễn Văn Thái - Sở Tư pháp Hải Phòng

221

13 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp ở thành phố Cần Thơ - Thực trạng

và phương hướng đổi mới

309

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, đội ngũ công chức các cơ quan tư pháp địa phương bao gồm Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cấp tỉnh), Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), công chức Tư pháp - Hộ tịch (cấp xã) và các cơ quan thi hành án dân

sự cấp tỉnh, cấp huyện (sau đây gọi chung là công chức tư pháp địa phương) đã không ngừng được củng cố và kiện toàn Hơn 20 vạn công chức tư pháp đã giúp chính quyền các cấp quản lý nhà nước về công tác tư pháp, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của địa phương, đồng thời bảo đảm sự thống nhất quản lý công tác tư pháp từ trung ương đến cơ sở

Trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong xu hướng hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế đã, đang

và sẽ tác động mạnh mẽ đến toàn bộ tổ chức và hoạt động tư pháp cùng những yêu cầu mới và nhiệm vụ mới đặt ra cho ngành tư pháp, đặc biệt là các cơ quan

tư pháp địa phương Trong dòng chảy của đổi mới và cải cách, bên cạnh những thuận lợi và thời cơ, đội ngũ công chức tư pháp địa phương đang bộc lộ những hạn chế và bất cập Thực trạng năng lực chuyên môn của nhiều công chức chưa ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra Trình độ nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh, khả năng tham mưu

tổ chức thực hiện pháp luật, tư vấn, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra còn hạn chế Trình độ ngoại ngữ, tin học bất cập trước yêu cầu của nhiệm vụ được giao Mặt khác, nhiều công chức tư pháp công tác tại vùng đồng bào dân tộc ít người lại không biết tiếng của dân tộc nơi công tác nên ảnh hưởng đến việc triển khai các công tác tư pháp cơ sở như hoà giải, phổ biến giáo dục pháp luật Trong bối cảnh đó, việc củng cố kiện toàn đội ngũ công chức tư pháp địa phương đáp ứng với yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước đặt ra trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ quan trọng của các cấp chính quyền và các cơ quan chuyên môn

Những năm qua, để củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức tư pháp địa phương, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã được đẩy mạnh, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được với yêu cầu nâng cao chất lượng, năng lực, trình độ của đội

Trang 8

ngũ cán bộ Thực tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vẫn bị coi là thứ yếu, chi phí tốn kém mà chưa thực sự được coi là một giải pháp then chốt cho việc nâng cao trình độ, năng lực cán bộ Ở một số địa phương, công tác này còn mang tính chất tình thế, chưa có quy hoạch, kế hoạch cụ thể Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng dành cho cán bộ, công chức chưa được xây dựng thống nhất, có hệ thống và phù hợp với năng lực của cán bộ và đặc thù của từng nơi, từng giai đoạn Hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng chưa linh hoạt

và chậm được đổi mới Thêm vào đó là khó khăn về thiếu giảng viên, thiếu kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị xác định

phương hướng cải cách tư pháp tới năm 2020 là “xây dựng đội ngũ cán bộ tư

pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng nâng cao và cụ thể hoá tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ” Chiến

lược cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Ba (Khoá VIII) đã đề ra và chỉ rõ: học tập là quyền lợi

và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, “mọi cán bộ, công chức phải có kế hoạch

thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng đạo đức cách mạng” Thể chế hoá và triển

khai thực hiện các chủ trương nói trên, chương trình cải cách tổng thể nền hành

chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 xác định mục tiêu đến năm 2010 “tuyệt

đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công

vụ, tận tuỵ phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân” Kế

hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003

- 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là đến năm

2010 có đội ngũ những người làm công tác hội nhập kinh tế, quốc tế thông thạo

về nghiệp vụ, ngoại ngữ, am hiểu pháp luật quốc tế, đáp ứng được với những yêu cầu của hội nhập kinh tế, quốc tế

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của công tác đào tạo bồi dưỡng trước yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay, việc tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và đội ngũ công chức tư pháp địa phương nói riêng được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tư pháp, chính quyền và cơ quan tư pháp địa phương

Trang 9

Thời gian qua, việc nghiên cứu đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương chưa được quan tâm đúng mức Một số công trình khoa học đã đề cập đến vấn đề này, nhưng phạm vi nghiên cứu

không toàn diện, đối tượng hạn chế như Đề tài khoa học cấp Bộ " Thực trạng

và mô hình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp cấp xã trong giai đoạn hiện nay" năm 2002 của Viện Khoa học pháp lý, Đề tài khoa học cấp Bộ "Tổ chức

và hoạt động của Phòng Tư pháp cấp huyện - Thực trạng và giải pháp kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động"

Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội

ngũ công chức tư pháp địa phương” là hết sức cần thiết nhằm góp phần tăng

cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá khái quát về đội ngũ cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương: những ưu điểm, kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập; tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, bất cập

- Xác định được mục tiêu, định hướng và những giải pháp cơ bản để đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương đáp ứng với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đội ngũ cán bộ công tác tại các cơ quan tư pháp địa phương đang đảm nhận công việc khác nhau, trong đó có những nhiệm vụ công tác tư pháp và những công việc hỗ trợ như kế toán, văn thư, thủ quỹ Tuy nhiên, đội ngũ công chức tư pháp địa phương được xác định thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này là những cán bộ đang trực tiếp thực hiện những công việc liên quan đến pháp luật, bao gồm:

- Đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương, bao gồm: Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch

- Đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan thi hành án địa phương gồm thi hành

án cấp tỉnh và thi hành án cấp huyện

Trang 10

4 Nhu cầu kinh tế - xã hội và địa chỉ áp dụng

Việc nghiên cứu đề tài đã phục vụ có hiệu quả cho việc xây dựng các chương trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp mà trực tiếp là tài liệu “Bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp huyện”, “Bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã”, tài liệu bồi dưỡng dành cho cán bộ Tư pháp cấp xã các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc

Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn phục vụ cho việc xây dựng và thực hiện Đề án Tổng rà soát đội ngũ cán bộ, công chức; Đề án Tăng cường năng lực của cơ quan, công chức trực tiếp tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật (ban hành kèm theo Quyết định số 909/QĐ-TTg ngày 14/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ); xây dựng Chỉ thị của

Bộ trưởng về tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với đội ngũ công chức tư pháp địa phương

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống, thống kê… để

từ đó làm rõ thực trạng, xác định mục tiêu, phương hướng và các giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương

6 Tổ chức thực hiện

Đề tài “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp

địa phương” được tổ chức thực hiện bởi:

- Cơ quan chủ quản: Bộ Tư pháp;

- Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học pháp lý;

- Chủ nhiệm: TS Trần Văn Quảng - Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ;

- Phó Chủ nhiệm: Vũ Văn Quý - Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ;

- Thư ký đề tài: Vũ Thị Hường - Vụ Tổ chức cán bộ

Trần Thu Hường - Vụ Tổ chức cán bộ Nguyễn Thị Nhung - Vụ Tổ chức cán bộ

Trang 11

Phần thứ nhất CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG

I/ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG

1 Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức tư pháp địa phương

Với vai trò là người trực tiếp thực thi pháp luật, là nhân tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động và uy tín của ngành tư pháp, đội ngũ công chức của ngành Tư pháp nói chung và đội ngũ công chức tư pháp địa phương trong hơn 60 năm xây dựng và phát triển đã đóng góp tích cực vào việc đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị - xã hội của địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành Tư pháp từ trung ương tới cơ sở

Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2005, Nghị định số 171/2004/NĐ-CP và Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự thì đội ngũ công chức tư pháp ở địa phương bao gồm:

- Đội ngũ công chức thuộc Sở Tư pháp cấp tỉnh;

- Đội ngũ công chức thuộc Phòng Tư pháp cấp huyện;

- Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã;

- Đội ngũ công chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện

Là một bộ phận của chính quyền địa phương, đội ngũ công chức tư pháp

đã và đang đảm nhận một khối lượng công việc lớn và không ngừng gia tăng trong các lĩnh vực xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, giúp chính quyền các cấp thực hiện có hiệu quả việc quản lý xã hội bằng pháp luật, góp phần giữ

