1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới

114 490 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm đề tài đã tổng quan được bối cảnh thời đại và xác định được những vấn đề đặt ra đối với phát triển GDKCQ trước yêu cầu của sự phát triển nhanh chóng của KHKT-CN; trước yêu cầu của x

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Viện khoa học giáo dục việt nam

-

Báo cáo tổng kết đề tài

Định hướng phát triển giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới

Trang 2

Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t

GDNNT Gi¸o dôc ngoµi nhµ tr−êng

GDTNT Gi¸o dôc trong nhµ tr−êng

Trang 3

Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Tên đề tài: Định hướng phát triển Giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới

Mã số: B2005-80-27

Chủ nhiệm đề tài: Thái Thị Xuân Đào Tel : 8232562

E-mail: thaixuandao@yahoo.com

Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:

Vụ Giáo dục thường xuyên Các Sở GD-ĐT: Hà Nội, Hoà Bình, Lào Cai, Đắc Lắc, Ninh Bình Thời gian thực hiện : 5/2005-10/2006 (đã được gia hạn đến 30/6/2007)

1 Mục tiêu: Nghiên cứu đề xuất định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

2 Nội dung chính:

2.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

- Phân biệt khái niệm GDKCQ với một số khái niệm có liên quan (GDCQ, GDPCQ

2 2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài

- Hồi cứu quá trình phát triển GDKCQ ở Việt Nam trong thời gian qua và tổng kết những bài học kinh nghiệm để phát triển GDKCQ trong thời gian tới

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của GDKCQ hiện nay và cơ hội, thách thức đối với phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Tìm hiểu các dự báo phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục Việt Nam 2020 và chủ trương phát triển GDKCQ của Đảng và Nhà nước trong thời gian tới

2.3 Nghiên cứu đề xuất định hướng và giải pháp phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Nghiên cứu đề xuất định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Tổ chức xin ý kiến chuyên gia và cán bộ quản lí, chỉ đạo và giáo viên về các định hướng và giải pháp mà đề tài đề xuất

3 Kết quả chính đạt được:

Về cơ sở lí luận đề tài đã làm rõ khái niệm GDKCQ trên cơ sở phân biệt GDKCQ

với GDCQ, GDPCQ và GDTX Nhóm đề tài đã tổng quan được bối cảnh thời đại và xác

định được những vấn đề đặt ra đối với phát triển GDKCQ trước yêu cầu của sự phát triển nhanh chóng của KHKT-CN; trước yêu cầu của xu thế toàn cầu hoá; trước yêu cầu của phát triển KTTT; trước yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH và phát triển bền vững đất nước và trước yêu cầu của Giáo dục cho mọi người và xây dựng xã hội học tập Đây là một trong những cơ sở quan trọng để đề xuất được định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới có tính hiện thực, phù hợp và khả thi Nhóm nghiên cứu cũng đã tìm hiểu

và đã khái quát được xu thế phát triển GDKCQ ở các nước trên thế giới và trong khu

Trang 4

Về cơ sở thực tiễn, đề tài đã nghiên cứu, khái quát được các bài học kinh nghiệm

phát triển GDKCQ ở nước ta từ trước đến nay Đề tài đã xác định được điểm mạnh, điểm yếu của GDKCQ hiện nay và cơ hội, thách thức đối với phát triển GDKCQ trong thời gian tới Nhóm nghiên cứu cũng đã nghiên cứu tìm hiểu những dự báo về phát triển kinh

tế, văn hoá, giáo dục Việt Nam 2020 và chủ trương phát triển GDKCQ của Đảng và nhà nước trong thời gian tới Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề tài có thể đề xuất định hướng phát triển GDKCQ phù hợp với kinh nghiệm trước đây và thực tiễn nước ta hiện nay và trong thời gian tới

Trên cơ sở nghiên cứu bối cảnh thời đại ở trong nước và quốc tế, GDKCQ ở các nước và kế thừa kinh nghiệm phát triển GDKCQ ở nước ta từ trước đến nay, nhóm đề tài

đã xác định được 7 định hướng phát triển GDKCQ trong thời gian tới Đó là:

- GDKCQ sẽ phát triển với tư cách là hệ thống, là một trong hai bộ phận cấu thành

của hệ thống giáo dục quốc dân (Xu thế thể chế hoá GDKCQ)

- GDKCQ sẽ phát triển với quan niệm ngày càng rộng hơn (Xu thế mở rộng quan

niệm về GDKCQ)

- GDKCQ sẽ phát triển mạnh mẽ cả về qui mô và chất lượng, cả về chiều rộng lẫn

chiều sâu, trong đó phát triển về chất lượng sẽ ngày càng được coi trọng (Xu thế chất

lượng hoá GDKCQ)

- GDKCQ sẽ phát triển theo hướng đáp ứng nhu cầu HTTX, HTSĐ của tất cả mọi

người hơn là đáp ứng nhu cầu về văn bằng, chứng chỉ (Xu thế phi bằng cấp trong

GDKCQ)

- GDKCQ sẽ phát triển theo hướng mở hơn, đa dạng hơn, linh hoạt hơn và mềm

dẻo hơn (Xu thế đa dạng hoá, linh hoạt hoá và mềm dẻo hoá GDKCQ)

- GDKCQ sẽ phát triển theo hướng xã hội hoá với sự tham gia ngày càng đông, ngày

càng tích cực và chủ động của các lực lượng trong toàn xã hội (Xu thế xã hội hoá

GDKCQ)

- GDKCQ sẽ phát triển theo hướng phi tập trung hoá với sự tham gia, làm chủ của

cộng đồng, của các địa phương ngày càng mạnh mẽ hơn (Xu thế phi tập trung hoá

trong GDKCQ)

Để phát triển GDKCQ theo các định hướng trên, nhóm nghiên cứu đã đề xuất

được 7 nhóm giải pháp để phát triển GDKCQ trong giai đoạn tới Đó là nhóm giải pháp

“Tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội và các cấp lãnh đạo về GDKCQ”; nhóm giải

pháp “Hoàn thiện cơ sở pháp lí, tăng cường đầu tư tài chính và cơ sở vật chất cho

GDKCQ”; nhóm giải pháp “Nâng cao chất lượng và sự phù hợp của các chương trình GDKCQ”; nhóm giải pháp “Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CB, GV của GDKCQ”; nhóm giải pháp “Hoàn thiện hệ thống GDKCQ”; nhóm giải pháp “Đẩy mạnh xã hội hoá GDKCQ” và nhóm giải pháp “Đổi mới quản lí GDKCQ” Đối với mỗi

nhóm giải pháp, đề tài đã phân tích vai trò và đề xuất các giải pháp cụ thể

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm đề tài đã kiến nghị sửa đổi điều 4, Luật Giáo dục 2005, đề nghị thay thuật ngữ “GDTX” bằng “GDKCQ”; Xây dựng và thông qua chương trình mục tiêu quốc gia hoặc đề án phát triển GDKCQ 2010-2020; Xây dựng và biên soạn chương trình, SGK và tài liệu riêng cho GDKCQ; Củng cố bộ máy quản lí GDKCQ các cấp, thành lập Cục GDKCQ; Nghiên cứu thành lập khoa GDKCQ/GDNL ở các trường sư phạm; Thành lập Uỷ ban phối hợp GDKCQ các cấp; Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp phát triển GDKCQ trong giai đoạn tới

Trang 5

2.1 Researching theoretic basis of the project

- Distinguishing concepts related to Non-formal Education, such as Formal Education, In-formal Education and Continuing Education

- Overviewing the era and Vietnam context and necessary requirements to propose for NFE development in the future

- Studying world trends in education in general and in NFE in particular

2 2 Researching practice’s basis of the project

- Studying and generalizing lessons form NFE development in Vietnam in the past

- Analyzing and identifying the strengths, weaknesses, opportunities and threats (SWOT) for NFE development in the future

- Finding out about prognoses of socio-economic and education development in Vietnam by 2020 and policies toward NFE development in the future

2.3 Proposing future directions of NFE development in Vietnam

- Determining future directions of NFE development in Vietnam

- Proposing the main conditions and strategies to develop NFE in the future

3 Results Obtained:

As regards theoretic basis, the project clarified some NFE relating concepts and

specially distinguished the differences between NFE with Formal Education, In-formal Education and Continuing Education The project generalized successfully the era context as well as defined necessary requirements to develop NFE in the context that faced with requirements of rapid development of science and technology (specially, information technology, biological technology, Nano technology, energy technology…); trend of globalization; emerging of knowledge based economy; on-going modernizing and industrializing in the country; sustainable development of the country; and building Learning Society by 2020 This is one of the important bases for

Trang 6

Vietnam The project studied and generalized trends in NFE development in the world and in the region These are important bases to determine future directions of NFE development in Vietnam

In terms of practice’s basis, the project generalized lessons form NFE

development in Vietnam in the past Specially, the project clearly identified the strengths, weakness of NFE in Vietnam at present, as well as the main opportunities and threats for NFE development in Vietnam in the future The project also found out about prognoses of socio-economic and education development in Vietnam by 2020 and policies toward NFE development in the future These are practice’s bases to determine future directions of NFE development in accordance with the previous experiences as well as the current reality in Vietnam

Based on studying era and Vietnam context, as well as trends in NFE in the world and experiences lessons from NFE development in Vietnam in the past, the project determined seven future directions of NFE development in Vitenam as follows:

- NFE will be developed as a system as well as one of two important component

parts of the national education system (The trend of institutionalizing NFE)

- NFE will be developed with the boarder concept (The trend of boarding the

concept of NFE)

- NFE will be developed both in quantity and quality, among them, quality of NFE

will be paid more attention (The trend of improving the quality of NFE)

- NFE will be developed to rather meet lifelong learning needs than meet the

needs in credit (The trend of non-credit in NFE)

- NFE will be more open, more diversified and more flexible (The trend of

diversifying NFE)

- NFE will be developed with the more own and active participation of All in the

whole society (The trend of socializing NFE)

- NFE will be developed with the decentralization, with the more participation

and ownership of the community (The trend of decentralization in NFE)

Based on current challenges and difficulties, the project proposed seven groups of

strategies to develop NFE in the future, such as “Increasing society and leader’s

awareness about NFE”; “Improving legal basis and increasing financial allocation for NFE”; “Improving the quality and relevance of NFE programs”, “Capacity Building of NFE personnel”; “Improving NFE infrastructure”; “Promoting socialization of NFE”; and “Reforming management of NFE” For each group of strategies, the project

identified the role and proposed concrete strategies

Based on the results obtained, the project proposed some suggestions such as

Amend article 4, Education Law 2005 by using “Non-formal education” to replace

“Continuing education”; Launch a national programme or project on NFE development 2010-2020; Sthengthen NFE management apparatus at all levels; Develop curriculums and materials specially for NFE; Establish Faculties of Adult Education/NFE in teacher’s training colleges; Set up Co-ordinate Commissions for NFE at all levels and Conduct continuos research studies on strategies proposed by the project

Trang 7

Phần 1: Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

GDKCQ là xu thế phát triển tất yếu không chỉ ở các nước trên thế giới, trong khu vực, mà cả ở Việt Nam GDKCQ ngày càng được khẳng định là một bộ phận giáo dục quan trọng trong hệ thống giáo dục của các nước GDKCQ là “Chìa khoá” để bước vào thế kỉ XXI Thế kỉ XXI là “Thế kỉ của GDKCQ” Tuy nhiên, thế kỉ XXI - thế kỉ được

đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ của KHKT-CN, của KTTT và của xu thế toàn cầu hoá đã và đang đặt ra không ít thách thức đối với phát triển giáo dục nói chung và GDKCQ nói riêng Yêu cầu nâng cao dân trí và bồi dưỡng NNL có chất lượng cao cho CNH-HĐH gắn với phát triển KTTT và Hội nhập kinh tế thế giới WTO cũng đã và đang

đặt ra nhiều vấn đề mới đối với GDKCQ trong thời gian tới GDKCQ sẽ phát triển theo hướng nào là vấn đề cần phải làm sáng tỏ để có thể xây dựng chiến lược phát triển GDKCQ trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI

Trong những năm cuối cùng của thế kỉ XX đã có một số công trình nghiên cứu dự báo định hướng phát triển GDTX Đó là đề tài cấp Bộ “Định hướng phát triển GDTX ở Việt Nam đến 2010 và 2020”, Mã số B96-49-20, do PGS.TS Tô Bá Trượng làm chủ nhiệm; đề án”Xây dựng Chiến lược Giáo dục 2010” của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, trong đó có Chiến lược phát triển GDTX v.v Các nghiên cứu này đã xác định

được một số định hướng phát triển GDTX đến năm 2010 và bước đầu dự báo được một

số định hướng chung nhất cho sự phát triển GDTX đến năm 2020 Tuy nhiên, từ đó đến nay đã có nhiều thay đổi, nhiều biến động đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức và sự phát triển của GDKCQ Những căn cứ để có thể định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới ngày càng nhiều hơn và rõ hơn như Luật Giáo dục 1998; Nghị quyết Đại hội IX (4/2001); Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010; Chương trình Hành động quốc gia về Giáo dục cho mọi người 2003-2015; Quyết định 112 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập” ; Luật Giáo dục 2005 Đặc biệt, thực tiễn phát triển GDKCQ từ 2000 trở lại đây với sự phát triển mạnh mẽ của các TTHTCĐ cấp xã, phường, thị trấn đã cho thấy rõ hơn xu thế phát triển của GDKCQ trong thời gian tới Vì vậy, trước nhiều thay đổi và biến động như vậy, cần thiết và cấp bách phải tiếp tục nghiên cứu định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm đề xuất định hướng phát triển giáo dục không chính qui trong giai đoạn

