1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh

131 1,2K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn CNH-HĐH
Người hướng dẫn Ths. Phạm Thị Thuý Hà
Trường học University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Hanoi
Chuyên ngành Đào tạo nghề, Giải pháp phát triển nguồn nhân lực, Thanh niên dân tộc thiểu số
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách đào tạo nghề và sư dụng lao động thanh niên các DTTS đã qua đào tạo nghề, việc triển khai dự án nghiên cứu: “Điều tra

Trang 1

UỶ BAN DÂN TỘC

BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN

ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ GIAI ĐOẠN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Chủ nhiệm đề tài: KS Võ Văn Bảy

Thư ký đề tài: Ths Phạm Thị Thuý Hà

7475

05/9/2009

HÀ NỘI – 2008

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA DỰ ÁN

Dạy nghề cho thanh niên là một chủ trương lớn, là một nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng cho phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa nước ta tiến lên ngang tầm các nước tiên tiến trên thế giới và khu vực Do tính chất quan trọng và cấp thiết của công tác dạy nghề cho thanh niên, ngày 29 tháng 11 năm 2006 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI đã thông qua Luật dạy nghề Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng nhất cho việc phát triển công tác dạy nghề đồng bộ, thống nhất để từng bước phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng tốt các yêu cầu phát triển đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế

Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp cho sản xuất, có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo,

có đạo đức nghề nghiệp, có ý thức tổ chức kỷ luật cao và tác phong công nghiệp nhằm tạo điều kiện cho người học nghề có khả năng tự tạo được việc làm hoặc tìm kiếm được việc làm trên thị trường lao động, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2010 cả nước có 40% lao động đã qua đào tạo, trong đó có 26% lao động đã qua dạy nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tháng 7 năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn (Tam nông) Theo đó, vấn đề đào tạo chuyên môn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, đào tạo nghề cho người lao động trong nông nghiệp, nông thôn, nhất là ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc được xác định là quốc sách hàng đầu, là nhiệm vụ chiến lược cả trước mắt và lâu dài nhằm phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc

Theo báo cáo gần đây của Bộ Lao động, TB&XH, tính đến cuối năm

2007 cả nước có 55 trường Cao đẳng, 170 trường Trung cấp nghề đã dạy nghề cho 1.436.500 người (trong đó cao đẳng nghề 29.500 người; Trung cấp nghề 151.000 người; dạy nghề dài hạn 125.000 người; sơ cấp nghề, dạy nghề ngắn hạn và dạy nghề thường xuyên 1.131.000 người) Tuy nhiên, những con số này không phản ánh được số lượng người DTTS, nhất là lực lượng lao động thanh niên dân tộc đã qua đào tạo nghề và được sử dụng sau đào tạo nghề

Những năm gần đây, trong nước đã có một số nghiên cứu về tình hình sử dụng nguồn nhân lực nhưng các nghiên cứu này mới chỉ tập trung giải quyết một số mục tiêu như: Đánh giá quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn; Đánh giá tình hình việc làm và thu

Trang 3

nhập của lao động nông thôn; Đánh giá tình hình di cư lao động từ nông thôn ra thành thị, đánh giá về công tác đào tạo nghề phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào về tình hình đào tạo nghề cho thanh niên DTTS và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề, nhất là ở vùng TDMNPB, vùng Tây Nguyên và vùng ĐBSCL là những vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống Do vậy, công tác hoạch định chiến lược và xây dựng chính sách đào tạo cũng như sử dụng lao động là thanh niên DTTS đã qua đào tạo gặp những khó khăn nhất định về thông tin và luận cứ khoa học

Đào tạo nghề cho thanh niên DTTS và sử dụng có hiệu quả lao động thanh niên là DTTS đã qua đào tạo là vấn đề có ý nghĩa rất lớn, một mặt góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống, một mặt góp phần cải thiện mặt bằng dân trí, rút ngắn chênh lệch về trình độ giữa miền núi với miền xuôi, giữa đồng bào DTTS với dân tộc đa số Nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách đào tạo nghề và sư dụng lao động thanh niên các DTTS đã

qua đào tạo nghề, việc triển khai dự án nghiên cứu: “Điều tra thực trạng sử

dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm

đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu

số giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá” có ý nghĩa quan trọng và

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐIỀU TRA

3.1 Đối tượng điều tra

+ Thanh niên DTTS từ 16 đến 35 tuổi đã qua đào tạo nghề đã có việc làm đúng nghề đào tạo, đang làm việc trái nghề và chưa có việc làm ở các địa bàn chọn điểm