Trang 12

Đồng thời, để bảo đảm sự thống nhất quản lý công tác tư pháp từ trung ương đến cơ sở, đội ngũ công chức tư pháp địa phương đang triển khai trên thực tế các chủ trương, chính sách về công tác tư pháp trong các lĩnh vực xây dựng pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, hành chính tư pháp,

bổ trợ tư pháp…

Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ chiến lược xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu quan trọng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới và cải cách đồng bộ tổ chức bộ máy nhà nước trên cả ba mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp Với chức năng, nhiệm vụ của mình, đội ngũ công chức của ngành tư pháp đã không chỉ góp phần vào việc thực hiện các nhiệm vụ hành pháp mà còn phục vụ cho việc thực hiện chức năng lập pháp và tư pháp Vai trò của đội ngũ công chức tư pháp địa phương được thể hiện qua những nội dung sau:

Một là, tham gia vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền

Xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi trước hết phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh với vai trò tối thượng của các đạo luật Với nhiệm vụ giúp

Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đội ngũ công chức thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã góp phần vào việc bảo đảm sự thống nhất, tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản trong hệ thống pháp luật thông qua các hoạt động sau:

- Thẩm định, cho ý kiến về mặt pháp lý đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân trong các lĩnh vực;

- Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực công tác tư pháp được phân công quản lý hoặc các lĩnh vực khác

do Uỷ ban nhân dân giao;

- Hướng dẫn rà soát, hệ thống hoá văn bản pháp luật trong các lĩnh vực;

- Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện và kịp thời khắc phục các sai phạm trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực

Trang 13

Hai là, nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật qua công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan tư pháp, nâng cao năng lực tiếp cận hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp

Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội, là công cụ thực hiện quyền làm chủ và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân Để đáp ứng với yêu cầu này, cùng với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật là việc phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của nhân dân nhằm hướng tới mục tiêu pháp luật được thực hiện có hiệu quả, hiệu lực trong cuộc sống Từ đó nhân dân có thể tiếp cận với pháp luật, ứng xử thích hợp trong khuôn khổ pháp luật, làm cho người dân từ biết, tuân thủ, thực hiện đến giám sát việc thực hiện pháp luật

Phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên trong hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống Do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan và công chức nhà nước, trong đó các cơ quan và công chức tư pháp giữ một vai trò nòng cốt đưa pháp luật vào cuộc sống, là cầu nối, mắt xích quan trọng giữa Nhà nước và quần chúng nhân dân trong việc nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật, hình thành niềm tin và thói quen chấp hành pháp luật của công dân Đội ngũ cán bộ này không chỉ tham gia vào khâu tổ chức thực hiện thông qua hoạt động xây dựng

kế hoạch, làm đầu mối phối hợp và hướng dẫn các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện mà còn trực tiếp thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt là ở cơ sở, thông qua các hình thức cụ thể như tuyên truyền miệng, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, phương tiện thông tin đại chúng, hoà giải…

Đồng thời, đội ngũ công chức tư pháp địa phương còn tham gia vào quá trình trợ giúp, hỗ trợ các dịch vụ pháp lý cho những người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật thông qua các cơ quan trợ giúp pháp lý của nhà nước; quản lý và đề xuất chính sách bảo đảm cho sự phát triển của các

tổ chức tư vấn pháp luật và luật sư Nhiệm vụ này góp phần vào việc bảo đảm

sự bình đẳng của người dân trong việc tiếp cận với pháp luật

Ba là, bảo đảm thực thi pháp luật thông qua hoạt động thi hành án dân sự

và các hoạt động tư pháp khác

Thi hành án dân sự là một hoạt động thể hiện quyền tư pháp của nhà nước Điều 136 Hiến pháp 1992 quy định “Các bản án và quyết định của Tòa án nhân

Trang 14

dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh thi hành” Bản án, quyết định của Toà án có được thi hành hay không liên quan trực tiếp đến tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật, chứng tỏ kỷ cương, phép nước được giữ vững Đội ngũ công chức của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện đang trực tiếp tham gia vào việc thi hành án, bảo đảm cho bản án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Cùng với những cán bộ thuộc cơ quan thi hành án dân

sự, đội ngũ công chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp đang thực hiện nhiệm

vụ giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý công tác thi hành án dân sự trên địa bàn với việc làm đầu mối để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan thi hành

án với các cơ quan có liên quan ở địa phương trong công tác thi hành án dân sự Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch, theo sự hướng dẫn của cơ quan thi hành

án cấp trên còn tham gia trực tiếp vào việc thi hành các bản án có giá trị dưới 500.000 đồng Thực tiễn cho thấy, bảo đảm bản án được thi hành nghiêm chỉnh

có ý nghĩa quyết định đến uy tín của ngành Tư pháp và niềm tin của người dân với pháp luật, lẽ phải và công lý

Đồng thời, đội ngũ công chức tư pháp địa phương còn là những người trực tiếp thực thi các quy định của pháp luật về công tác tư pháp trong các lĩnh vực công chứng, chứng thực, đăng ký hộ tịch, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của công dân, của tổ chức và cá nhân cũng như góp phần thúc đẩy

sự phát triển lành mạnh của các quan hệ dân sự, kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Bốn là, tham gia tích cực vào quá trình quản lý nhà nước bằng pháp luật của chính quyền địa phương

Vai trò của các công chức tư pháp địa phương được thể hiện bằng việc tham mưu, tư vấn các vấn đề pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương đưa ra các quyết sách phù hợp trong các lĩnh vực; thực hiện nhiệm vụ quản lý và đăng ký hộ tịch, thực hiện những nội dung về quản lý quốc tịch, lý lịch tư pháp… đối với dân cư trên địa bàn; là thành viên của các Hội đồng tư vấn, Hội đồng phối hợp công tác của địa phương Với các nhiệm vụ cụ thể của mình về quản lý công tác tư pháp trên địa bàn, đội ngũ công chức tư pháp địa phương đang tham gia tích cực vào quá trình quản lý nhà nước bằng pháp luật

Trang 15

của chính quyền địa phương, đáp ứng với yêu cầu cải cách hành chính, đổi mới

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Hiến pháp 1992 khẳng định “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Để quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc

tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn là hết sức quan trọng Việc xác định nhiệm vụ, chức trách của đội ngũ công chức

tư pháp địa phương trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của nhân dân và bảo đảm hiệu lực, tính nghiêm minh của pháp luật có một ý nghĩa hết sức quan trọng, khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ công chức tư pháp địa phương trong quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời, điều này cũng đòi hỏi phải tiếp tục kiện toàn đội ngũ công chức tư pháp địa phương cả về số lượng, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức, phẩm chất và bản lĩnh chính trị nhằm đáp ứng với yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức tư pháp trong sạch, vững mạnh, hiện đại và chuyên nghiệp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 18/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

2 Thực trạng năng lực của đội ngũ công chức tư pháp địa phương

2.1 Đội ngũ công chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án dân sự đã

có bước phát triển mạnh về số lượng Tính đến tháng 6/2006, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương đã có 6.823 cán bộ, trong đó có 2.274 chấp hành viên (không kể số chấp hành viên trong quân đội), gồm có 342 chấp hành viên cấp tỉnh và 1.932 chấp hành viên cấp huyện So với thời điểm 6/2005 thì số lượng cán bộ của cơ quan thi hành án dân sự đã tăng 11,9% (714 người), số lượng chấp hành viên tăng 4,6% (15người)1 Phần lớn số cán bộ được bổ nhiệm chấp hành viên đều bảo đảm tiêu chuẩn, có trình độ Đại học Luật hoặc tương đương

1 Nếu so sánh với thời điểm tháng 12/2002 thì số lượng cán bộ của cơ quan thi hành dán dân sự địa phương đã tăng hơn 50%; số lượng chấp hành viên tăng 9,3% Nếu so sánh với 700 chấp hành viên lúc chuyển giao công

Trang 16

- Về trình độ: Trong tổng số 6.823 cán bộ thuộc cơ quan thi hành án thì 74,5% cán bộ có trình độ Đại học và tương được trở lên (5.286 người), 15,9% cán bộ có trình độ Cao đẳng và Trung cấp nói chung (1.087 người) Số cán bộ

có trình độ sơ cấp Luật chỉ chiếm tỷ lệ 6,2%, tập trung chủ yếu ở các đơn vị miền núi, vùng sâu, vùng xa

Việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thi hành án dân sự đã được quan tâm Hàng năm, đội ngũ chấp hành viên trưởng, chấp hành viên mới được bổ nhiệm đã được tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án Năm 2002, trường Đào tạo các chức danh tư pháp (nay là Học viện Tư pháp) tổ chức khai giảng khoá đào tạo nghiệp vụ chấp hành viên đầu tiên với hơn 100 công chức có trình độ cử nhân luật, thuộc diện bổ nhiệm nguồn chấp hành viên Đến nay, Học viện Tư pháp đã đào tạo được hơn 1.041 công chức Kết quả này

đã giúp cho cán bộ các cơ quan thi hành án hoàn thành tốt hơn các nhiệm vụ được giao

- Đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án dân sự có nhiều cán bộ trẻ, năng động, với 65% cán bộ có độ tuổi dưới 30 và 34% cán bộ có độ tuổi từ 30 đến

50 tuổi Chỉ có 1% cán bộ trên 50 tuổi Điều này là thuận lợi lớn cho việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thi hành án dân sự địa phương

- Năm 2002, Bộ Tư pháp đã ban hành chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên của các cơ quan thi hành án dân sự Cho đến nay, chuẩn mực đạo đức chấp hành viên đã được phổ biến, triển khai đến từng chấp hành viên các cơ quan thi hành án trong toàn quốc Phần lớn đội ngũ chấp hành viên đã tự ý thức được vị trí, vai trò của mình, tích cực tu dưỡng, rèn luyện về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của đảng , pháp luật của nhà nước, tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, có ý thức tổ chức

kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm trong công tác, tận tuỵ với nhân dân, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Mặc dù trình độ chuyên môn của đội ngũ chấp hành viên đã từng bước

được nâng lên, nhưng kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm, năng lực thực tiễn của đội ngũ chấp hành viên và cán bộ làm công tác thi hành án vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế trước tính chất phức tạp ngày càng gia tăng của công tác thi hành

án, đặc biệt là các vụ án kinh tế lớn, có phạm vi và đối tượng thi hành án rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực

Trang 17

Một bộ phận chấp hành viên và cán bộ làm công tác thi hành án còn thiếu tận tụy, có những biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ như tham ô, nhận hối lộ, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho đương

sự (gợi ý xin tiền bồi dưỡng, tự định ra thời hạn thi hành án trái pháp luật, tiếp xúc với đương sự tại nhà riêng…) làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật Từ năm 1993 đến năm 2002, Bộ

Tư pháp đã xử lý 493 trường hợp Chấp hành viên và cán bộ thi hành án vi phạm kỷ luật Thực tế này đòi hỏi bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì cần thiết phải có biện pháp bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao bản lĩnh và ý thức trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ cơ quan thi hành án dân sự

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên trong một thời gian dài chưa được thực hiện thường xuyên và có nền nếp Hàng năm, mới chỉ được thực hiện với đội ngũ chấp hành viên trưởng và những chấp hành viên mới được bổ nhiệm Các đối tượng khác thì giao lại cho Trưởng thi hành án cấp tỉnh

tổ chức tập huấn tại địa phương Do vậy, có lúc, có nơi, một số địa phương, công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được chú trọng, có địa phương trong gần 10 năm chỉ tổ chức tập huấn nghiệp vụ được 01 lần cho Chấp hành viên và cán bộ làm công tác thi hành án dân sự địa phương Chất lượng, hiệu quả tập huấn thấp và không đồng đều Nhiều chấp hành viên sau khi được bổ nhiệm còn gặp nhiều lúng túng trong việc thực hiện các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của hoạt động thi hành án, vận dụng các quy định của pháp luật trong từng vụ việc thi hành án dân sự cụ thể, việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức cưỡng chế thi hành án…

2.2 Tình hình đội ngũ công chức tư pháp thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch

Kết quả tổng rà soát đội ngũ cán bộ tư pháp cho thấy, trong 7 năm (từ năm

1996 đến năm 2004), đội ngũ công chức Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp đã tăng 40% Đặc biệt là sau khi Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV được ban hành, đội ngũ công chức tư pháp địa phương đã được quan tâm củng cố, kiện toàn, bổ sung thêm cán bộ để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao (trong

đó có các nhiệm vụ mới được bổ sung và có nhiều nhiệm vụ gia tăng về khối lượng công việc) Đến nay, đội ngũ công chức thuộc Sở Tư pháp (bao gồm cả công chứng viên) và Phòng Tư pháp đã tăng 24,4% so với năm 2002

Trang 18

Riêng đối với đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, sau khi Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP và Thông tư liên tịch

số 04/2005/TTLT-TP-NV được ban hành, các địa phương đã quan tâm kiện toàn, bố trí tối thiểu 01 công chức/ cấp xã để đảm nhận nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý công tác tư pháp Theo số liệu báo cáo của 45 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tính đến đầu năm 2006, đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch đã là 7.197 người, tăng 6,4% so với trước khi Thông tư liên tịch

số 04/2005/TTLT-TP-NV được ban hành) 653 cấp xã đã bố trí được 02 cán bộ đảm nhận công tác Tư pháp - Hộ tịch Việc tăng cường về số lượng đã giúp cho đội ngũ công chức tư pháp địa phương hoàn thành các nhiệm vụ được giao, khẳng định vị trí, vai trò của mình trong bộ máy nhà nước nói chung và trong tổ chức chính quyền địa phương nói riêng

- Trình độ cán bộ từng bước được nâng cao trên các mặt chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ có tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp

Trong những năm qua, nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đã được thực hiện như tuyển dụng những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức… Nhờ đó, đội ngũ công chức các cơ quan tư pháp địa phương đã có sự thay đổi quan trọng, từng bước đáp ứng tiêu chuẩn chức danh cũng như yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Nếu như năm 1996, khoảng 50% đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Tư pháp và 30-35% cán bộ, công chức Phòng Tư pháp có trình độ đại học, cao đẳng luật, thì đến năm 2004, tỷ lệ này tăng lên là 67,4% đối với Sở Tư pháp và 59,7% đối với Phòng Tư pháp Đối với đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã, nếu như năm 2000, tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn từ Trung học (bao gồm tất

cả các chuyên ngành) trở lên là 31%, trong đó có 18,3% cán bộ có trình độ chuyên môn Luật từ Trung học trở lên thì đến đầu năm 2006, tỷ lệ này đã là 67,6% và 57% Số lượng cán bộ cấp xã đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ đạt 81,9% Công tác đào tạo tin học, ngoại ngữ được quan tâm Đến nay, đa số các công chức của Sở Tư pháp đã qua đào tạo tin học và có thể khai thác, sử dụng máy tính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

- Phần lớn đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với

Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, trong sạch, lành mạnh, có năng lực chuyên môn, ý thức tinh thần trách nhiệm để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao

Trang 19

- Đội ngũ cán bộ trong ngành có nhiều cán bộ, công chức trẻ, được đào tạo

cơ bản, năng động, sáng tạo, bảo đảm sự kế thừa giữa các thế hệ Những năm vừa qua, để từng bước khắc phục tình trạng thiếu cán bộ, hẫng hụt giữa các thế

hệ cán bộ, công chức, các cơ quan tư pháp địa phương đã tổ chức tuyển dụng thêm nhiều cán bộ, công chức, chủ yếu là cán bộ, công chức trẻ, có trình độ chuyên môn từ cử nhân Luật trở lên Theo số liệu khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ thì 52% cán bộ của Sở Tư pháp có độ tuổi từ 40 trở xuống Kết quả đánh giá cán bộ đối với đội ngũ cán bộ trẻ này cũng cho thấy đây là lực lượng

có nhiều chủ động, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao

Bên cạnh những ưu điểm, tính tích cực, đội ngũ công chức tư pháp địa phương cũng bộc lộ những hạn chế như sau:

Đội ngũ công chức vẫn còn thiếu về số lượng Biên chế của các cơ quan tư pháp địa phương vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ mặc dù trong quá trình kiện toàn đã được quan tâm, bổ sung biên chế Số lượng công chức tư pháp được tăng lên chủ yếu là để bổ sung cho các tỉnh, thành phố mới được thành lập Số liệu tổng hợp từ 47 tỉnh cho thấy số lượng đơn vị của Sở tăng lên 10,1% nhưng số lượng cán bộ của Sở chỉ tăng thêm 5,1%, do đó số lượng cán

bộ trung bình của 1 đơn vị (phòng và tương đương) trực thuộc Sở giảm từ 5,16 cán bộ/1đơn vị còn 4,8 cán bộ/đơn vị Một số địa phương, mặc dù đã được kiện toàn tổ chức nhưng việc giao biên chế lại không thực hiện được Do đó, một số địa phương, cán bộ tư pháp từ cấp tỉnh đến cấp xã luôn trong tình trạng quá tải công việc và khó có thể tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ dài hạn