Trang 8

Đề tài cũng sử dụng cách tiếp cận lịch sử/lô gic, nghiên cứu kế thừa bài học kinh nghiêm phát triển GDKCQ của nước ta trước đây để đề xuất định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn tới

3.2 Phương pháp nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên

cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận (Hồi cứu/nghiên cứu tài liệu )

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (Tổng kết kinh nghiệm)

4 Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung vào 3 nội dung nghiên cứu sau:

4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

- Phân biệt khái niệm GDKCQ với một số khái niệm có liên quan (GDCQ, GDPCQ và GDTX)

- Tìm hiểu bối cảnh thời đại và xu thế phát triển giáo dục nói chung và phát triển GDKCQ nói riêng ở các nước trên thế giới và trong khu vực

- Nghiên cứu bối cảnh ở trong nước và những yêu cầu đặt ra đối với phát triển GDKCQ trong thời gian tới

4 2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài

- Hồi cứu quá trình phát triển GDKCQ ở Việt Nam trong thời gian qua và tổng kết những bài học kinh nghiệm để phát triển GDKCQ trong thời gian tới

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của GDKCQ hiện nay và cơ hội, thách thức

đối với phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Nghiên cứu tìm hiểu các dự báo phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục Việt Nam

2020 và chủ trương phát triển GDKCQ của Đảng và Nhà nước trong thời gian tới

4.3 Nghiên cứu đề xuất định hướng và giải pháp phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Nghiên cứu đề xuất định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

- Tổ chức xin ý kiến chuyên gia và cán bộ quản lí, chỉ đạo và giáo viên về các

định hướng và giải pháp mà đề tài đề xuất

5 Sản phẩm nghiên cứu

- Báo cáo tổng kết, tóm tắt đề tài

- Báo cáo “Định hướng phát triển GDKCQ - Một số cơ sở lí luận”

- Báo cáo “GDKCQ ở Việt Nam: Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức”

- Báo cáo “Định hướng phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới”

- Kỉ yếu Hội thảo

- 2 bài báo đăng trên tạp chí

Trang 9

Phần 2: Kết quả nghiên cứu của đề tài

-

I Cơ sở lí luận của đề tài

1 Giáo dục không chính qui và một số khái niệm có liên quan

Hiện nay, khái niệm “GDKCQ” còn đang được hiểu một cách khác nhau và còn bị nhầm lẫn với một số khái niệm khác như “GDPCQ”, “GDTX”, “GDNL”, “GDNNT” v.v Các khái niệm này nhiều khi được sử dụng với nội hàm như nhau hoặc ngược lại, cùng một khái niệm nhưng lại được hiểu với những nội hàm khác nhau Sự chưa rõ ràng, thống nhất này đã và đang gây nhiều tranh cãi, nhầm lẫn trong xã hội, đã và đang cản trở việc nghiên cứu, trao đổi, cản trở sự phát triển của GDKCQ và cản trở quá trình hội nhập với các nước trên thế giới và trong khu vực Vì vậy, việc phân biệt rõ khái niệm

“GDKCQ” với các khái niệm khác, đặc biệt khái niệm “GDTX” (dù là rất tương đối) là cần thiết và cấp bách trong xu thế hội nhập và để phát triển bộ phận giáo dục này trong thời gian tới với tư cách là một trong hai bộ phận cấu thành của hệ thống quốc dân

1.1 Giáo dục không chính qui và giáo dục chính qui

“GDKCQ” và “GDCQ” là cặp phạm trù luôn đi đôi với nhau, có liên hệ chặt chẽ với nhau và phản ánh 2 lĩnh vực giáo dục khác nhau của giáo dục hiện nay theo nghĩa rộng “GDKCQ” là một khái niệm mới xuất hiện trên thế giới vào cuối những năm 70 của thế kỉ XX trong cuốn sách của P.H Coombs “Khủng khoảng giáo dục thế giới: Phương pháp tiếp cận hệ thống” New York: Oxford University Press 1968 Theo đó, GDCQ không thể giữ “Vai trò độc tôn” và giáo dục cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ có GDCQ mà còn bao gồm cả GDKCQ

“GDCQ” (Formal Education) thường được hiểu là hệ thống giáo dục được thể chế

hoá cao (highly institutionalized), có cấu trúc chặt chẽ theo thời gian (Chronologically), theo thứ bậc (hierarchically) và theo cấp lớp (graded) từ tiểu học cho tới đại học

(Coombs and Ahmed 1974) Theo GS Vũ Văn Tảo, GDCQ được tiến hành trong những

thể chế (nhà trường), bởi đội ngũ giáo viên được trả lương và sử dụng thường xuyên

trong khuôn khổ chương trình cố định GDCQ được đặc trưng bởi tính đồng nhất

(iniformity) và tính cứng rắn (rigidity); với những cấu trúc ngang và dọc (tuổi-lớp, những chu trình và cấp bậc) và có tiêu chí nhập học được áp dụng một cách phổ biến

GDCQ hướng vào sự phổ cập, sự nối tiếp, sự chuẩn hoá hoá và thể chế hoá GDCQ diễn

ra liên tục, trong một thời gian nhất định Xuất phát từ đối tượng và hình thức học chủ yếu của GDCQ, “GDCQ” đôi khi còn được sử dụng đồng nghĩa với “GDTE” hoặc đồng nghĩa với “GDTTN”

Trang 10

nhằm cung cấp các cơ hội học tập cho nhóm đối tượng dân cư, người lớn cũng như trẻ

em (Coombs and Ahmed 1974) Khác với GDCQ, GDKCQ được đặc trưng bởi tính đa

dạng (diversified), tính linh hoạt/mềm dẻo (flexible) Chương trình của GDKCQ đa

dạng, không cố định, theo cấp lớp hoặc không theo cấp lớp GDKCQ diễn ra không chặt chẽ về thời gian, không liên tục, trong suốt cuộc đời GDKCQ chủ yếu dành cho người lớn và được tiến hành chủ yếu ở ngoài nhà trường Vì vậy, “GDKCQ” đôi khi còn được

sử dụng đồng nghĩa với “GDNL” hoặc đồng nghĩa với “GDNTN” Tuy nhiên,

“GDKCQ” cũng còn được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau Một số nước hiểu

“GDKCQ” là các chương trình do Bộ giáo dục cung cấp, trừ các chương trình của các trường phổ thông, cao đẳng, đại học Một số nước coi “GDKCQ” là các chương trình giáo dục của các Tổ chức phi chính phủ (NGOs) Một số nước lại coi các chương trình giáo dục của các Bộ khác (Bộ y tế, Bộ Lao động, Bộ Văn hoá, Thể thao và Thanh Niên, Hội phụ nữ ) là “GDKCQ” Một số nước thậm chí lại coi các chương trình học tập của cá nhân, của các nhóm xã hội (phụ nữ, nông dân ) là “GDKCQ” Một số nước lại hiểu “GDKCQ” theo nghĩa rộng nhất là tất cả các hoạt động, chương trình giáo dục (trừ giáo dục trong nhà trường và các trường cao đẳng, đại học), bao gồm cả các chương trình giáo dục của các phương tiện thông tin đại chúng (đài, tivi, báo, tạp chí )

“GDKCQ” theo nghĩa rộng không chỉ dành cho người lớn, không chỉ dành cho các đối tượng thiệt thòi về giáo dục, mà còn dành cho tất cả mọi người, mọi độ tuổi, mọi trình

độ Tuy nhiên, nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển còn hiểu “GDKCQ” theo nghĩa hẹp chỉ phục cho các nhóm đối tượng thiệt thòi về giáo dục

ở Việt nam cũng vậy, “GDKCQ” cũng còn được hiểu một cách khác nhau, theo nghĩa rộng hẹp khác nhau “GDKCQ” chủ yếu còn được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các chương trình giáo dục do Bộ GD-ĐT quản lí (Vụ GDTX và Vụ Đại học sau Đại học) Thậm chí, theo nghĩa hẹp hơn, “GDKCQ” chỉ bao gồm chương trình XMC, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, Bổ túc văn hoá và giáo dục chuyên đề cho người dân ở các TTHTCĐ, hoặc chỉ tập trung vào nhóm đối tượng thiệt thòi không có điều kiện hoặc phải bỏ học phổ thông chính qui Trong một số tài liệu, sách báo gần đây, khái niệm

“Giáo dục cận chính qui” mới xuất hiện để chỉ các chương trình giáo dục tương đương, giáo dục theo cấp lớp để lấy văn bằng, chứng chỉ Như vậy, “GDKCQ” còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, chỉ bao gồm các chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu, không tiến tới văn bằng, chứng chỉ

1.2 Giáo dục không chính qui và giáo dục phi chính qui

Đây là 2 khái niệm chưa có sự phân biệt rõ ràng và đôi khi còn bị nhầm lẫn với nhau

“GDPCQ” (In-formal Education) là khái niệm hiện đang còn nhiều tranh cãi và có

Trang 11

suốt đời qua đó từng cá nhân tiếp thu, tích luỹ kiến thức, kĩ năng, thái độ, ý tưởng từ kinh nghiệm hàng ngày, từ môi trường sống, trong gia đình, qua lao động, cuộc sống, giao tiếp, du lịch, qua đọc sách báo, nghe đài, xem tivi v.v Và vì vậy “GDPCQ” được

đặc trưng bởi tính không có hệ thống (unsystematic), không có tổ chức (unorganized)

Tuy nhiên một số quan điểm khác lại cho rằng không có giáo dục phi chính qui, mà chỉ

có học tập phi chính qui” (In-formal Learning), bởi đã là giáo dục thì phải có mục đích,

có tổ chức, có kế hoạch Một số nước khác lại hiểu “GDPCQ” là các chương trình tuyên truyền, giáo dục, truyền thông của các phương tiện thông tin đại chúng (đài truyền thanh, truyền hình, sách báo ), các chương trình giáo dục của các Thư viện, của các Nhà văn hoá, các Bảo tàng, các cuộc Triễn lãm, Hội chợ, Hội thảo v.v Nhiều nước lại cho rằng không có “GDPCQ” và tất cả các chương trình trên đều thuộc phạm trù

“GDKCQ” Tuỳ theo quan niệm có “GDPCQ” hay không mà hệ thống giáo dục của các nước có thể bao gồm hai hoặc ba bộ phận cấu thành

ở Việt Nam, “GDPCQ” cũng còn được hiểu rất khác nhau và đôi khi còn bị nhầm lẫn với“GDKCQ” Theo từ điển tiếng Việt “Không” và “Phi” có nghĩa như nhau Vì vậy,

để tránh nhầm lẫn nhiều ý kiến đề nghị nên dịch “In-formal Education” là Giáo dục ngẫu nhiên hay Giáo dục không theo thủ tục

1.3 Giáo dục không chính qui và giáo dục thường xuyên

Đây là 2 khái niệm hiện còn có nhiều quan điểm khác nhau ở Việt Nam và đôi khi

được hiểu với nội hàm giống nhau Tuy nhiên, ở các nước, đây là 2 khái niệm có nội hàm hoàn toàn khác nhau

“GDTX” (Continuing Education) là một khái niệm được sử dụng nhiều ở các nước phát triển và mới xuất hiện ở các nước đang phát triển trong những năm cuối 80 của thế

kỉ XX trong Chương trình Giáo dục cho mọi người ở Châu á-Thái Bình Dương (gọi tắt bằng tiếng Anh là APPEAL)

“Continuing Education” được hiểu là sự giáo dục tiếp tục sau giáo dục ban đầu/sau

giáo dục cơ bản (sau xoá mù chữ hay sau giáo dục tiểu học, giáo dục THCS tuỳ theo giáo dục phổ cập bắt buộc của từng nước) nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người Sau khi đạt trình độ phổ cập, mỗi người có thể tiếp tục học theo các phương thức khác nhau: chính qui, không chính qui hoặc phi chính qui/tự học tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi người Vì vậy, theo quan niệm này “Continuing Education” là một khái niệm rộng, bao gồm cả GDCQ, GDKCQ và GDPCQ Như vậy, “Continuing Education” là khái niệm rộng hơn “GDKCQ”

ở Việt Nam, “GDTX” hiện đang còn được hiểu một cách khác nhau và còn chưa có

sự phân biệt rõ ràng “GDTX” ở Việt Nam chính thức được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh

Trang 12

mặt ngữ nghĩa, dễ gây ra tranh cãi và sự hiểu lầm “GDTX” theo nghĩa tiếng Việt chỉ sự giáo dục liên tục trong suốt cuộc đời từ lúc mới sinh cho tới khi chết Còn “Continuing Education” là giáo dục tiếp tục, tiếp nối sau giáo dục cơ bản Vì vậy “Continuing Education” nên được dịch ra tiếng Việt là “Giáo dục tiếp tục” Việc dịch thành “GDTX”

là không chính xác về mặt ngữ nghĩa và dễ gây hiểu lầm Ngoài ra, “GDTX” ở Việt Nam hiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn so với các nước “GDTX” ở Việt Nam về thực chất là “GDKCQ” Điều 40 Luật Giáo dục 1998 và điều 44 Luật Giáo dục 2005 đều xác

định “GDKCQ” hay “GDTX” đều có mục tiêu “giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ

học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo

việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” Tuy nhiên, Luật Giáo dục 1998 coi GDKCQ

là phương thức, còn Luật giáo dục 2005 coi GDTX là hệ thống

Tóm lại, “GDCQ”, “GDKCQ” và “GDPCQ” là 3 khái niệm phản ánh các loại hình giáo dục khác nhau, các bộ phận giáo dục khác nhau của hệ thống giáo dục, trong đó quan niệm về “GDCQ” tương đối rõ ràng và thống nhất, quan niệm về “GDKCQ” và

“GDPCQ” còn có nhiều ý kiến khác nhau Dù còn có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau, nhưng về nguyên tắc các khái niệm này phải loại trừ lẫn nhau, không chồng chéo, phải phản ánh được tất cả các loại hình giáo dục ngày càng đa dạng và phong phú hiện nay

Theo đề tài, trong xu thế hội nhập, Việt Nam không thể có một quan niệm riêng

“GDKCQ” và “GDTX” là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, có nội hàm khác nhau Việt Nam không thể dùng thuật ngữ “GDTX” Việc dùng thuật ngữ “GDKCQ” sẽ phù hợp hơn với quan niệm của các nước và phản ánh đúng hơn thực tế hiện nay ở Việt Nam Việc phân chia hệ thống giáo dục quốc dân thành 2 bộ phận GDCQ và GDTX theo Luật Giáo dục 2005 là bất hợp lí, là không chính xác về mặt ngữ nghĩa, không lô gic, không theo cùng một tiêu chí và không phù hợp với xu thế hội nhập Hai bộ phận cấu thành của

hệ thống giáo dục quốc dân nên là “GDCQ” và “GDKCQ”, chứ không thể là “GDCQ”

và “GDTX” Tuy nhiên, theo nhóm đề tài, “GDKCQ” cần được hiểu theo nghĩa rộng

- “GDKCQ” theo nghĩa rộng không chỉ phục vụ các nhóm đối tượng thiệt thòi về giáo dục, mà còn phục vụ tất cả mọi người có nhu cầu HTTX, HTSĐ, mọi độ tuổi, mọi trình độ

- “GDKCQ” theo nghĩa rộng không chỉ có các chương trình XMC, BTVH, các chương trình để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, mà còn bao gồm các chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu, các chương trình giáo dục kĩ năng sống để giúp mọi người cập nhật kiến thức, kĩ năng sống cần thiết, để giúp mọi người có kiến thức, năng lực thực sự để sống, làm việc và tồn tại trong thời đại

Trang 13

- “GDKCQ” theo nghĩa rộng không chỉ có các chương trình giáo dục do Bộ GD-ĐT cung ứng và quản lí, mà còn bao gồm cả các chương trình đào tạo lại, chương trình tập huấn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kĩ năng sống của tất cả các bộ, ban, ngành,

đoàn thể, các chương trình, dự án, các tổ chức, cơ quan, các công ty, xí nghiệp, tập

đoàn v.v và cả các chương trình truyền thông, giáo dục của các phương tiện thông tin đại chúng (đài truyền thanh, truyền hình, sách báo, tạp chí ), các chương trình giáo dục của các Thư viện, Nhà văn hoá, Bảo tàng, các cuộc Triễn lãm, Hội chợ v.v

Nhóm đề tài cho rằng không có “GDPCQ” mà chỉ có “Học tập phi chính qui” Vì vậy hệ thống giáo dục quốc dân chỉ có 2 bộ phận cấu thành là “GDCQ” và “GDKCQ”, trong đó “GDCQ” và “GDKCQ” đều vừa là hệ thống, vừa là phương thức giáo dục Nếu coi GDCQ là hệ thống thì GDKCQ cũng là hệ thống và ngược lại nếu coi GDKCQ là phương thức thì GDCQ cũng là phương thức

2 Bối cảnh thời đại và những vấn đề đặt ra đối với phát triến GDKCQ trong

những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI

2.1 Bối cảnh quốc tế trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI

Bước sang thế kỉ XXI - Nhân loại bước sang một thời đại mới - Thời đại được đặc trưng bởi

- Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của KHKT-CN

- Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập

- Sự xuất hiện ngày càng nhiều nền kinh tế tri thức.

Những xu thế này của thời đại đã và đang tác động mạnh mẽ tới phát triển giáo dục nói chung và GDKCQ nói riêng

2.1.1 Sự phát triển của KHKT-CN trong những thập kỉ đầu thế kỉ XXI và nhu cầu,

30 năm gần đây khối lượng kiến thức mà loài người thu thập được ngang bằng với hai

Trang 14

hiện nay Người ta tính rằng trung bình cứ 10 năm khối lượng kiến thức của nhân loại sẽ tăng lên gấp đôi Với tốc độ gia tăng kiến thức như vậy, kiến thức tiếp thu được trong nhà trường, kể cả đại học và sau đại học trở nên ít ỏi, nhanh chóng lạc hậu và không đủ dùng trong suốt cuộc đời Vì vậy, để có thể sống, làm việc và tồn tại trong thời đại ngày nay, mọi người ngày càng ý thức được nhu cầu cần phải HTTX, HTSĐ Ngoài ra, tiến bộ KHKT-CN còn làm thay đổi tính chất và nội dung lao động nghề nghiệp của người lao

động Lao động ngày càng phức tạp, đòi hỏi qui trình công nghệ và trình độ lành nghề của người lao động Mức độ cơ giới hoá, tự động hoá và mức độ lao động trí óc ngày càng cao Cách mạng công nghệ dẫn tới việc sử dụng những công cụ, phương tiện hiện

đại, phức tạp, đòi hỏi ngày càng tăng lao động trí óc và giảm dần nhóm thao tác lao

động chân tay Tiến bộ KHKT-CN còn làm thay đổi diện nghề của người lao động Người lao động không chỉ biết một nghề, một lĩnh vực nào đó, mà cần phải biết nhiều lĩnh vực có liên quan với nhau mới có thể tồn tại và thích ứng được Như vậy, tiến bộ KHKT-CN buộc người lao động phải thường xuyên cập nhật kiến thức, kĩ năng mới Nếu không nguy cơ tụt hậu, nguy cơ bị thất bại trong cuộc cạnh tranh gay gắt về năng suất, chất lượng và giá thành và nguy cơ bị mất việc làm là rất lớn

Sự phát triển của KHKT-CN trong thế kỉ XXI không chỉ tạo nhu cầu HTTX, HTSĐ,

mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho HTTX, HTSĐ, cho GDKCQ phát triển Cùng với tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất của người dân được cải thiện, tuổi thọ ngày càng tăng, nhu cầu tinh thần ngày càng cao và thời gian nhàn rỗi ngày càng nhiều Sự già hoá tích cực của dân số là xu hướng lớn nhất của các nước phát triển là Hiện nay người có tuổi (>65 tuổi) chiếm 12% dân số thế giới Dự báo 2020 tỉ lệ này là 17% Với tốc độ tăng như hiện nay thì đến năm 2025, số người dân ngoài 60 tuổi trên thế giới sẽ tăng tới

1 tỉ người Giai đoạn trên 60 tuổi là giai đoạn tương đối dài và có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân, cũng như đối với phát triển cộng đồng, xã hội và được gọi là “Giai đoạn thứ ba” của cuộc đời ở Việt Nam, người cao tuổi có xu hướng tăng cả về số lượng tuyệt đối

và tương đối Theo tổng cục thống kê hiện nay Việt Nam có 7,5 triệu người cao tuổi và

tỉ lệ người cao tuổi (>60 tuổi) tăng dần từ 7,1% (năm 1979) lên 7,2% (năm 1989), 8,2% (1999) và 8,95% (2004) Như vậy, số lượng người cao tuổi ngày càng đông và thời gian sống sau “hưu” ngày càng dài - là nhóm đối tượng mà GDKCQ trong tương lai phải quan tâm, đáp ứng Nhóm đối tượng này có nhu cầu rất lớn về HTTX để khỏi lạc hậu với con cháu, với thời cuộc, để sống vui, sống khoẻ và sống có ích GDKCQ cần có nội dung, cũng như hình thức và phương pháp dạy học phù hợp với người cao tuổi Người ta cũng dự báo rằng trong thời gian không xa ở các nước phát triển mỗi người sẽ chỉ phải làm việc 50.000 giờ trong cuộc đời mỗi người Nếu trung bình mỗi người sống 70 năm, trung bình ngủ 200.000 giờ và chỉ làm việc có 50.000 giờ, thì sẽ có 350.000 giờ nhàn rỗi

Trang 15

Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của KHKT-CN trong những thập

kỉ đầu của thế kỉ XXI đã và đang tạo ra các phương tiện, điều kiện thuận lợi cho việc HTTX, HTSĐ, làm thay đổi và đa dạng các phương thức học tập (Internet, Học từ xa, học qua các sản phẩm nghe nhìn v.v…) Các phương tiện truyền thông, máy tính cá nhân, mạng internet, các sản phẩm nghe, nhìn, các tài liệu học tập … ngày càng nhiều, càng rẻ, càng dễ dàng sử dụng, càng thuận tiện trong việc tiếp cận, được cung cấp tới tận cơ sở, gia đình, cá nhân Công nghệ mới, đặc biệt công nghệ thông tin đã làm nẩy sinh

và phát triển hơn nữa phương thức giáo dục từ xa, làm cho việc học tập có thể tiến hành

ở bất kì thời gian, bất kì địa điểm nào Người học có thể học ngay tại nhà mình và được chọn học thầy giáo giỏi nhất Theo thống kê tháng 7/2007, ở Việt Nam đã có 16 triệu người (chiếm khoảng 20% dân số) sử dụng internet, đứng thứ 17 trên thế giới và thứ 6 ở Châu á-Thái Bình Dương Đây sẽ là hình thức học phổ biến trong tương lai của nhiều người mà GDKCQ cần phải quan tâm, nghiên cứu để đa dạng hoá cơ hội HTTX, HTSĐ cho mọi người có nhu cầu và điều kiện

2.1.2 Toàn cầu hoá, Hội nhập kinh tế thế giới và những vấn đề đặt ra đối với GDKCQ trong việc nâng cao dân trí và bồi dưỡng NNL có chất lượng cao

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế thế giới là xu thế tất yếu, khách quan của thời đại Tuy nhiên, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế không chỉ là quá trình hợp tác để phát triển,

mà còn là quá trình đấu tranh, cạnh tranh quyết liệt để bảo vệ lợi ích quốc gia, duy trì bản sắc văn hoá dân tộc … Để có thể thành công trong cuộc cạnh tranh này, cần có một

đội ngũ NNL đủ sức đương đầu với thách thức của cạnh tranh và hợp tác Toàn cầu hoá, Hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi chất lượng NNL phải đạt chuẩn của khu vực và thế giới Trong khi đó chất lượng NNL hiện nay ở nước ta còn quá thấp cả về trình độ văn hoá, lẫn trình độ chuyên môn, kĩ thuật Lao động giản đơn còn chiếm tỉ lệ cao Năm

2003, mới chỉ có khoảng 20% số người lao động được qua đào tạo Trong số hơn 42 triệu lao động trong cả nước có tới 33.280.695 người không có chuyên môn kĩ thuật, trong đó lao động nông thôn 27.681.808 (83,2%) Vì vậy, việc nâng cao chất lượng NNL thông qua giáo dục chính qui và đặc biệt GDKCQ trong thời gian tới là cần thiết và cấp bách trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới

Toàn cầu hoá, Hội nhập kinh tế thế giới sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao

động Người lao động có cơ hội tham gia sâu hơn, rộng hơn vào phân công lao động toàn cầu, có cơ hội được tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến Thu nhập của người lao động sẽ cao hơn, nếu có tay nghề cao, nếu biết chuẩn bị sớm để đón cơ hội Tuy nhiên, hội nhập kinh tế thế giới cũng sẽ tạo ra nhiều thách thức không nhỏ đối với người lao động Họ phải đứng trước sức ép cạnh tranh vô cùng to lớn Gia nhập WTO

Trang 16

hiểu không chỉ lợi ích, cơ hội, mà cả những khó khăn, thách thức, bất lợi, rủi ro đang chờ đón họ Người lao động trong hội nhập cần phải năng động, sáng tạo và phải có khả năng thích nghi cao Họ cần phải không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của mình, không ngừng nâng cao tay nghề, trình độ ngoại ngữ, tin học

Có như vậy người lao động của Việt Nam mới đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của nhà tuyển dụng, nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường lao động thế giới Nếu không nguy cơ thất nghiệp sẽ rất lớn Lúc này hơn lúc nào hết, người lao động ý thức

được nhu cầu cần phải HTTX, HTSĐ để cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề, để “Tự làm mới mình”

Vì vậy, GDKCQ với nhiệm vụ tạo cơ hội HTTX, HTSĐ cho mọi người, với nhiệm

vụ nâng cao dân trí, bồi dưỡng NNL ngày càng có vai trò quan trọng và cần được đẩy mạnh phát triển trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

2.1.3 Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với GDKCQ trong việc đào tạo, bồi dưỡng NNL có chất lượng cao

Đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát triển KTTT, coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta từ nay đến

2020 KTTT là nền kinh tế dựa vào trí tuệ của con người là chính, chứ không phải dựa vào tài nguyên, lao động và vốn như trước đây Tri thức sẽ trở thành sản phẩm của xã hội, đồng thời là động lực của sản xuất và phát triển kinh tế-xã hội Trong nền KTTT, vốn con người đóng vai trò quyết định bên cạnh các nguồn vốn khác Con người trong nền KTTT phải có năng lực mới, kĩ năng mới Đó là năng lực chủ động, năng lực hành

động có hiệu quả, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực hợp tác, phải có kĩ năng kĩ thuật, kĩ năng hợp tác và đặc biệt kĩ năng tự học, kĩ năng thích ứng v.v… Trong nền KTTT, nhu cầu về NNL có chất lượng cao là vấn đề sống còn của các quốc gia Đào tạo, bồi dưỡng NNL đáp ứng yêu cầu của KTTT trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới và là một điều kiện tiên quyết đối với các nước chậm phát triển trên con đường công nghiệp hoá