Chất lượng đội ngũ cán bộ chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt

là đội ngũ cán bộ Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã với hơn 30% cán bộ chưa có trình

độ Trung học Luật Cá biệt có thời điểm (có sự thay đổi nhân sự theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân), số lượng công chức Tư pháp - Hộ tịch có trình độ đạt tiêu chuẩn chỉ đạt tỷ lệ 50%, có tỉnh chỉ ở mức 30% Đội ngũ cán bộ tư pháp tuy được đào tạo cơ bản, nhưng việc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời nên

đã ảnh hưởng một phần đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã thường không ổn định và chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ Thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ Tư

Trang 20

thì số cán bộ này lại được điều sang nhận công tác khác Cán bộ thay thế một phần không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, một phần không có kinh nghiệm làm công tác tư pháp nên gây khó khăn không nhỏ đối với hoạt động tư pháp, khó khăn trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp

Sau một thời gian không ổn định về tổ chức, đến nay, Phòng Tư pháp cấp huyện đã được thành lập lại và củng cố tổ chức, kiện toàn đội ngũ cán bộ Tuy nhiên, thực tế ở các Phòng Tư pháp cấp huyện mới được thành lập lại có tình trạng cán bộ thiếu kinh nghiệm, thực tiễn công tác, chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp, cá biệt còn có trường hợp chưa đáp ứng được tiêu chuẩn chức danh Bên cạnh đó, do tổ chức Phòng Tư pháp không ổn định nên đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện không được quan tâm đầu tư thoả đáng, trong đó có nâng cao năng lực, trình độ Mặc dù là cấp trung gian triển khai công tác tư pháp từ cấp tỉnh đến cấp xã nhưng đội ngũ cán bộ này chưa có đủ năng lực và

kỹ năng tổ chức thực hiện công việc tư pháp trong phạm vi cấp huyện cũng như chỉ đạo, hướng dẫn, giải quyết các vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ tư pháp cấp xã

* Tình hình đội ngũ công chứng viên

- Trong những năm qua, đội ngũ công chứng viên đã từng bước được tăng cường Tính đến tháng 6/2006, tổng số công chứng viên là 396 người, được phân bổ cho 125 Phòng Công chứng trên toàn quốc, tăng 46% (125 người) so với năm 2003 Ngoài ra, các Phòng Công chứng còn có các chuyên viên nghiệp

vụ, nhân viên khác, nhân viên hợp đồng lên tới gần 800 người, đây là nguồn cán bộ quan trọng để đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung cho đội ngũ công chứng viên khi cần thiết

- Nhìn chung, đội ngũ công chứng viên có trình độ đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và các yêu cầu công việc đặt ra 100% đội ngũ công chứng viên có trình độ Đại học Lụât và tương đương trở lên, trong

đó, số có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ chiếm 3,6% (14 người), Đại học chính quy chiếm 42,9% (170người) Đa số các công chứng viên đã có trình độ trung cấp

lý luận chính trị trở lên, trong đó 14,1% có trình độ cao cấp và cử nhân 196 người đã qua lớp đào tạo nghề công chứng viên

- Đội ngũ công chứng viên trong cả nước về cơ bản có đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác, có năng lực, trình độ và tận tâm phục vụ nhân dân Trong những năm

Trang 21

qua, tiêu chuẩn bổ nhiệm đội ngũ công chứng viên được quy định chặt chẽ nhằm xây dựng đội ngũ công chứng viên có đầy đủ năng lực, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, vô tư, khách quan, tận tuỵ với công việc

Để tạo nguồn cán bộ, bổ sung cho đội ngũ công chứng viên, trong thời gian qua, 6 lớp đào tạo công chứng viên đã được tổ chức với sự tham gia của

300 người, đa số là các chuyên viên nghiệp vụ Phòng Công chứng, ngoài ra, có một số người đang công tác trong ngành tư pháp được Sở Tư pháp cho đi học lớp đào tạo công chứng viên để tạo nguồn

Hạn chế của đội ngũ công chứng viên đó là một tỷ lệ không nhỏ công chứng viên có bằng Đại học hệ chuyên tu, tại chức (212 người - chiếm 53,5%) Đây là vấn đề cần lưu ý khi thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế của loại hình đào tạo, chú trọng kịp thời đến việc bổ sung, cập nhật các kiến thức cần thiết cho cán bộ

Công chứng viên là một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ cần phải được khuyến khích công tác lâu dài, ổn định, nhưng một số Sở Tư pháp đã đặt vấn đề chuyển công chứng viên sang làm công việc khác, ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn và khó khăn trong việc thực hiện quy hoạch, đào tạo nghề cho cán

bộ nguồn và bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ II/ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG

Đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội, có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực - nguồn tài nguyên quý của quốc gia Xuất phát từ quan điểm coi cán

bộ là nhân tố hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng và của nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ “kiến thiết cần có nhân tài Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển thêm càng nhiều”2 và do đó “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”3 Từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng với yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản lý càng trở nên cấp bách Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (Khoá VII) đã đề ra mục tiêu cải cách nền hành chính

Trang 22

nhà nước, trong đó vấn đề đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Đặc biệt, Chiến lược cán bộ thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Ba (Khoá VIII) đã đề ra và chỉ rõ: học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, “mọi cán bộ, công chức phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng đạo đức cách mạng” Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chủ trương đổi mới đất nước và đẩy mạnh hội nhập kinh tế, quốc tế, Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ X đã tiếp tục xác định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa

học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ”4

1 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng

1.1 Khái niệm đào tạo

Đào tạo được hiểu là “việc dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết,

có nghề nghiệp”5 hoặc là “làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”6 Đào tạo còn được hiểu là “một quá trình truyền thụ kiến thức mới để cán bộ được thông qua đào tạo có văn bằng cao hơn trình độ trước đó” 7

Theo các định nghĩa nói trên, có thể hiểu đào tạo là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để người được đào tạo lĩnh hội, nắm vững tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo một cách có hệ thống, theo một quy trình nhất định nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống, có khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội Đào tạo góp phần làm biến đổi hành vi của con người một cách có hệ thống thông qua hoạt động giảng dạy nhằm cung cấp, chuyển giao một khối lượng kiến thức nhất định, các giá trị văn hoá, chuẩn mực xã hội cho người được đào tạo Đó cũng là quá trình học tập của con người để có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc trong một lĩnh vực nhất định

Đặc điểm cơ bản của đào tạo đó là:

- Quá trình học tập có hệ thống Đào tạo được tổ chức theo một quy trình cụ thể, với những bước đi, thời gian thích hợp, có nội dung, chương trình và yêu cầu đặt ra đối với giảng viên, học viên theo từng giai đoạn, được đánh giá qua

4 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, 2006, tr94,95

5 Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, 1998, tr 593

6 Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Năng và Trung tâm Từ điển học, 5/2000, tr289

7 Đề tài “Thực trang và mô hình đào tạo cán bộ tư pháp cấp xã trong giai đoạn hiện nay”, Bộ Tư pháp, 2001, tr12

Trang 23

các bài giảng, sự tiếp thu, các bài kiểm tra, thi tốt nghiệp… Các yếu tố trong quá trình đào tạo tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất

- Tạo sự biến đổi về chất sau quá trình học tập Đào tạo không những giúp cho người học nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng với yêu cầu đặt ra mà còn trang bị những phương pháp, kỹ năng tạo nền móng để cán bộ tiếp tục tiếp thu, vận dụng những kiến thức hướng tới việc tạo ra những tri thức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của nhân loại

1.2 Khái niệm bồi dưỡng

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam thì bồi dưỡng được hiểu là “làm cho tốt hơn, giỏi hơn”8 Còn theo Từ điển Tiếng Việt thì “bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” 9