NNL ở Việt Nam dồi dào, tuy nhiên còn nhiều hạn chế, bất cập về trình độ văn hoá, trình độ dân trí, về ý thức luật pháp, về kỉ luật lao động, về thể lực, đặc biệt về trình độ chuyên môn, nghề nghiệp và tay nghề … Bước vào KTTT, cái thiếu của con người Việt Nam là thiếu tri thức Người nông dân thiếu tri thức để có thể sản xuất và chế biến các nông sản chất lượng cao xuất khẩu Người công nhân thiếu tri thức để trở thành “công nhân áo trắng” có thể sản xuất ra các mặt hàng chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế trong quá trình cạnh trạnh hội nhập Các nhà kĩ thuật, các công nghệ gia thiếu tri thức để điều hành sản xuất và liên doanh hợp tác với nước ngoài Các nhà khoa học thiếu tri thức để

Trang 17

thiếu tri thức để quản lí một xã hội hiện đại, mà trước hết quản lí tri thức, cũng như quản

lí đội ngũ tri thức, động lực chính của nền KTTT Để phát triển KTTT, cần thiết và cấp bách phải nâng cao ngay chất lượng NNL, phải bù đắp ngay những cái mà người Việt Nam còn thiếu Vì vậy, GDKCQ với sứ mệnh góp phần bồi dưỡng NNL cần phải được quan tâm và đầu tư phát triển trong thời gian tới

2.2 Bối cảnh trong nước từ nay đến 2020

Bối cảnh trong nước từ nay đến 2020 cũng tạo nhiều cơ hội, nhưng đồng thời cũng

đặt ra không ít thách thức đối với phát triển giáo dục nói chung và GDKCQ nói riêng Ngoài những xu thế chung của thời đại, không thể không quan tâm tới yêu cầu của sự nghiệp “CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, yêu cầu của phát triển bền vững và xây dựng “Xã hội học tập”

đến năm 2020

2.2.1 CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, chủ động, tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với phát triển GDKCQ trong giai đoạn mới

CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta từ nay đến 2020

Một xã hội công nghiệp hiện đại là một xã hội với một nền sản xuất được sử dụng rộng rãi các thiết bị cơ khí, tự động hoá thay cho sức người và công cụ thủ công truyền thống, ngay cả trong nông nghiệp Trong xã hội như vậy, con người phải có mối quan hệ khăng khít với máy, người và máy trở thành một hệ thống đồng bộ trong quá trình sản xuất và ngay cả trong đời sống xã hội Máy phải làm việc dưới sự điều khiển của con người, nhưng ngược lại, con người lại phải tư duy, làm việc với các tính năng, nhịp độ của máy, đúng thao tác, qui trình, không thể tự do, tuỳ tiện Trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, trong sự phân công và hiệp đồng lao động để cùng nhau nhịp nhàng hoàn thành những sản phẩm chung, những công việc chung, tinh thần tập thể gắn bó, cùng nhau chịu trách nhiệm trở thành yêu cầu cao đối với mỗi người lao động Để có thể làm việc được trong những điều kiện như vậy, người lao động cần phải có 3 yếu tố cơ bản, đó là có trình độ văn hoá và kiến thức kĩ thuật cần thiết để có thể tiếp thu các công nghệ mới; có kĩ năng thực hành thành thạo, làm chủ được các phương tiện sản xuất hiện

đại để bảo đảm chất lượng sản phẩm tốt và có tác phong công nghiệp, lao động khẩn trương với nhịp độ cao, có tính kỉ luật và ý thức lao động tập thể để lao động có năng suất cao

Trong khi đó, đại bộ phận người lao động Việt Nam còn chưa hội tụ đủ 3 yếu tố đó Việt Nam đang trong quá trình CNH, HĐH với sự tồn tại của 3 nền văn minh: văn minh

Trang 18

thủ công là chủ yếu Con người Việt Nam còn mang “sắc thái” nông dân (Lao động thủ công, dùng sức người là chính, làm ăn cá thể với phong cách tự do, tuỳ tiện) Ngoài ra, người lao động Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tàn dư lỗi thời của xã hội cũ như địa vị, hư danh, trọng lí thuyết, nhẹ thực hành, coi rẻ lao động chân tay v.v…

Vì vậy, để bảo đảm cho thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong thời gian tới, cần thiết và cấp bách phải coi trọng đào tạo, bồi dưỡng NNL để có những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp hiện đại, trong đó GDKCQ có vai trò quan trọng trong việc góp phần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lao động hiện hành

2.2.2 Phát triển bền vững đất nước và những yêu cầu đối với phát triển GDKCQ

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và mạnh mẽ trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, Phát triển bền vững (PTBV) hiện là mối quan tâm lớn của các nước, mà còn ở Việt Nam PTBV là sự phát triển cân đối, hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội và bảo vệ môi trường, là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không gây phương hại đến điều kiện sinh tồn và phát triển của thế hệ tương lai Một quốc gia, một cộng đồng không thể PTBV được còn nhiều người nghèo, nhiều người thất nghiệp, nếu dịch bệnh thường xuyên xẩy ra, nếu còn nhiều trẻ bị suy dinh dưỡng, nếu còn nhiều tệ nạn xã hội, nhiều thiên tai, nếu xã hội không ổn định, còn mất dân chủ, còn

đối xử phân biệt đối với phụ nữ, nếu môi trường bị ô nhiễm, cạn kiệt ảnh hưởng đến thế

hệ tương lai v.v… Vì vậy, 5 điều mà các nước hiện nay cố gắng tránh trong tăng trưởng

đó là tăng trưởng nhưng không mất việc làm; tăng trưởng nhưng không mất tiếng nói; tăng trưởng không mất lương tâm; tăng trưởng nhưng không mất gốc rễ và tăng trưởng nhưng không mất tương lai

Nhận thức được tầm quan trọng của PTBV, Đảng và Nhà nước đã chủ trương PTBV từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX Đảng và Nhà nước không chỉ phấn đấu

“Dân giầu, nước mạnh”, mà còn phấn đấu xây dựng “Xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Quan điểm PTBV của Đảng và Nhà nước đã thể hiện trong nhiều văn bản quan trọng như “Kế hoạch quốc gia về môi trường và PTBV giai đoạn 1991-2000”, trong Chỉ thị 36/1998/CTTW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường, trong các NQ Đại hội IX và Đại hội X Chiến lược phát triển Kinh tế-Xã hội giai đoạn 2001-

2010 đã đưa ra quan điểm “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế

đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường tự nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” Ngày 17/8/2004 Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (còn gọi là Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Chương trình Nghị sự này đã

Trang 19

PTBV của Việt Nam qua 18 năm đổi mới (từ 1986-2004), Chương trình Nghị sự đã đề ra những mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc chính và hoạt động ưu tiên để PTBV đất nước trong thế kỉ XXI

Nhận thức được vai trò trung tâm của con người - chủ thể của PTBV và vai trò của giáo dục như chìa khoá của PTBV, của hoà bình, ổn định và tăng trưởng kinh tế xã hội, năm 2002 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã quyết định triển khai Thập kỉ “Giáo dục vì sự PTBV” 2005-2014

Như vậy, trước yêu cầu PTBV trong thế kỉ XXI, người dân học không chỉ để biết phát triển kinh tế, mà còn để biết bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, phòng chống các dịch bệnh, các tệ nạn xã hội, biết bảo vệ sức khoẻ bản thân, gia đình và trẻ

em, biết sống và làm việc theo pháp luật, biết quyền lợi cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm của mình; biết đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, để có hiểu biết về bình

đẳng giới, về văn hoá, hoà bình v.v…Vì vậy, PTBV yêu cầu chương trình, nội dung GDKCQ phải đa dạng, phải góp phần giải quyết bốn vấn đề nổi cộm (4 P) của thời đại như đói nghèo (Poverty); sự bùng nổ dân số (Population); ô nhiễm môi trường (Polution) và hoà bình (Peace) Nội dung GDKCQ trong thế kỉ XXI phải quán triệt 15 nội dung giáo dục cơ bản vì sự PTBV mà UNESCO đã nêu ra

2.2.3 Xây dựng “X∙ hội học tập” và những yêu cầu đặt ra đối với phát triển GDKCQ

Học tập là một đặc trưng mới của xã hội hiện đại trong nền KTTT XHHT là xã hội

mà mọi quốc gia hiện nay đều đang phấn đấu hướng tới, là xu thế phát triển tất yếu ở các nước trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam

Tuy nhiên mục tiêu xây dựng XHHT sẽ không thực hiện được nếu như không phát triển GDKCQ theo nghĩa rộng nhất của từ này Ngược lại, GDKCQ chỉ có thể phát triển mạnh mẽ trong XHHT Tuy nhiên, quan niệm về XHHT còn chưa rõ ràng và còn có nhiều ý kiến khác nhau Theo đề tài, XHHT là xã hội, trong đó:

- Mọi người đều học tập, học thường xuyên, học suốt đời

- Mọi lực lượng xã hội đều có trách nhiệm tạo cơ hội học tập dưới mọi hình thức khác nhau cho mọi người

“Giáo dục cho mọi người” và “Mọi người cho giáo dục” là 2 đặc trưng quan trọng của XHHT có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại với nhau Thiếu một trong hai đặc trưng đó thì không thể gọi là XHHT được Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, không ít người còn hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ về XHHT

Trong xã hội học tập “Mọi người đều học” không có nghĩa là “Mọi người đều đi học, đều đến trường, lớp”, lại càng không có nghĩa là “Mọi người đều được học đại học” và thực tế sẽ không bao giờ có đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên để mọi người đều

Trang 20

Trong XHHT, mọi tổ chức, mọi lực lượng xã hội đều có trách nhiệm cùng làm giáo

dục, có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập, tổ chức việc HTTX, HTSĐ cho mọi

người có nhu cầu, chứ không chỉ hỗ trợ, đóng góp cho giáo dục “Giáo dục cho mọi người” không chỉ là trách nhiệm của nhà nước, của ngành giáo dục, mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Các bộ, ban ngành đoàn thể, các tổ chức, cơ quan, các nhà máy, công ty hay xí nghiệp, các chương trình, dự án v.v đều có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, tổ chức đào tạo lại, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng để cập nhật kiến thức,

kĩ năng, nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực của mình, cho hội viên của mình hoặc cho người dân về lĩnh vực mà mình phụ trách

Để mọi người đều được học và đều có thể học, các cơ hội học tập phải đa dạng, phải sẵn có, phải thuận tiện, phải được thông tin và phải dễ dàng về thủ nhập và theo học (linh hoạt, mềm dẻo) Các chương trình, tài liệu, sách báo, học liệu, các phương tiện phải

đa dạng, phong phú, rẻ tiền, dễ sử dụng v.v Ngoài ra, để có thể HTTX, HTSĐ, bản thân mỗi người không những phải có nhu cầu và mong muốn học tập, mà còn cần phải

có một số kĩ năng cơ bản (kĩ năng biết chữ, kĩ năng tự học, kĩ năng sử dụng vi tính, ngoại ngữ v.v )

Tóm lại, một quan niệm đầy đủ và đúng với bản chất của XHHT phải coi trọng cả 2

đặc trưng cơ bản sau:

- Thứ nhất, đó là xã hội, trong đó hệ thống giáo dục phải mở, phải đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo để tạo cơ hội cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ đều có thể học bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu khi có nhu cầu và điều kiện

- Thứ hai, xã hội đó phải là xã hội mà trong đó mọi người, mọi tổ chức, mọi lực

lượng xã hội đều tham gia cùng làm giáo dục, chứ không chỉ đóng góp, hỗ trợ

cho giáo dục

Với quan niệm như vậy, có thể nói rằng không thể xây dựng XHHT nếu không phát triển GDKCQ Và vì vậy Đề án xây dựng XHHT do Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 18/5/2005 tập trung chủ yếu vào những vấn đề của GDKCQ

2.3 Học tập và giáo dục thế kỉ XXI và những vấn đề đặt ra đối với GDKCQ

Trước bối cảnh trong nước và quốc tế trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, học tập và giáo dục có nhiều đặc trưng mới mà GDKCQ cần phải quan tâm để có thể đáp ứng một cách tốt nhất

2.3.1 Học tập thế kỉ XXI

Bối cảnh trong nước và quốc tế trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI đã và đang làm thay đổi lối sống của mọi người Thời đại đã buộc mọi người phải HTTX, HTSĐ, nhưng đồng thời thời đại cũng tạo ra nhiều phương tiện và điều kiện cho HTTX, HTSĐ Thời đại đã làm cho học tập thế kỉ XXI có nhiều sắc thái mới, nhiều đặc trưng mới đòi

Trang 21

- Học tập (Learning) thế kỉ XXI là một khái niệm rộng, được hiểu là bất cứ quá trình

nào đem lại sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi của cá nhân Học không có nghĩa là đến trường, không có nghĩa là đi học (schooling) Học tập có thể diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, dưới nhiều hình thức, phương thức khác nhau Học tập

có thể xẩy ra qua cuộc sống, qua lao động thực tiễn, qua giao tiếp, trao đổi, qua đọc sách, báo, nghe đài, xem tivi, qua mạng, qua các buổi họp, các buổi sinh hoạt nhóm, câu lạc bộ, các buổi nói chuyện, mít tinh v.v Nghĩa là học tập có thể xẩy ra khi có hoặc không có hướng dẫn, có mục đích, có kế hoạch, miễn là đem lại sự thay

đổi về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi của cá nhân

- Học tập thế kỉ XXI là HTTX, HTSĐ Học ngày nay không chỉ diễn ra 1 lần, trong

một giai đoạn nào đó, mà diễn ra trong suốt cuộc đời dưới nhiều hình thức, phương thức khác nhau: chính qui, không chính qui và phi chính qui Việc học một lần trong đời hoặc chỉ học chính qui chỉ thích hợp với xã hội không thay đổi Trong thời đại ngày nay, ranh giới giữa học và lao động ngày càng mờ dần, giữa thời gian học và thời gian lao động không còn sự phân biệt rạch ròi: vừa làm, vừa học, học thường xuyên, học suốt đời

- Học tập thế kỉ XXI là nhu cầu của tất cả mọi người, ở mọi độ tuổi để có thể sống,

làm việc và tồn tại trong thời đại ngày nay, chứ không chỉ là nhu cầu của một số người hay ở một độ tuổi nhất định nào đó

- Mục đích học thế kỉ XXI có nhiều thay đổi. Học tập thế kỉ XXI không chỉ để có

bằng cấp, chứng chỉ, mà chủ yếu để có kiến thức, có năng lực thực sự Học tập thế

kỉ XXI không chỉ để biết Học thế kỉ XXI chủ yếu để làm việc, kiếm sống, để có thể tồn tại/thích nghi trong một xã hội luôn thay đổi và để có thể cùng chung sống trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập Học thế kỉ XXI còn để phát triển cộng đồng bền vững, để đối thoại văn hoá Vì vậy, học thế kỉ XXI không phải hình thức, không phải để đối phó hay học cho người khác, mà học cho bản thân, học để “ấm vào thân” Học hoàn toàn mang tính chất tự nguyện Người học chủ động và nếu cần sẽ sẵn sàng đóng góp tiền

- Nội dung học thế kỉ XXI ngày càng đa dạng, phong phú hơn Người dân không chỉ

có nhu cầu học chữ, học văn hoá, học kiến thức, mà chủ yếu có nhu cầu học kĩ năng sống cần thiết để làm việc, tồn tại và nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân

- Cuối cùng, với sự phát triển mạnh mẽ của KHKT-CN, đặc biệt là công nghệ thông

tin, Học tập thế kỉ XXI ngày càng thuận lợi, đa dạng hơn nhờ các phương tiện ngày

càng nhiều, càng rẻ, càng thuận tiện, càng dễ dàng sử dụng v.v

Trước nhu cầu HTTX, HTSĐ ngày càng tăng, ngày càng đa dạng đó của mọi người,

Trang 22

bảo đảm nhiều cơ hội học tập đa dạng cho mọi người, mới cho phép bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào và bất kì ở đâu khi có nhu cầu đều có thể lựa chọn nội dung, hình thức học phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình

2.3.2 Giáo dục thế kỉ XXI

Để đáp ứng nhu cầu HTTX, HTSĐ ngày càng tăng, ngày càng đa dạng đó của mọi người, giáo dục thế kỉ XXI không thể không thay đổi Thời đại buộc phải đổi mới tư duy

về giáo dục, buộc phải mở rộng quan niệm về giáo dục

Giáo dục thế kỉ XXI với hai đặc trưng cơ bản là “Giáo dục suốt đời” và “Giáo dục cho mọi người” là nền giáo dục không chỉ tiến hành một lần, cho một độ tuổi nhất định,

mà diễn ra trong suốt cuộc đời, là giáo dục không chỉ dành cho TE, không chỉ dành cho một số người, mà dành cho cả NL, cho tất cả mọi người, mọi độ tuổi Giáo dục thế kỉ XXI không chỉ hướng tới “Công bằng xã hội trong giáo dục”, mà còn hướng tới Dân chủ hoá trong giáo dục”, không chỉ dành cho nhóm đối tượng thiệt thòi về giáo dục, mà còn dành cho mọi người, mọi trình độ có nhu cầu HTTX, HTSĐ

G iáo dục thế kỉ XXI là giáo dục mở bao gồm GDTNT và GDNNT, bao gồm GDTE

và GDNL, bao gồm GDCQ và GDKCQ, trong đó GDKCQ là bộ phận ngày càng quan quan trọng

Sơ đồ 1: Giáo dục thế kỉ XXI

- Nội dung Dạy và Học trong thế kỉ XXI là những cái mà người học cần, chứ không phải những cái mà người dạy có, những cái được qui định sẵn có trong chương trình

áp đặt, cho trước Chương trình học sẽ được thiết kế theo các học phần, các môđun

để ngoài học phần bắt buộc, người học có thể lựa chọn học phần phù hợp với nhu cầu, điều kiện, khả năng của mình

GDCQ

GDKCQ GDCQ

Trang 23

- Mục đích, động cơ học theo triết lí “Giáo dục đại chúng” không chỉ để có bằng cấp, chứng chỉ, mà chủ yếu là để có năng lực thực sự, để cập nhật kiến thức, kĩ năng sống cần thiết trong một xã hội luôn thay đổi và thay đổi nhanh chóng.

- Giáo dục được tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, dưới mọi hình thức (Mặt đối mặt, Tự học, Học từ xa ), với mọi phương tiện khác nhau (Mạng, VCD, )

Tóm lại, bối cảnh thời đại đã và đang buộc phải mở rộng quan niệm về giáo dục và

xu thế phát triển GDKCQ là tất yếu GDKCQ ngày càng được khẳng định là một bộ phận giáo dục quan trọng trong hệ thống giáo dục của các nước GDKCQ được coi là

“Chìa khoá” để bước vào thế kỉ XXI và nhiều nhà khoa học đã dự báo thế kỉ 21 là “Thế

kỉ của GDKCQ” Tuyên bố ĐaKa tại Hội nghị thế giới về giáo dục cho mọi người (4/2000) đã khẳng định tầm quan trọng của GDKCQ trong việc tạo cơ hội HTTX, HTSĐ cho tất cả mọi người để có thể chống chọi được với những thách thức của thế kỉ XXI Trong 21 điểm chiến lược phát triển giáo dục thế kỉ XXI của UNESCO đã có tới 6 điểm

nói về GDKCQ, trong đó điểm thứ 1 đã chỉ rõ "GDKCQ phải là nét chủ đạo của mọi

chính sách giáo dục trong những năm tới, tại các nước công nghiệp phát triển, cũng như các nước đang phát triển" Điểm thứ 2 trong Chiến lược này đã chỉ rõ “GDKCQ cho mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời, không chỉ bó hẹp trong 4 bức tường nhà trường, có nghĩa là phải cải tổ toàn diện nền giáo dục” Và điểm thứ 12 trong Chiến lược này đã khẳng định

“Phát triển nhanh chóng giáo dục người lớn, cả trong nhà trường lẫn ngoài nhà trường

phải là một mục tiêu ưu tiên của các chiến lược trong những năm tới” Đây chính là

những định hướng lớn cho phát triển GDKCQ trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI trên phạm vi toàn cầu

3 GDKCQ ở các nước trên thế giới và trong khu vực - Gợi ý phát triển GDKCQ ở Việt Nam trong giai đoạn tới

Việc tìm hiểu sự phát triển GDKCQ ở các nước trên thế giới và khu vực là một trong những cơ sở quan trọng để có thể xác định định hướng phát triển GDKCQ Việt Nam trong giai đoạn tới

Có thể nói GDKCQ (hay một số nước phương Tây còn gọi là GDNL) đã có từ rất sớm dưới nhiều hình thức khác nhau Song GDKCQ mới được quan tâm, được tổ chức nghiên cứu một cách có mục đích, có hệ thống chỉ từ sau Hội nghị GDNL thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Elsinor, Đan Mạch, năm 1949 Đây có thể coi là mốc quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của GDKCQ Từ đó đến nay, cứ khoảng 12-13 năm, Thế giới lại tổ chức Hội nghị bàn về GDNL nhằm điểm lại tình hình, xu thế và những vấn đặt ra đối với GDNL trên phạm vi toàn thế giới Các Hội nghị thế giới về GDNL lần

Trang 24

đánh dấu sự phát triển của GDNL trong gần 60 năm qua Tuy nhiên, GDKCQ trên thế giới được đặc biệt được quan tâm và phát triển mạnh mẽ từ cuối thập kỉ 60 của thế kỉ

XX Ph Coombs trong cuốn sách “Khủng hoảng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới - Phương pháp tiếp cận hệ thống” (1968) lần đầu tiên phát hiện ra GDKCQ như là một gợi

ý để giáo dục thế giới thoát khỏi cuộc khủng khoảng trước sự phát triển như vũ bão của KH&KT trong những năm 50, 60 của thế kỉ XX Tiếp theo đó các khái niệm “Giáo dục suốt đời”, “Học suốt đời” và “Xã hội học tập” lần đầu tiên xuất hiện trong bản báo cáo nổi tiếng của E Faure “Học để tồn tại: Giáo dục hôm nay và ngày mai” (1972)

Trên phạm vi toàn thế giới, các nước phát triển, chủ yếu các nước phương Tây đã bắt đầu nhận rõ sự cần thiết phải bổ sung, sửa đổi, cải cách từng phần hoặc toàn bộ hệ thống giáo dục của mình dựa trên nguyên tắc giáo dục suốt đời và bắt đầu coi trọng phát triển GDKCQ với tư cách là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, ý tưởng về “Giáo dục suốt đời” và “Xã hội học tập” được UNESCO nêu lên vào lúc đó còn chưa được quan tâm Các nước này cho rằng

đây là một ý tưởng không thể đạt tới được, ít nhất trong tương lai gần GDKCQ được coi

là một thứ xa xỉ, đứng ngoài lề giáo dục của các nước đang phát triển Cho đến gần 20 năm sau, vào cuối những năm 80 đầu 90 của thế kỉ 20, khi tỉ lệ biết chữ ở các nước này

đã đạt tới mức 70-80% thì ý tưởng về “Xã hội học tập” mới bắt đầu được chấp nhận và GDKCQ mới được bắt đầu được quan tâm và phát triển, tuy nhiên mức độ phát triển và quan niệm về GDKCQ còn hết sức khác nhau từ nước này sang nước khác, tuỳ thuộc vào nhu cầu, trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước, đặc biệt phụ thuộc vào nhận thức của các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách

GDKCQ ở các nước phát triển và các nước đang phát triển hiện còn có một số khác biệt nhất định ở các nước đã phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc v.v ) GDKCQ chú trọng

đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, đến việc mở rộng hiểu biết và sử dụng thời gian nhàn rỗi, nâng cao hiểu biết về thẩm mĩ, hội hoạ, âm nhạc, khiêu vũ, nấu ăn, cắm hoa, trang trí nhà cửa,… hoặc chú ý tới việc nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao tay nghề hoặc học nghề mới v.v ở các nước này, tự học thông qua báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng, qua băng hình băng đĩa v.v là chủ yếu Việc học thường do các công ty, xí nghiệp đứng ra tổ chức và học viên phải đóng học phí Trong khi đó, ở những nước đang phát triển, kinh tế còn nghèo và trình độ văn hoá còn thấp, số người mù chữ, tái mù chữ còn nhiều thì GDKCQ chủ yếu tập trung vào XMC, nâng cao trình độ văn hoá phổ thông cơ bản và trang bị các kiến thức, kĩ năng sống tối thiểu cần thiết như giáo dục ý thức công dân, giáo dục y tế, vệ sinh, dinh dưỡng, sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, dạy nghề, kĩ năng kiếm sống cơ bản v.v GDKCQ ở các nước này

Trang 25

trình độ văn hoá thấp, người nghèo, phụ nữ, dân tộc, vùng nông thôn, miền núi và thường được nhà nước hỗ trợ, không mất tiền Hình thức học chủ yếu là học tập trung theo lớp hoặc theo nhóm Tuy nhiên, GDKCQ ở các nước trên thế giới và trong khu vực

đều có một số xu thế chung sau đây:

3.1 Vai trò, vị trí của GDKCQ ngày càng được khẳng định với tư cách là một trong 2

bộ phận ngày càng quan trọng trong hệ thống GDQD của các nước, ngày càng có cơ

sở pháp lí thuận lợi cho sự phát triển ở nhiều quốc gia

Tại Hội nghị GDNL Thế giới lần thứ nhất (1949) với khẩu hiệu “Vì sự công bằng xã

hội”, GDKCQ được thừa nhận có vai trò quan trọng trong việc tạo cơ hội giáo dục thứ 2

cho những người thất học do chiến tranh, trong việc giáo dục hoà bình, lòng khoan dung, đẩy mạnh dân chủ, tạo ra nền văn hoá chung Tuy nhiên, GDKCQ mới chỉ được quan tâm chủ yếu ở một số nước Tây Âu và Bắc Mĩ

Hội nghị GDNL Thế giới lần thứ 2 (1960) với khẩu hiệu “Giáo dục người lớn trong

thế giới đang đổi thay” đã thừa nhận vai trò của GDKCQ trước sự phát triển như vũ bão

của KH&KT Giáo dục nhà trường chính qui không thể giữ vai trò độc tôn như trước nữa GDKCQ bắt đầu được quan tâm, chú ý như là một bộ phận cần thiết trong hệ thống giáo dục của các Quốc gia nhằm tạo cơ hội học tập ngoài nhà trường chính qui và cập nhật kiến thức cho những người có nhu cầu trước của sự “bùng nổ thông tin” và phát triển mạnh mẽ của KH&KT

Tại Hội nghị GDNL Thế giới lần thứ 3 (1972), GDKCQ được đánh dấu một bước

phát triển mới GDKCQ được đặt trong bối cảnh của “Giáo dục suốt đời” Tầm quan

trọng của GDKCQ ngày càng được thừa nhận ở nhiều nước, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục thế giới đang lâm vào cuộc khủng khoảng trước sự phát triển như vũ bão của KH&KT và sự thay đổi nhanh chóng của xã hội

Hội nghị GDNL Thế giới lần 4 (1985) khẳng định vai trò của GDKCQ đối với đời sống kinh tế, văn hoá xã hội và giải quyết một số vấn đề quan trọng của thế giới hiện đại như vấn đề dân số, môi trường, đào tạo và huấn luyện nghề, vấn đề XMC chức năng ở các nước phát triển, ảnh hưởng của phương tiện thông tin đại chúng đối với học tập, vấn