Như vậy có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình học tập nâng cao trình độ hiểu biết, tư cách đạo đức, phẩm chất chính trị của người được bồi dưỡng Bồi dưỡng nhằm mục đích bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức đã được đào tạo bồi dưỡng trước đó Điểm khác biệt giữa bồi dưỡng với đào tạo là bồi dưỡng chưa tạo được bước ngoặt căn bản về trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của đối tượng được bồi dưỡng Tuy nhiên, bồi dưỡng thường đáp ứng được ngay yêu cầu cập nhật kiến thức mới, bổ sung tri thức làm cho người được bồi dưỡng có thể tiếp cận và vận dụng kịp thời vào thực tiễn để thực thi có hiệu quả nhiệm vụ được giao

1.3 Các yếu tố cấu thành của “đào tạo, bồi dưỡng”

- Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là người cần trang bị hoặc nâng cao năng lực, trình độ Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng giữ vai trò trung tâm để các cơ quan quản lý và thực hiện đào tạo xác định mục tiêu, nội dung, chương trình cũng như

áp dụng các phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp

- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng là những kiến thức, kỹ năng được truyền tải đến cho đối tượng đào tạo, bồi dưỡng Nội dung được thể hiện cụ thể trong kế hoạch đào tạo, chương trình đào tạo, giáo trình, giáo án và các tài liệu giảng dạy khác

- Hình thức đào tạo, bồi dưỡng là cách thức tổ chức tiến hành đào tạo, bồi dưỡng, có thể diễn ra dưới hình thức tập trung, chính quy, tại chức, từ xa…

Trang 24

- Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng là hệ thống gồm một hay nhiều quy tắc được áp dụng có tác dụng hướng dẫn một loại hình hoạt động cụ thể nào đó để đạt được mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng

- Đội ngũ giảng viên là những người vận dụng các hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng để truyền tải các nội dung đào tạo, bồi dưỡng đến các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật của đào tạo, bồi dưỡng là các điều kiện để tiến hành đào tạo, bồi dưỡng như địa điểm, trang thiết bị, giáo cụ, các nguồn lực tài chính…

Các yếu tố trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, làm điều kiện và chi phối lẫn nhau Do đó, khi nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng thì cần thiết phải xem xét đầy đủ đến các yếu tố này, trong đó, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng đóng vai trò trung tâm và hướng tới mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng Giữa mục tiêu và đối tượng đào tạo, bồi dưỡng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Đối tượng được lựa chọn, xác định trên cơ sở mục tiêu Mục tiêu có đạt được hay không phụ thuộc vào lựa chọn đúng đối tượng, ngoài ra, mục tiêu cũng được xác định trên cơ sở yêu cầu công việc, loại hình, cấp đào tạo, bồi dưỡng…

Mục tiêu

Đối tượng

Hình thức Nội

dung

Cơ sở VC-KT

Người dạy

Phương

pháp

Trang 25

2 Đặc điểm của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương

Với ý nghĩa là quá trình nâng cao trình độ, năng lực hiểu biết, bổ sung kiến thức cho người được đào tạo, bồi dưỡng là đội ngũ công chức thì đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương có những đặc điểm như sau:

2.1 Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là những công chức không đồng đều

về năng lực và trình độ, đang đảm nhận các vị trí công tác có yêu cầu nhiệm

vụ và thuộc các cấp hành chính với cơ chế quản lý khác nhau

Đội ngũ công chức tư pháp địa phương được xác định bao gồm:

- Đội ngũ công chức cơ quan thi hành án dân sự (cấp tỉnh và cấp huyện);

- Đội ngũ công chức thuộc cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp: Sở Tư pháp cấp tỉnh và Phòng Tư pháp cấp huyện;

- Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã

Đây là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ, hoặc công vụ thường xuyên trong các cơ quan tư pháp địa phương, được xếp các ngạch công chức khác nhau, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật Do đó, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng gắn với cương vị, vị trí công tác trong ngành Tư pháp với những đặc thù sau:

Một là, đội ngũ công chức ngành Tư pháp thuộc nhiều cơ quan ở các cấp hành chính với cơ chế quản lý khác nhau

Cơ chế hoạt động và quản lý đối với đội ngũ công chức tư pháp địa phương được thực hiện theo Pháp lệnh cán bộ, công chức, Pháp lệnh Thi hành

án dân sự, Nghị định số 171/2004/NĐ-CP, Nghị định số 172/2004/NĐ-CP, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành

án dân sự và các văn bản khác có liên quan Cơ chế hoạt động và quản lý đối với đội ngũ công chức tư pháp địa phương được phân biệt như sau:

- Đội ngũ công chức tư pháp thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch là một bộ phận của đội ngũ công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp Theo đó, biên chế, chế độ, chính sách cán bộ do Uỷ ban

Trang 26

pháp thực hiện việc chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ này

- Đội ngũ công chức của cơ quan thi hành án cấp tỉnh và cấp huyện do Bộ

Tư pháp thống nhất quản lý Theo đó, Bộ Tư pháp quản lý toàn diện về biên chế, cán bộ, thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ đồng thời với việc quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ Thực hiện chủ trương phân cấp quản lý và phù hợp với điều kiện của địa phương, Bộ Tư pháp thực hiện việc uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp cấp tỉnh quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của Sở Tư pháp (Quyết định số 141/QL-QLTA ngày 21/3/1994 và Quyết định

số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/5/2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp quản lý một số mặt công tác

tổ chức, cán bộ của Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thi hành án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)

Như vậy, theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ, công chức tại Nghị định số 117/2003/NĐ-CP và Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg thì việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các cơ quan thi hành án dân sự địa phương do Bộ Tư pháp thực hiện; đối với đội ngũ công chức thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã thì việc đào tạo, bồi dưỡng do Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện 10

Hai là, tiêu chuẩn chức danh và yêu cầu đối với công chức trong thực thi nhiệm vụ khác nhau

Đội ngũ công chức thuộc cơ quan tư pháp địa phương bao gồm cán bộ theo các tiêu chuẩn nghiệp vụ sau:

- Công chức hành chính ngành Tư pháp tuân theo tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch công chức hành chính ngành Tư pháp ban hành kèm theo Quyết định số 483/QĐ-BTP ngày 26/7/1993 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, bao gồm cán

sự, chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp pháp lý

- Đội ngũ chấp hành viên cấp tỉnh và cấp huyện theo tiêu chuẩn nghiệp vụ được quy định dành cho chấp hành viên tại Pháp lệnh Thi hành án, Nghị định

số 50/2005/NĐ-CP và các văn bản khác có liên quan

- Đội ngũ công chứng viên theo tiêu chuẩn nghiệp vụ được quy định tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực và từ ngày 1/7/2007 là Luật Công chứng

10 Điều 42 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP và Điều 27 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg

Trang 27

- Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã theo tiêu chuẩn nghiệp vụ được quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức

xã, phường, thị trấn và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ

Theo các văn bản pháp luật, mỗi chức danh lại có những yêu cầu khác nhau về tiêu chuẩn, chức trách và nhiệm vụ Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương cần thiết phải tiến hành trên cơ sở các yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh và ngoài việc chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đương chức thì còn phải chú ý đến việc đào tạo nguồn để bổ sung cán bộ khi cần thiết

Ba là, năng lực của đội ngũ công chức này không đồng đều

Đội ngũ công chức tư pháp địa phương hiện đang đảm nhận nhiệm vụ trong các cơ quan thuộc cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, thuộc các địa bàn từ đồng bằng, đô thị đến nông thôn, miền núi, khu vực có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống Yêu cầu nhiệm vụ của mỗi cấp hành chính là khác nhau do đó việc tuyển chọn cán bộ cũng căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau Đồng thời, do đặc thù của từng vùng miền nên yêu cầu và chất lượng của đội ngũ công chức không đồng đều Trong khi phần lớn đội ngũ công chức tư pháp ở cấp tỉnh và cấp huyện đáp ứng đủ với tiêu chuẩn chức danh đang đảm nhiệm thì có đến gần 30% đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã chưa có trình độ Trung học Luật theo yêu cầu của Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Cá biệt, có thời điểm khi mới bầu cử lại Hội đồng nhân dân cấp xã, số lượng công chức Tư pháp - Hộ tịch có trình độ đạt tiêu chuẩn chỉ đạt tỷ lệ 50%, có tỉnh tỷ lệ này chỉ ở mức 20% đến 30% Đối với khu vực vùng sâu, vùng xa, điều kiện khó khăn, thiếu nguồn nhân lực tại chỗ, chính sách đối với cán bộ thiếu hấp dẫn nên đội ngũ công chức có trình độ, năng lực còn nhiều hạn chế hơn, đặc biệt là đối với đội ngũ chấp hành viên và công chứng viên…