đề củng cố hoà bình, tự do, công bằng và hợp tác quốc tế, vấn đề bất bình đẳng giữa các tầng lớp, nhóm dân cư, các nước giàu nghèo, vấn đề dân chủ hoá giáo dục, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, các di sản văn hoá

Tại Hội nghị GDNL Thế giới lần 5 (1997) với khẩu hiệu “GDNL- Chìa khoá bước vào thế kỉ 21”, GDKCQ được đặt trong bối cảnh toàn thế giới đang chịu những thay đổi sâu sắc chưa từng thấy trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá Tuyên bố Hambuốc về GDKCQ và “Chương trình hành động cho tương lai” đã khẳng định vai trò

của GDKCQ như “Chìa khoá” bước vào thế kỉ XXI và thừa nhận sự đóng góp của

Trang 26

nhân và giải quyết những vấn đề có tính chất toàn cầu như xu thế toàn cầu hoá nền kinh

tế, sự phát triển nhanh chóng của KHKT-CN, sự xuất hiện ngày càng nhiều “Xã hội thông tin”, “Xã hội tri thức”, “Xã hội học tập” và “Nền kinh tế tri thức”, những vấn đề

có tính chất toàn cầu như vấn đề thất nghiệp, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, bùng nổ

dân số, bản sắc văn hoá dân tộc v.v Tuyên bố này cũng đã khẳng định “GDKCQ và

GDCQ tuy mức độ phát triển khác nhau tuỳ theo mỗi nước, song đều là những bộ phận cần thiết của một quan niệm mới về giáo dục, về học tập suốt đời GDKCQ phải là một

bộ phận cấu thành không thể thiếu được của bất kì một hệ thống giáo dục nào”

Báo cáo của Uỷ Ban quốc tế về giáo dục thế kỉ XXI của Jacques Delors “Học tập -

Kho báu tiềm ẩn” (1997) đã khẳng định tầm quan trọng của HTTX, HTSĐ, coi HTSĐ là

Trung tâm của sự phát triển xã hội và khẳng định một nền giáo dục tiến bộ cần phải

thiết lập một XHHT nhằm đáp ứng nhu cầu HTSĐ với các mục tiêu “Học để biết”, “Học

để làm việc”, “Học để tồn tại” và “Học để cùng chung sống” trong xu thế toàn cầu hoá

- Nhiều nước, nhất là các nước phương Tây đã thành lập các khoa Giáo dục người lớn hoặc khoa GDKCQ ở các trường đại học để đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên cho ngành học đặc thù này Còn các nước trong khu vực ngoài việc đào tạo chính qui, coi trọng việc bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, giáo viên hiện hành

- Các nước đã xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển nguồn lực để phát triển GDKCQ ở nước mình

3.2 Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, chương trình của GDKCQ ngày càng

đông, ngày càng đa dạng, phong phú

Đối tượng của GDKCQ không chỉ là những người thất học (chưa được đi học bao giờ hoặc phải bỏ học dở chừng) và những người thiệt thòi, “bị lãng quên” như phụ nữ, người nghèo, thanh niên thất nghiệp, những người tị nạn, di cư, nông dân, người dân tộc v.v mà còn là tất cả mọi người có nhu cầu HTTX, HTSĐ Trước yêu cầu xây dựng XHHT mà nhiều Quốc gia đang hướng tới, GDKCQ ngày càng có vai trò quan trọng

Trang 27

trình độ v.v Đây là chính là sứ mạng lịch sử của GDKCQ trong những thập kỉ đầu của

thế kỉ XXI hướng tới XHHT

Chức năng, nhiệm vụ của GDKCQ ở các nước ngày càng được mở rộng hơn, tuy

mức độ có khác nhau giữa các nước, giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ở các nước đã phát triển, kinh tế, giáo dục đã phát triển, thời gian nhàn rỗi của người dân nhiều hơn, tuổi thọ cao hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân cao hơn, GDKCQ không còn phải làm nhiệm vụ XMC, hay BTVH nữa (trừ những người di cư, tị nạn), mà chủ yếu có nhiệm vụ tạo các cơ hội học tập khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng thời gian nhàn rỗi để hoàn thiện, phát triển nhân cách như học nhạc, hoạ, chụp ảnh, khiêu vũ v.v Ngay cả các nước đang phát triển trong khu vực, GDKCQ không chỉ có chức năng thay thế, hay tiếp nối, tạo cơ hội học tập thứ 2 cho những người thiệt thòi về giáo dục, mà còn có chức năng giúp mọi người có nhu cầu HTTX, HTSĐ Trong đó, chức năng thay thế, tiếp nối sẽ ngày càng giảm đi, khi giáo dục chính qui đã phát triển, khi giáo dục phổ cập đã hoàn thành Thay vào đó, chức năng bổ sung, hoàn thiện của GDKCQ ngày càng quan trọng và sẽ là chức năng chủ yếu của GDKCQ trong tương lai

Chương trình, nội dung và hình thức GDKCQ ngày càng phong phú, đa dạng Tuy

nhiên, GDKCQ ở các nước thường có 5 loại chương trình chủ yếu sau đây, dựa theo mục

đích và nội dung chủ yếu của nó i) Chương trình giáo dục cơ sở (XMC, GDCS, ); ii) Chương trình Giáo dục nghề mới hoặc nâng cao tay nghề nhằm thích ứng với những đổi thay, tiến bộ trong sản xuất và đời sống; iii) Chương trình Giáo dục y tế, vệ sinh, môi trường, sức khoẻ, xã hội, gia đình; iv) Chương trình Giáo dục công dân, chính trị và cộng đồng; v) Chương trình Giáo dục để hoàn thiện và phát triển nhân cách (tìm hiểu lịch sử, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, mĩ thuật, thẩm mĩ v.v ) Các chương trình này có liên quan với nhau Chương trình 2 và 5 thường thấy ở các nước đã phát triển về kinh tế

và giáo dục Chương trình 1, 3, 4 thường được chú ý ở các nước nghèo và dân trí còn thấp Và thực tế các chương trình trên không tách rời nhau, mà thường kết hợp với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của người học, cũng như yêu cầu của xã hội

Hình thức tổ chức học trong GDKCQ cũng ngày càng phong phú đa dạng: học tập trung theo lớp/nhóm, vừa học, vừa làm (các lớp tập huấn ngắn ngày, các buổi thảo luận nhóm, tham quan, thực tập nghề ) học từ xa, tự học có hướng dẫn Trong đó Giáo dục

từ xa, tự học có hướng dẫn, học qua mạng ngày càng phổ biến nhờ việc sử dụng ngày càng rộng rãi các phương tiện CNTT

3.3 Mạng lưới GDKCQ ngày càng được phát triển và mở rộng và gần dân hơn

Hệ thống các thư viện, trung tâm đọc sách, các Trung tâm học tập ở các làng xã

Trang 28

thiệt thòi Các nước đã và đang rất quan tâm tới việc cung cấp một cơ sở hạ tầng và một

điểm chuyển giao GDKCQ tại cơ sở Mô hình TTHTCĐ đã được bắt đầu ở nhiều nước từ những năm cuối của thế kỉ XX như Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Căm-Pu-Chia, ấn Độ, Inđônêxia, Butan, Miến Điện … TTHTCĐ được coi là công cụ, cơ chế có hiệu quả nhất trong việc thực hiện “Giáo dục cho mọi người” và “Mọi người cho giáo dục” như ông Victor Ordonez, Tổng Giám đốc UNESCO khu vực đã đánh giá “TTHTCĐ có thể coi là phát minh quan trọng nhất mà bấy lâu nay thế giới đang tìm kiếm” Mô hình TTHTCĐ hiện đang được phát triển mạnh mẽ ở các nước trong khu vực, tuy mức độ còn rất khác

nhau Năm 2006, Nhật Bản có 18.000 KOMINKAN hoạt động dưới sự bảo trợ của Nhà nước trung ương và địa phương và 76.883 KOMINKAN tự quản; Thái Lan có hơn 7.000

TTHTCĐ v.v… Mô hình giáo dục này có nhiều tên gọi khác nhau ở các nước như Butan, Căm-Pu-Chia, Lào, Trung Quốc, Inđônêsia, Mông Cổ, Miến Điện, NêPal, v.v… các Trung tâm học tập kiểu này được gọi là TTHTCĐ Một số nước khác lại dùng tên gọi khác nhưng cũng có nghĩa là Trung tâm học tập Ví dụ, TERAKOYA hoặc KOMINKAN ở Nhật Bản; JSNs (Jana Shikshan Nilayam) ở ấn Độ; GANOKEDRA ở Bangladesh; CUBER PUTRA ở Malaysia, BERTI (Basic Education Resource Training Initiatives) ở Pakistan; ISTIQLOL (Independent Knowledge) ở Uzbekistan v.v…

3.4 Ngày càng nhiều tổ chức tham gia và cam kết ủng hộ, giúp đỡ GDKCQ

ở từng quốc gia, không chỉ có ngành giáo dục, mà ngày càng có nhiều tổ chức (Chính phủ, phi chính phủ), các Bộ v.v tham gia, đóng góp, ủng hộ GDKCQ GDKCQ không chỉ là mối quan tâm của các Chính phủ, của ngành giáo dục Các tổ chức, các lực lượng, các phương tiện tham gia vào GDKCQ ngày càng đông, ngày càng đa dạng, tuy còn khác nhau từ nước này sang nước khác Một số nước như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêsia, Malaisia, Phillipin, Thái Lan đã huy động hầu hết các phương tiện, các cơ sở Nhà nước và tư nhân, các cơ sở giáo dục và phi giáo dục tham gia vào GDKCQ Còn một số các nước khác (Lào, Nêpan …) mới chỉ chú ý tới các cơ sở GDCQ và GDKCQ của Nhà nước và chỉ có ngành giáo dục tham gia GDKCQ ở Nhật Bản, Chính phủ đã thành lập Uỷ ban quốc gia về Học tập suốt đời bao gồm đại diện của 14 bộ ở Nhật, Hàn Quốc và nhiều nước khác, các phương tiện thông tin đại chúng, thư viện, các bảo tàng, các câu lạc bộ, các cơ sở giáo dục chính qui, các cơ sở của các Bộ, ngành v.v… đã được huy động để phục vụ cho Giáo dục suốt đời, Giáo dục cho mọi người ở nhiều nước, các

tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các công ty, các tổ chức tư nhân nếu có nhu cầu đều

mở các cơ sở giáo dục đào tạo hoặc mở lớp dạy nghề ngắn hạn, lớp bồi dưỡng chuyên môn … tạo thành một hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục mới Các cơ sở giáo dục truyền

Trang 29

thống không còn độc quyền nữa, mà chỉ là một trong các địa điểm cung ứng cơ hội HTTX, HTSĐ

ở cấp độ thế giới, ngoài UNESCO là tổ chức của Liên Hợp Quốc ngay từ khi mới thành lập đã quan tâm thúc đẩy phát triển GDKCQ, thì ngày càng nhiều tổ chức quan tâm tới GDKCQ như Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO), Tổ chức y tế Thế giới (WHO), Quĩ Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Quĩ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA), Quĩ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF), Quĩ Phát triển phụ nữ của Liên hợp quốc (UNIFEM), Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức phi chính phủ quốc tế khác Các tổ chức này ngày càng thừa nhận vai trò to lớn của GDKCQ trong việc giải quyết những vấn đề thuộc lĩnh vực của mình Chính vì vậy, các

tổ chức này ngày càng tham gia tích cực và cam kết đầu tư cho GDKCQ Các nhà giáo dục không còn độc quyền trong GDKCQ nữa Các cán bộ khuyến nông, cán bộ y tế, KHHGĐ, cán bộ phụ nữ, thanh niên, già làng, trưởng bản, lão nông đều có thể là cán bộ GDKCQ

3.5Đào tạo theo tín chỉ ngày càng phổ biến và phát triển mạnh mẽ thay cho đào tạo theo niên chế

Để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người vừa học, vừa làm muốn có văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, người học có thể học ở bất kì đâu tuỳ thích,

có thể học kéo dài thời gian học tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi người, miễn là có đủ các tín chỉ để được công nhận Bên cạnh đó vấn đề kiểm tra, đánh giá đầu ra của GDKCQ ngày càng được quan tâm nhằm bảo đảm chất lượng, uy tín của GDKCQ, bảo đảm đúng chuẩn mực của các văn bằng, chứng chỉ ở Thái Lan, các tín chỉ có thể được chấp nhận trong cùng một hình thức hoặc giữa các hình thức giáo dục khác nhau, bất kể tín chỉ đó được tích luỹ tại cùng một cơ sở giáo dục hay từ các cơ sở giáo dục khác nhau, kể cả cơ sở GDKCQ Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống ngân hàng tín chỉ để mọi người có thể kết hợp nhiều phương thức, hình thức giáo dục, vừa học tại trường, vừa tự học …

Ngoài ra, vấn đề chất lượng của GDKCQ ngày càng được quan tâm hơn Các nội dung giáo dục ngày càng đa dạng hơn, thiết thực hơn Giáo dục kĩ năng sống ngày càng

được quan tâm hơn thay vì chỉ quan tâm tới XMC hay giáo dục tương đương như trước

đây Để huy động nguồn lực và bảo đảm sự phát triển bền vững của GDKCQ các nước

đã và đang rất coi trọng phát huy sự tham gia, làm chủ của cộng đồng (Community participation, Community Ownership), đã coi trọng vấn đề phi tập trung hoá (Decentralization) trong GDKCQ nhằm huy động nguồn lực cho GDKCQ

Trang 30

II Cơ sở thực tiễn của đề tài

1 Quá trình phát triển GDKCQ trong thời gian qua - Bài học kinh nghiệm để phát triển GDKCQ trong thời gian tới

Bài học kinh nghiệm lịch sử có vai trò quan trọng để có thể xác định định hướng phát triển GDKCQ của Việt Nam trong thời gian tới phù hợp và khả thi đối với điều kiện

và hoàn cảnh cụ thể của nước ta

Nghiên cứu quá trình phát triển GDKCQ ở nước ta cho thấy tư tưởng về giáo dục người lớn, giáo dục ngoài nhà trường đã có từ rất sớm ở Việt Nam Việc học của người lớn do dân tự đứng ra tổ chức đã có từ thời pháp thuộc như các trường lớp xuất hiện từ 1906-1907 hướng ứng phong trào “Duy Tân” của Phan Chu Trinh, trường Đông Kinh Nghĩa thục (1907) do Lương Văn Can làm Thục trưởng, các lớp do Nông hội, Công hội

mở trong cao trào Xô Viết Nghệ tĩnh (1930-1931) và các lớp học của Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938-1945) do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch Hội Truyền bá Quốc ngữ

được đánh giá là đã có công khởi xướng một nền sư phạm mới lạ ở xứ ta - một nền giáo dục cho phái bình dân

Trước cách mạng Tháng Tám, giáo dục ngoài nhà trường ở nước ta đã được coi là một trong hai phần quan trọng của nền giáo dục Nguyên Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên

Vũ Đình Hoè trong bài báo “Việc xây dựng một nền giáo dục Việt nam” (Báo Thanh

nghị liền số, ra ngày 5/2/1945) đã khẳng định “Giáo dục ở học đường và Giaó dục ngoài

học đường phải được coi là hai phần của một nền giáo dục, hai công việc của một tổ chức quan trọng như nhau và liên lạc mật thiết với nhau” Vì vậy ngay sau khi thành lập

- ở cấp trung ương có Nha Bình dân học vụ

- ở cấp khu có Sở Bình dân học vụ

- ở cấp tỉnh có Ty Bình dân học vụ

- ở cấp huyện có Ban Bình dân học vụ

- ở cấp xã có Cán bộ Bình dân học vụ xã/Ban bình dân học vụ xã

Sau này, bộ máy này chuyển thành bộ máy quản lý, chỉ đạo BTVH/GDTX

Trang 31

Với tư cách là bộ phận giáo dục đặc thù, BDHV, BTVH đ∙ xây dựng và biên soạn nhiều loại chương trình và tài liệu, sách giáo khoa riêng phù hợp với đối tượng người học và người dạy

Ngay từ thời Đông kinh nghĩa thục, Ban trước tác đã biên soạn, dịch thuật nhiều tài liệu học tập riêng cho người lớn như Sách giáo khoa chữ Hán (Nam quốc địa dư, Nam quốc vĩ nhân truyện, Quốc dân đọc bản …) Sách học Quốc ngữ được soạn dưới dạng những bài ca dễ đọc, dễ nhớ như Kêu hồn nước, á tế á, Đề bình quốc dân, Thiết diễn ca v.v… qua đó dạy những kiến thức cơ bản về đất nước, lịch sử và con người Việt Nam Hội truyền bá học Quốc ngữ đã coi trọng xây dựng chương trình, đề ra phương pháp daỵ vần quốc ngữ phù hợp với người lớn Nhiều sách XMC, sau XMC đã được biên soạn cho người lớn như Vần quốc ngữ, Vần kháng chiến, Sách tập đọc lớp sơ cấp, Tập đọc kháng chiến v.v

Nhận thức được sự cần thiết phải có chương trình và tài liệu, sách giáo khoa riêng cho BTVH với tư cách là một bộ phận giáo dục đặc thù, ngày 31/5/1966, Chính phủ quyết định thành lập “Trại biên soạn CT&SGK BTVH” (nay là Trung tâm nghiên cứu GDKCQ, Viện KHoa học giáo dục Việt Nam) để xây dựng và biên soạn chương trình và sách giáo khoa riêng cho BTVH với phương châm “Cơ bản, tinh giản, thiết thực, phù hợp” Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo cần phải đa dạng hoá các loại chương trình BTVH cho phù hợp với nhu cầu, điều kiện của các nhóm đối tượng khác nhau Chỉ thị

110/CP ngày 13/7/1968 của Hội đồng Chính phủ trong đã yêu cầu "Nội dung BTVH

phải phù hợp với từng loại đối tượng Người đứng tuổi chỉ cần học những kiến thức cần thiết trực tiếp cho công tác sản xuất Thanh niên học tương đối toàn diện hơn."

Nhiều chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa đã được biên soạn riêng cho các đối tượng khác nhau về độ tuổi, về địa bàn (nông thôn, thành thị cơ quan, xí nghiệp), cho các hình thức (tập trung, tại chức) v.v… Các chương trình này khác nhau về số môn học,

về số tiết và số năm học

BTVH cấp I có nhiều loại chương trình cho các đối tượng khác nhau như:

- Chương trình chung cho cả nước (5 lớp; 600 tiết; Lớp 1,2,3 học 2 môn: tiếng Việt

và Học tính; Lớp 4, 5 học 3 môn tiếng Việt, Học tính và Thường thức khoa học)

- Chương trình cấp I BTVH cho cán bộ xã ấp ở miền Nam

- Chương trình cấp I cho người dân tộc

Trang 32

BTVH cấp II cũng có nhiều loại chương trình cho 5 loại trường khác nhau (Tham khảo bảng sau)

số tiết

Số lớp, năm học

Số môn học

1 CT cho trường BTVH tại chức địa bàn

cơ quan, xínghiệp, công trường

(5,6,7A, 7B)

7 môn: Ngữ văn, Toán,

Lý, Hoá, Sử, Địa, Cơ thể người

2 CT cho trường BTVH tại chức và nửa

3 CT cho trường, lớp BTVH vừa học vừa

làm ở xã

1261 3 năm 10 môn: Ngữ văn, Toán,

Lý, Hoá, Sinh, Sử, Địa,

Kỹ thuật nông nghiệp, Quản lí kinh tế nông nghiệp, Chính trị

4 CT cho trường BTVH cho cán bộ học

tập trung

- ở các tỉnh, thành phố phía Bắc

- ở các tỉnh thành phố phía Nam

1153 1273

5 CT cho trường BTVH thanh niên học

tập trung

1503 2 năm 10 môn: Ngữ văn, Toán,

Lý, Hoá, Sinh, Sử, Địa,

Kỹ thuật nông nghiệp, Quản lí kinh tế nông nghiệp, Chính trị

1 CT tại chức cho thanh

niên cơ quan, xí nghiệp

1.080 4 lớp

(8,9, 10A,

4 môn: Văn, Toán, Lý, Hoá

Sách BTVH

Trang 33

2 CT tại chức cho thanh

niên nông thôn

1.170 4 lớp

(8,9, 10A, 10B)

5 Môn: Văn, Toán, Lý, Hoá, Sinh học và khoa học nông nghiệp

- Chương trình cấp II BTVH cho cán bộ xã, ấp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

- Chương trình học tiếp nối cấp II BTVH cho cán bộ đứng tuổi ở xã ấp vùng đồng bằng sông Cửu Long Chương trình này được học trong 100 buổi (300 tiết), không theo môn học mà học theo 3 mảng chuyên đề: Văn hoá-Xã hội (30 buổi); Khoa học quản lí kinh tế (20 buổi); Khoa học kĩ thuật nông nghiệp (50 buổi)

Như vậy, BTVH không những có chương trình và sách giáo khoa riêng, mà còn có nhiều loại chương trình, sách giáo khoa cho các nhóm đối tượng khác nhau, cho các vùng miền khác nhau, cho các loại hình trường khác nhau Có thời kì đã có tới 12 bộ chương trình BTVH và 140 cuốn sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách bài tập, sổ tay bộ môn, sách chuyên khảo v.v Các sách giáo khoa BTVH được biên soạn theo phương châm “cơ bản, tinh giản, thiết thực” và đã được đánh giá cao là phù hợp với người học và người dạy của BTVH và đã giúp học viên BTVH dễ dàng nắm chắc nội dung, có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng của BTVH

Trang 34

Với tư cách là một hệ thống, vấn đề xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên riêng cho BDHV, BTVH đ∙ quan tâm

Thời kì BTVH đã xây dựng được đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp ở các trường BTVH tập trung và giáo viên dạy BTVH tại chức Giáo viên BTVH tại chức có 3 loại: Giáo viên chuyên trách, Giáo viên nghiệp dư và Giáo viên phổ thông

- Giáo viên chuyên trách có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức và quản lý chuyên môn có vai trò không thể thiếu được khi BTVH đã trở thành một ngành học phát triển trên qui mô lớn Đội ngũ chuyên trách BTVH này do Nhà nước trả lương Mỗi xã có 1 giáo viên chuyên trách Đối với các xí nghiệp, công trường, nông lâm trường, các

đội thanh niên xung phong, quân đội và cơ quan hành chính sự nghiệp được bố trí

1 chuyên trách BTVH hoặc nhiều hơn tuỳ theo số lượng công nhân, viên chức Số lượng giáo viên chuyên trách BTVH cấp I, cấp II và cấp III có lúc lên tới 7.200 người Trong quân đội, số giáo viên bán chuyên trách đảm nhiệm chính việc dạy cấp I, II có lúc lên tới 10.000 người

- Việc huy động giáo viên nghiệp dư được khuyến khích Hội đồng Chính phủ đã

chỉ thị "Đội ngũ này cần được ổn định, không nên thay đổi nhiều và cần được bồi

dưỡng về phương pháp và kinh nghiệm dạy BTVH" Thù lao hàng tháng cho đội

ngũ giáo viên này do người học đóng góp bằng công điểm, hoặc bằng tiền Nếu không đủ thì cơ quan, xí nghiệp trích Quỹ để trả thêm Nơi nào không có Quỹ xí nghiệp thì Quỹ công đoàn đài thọ ở nông thôn Quỹ công ích của hợp tác xã đài

thọ

- Đặc biệt, việc huy động đội ngũ giáo viên phổ thông cho BTVH đã được coi trọng Đây là một lực lượng quan trọng đối với BTVH, đặc biệt ở vùng nông thôn

và miền núi Hội đồng Chính phủ đã khẳng định: "Giáo viên dạy các trường phổ

thông là một lực lượng quan trọng trong công tác BTVH Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp đỡ anh chị em đó có thì giờ và sức khoẻ soạn bài, chấm bài và giảng dạy ở các lớp BTVH và bồi dưỡng cho anh chị em về kinh nghiệm dạy BTVH”

Bảng 1: Số giáo viên chuyên trách trong thời kì BTVH

1.850 5.746

838 2.741

Trang 35

239

1.165 1.243

Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên BDHV, BTVH được

đặc biệt coi trọng nhằm nâng cao chất lượng được đặc biệt coi trọng Trong thời kì BDHV, nhiều khoá huấn luyện, Hội nghị phổ biến sáng kiến, kinh nghiệm đã được tổ chức ở Trung ương nhiều khoá huấn luyện đã được tổ chức như Khoá Hồ Chí Minh (10/1945 ) cho các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ và tỉnh Thanh Hoá; Khoá Phan Thanh (11/1945 ) cho các tỉnh Trung Bộ; Khoá Đông Kinh nghĩa thục (12/1945) và khoá Phan Bội Châu (4/1946) cho các cán bộ cơ quan, các ngành; Khoá Đoàn kết (6/1946) cho các tỉnh miền núi; Khoá Xung phong cho giáo viên BDHV Hà Nội tình nguyện đi các tỉnh miền núi Sau đó, những người được tập huấn ở trung ương sẽ về tổ chức tập huấn lại ở tỉnh, huyện, xã, cơ quan, xí nghiệp, đơn vị của mình Trong thời kì BTVH, nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng đội ngũ giáo viên cho BTVH, Chính phủ đã cho phép thành lập các trường sư phạm BTVH ở Trung ương và địa phương Số lượng các trường Sư phạm BTVH tăng lên nhanh chóng (từ 13 lên đến 21 trường trong giai

Các trường sư phạm BTVH đã đào tạo đội ngũ giáo viên có chuyên môn về nghiệp

vụ sư phạm BTVH, có hiểu biết về đặc điểm học viên cũng như PPDH BTVH, đã góp phần phát triển BTVH cả về qui mô và chất lượng Đây là bài học kinh nghiệm cần tham

Trang 36

Với tư cách hệ thống, BDHV trước đây đ∙ rất quan tâm phát triển mở rộng hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục và đa dạng hoá các loại hình trường lớp phù hợp với

nhu cầu, điều kiện, hoàn cảnh của từng nhóm đối tượng khác nhau để tạo điều kiện

thuận tiện, dễ dàng cho người học

Các trường, lớp thường được tổ chức tại các địa điểm tiện đường đi lại, gần nơi dân

ở, gần nơi làm việc của người học Trong thời kì BDHV (1945-1959), địa điểm các lớp học có thể được tổ chức ở bất kì nơi nào miễn là gần dân, thuận lợi cho dân Địa điểm lớp học không chỉ đặt ở các trường công, trường tư có sẵn, mà đặt ở các đình, chùa, đền, miếu, điếm canh, thậm chí ở nhà dân, ở ngoài trời như cổng làng, cửa chợ, cửa ga, bến

xe, bến đò, dưới bóng cây ở ngoài đồng v.v

Hệ thống mạng lưới các cơ sở giáo dục của BDHV đã được thành lập và mở rộng

trong toàn quốc như Trường tiểu học bình dân, hệ thống các trường BTVH của các cơ quan, xí nghiệp, Trường phổ thông lao động Trung ương, Trường BTVH tại chức, tập trung, Trường Bổ túc công nông v.v