Xuất phát từ đặc thù vùng miền khác nhau nên mục tiêu, yêu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương cũng khác nhau Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg có sự phân biệt về mục tiêu đào tạo đến

Trang 28

cấp trở lên đối với vùng đô thị là 95%, đồng bằng là 80% và vùng núi là 70% Đồng thời, Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg ngày 8/2/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006-2010 đặt ra mục tiêu đến năm

2010 đạt 50% công chức chuyên môn cấp xã người dân tộc thiểu số đạt trình độ trung cấp trở lên

2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tư pháp địa phương không chỉ thực hiện theo những quy định chung về đào tạo, bồi dưỡng mà còn phải thực hiện những quy định riêng do các cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức ban hành Cụ thể như sau:

+ Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng được thực

hiện theo Quyết định số 874/QĐ-TTg ngày 20/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg ngày 7/1/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2010; Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân

lực cho công tác hội nhập kinh tế, quốc tế…

+ Việc xây dựng nội dung chương trình, giáo trình, kiểm tra, cấp chứng

chỉ và quản lý nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

ngoài việc vận dụng Quy chế đào tạo cơ bản do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành thì được thực hiện theo Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ban hành kèm theo Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 4/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ

+ Đào tạo kiến thức bổ trợ như tin học, ngoại ngữ, lý luận chính trị cho

cán bộ, công chức được thực hiện theo Quyết định số 331/2004/QĐ-TTg ngày 6/1/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển nguồn nhân lực về công nghệ thông tin từ nay đến năm 2010, Chỉ thị số 442/TTg ngày 15/8/1994 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức; Quy định định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 về học tập lý luận trong đảng…

+ Việc cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng

nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước thực hiện theo Quyết định số

Trang 29

104/2005/QĐ-BNV ngày 3/10/2005 về việc ban hành Quy chế cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước

+ Kinh phí cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện theo hướng

dẫn tại Thông tư số 79/2005/TT-BTC ngày 27/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

2.3 Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức tư pháp địa phương phải kết hợp giữa việc đào tạo cơ bản và bổ sung kiến thức, kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp, công vụ mà họ đang đảm nhiệm

Theo Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ban hành kèm theo Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 4/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp địa phương thì nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm 4 khối kiến thức: + Lý luận chính trị;

+ Kiến thức pháp luật, kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước;

+ Kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ;

+ Kiến thức tin học, ngoại ngữ (tiếng dân tộc đối với công chức công tác ở vùng dân tộc miền núi) và các kiến thức bổ trợ khác

Các cơ quan tư pháp địa phương hiện nay đang đảm nhận những nhiệm vụ trong các lĩnh vực xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm quản lý công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến pháp luật, thi hành án dân sự, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp Mặc dù thuộc hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, song nhiệm

vụ của đội ngũ công chức ngành Tư pháp mang tính đa dạng, có sự giao thoa

và phục vụ việc thực hiện chức năng của cả 3 ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp Thêm vào đó, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là những cán bộ có năng lực

và trình độ không đồng đều, trong đó một bộ phận không nhỏ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã11 chưa đáp ứng được tiêu chuẩn chức danh Do đó, nội dung, chương trình vừa tập trung vào việc đào tạo cơ bản theo tiêu chuẩn chức danh cho một bộ phận cán bộ còn thiếu đồng thời với việc đào tạo, bồi dưỡng

bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu công việc được giao Ngoài ra, đối với đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã các tỉnh

Trang 30

khu vực miền núi phía Bắc, theo Quyết định số 28/2007/QĐ-TTg ngày 28/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ, nội dung đào tạo, bồi dưỡng còn phải đáp ứng được yêu cầu sát với chức trách, nhiệm vụ, hoạt động thực thi công vụ của từng đối tượng cụ thể, không đào tạo, bồi dưỡng tràn lan Do đó, nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức tư pháp địa phương cần chú ý đến những đặc thù sau:

- Mang tính nghề nghiệp cụ thể: không chỉ cung cấp các kiến thức, kỹ năng về quản lý nhà nước mà còn bao gồm các kiến thức về pháp luật chuyên ngành, kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, đạo đức, bản lĩnh chính trị đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao

- Mang tính toàn diện: cơ cấu hợp lý giữa lý luận và thực tiễn, gắn lý thuyết với thực hành, giữa bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ với nâng cao nhận thức, trách nhiệm, đạo đức của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ; bổ sung kiến thức liên quan trực tiếp đến chuyên môn nghiệp vụ đồng thời với việc bổ sung các kiến thức bổ trợ như ngoại ngữ, tin học, các kiến thức về hội nhập kinh tế, quốc tế…

- Cơ cấu chương trình và bố trí thời lượng phù hợp với từng đối tượng công chức và từng nội dung đào tạo, bồi dưỡng để bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả của việc đào tạo, bồi dưỡng và phù hợp với người học là những người đang đảm nhận công tác, chỉ có thể bố trí một thời gian nhất định cho việc học tập, nâng cao trình độ, bổ sung kiến thức

2.4 Hình thức thể hiện văn bằng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chủ yếu là chứng chỉ theo Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg

Chứng chỉ là văn bản pháp lý xác nhận kết quả học tập và trình độ của người được cấp chứng chỉ đã hoàn thành một chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo quy định Chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức theo tiêu chuẩn ngạch là một trong những điều kiện để cán bộ, công chức được xếp vào ngạch và được hưởng các chế độ, chính sách của những ngạch cụ thể theo quy định Chứng chỉ tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức không do

Bộ Giáo dục và đào tạo cấp với tư cách là cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo cấp mà đó là chứng nhận của các cơ sở đào tạo trên nguyên tắc phân cấp của Chính phủ và các cơ quan quản lý có thẩm quyền

Cụ thể như sau:

Trang 31

+ Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương quy định, hướng dẫn sử dụng thống nhất trong phạm vi cả nước các loại chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh; các loại chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng công chức dự bị, bồi dưỡng thi nâng ngạch, chuyển ngạch; đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ lãnh đạo cấp Vụ, cấp Sở, ban, ngành trở lên; + Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định và hướng dẫn sử dụng các loại chứng chỉ bồi dưỡng cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, chứng chỉ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ lãnh đạo cấp phòng;

+ Về tổ chức in, cấp chứng chỉ cho cán bộ, công chức sau khi hoàn thành các khoá đào tạo, bồi dưỡng do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được phân cấp đào tạo, bồi dưỡng theo nội dung nào được cấp chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo nội dung chương trình đó

+ Chứng chỉ do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp theo quy định có giá trị sử dụng trong phạm vi cả nước

2.5 Hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức

tư pháp địa phương được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau

Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng là cách thức tổ chức quá trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm đạt được mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng Như vậy, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phản ánh cách thức tổ chức hoạt động “dạy” và “học” nhằm hình thành và phát triển ở người học các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách nghề nghiệp cho cán bộ, công chức

Là một thành tố trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng công chức có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố khác nhau của công tác đào tạo, bồi dưỡng như mục tiêu, đối tượng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng… Thực tiễn đã chứng minh rằng tuỳ từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng, với từng loại chương trình, hình thức và mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng khác nhau

mà áp dụng loại phương pháp đào tạo phù hợp

Các phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đang được áp dụng:

- Phương pháp thuyết trình: là phương pháp đào tạo truyền thống theo

kiểu người dạy trình bày nội dung bài giảng, người học nghe kết hợp với ghi chép, tiếp thu, ghi nhớ các kiến thức của môn học Phương pháp này mang tính

Trang 32

thụ động, trước đây được sử dụng nhiều trong công tác đào tạo, bồi dưỡng trong đó có đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp địa phương Ngày nay, do tác động của cuộc cách mạng giáo dục và đào tạo, phương pháp thuyết trình đang dần dần được áp dụng kết hợp với các phương pháp khác Đây là phương pháp phổ biến đang được áp dụng trong đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp địa phương

- Phương pháp hướng dẫn thảo luận: là phương pháp đối thoại thông qua

việc người dạy và người học nêu vấn đề, nêu câu hỏi, cùng phân tích tìm cách giải quyết các vấn đề dưới sự hướng dẫn của người dạy Phương pháp này được coi là một trong những phương pháp đào tạo tích cực, lấy người học làm trung tâm nhằm khơi sâu, mở rộng vốn tri thức, kích thích tính chủ động, tích cực của học viên Kết quả khảo sát cho thấy phương pháp thảo luận đang được các cơ quan tư pháp áp dụng rộng rãi (70%) trong đào tạo nghề và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công chức tư pháp địa phương

- Phương pháp tình huống: là một trong những phương pháp dạy - học

tích cực Người dạy sử dụng các tình huống nghề nghiệp cụ thể và triển khai nội dung đào tạo, bồi dưỡng thông qua một quy trình, kịch bản từ đó giúp người học nghiên cứu, tiếp thu nội dung đào tạo, bồi dưỡng Đây là phương pháp mới được áp dụng ở nước ta Trung tâm đào tạo các chức danh tư pháp, nay là Học viện Tư pháp là một trong những cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đầu tiên áp dụng phương pháp tình huống vào đào tạo nghề cho các chức danh tư pháp

- Phương pháp song giảng: Cùng với phương pháp tình huống, phương

pháp song giảng cũng mới được sử dụng trong công tác đào tạo nghề cho các chức danh tư pháp từ năm 1998 đến nay Phương pháp này có sự giao thoa giữa phương pháp thuyết trình với phương pháp thảo luận Phương pháp song giảng đòi hỏi kết hợp tương hỗ song song giữa giáo viên giảng viên lý thuyết với giáo viên giảng thực hành trong cùng một nội dung và thời gian đào tạo, bồi dưỡng Trong lĩnh vực tư pháp, do đối tượng đào tạo, bồi dưỡng đa dạng, phong phú, thuộc các cơ quan thuộc các cấp hành chính khác nhau, ở các vùng miền khác nhau và có trình độ khác nhau Cùng với đó là yêu cầu của công tác tư pháp luôn đòi hỏi công chức phải chủ động, sáng tạo trong việc triển khai nhiệm vụ, áp dụng chính xác các quy định của pháp luật vào thực tiễn sinh động Do đó, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương phải là những phương pháp rèn luyện và tạo ra được sự chủ động cho

Trang 33

người học, không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn có khả năng vận dụng kiến thức trong công việc, áp dụng và giải quyết các tình huống cụ thể Các phương pháp được ưu tiên lựa chọn như phương pháp tạo tình huống, phương pháp song giảng, hình thành các nhóm, giao chuyên đề nghiên cứu…

Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, mở rộng hội nhập khu vực và quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp ngày càng được mở rộng, tăng cường trên các lĩnh vực xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật và quản lý các lĩnh vực hoạt động tư pháp Vì vậy, việc đổi mới và nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng là hết sức cấp thiết nhằm tiếp tục kiện toàn, củng cố và nâng cao năng lực của đội ngũ công chức

tư pháp địa phương đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao và hướng tới mục tiêu xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, hiện đại, chuyên nghiệp

Trang 34

Phần thứ hai THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG

I THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

1 Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch

Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương là việc xác định các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức một cách tổng thể, toàn diện trong một thời gian dài nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của

cơ quan tư pháp nói riêng, ngành Tư pháp nói chung và yêu cầu về tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ tư pháp trong tương lai

Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp địa phương là việc xác định các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng với mục tiêu, đối tượng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cụ thể và cách thức tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đó trong thời gian nhất định, có thể là ngắn hạn dưới 1 năm, trên 1 năm hoặc trong nhiều năm

Việc phân biệt 2 khái niệm quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa trong hoạt động quản lý nhằm xác định trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và cơ quan thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng

1.1 Thẩm quyền xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng

Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 đã quy định mang tính chất nguyên tắc: Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm xaâ dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng

để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ, công chức” (Điều 25)

Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức là cơ quan được giao thẩm quyền tuyển dụng và quản lý công chức (Điều 3 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP)

Căn cứ theo các quy định nói trên thì thẩm quyền xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương được xác định như sau:

Trang 35

- Đối với đội ngũ công chức thuộc phạm vi quản lý của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã, Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Sở Nội vụ nghiên cứu, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định;

- Đối với đội ngũ công chức cơ quan thi hành án dân sự địa phương, theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự và Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 thì Bộ Tư pháp là cơ quan có thẩm quyền quản lý và thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức cơ quan thi hành án Tại Quyết định số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/5/2005, Khoản 9 Điều 2 quy định

Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp xây dựng, thực

hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình

độ, năng lực của công chức các cơ quan thi hành án dân sự địa phương

Bên cạnh đó, cũng theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ quản lý ngạch công chức chuyên ngành tư pháp (Điều 43) và xác định Bộ quản lý các ngạch công chức chuyên ngành có nhiệm vụ quy định nội dung, chương trình, phương thức và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các ngạch công chức chuyên ngành (Điều 44)

1.2 Thực trạng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi

dưỡng của ngành Tư pháp

1.2.1 Về công tác xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng

Kết quả khảo sát công tác đào tạo, bồi dưỡng của ngành Tư pháp trong 5 năm qua cho thấy số lượng cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ngày một đông về số lượng, đa dạng về đối tượng, nội dung và hình thức đào tạo, bồi dưỡng Do đó, để công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp có hiệu quả, bảo đảm chất lượng, tránh chồng chéo, chắp vá, mang tính tình thế thì việc xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và quy hoạch đào tạo bồi dưỡng công chức tư pháp địa phương nói riêng

là việc hết sức cần thiết, đặc biệt là trước yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp giai đoạn 2006-1010

Tuy nhiên, thực tế, công tác xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng chưa được quan tâm thực hiện đúng mức Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các cơ quan quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa xây dựng được quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp thuộc phạm vi quản lý một cách hoàn chỉnh

Trang 36

bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành tư pháp Thiếu quy hoạch, kế hoạch trong công tác đào tạo, bồi dưỡng dẫn đến tình trạng đào tạo, bồi dưỡng phân tán, tự phát, tuỳ tiện, chắp vá, lãng phí về sức người, sức của và thời gian của cán bộ, công chức, làm giảm chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức

tư pháp địa phương

1.2.2 Về công tác xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng:

Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 10/2001/CT-TTg ngày 19/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định

số 874/TTg và Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg ngày 7/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng,

Bộ Tư pháp đã xây dựng các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng dài hạn của ngành

Tư pháp như Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Tư pháp giai đoạn 2001 - 2005, Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành

Tư pháp giai đoạn 2006 - 2010 Các kế hoạch dài hạn này là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm của Bộ Tư pháp

Trên cơ sở kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, Bộ trưởng giao cho Vụ

Tổ chức cán bộ phối hợp với Học viện Tư pháp và các đơn vị có liên quan tổ chức triển khai xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong từng năm để trình Bộ trưởng xem xét, gửi các cơ quan có thẩm quyền quyết định Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Tư pháp này được xây dựng căn cứ vào nhu cầu cụ thể của các đơn vị thuộc Bộ và Sở Tư pháp cấp tỉnh Kế hoạch xác định cụ thể các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng sẽ triển khai trong năm như mục tiêu, đối tượng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng, thời gian, địa điểm tổ chức và dự trù kinh phí cho từng hoạt động (ví dụ kinh phí tổ chức lớp, kinh phí xây dựng chương trình, tài liệu, kinh phí khảo sát,…) cũng như trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong triển khai thực hiện

Ở địa phương, thực hiện Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg và đặc biệt là sau khi Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV được ban hành, công tác xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đã có nhiều tiến bộ và được quan tâm hơn trước Kết quả khảo sát năm 2005 tại 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Nội vụ trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức thuộc phạm vi quản lý của đơn vị trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp phê duyệt và tổ chức triển khai các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch đã được phê duyệt Các kế hoạch này có thể được xây

Trang 37

dựng độc lập hoặc lồng ghép với chương trình công tác chung của ngành tại địa phương và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chung của cán bộ địa phương

2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng

Theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg thì đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức bao gồm 4 nội dung sau:

- Lý luận chính trị;

- Kiến thức pháp luật, kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước;

- Kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ;