Trong thời kì BTVH (1960-1989), bên cạnh các lớp XMC, các lớp chuyên đề, hệ thống các trường BTVH trong thời kì này cũng rất đa dạng

- Theo hình thức có Trường BTVH tập trung, Trường BTVH tại chức, Trường BTVH

bán tập trung và Trường BTVH vừa học, vừa làm Mỗi loại trường này lại chia thành nhiều loại khác nhau Ví dụ, Trường BTVH cấp 3 tại chức ở huyện có các loại sau: Trường liên hợp cơ quan, xí nghiệp xung quanh tỉnh/huyện, Trường BTVH cấp 3 tại chức nông thôn

- Theo đối tượng có Trường phổ thông lao động, Trường Bổ túc công nông, Trường

đảm đang ở nông thôn để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ xã, phụ nữ và thanh niên ưu

tú không có điều kiện thoát li công tác, sản xuất Ngoài ra còn có trường BTVH tại chức liên cơ quan ở cấp tỉnh, cấp huyện

Bước sang thập kỉ 90, thế kỉ XX, trước nhu cầu học tập ngày càng đa dạng và phong phú của mọi người dân, hệ thống các trường BTVH đã mở rộng chức năng, nhiệm

vụ của mình và chuyển đổi thành các TTGDTX tỉnh, huyện Tuy nhiện, mở rộng mạng

Trang 37

phường, thị trấn do Trung tâm nghiên cứu GDKCQ thuộc Viện Viện KHGD Việt Nam thử nghiệm đã được phát triển nhanh chóng và rộng khắp trong cả nước từ 2000 đến nay Lịch sử phát triển GDKCQ từ trước tới nay cho thấy muốn tạo cơ hội học tập thật

sự cho mọi người, nhất là người dân ở cộng đồng, ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, các cơ hội đó phải thuận lợi, phải gần nhà Hệ thống mạng lưới cơ sở trường, lớp GDKCQ phải

được tiếp tục mở rộng và đa dạng hoá hơn nữa GDKCQ cần phải tiếp tục mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục của mình ở các thôn/xóm với tư cách là vệ tinh của các TTHTCĐ Các cơ sở GDKCQ cần phải tiếp tục đa dạng hoá các loại hình (công lập, dân lập, tư thục) Các cơ sở GDKCQ, các lớp học, lớp tập huấn không chỉ do ngành giáo dục tổ chức, quản lí, mà còn do các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất, các công ty thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tổ chức và quản lí

Để huy động nguồn lực cho BDHV, công tác x∙ hội hoá GDKCQ cần được coi trọng Lịch sử phát triển GDKCQ từ BDHV, BTVH đến nay cho thấy Đảng và Nhà nước

luôn coi sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của toàn xã hội là điều kiện tiên quyết để phát triển GDKCQ Phong trào “Bình dân học vụ”, XMC, BTVH trong thời gian qua đã đạt

được những thành tựu to lớn chính là nhờ sức mạnh của việc huy động toàn dân tham gia Để huy động toàn xã hội tham gia BDHV, Hồ Chủ Tịch đã kêu gọi “Những người

đã biết chữ hãy dạy người chưa biết chữ, hãy góp sức vào BDHV … Người chưa biết chữ gắng mà học cho biết Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn, người làm không biết thì chủ bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ” với nhiều khẩu hiệu đã

được đưa ra lúc bấy giờ như "Đi học BDHV là yêu nước!”, "Dạy học BDHV là yêu

nước!”, “Giúp đỡ BDHV là yêu nước!”, “Chống mù chữ cũng như chống ngoại xâm!”,

“Giặc dốt diệt, Việt Nam cường!”, “Mỗi gia đình là một lớp học BDHV!” v.v…GDKCQ duy trì và phát triển được như ngày nay cũng chính là nhờ sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo, nhờ sự tham gia, đóng góp, cùng làm GDKCQ của các ban ngành,

đoàn thể, các lực lượng xã hội như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Văn hoá-Thông tin, Bộ Tư pháp, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên, Hội khuyến học, Hội Cựu chiến binh, Hội những cao tuổi, các hội ngành nghề (Hội làm

vườn, Hội nuôi ông, Hội V.A.C .) v.v

Quá trình phát triển GDKCQ trong thời gian qua cho thấy muốn huy động nguồn lực cho GDKCQ, Nhà nước, Trung ương, ngành giáo dục không thể “độc quyền”, không thể “ôm đồm” mà cần thiết phải đẩy mạnh công tác xã hội hoá, phát huy sự tham gia, làm chủ của cộng đồng, phân cấp quản lí xuống tận cơ sở Sự tham gia của xã hội, của các ban, ngành, đoàn thể “cùng làm” GDKCQ là phương thức tồn tại và phát triển của

Trang 38

học, là xu thế tất yếu để mở rộng mạng lưới cơ sở GDKCQ, để huy động nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) cho GDKCQ Các bộ, ban, ngành, đoàn thể, các công ty, xí nghiệp, các tổ chức, chương trình, dự án ngày càng chủ động hơn, thậm chí bỏ tiền ra

để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công nhân của mình

2 GDKCQ Việt Nam hiện nay - Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

Bước sang thế kỉ XXI, GDKCQ Việt Nam đã phát triểm mạnh mẽ cả về qui mô, lẫn chất lượng Quan niệm về GDKCQ đã được mở rộng hơn GDKCQ Việt Nam ngày càng hoà nhập hơn với GDKCQ ở các nước trong khu vực Vai trò quan trọng của GDKCQ ngày càng được thừa nhận, nhất là trong việc tạo cơ hội HTTX, HTSĐ cho mọi người trong thế kỉ XXI, trong việc thực hiện mục tiêu “Giáo dục cho mọi người” và xây dựng “Xã hội học tập” Sự phát triển GDKCQ trong thời gian qua có nhiều điểm mạnh, nhưng cũng còn không ít điểm yếu cần phải khắc phục GDKCQ trong thời gian tới có nhiều cơ hội, nhưng cũng sẽ gặp không ít thách thức

2.1 Điểm mạnh của GDKCQ Việt Nam hiện nay

2.1.1 Hệ thống mạng lưới cơ sở GDKCQ ngày càng được mở rộng

Hệ thống mạng lưới các cơ sở của GDKCQ từ năm học 2000-2001 đến nay không ngừng được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu HTTX, HTSĐ ngày càng tăng, ngày càng

đa dạng của mọi người dân (Tham khảo phụ lục 1)

Các trường BTVH đơn chức năng có xu thế giảm mạnh trong 5 năm qua (từ 83 trường BTVH năm học 2000-2001 xuống còn 27 trường BTVH năm học 2006-2007) Thay vào đó, số lượng các TTGDTX cấp huyện đã phát triển từ 438 lên tới 577 TTGDTX từ năm học 2000-2001 đến nay

Sơ đồ 2: Tình hình phát triển các trường BTVH và TTGDTX từ 2001 đến nay

431

83 494

83 472

80 491

58 517

29 577

29 0

100 200 300 400 500 600

2001 2002 2003 2004 2005 2006

TTGDTX BTVH

Đặc biệt mạng lưới các TTHTCĐ xã/phường phát triển nhanh chóng và rộng khắp, tăng hơn 50 lần từ 155 (năm 2000-2001) lên tới 8.359 TTHTCĐ (năm học 2006-

Trang 39

động ở những vùng khó khăn cũng đã được hình thành

2.1.2 Qui mô HV của các chương trình GDKCQ đều tăng mạnh mẽ từ 2000 đến nay

Từ 2000 đến nay, số người được học tập dưới nhiều hình thức, nội dung khác nhau

đã được tăng đáng kể, đặc biệt khi mạng lưới các TTHTCĐ xã/phường/thị trấn phát triển nhanh chóng và rộng khắp trong cả nước (Tham khảo phụ lục 1)

Số HV các lớp XMC, các lớp giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, các lớp Bổ túc tiểu học vẫn được duy trì Vì vậy, tỉ lệ biết chữ trong độ tuổi tiếp tục tăng và diện mù chữ ở các độ tuổi khác cũng đã giảm dần Theo báo cáo đánh giá giữa kì về Giáo dục cho mọi người, tỉ lệ người biết chữ từ 15 tuổi trở lên tăng 2,25% từ năm 2000 đến 2004 (từ 89,88% lên tới 92,13%) Tỉ lệ biết chữ trong độ tuổi 15-35 tăng 1,78% (từ 93,76% năm

2000 lên tới 95,54% năm 2004), Đặc biệt, tỉ lệ biết chữ của thanh niên 15-25 tuổi tăng mạnh (2,86%) từ 93,77% (2000) đến 96,63% (2004) Tỉ lệ biết chữ của phụ nữ từ 15 tuổi trở lên đã tăng mạnh nhất (tăng 3,76% từ 2000 đến 2004) Đặc biệt, từ 2000 đến nay, hàng năm GDKCQ đó mở nhiều lớp Bổ tỳc THCS góp phần tích cực trong việc phổ cập giáo dục THCS, đã tạo cơ hội cho nhiều thanh thiếu niên có cơ hội được học tiếp THPT

155 370

1409 3567 5331

7384 8359

0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

So TTHTCD

Trang 40

Sơ đồ 4: Qui mô HV Bổ túc THCS và Bổ túc THPT từ 2001 đến 2007

Cựng với sự phát triển nhanh chóng và rộng khắp mô hình TTHTCĐ cấp xã/phường/thị trấn, GDKCQ đã tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được tiếp tục học tập, đào tạo lại, được bồi dưỡng ngắn hạn, định kì và thường xuyên theo các chương trình giáo dục, các chương trình kĩ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập và chuyển đổi nghề nghiệp Số lượt người được học các chuyên đề ở các TTHTCĐ tăng đột biến, từ 200.000 lượt người (năm học 2000-2001) lờn tới 10.217.048 lượt người (năm học 2006-2007), tăng hơn 50 lần

Sơ đồ 5: Số lượt người học chuyên đề ở các TTHTCĐ từ 2001 đến nay

200 250 416

2333 4114 6297 10217

0 2000 4000 6000 8000 10000 12000

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

HV chuyen de

Ngoài ra, hàng năm GDKCQ đó tổ chức cho khoảng 500.000 HV theo học cỏc lớp ngoại ngữ, tin học ứng dụng và số lượng HV năm học 2006-2007 tăng hơn 4 lần so với năm học 2000-2001 (từ 200.000 HV lờn 1.089.280HV)

Sơ đồ 6: Qui mô HV ngoại ngữ và tin học từ 2001 đến nay

0 50000 100000 150000 200000 250000 300000 350000 400000 450000

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

BTTHCS BTTHPT

Ngày đăng: 31/07/2014, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1:  Giáo dục thế kỉ XXI - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Sơ đồ 1 Giáo dục thế kỉ XXI (Trang 22)
Bảng 1: Số giáo viên chuyên trách trong thời kì BTVH - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 1 Số giáo viên chuyên trách trong thời kì BTVH (Trang 34)
Bảng 2: Số l−ợng giáo viên của các tr−ờng BTVH tập trung - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 2 Số l−ợng giáo viên của các tr−ờng BTVH tập trung (Trang 35)
Bảng 3: Số lượng các trường sư phạm BTVH từ 1966 đến 1970 - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 3 Số lượng các trường sư phạm BTVH từ 1966 đến 1970 (Trang 35)
Sơ đồ 2: Tình hình phát triển các trường BTVH và TTGDTX từ 2001 đến nay - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Sơ đồ 2 Tình hình phát triển các trường BTVH và TTGDTX từ 2001 đến nay (Trang 38)
Sơ đồ 3: Tình hình phát triển TTHTCĐ từ 2001 đến nay - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Sơ đồ 3 Tình hình phát triển TTHTCĐ từ 2001 đến nay (Trang 39)
Sơ đồ 5: Số lượt người học chuyên đề ở các TTHTCĐ từ 2001 đến nay - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Sơ đồ 5 Số lượt người học chuyên đề ở các TTHTCĐ từ 2001 đến nay (Trang 40)
Sơ đồ 4: Qui mô HV Bổ túc THCS và Bổ túc THPT từ 2001 đến 2007 - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Sơ đồ 4 Qui mô HV Bổ túc THCS và Bổ túc THPT từ 2001 đến 2007 (Trang 40)
Bảng 4: Thực trạng đội ngũ giáo viên của các TTGDTX từ 2001 đến nay - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 4 Thực trạng đội ngũ giáo viên của các TTGDTX từ 2001 đến nay (Trang 47)
Sơ đồ 7: Đối t−ợng của GDCQ trong giai đoạn mới - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Sơ đồ 7 Đối t−ợng của GDCQ trong giai đoạn mới (Trang 56)
Bảng 5 :  Đối t−ợng của GDKCQ trong thời gian tới - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 5 Đối t−ợng của GDKCQ trong thời gian tới (Trang 56)
Bảng 6: Chức năng của GDKCQ trong thời gian tới - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 6 Chức năng của GDKCQ trong thời gian tới (Trang 57)
Bảng 8 :  Ch−ơng trình của GDKCQ trong giai đoạn tới - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 8 Ch−ơng trình của GDKCQ trong giai đoạn tới (Trang 62)
Bảng 9: Hình thức và ph−ơng tiện chủ yếu của GDKCQ trong giai đoạn mới - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 9 Hình thức và ph−ơng tiện chủ yếu của GDKCQ trong giai đoạn mới (Trang 64)
Bảng 10 :  Nhận định về hệ thống GDKCQ trong giai đoạn mới  TT  Nhận định về hệ thống GDKCQ trong giai đoạn mới - định hướng phát triên giáo dục không chính qui trong giai đoạn mới
Bảng 10 Nhận định về hệ thống GDKCQ trong giai đoạn mới TT Nhận định về hệ thống GDKCQ trong giai đoạn mới (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w