- Kiến thức tin học, ngoại ngữ và các kiến thức bổ trợ khác

Thực hiện Quyết định số 874/QĐ-TTg về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức nhà nước, nhất là sau khi có Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức 2001- 2005 và Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục

vụ công tác hội nhập kinh tế quốc tế, trong 5 năm qua, Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Nội vụ, Trường Chính trị và các cơ quan có liên quan tập trung đào tạo, bồi dưỡng toàn diện cả 4 nội dung trên

3 Chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng

3.1 Chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo theo tiêu chuẩn chức danh

Do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên của các vùng miền, yêu cầu tiêu chuẩn chức danh và yếu tố lịch sử để lại nên đội ngũ công chức tư pháp địa phương có đặc thù là không đồng đều về chất lượng trên cả nước và ở các cấp hành chính Vì vậy, thời gian qua, chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo được xây dựng dành cho đội ngũ công chức tư pháp địa phương không chỉ bao gồm chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo để nâng cao trình độ như các ngành nghề khác mà còn tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện các chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo để đáp ứng với tiêu chuẩn chức danh (Trung cấp Luật) dành cho đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã và chương trình đào tạo nghề

3.1.1 Đào tạo trung học Luật

Để đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện nhiệm vụ và nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đối tượng được đào tạo Trung học Luật chủ yếu là các công

Trang 38

được thực hiện từ lâu nhưng đến năm 1998 chương trình chuẩn dành riêng cho

hệ trung học có nội dung hoàn chỉnh với 27 môn học, 1500 tiết học và bộ giáo trình đào tạo trung học luật mới được xây dựng một cách tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ Căn cứ vào Quyết định số 21/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 6/6/2001 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về việc ban hành chương trình khung giáo dục trung học chuyên nghiệp, ngày 17/12/2003, Hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội có Quyết định số 1714/QĐ ban hành chương trình đào tạo trung học Luật mới áp dụng cho các khóa đào tạo trung học chuyên nghiệp chuyên ngành Luật của Trường từ năm 2003 trở đi

Cấu trúc của chương trình gồm:

+ 32 môn học trong tổng số thời gian 1.520 tiết được áp dụng cho tất cả các loại hình đào tạo chính quy và tại chức Trong đó, khối kiến thức đại cương

là 30 đơn vị học trình, chiếm 2% thời lượng chương trình; khối kiến thức chuyên nghiệp là 70 đơn vị học trình, chiếm 4,6% thời lượng chương trình Cơ cấu giữa giảng lý thuyết và thực hành là 735 giờ giảng và 295 giờ thực hành + Đối với những học viên dự tuyển mới có bằng văn hoá trung học cơ sở thì ngoài môn học của chương trình trên còn phải học thêm các môn văn hoá gồm 4 môn (Toán, Văn - Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý) với thời lượng 1.200 tiết

và phải thi tốt nghiệp cả 3 môn văn hoá (Văn - Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý)

3.1.2 Đào tạo nghề

Chương trình đào tạo nghề cho công chức tư pháp địa phương được xây dựng với sự tham gia của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà quản lý và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực công chứng, thi hành án; kế thừa kinh nghiệm đào tạo nghề cho các chức danh thẩm phán, có tham khảo kinh nghiệm đào tạo của nước ngoài như Pháp, Canada, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore… và được bổ sung, sửa đổi sau mỗi khoá đào tạo

- Đào tạo công chứng viên: được thực hiện tại Học viện tư pháp trực thuộc

Bộ Tư pháp Chương trình đào tạo công chứng viên khoá 5 năm 2005 như sau: + Tổng thời lượng đào tạo là 514 tiết, tương đương 4 tháng;

+ Cấu trúc chương trình gồm 2 phần: phần chung về công chứng và nghề công chứng với 15 nội dung đào tạo, trong thời gian 120 tiết; phần kỹ năng công chứng với 18 nội dung đào tạo trong thời gian 396 tiết

Trang 39

+ Nội dung cơ bản của chương trình: tập trung vào nghiệp vụ, kỹ năng công chứng, pháp luật liên quan đến công chứng và tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp công chứng

Đặc điểm của chương trình đào tạo công chứng viên là chương trình đào tạo mang tính mở, có sự bổ sung, sửa đổi và tham gia của các chuyên gia Pháp trong việc chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm về tổ chức và kỹ năng hành nghề công chứng của Pháp

- Đào tạo chấp hành viên: được thực hiện tại Học viện Tư pháp trực thuộc

Bộ Tư pháp Chương trình đào tạo chấp hành viên khoá 4 như sau:

+ Tổng thời lượng: 654 tiết, tương đượng với 6 tháng

+ Cấu trúc chương trình gồm 2 phần:

Phần chung: 162 tiết, chiếm 24,7% tổng thời lượng chương trình Phần này tập trung vào các vấn đề pháp luật chuyên sâu liên quan đến thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên

Phần kỹ năng, nghiệp vụ thi hành án với 18 nội dung đào tạo trong thời gian 396 tiết, chiếm 61% tổng thời lượng chương trình

Giáo trình đào tạo chấp hành viên và công chứng viên do Học viện Tư

pháp chủ trì biên soạn, trên cơ sở các bài giảng của giảng viên, có nghiên cứu, chỉnh lý sau mỗi khoá đào tạo cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và trình độ đầu vào của đối tượng đào tạo

3.2 Chương trình, tài liệu bồi dưỡng nâng cao, cập nhật kiến thức

3.2.1 Bồi dưỡng cập nhật chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật mới

Việc bồi dưỡng cập nhật chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật mới được tiến hành nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho công chức, giúp công chức nhất là công chức tư pháp địa phương nắm bắt kịp thời các quy định mới của Đảng, Nhà nước, từ đó áp dụng và thực thi pháp luật trong công tác chuyên môn nghiệp vụ

Chương trình bồi dưỡng thường ngắn ngày, mang tính thời sự (khi văn bản mới ban hành) chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu văn bản mới, hệ thống hoá các quy định theo từng lĩnh vực hoặc giải thích các quy định của pháp luật nhằm giúp công chức hiểu và áp dụng đúng văn bản pháp luật

Trang 40

Tài liệu bồi dưỡng thường là tập hợp các bài nghiên cứu của các chuyên gia pháp luật, các nhà quản lý trong lĩnh vực chuyên môn có tham gia trực tiếp vào Ban soạn thảo, tổ soạn thảo hoặc nghiên cứu, theo dõi, quản lý trong lĩnh vực đó Đa số các tài liệu bồi dưỡng mang tính nội bộ, phi lợi nhuận và phát miễn phí cho học viên như tài liệu nghiên cứu Hiệp định Thương mại Việt Mỹ, tài liệu tập huấn Bộ luật dân sự, tài liệu bồi dưỡng kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế…

3.2.2 Bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ

Trong thời gian qua, với vai trò là quản lý, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo các đơn vị chức năng tiến hành biên soạn các chương trình, tài liệu đào tạo nghề và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cần thiết cho đội ngũ công chức tư pháp địa phương Các chương trình đào tạo nghề mang tính mở, có sự bổ sung, sửa đổi, chỉnh lý sau mỗi khoá đào tạo cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ của ngành trong từng thời kỳ cũng như thực trạng trình độ của học viên Đến nay, có 15 chương trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức tư pháp địa phương đã được xây dựng những nội dung quản lý chuyên ngành như chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng; bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý… Cùng với việc xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo từng lĩnh vực công tác chuyên môn, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức theo từng vùng, miền và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương đã được xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả như Chương trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp cấp huyện năm 2003, Chương trình đào tạo trung cấp Luật cho cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã năm 2002, Chương trình đào tạo trung cấp Luật cho cán bộ Tư pháp -

Hộ tịch năm 2004, Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức

Tư pháp - Hộ tịch cấp xã vùng Tây Nguyên Đây là những tài liệu quan trọng không chỉ phục vụ cho công tác giảng dạy - học tập mà còn là những cẩm nang giúp cho đội ngũ công chức tư pháp địa phương khai thác, sử dụng trong quá trình giải quyết công việc Cụ thể như sau:

- Chương trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ soạn thảo, thẩm định và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật;

- Chương trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án cho chấp hành viên mới được bổ nhiệm;

Ngày đăng: 31/07/2014, 23:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  Nội  thức - đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương
nh Nội thức (Trang 24)
Hình thức ĐT, BD - đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương
Hình th ức ĐT, BD (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w