+ Thanh niên DTTS chưa được đào tạo nghề ở các địa bàn chọn điểm điều tra

+ Các cơ sở đào tạo nghề (trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề và xúc tiến việc làm, các tổ chức, doanh nghiệp có các hoạt động đào tạo nghề) ở các địa bàn chọn điểm điều tra

Trang 4

+ Các chủ thể sử dụng lao động (doanh nghiệp, trang trại, các cơ sở

tư nhân, cá thể) ở các địa bàn chọn điểm

+ Lãnh đạo chính quyền, ban ngành, đoàn thể ở địa phương cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (lãnh đạo UBND tỉnh, huyện, xã; lãnh đạo Sở Nội vụ; Sở

NN và PTNT; Sở Giáo dục; Sở LĐ-B&XH, Sở Y tế; Lãnh đạo tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội phụ nữ các cấp Lãnh đạo các phòng ban ở cấp huyện như: Phòng Nội vụ; Phòng NN&PTNT hoặc Phòng Kinh tế; Phòng LĐ-TB&XH; Phòng Giáo dục; Phòng Y tế ở các địa bàn chọn điểm điều tra

3.2.2 Về không gian

Dự án điều tra tại 3 tỉnh đại diện cho 3 vùng có nhiều đồng bào DTTS, trong đó:

+ Vùng Tây Bắc chọn tỉnh Lào Cai làm đại diện

+ Vùng Tây Nguyên chọn tỉnh Đắk Lắk làm đại diện

+ Vùng ĐBSCL chọn tỉnh Sóc Trăng làm đại diện

3.2.3 Về thời gian

+ Các thông tin, tư liệu, số liệu được thu thập trong khoảng thời gian

3 năm, từ năm 2005 đến năm 2007, không kể các chủ trương, chính sách + Thời gian thực hiện dự án: Năm 2008

IV PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp

Nhằm đạt các mục tiêu đặt ra của dự án, các thông tin, tư liệu, số liệu thứ cấp cần được thu thập gồm:

+ Các thông tin, tư liệu, số liệu về tình hình kinh tế-xã hội các tỉnh điều tra qua 3 năm gần đây: Tình hình đất đai, tình hình dân số và lao động, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu (GDP, cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh

tế, tình hình thu nhập dân cư, tình hình đói nghèo…)

Trang 5

+ Các thông tin, tư liệu, số liệu về tình hình phân bổ và sử dụng lao động: Lao động thường xuyên làm việc trong các ngành kinh tế, tình hình việc làm, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động….ở các địa bàn điều tra 3 năm gần đây

+ Các thông tin, tư liệu, số liệu về tình hình phát triển hệ thống đào tạo nghề ở các địa bàn điều tra qua 3 năm gần đây

+ Kết quả đào tạo nghề cho thanh niên DTTS, tình hình sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề…ở các địa bàn điều tra 3 năm gần đây

+ Các chính sách của địa phương nhằm khuyến khích đào tạo nghề

và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề ở các địa bàn điều tra

Các thông tin, tư liệu, số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ lãnh đạo địa phương năng, cơ quan thống kê, các báo cáo đã công bố, các công trình nghiên cứu đã công bố và truy cập Internet…

2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu sơ cấp

2.1 Chọn mẫu điều tra

Tại mỗi tỉnh ngoài việc thu thập các thông tin, tư liệu chung liên quan đến các nội dung điều tra của dự án tiến hành điều tra sâu tại 1xã: Tỉnh Lào Cai điều tra tại xã Trì Quang, huyện Bảo Thắng; Tỉnh Đắk Lắk điều tra sâu tại xã ĐắcNuê huyện Lăk; Tỉnh Sóc Trăng điều tra sâu tại xã Lâm Kiết huyện Thạnh Trị

Tổng lượng mẫu điều tra tại 3 tỉnh chọn điểm là 249 mẫu, bao gồm:

12 cơ sở dạy nghề, mỗi tỉnh 4 cơ sở; 12 DN có sử dụng thanh niên DTTS

đã qua đào tạo nghề, mỗi tỉnh điều tra 4 DN; 90 cán bộ lãnh đạo chính quyền các cấp địa phương, lãnh đạo các tổ chức đoàn thể; lãnh đạo các cơ

sở đào tạo nghề; lãnh đạo các DN, mỗi tỉnh 30 người; 75 thanh niên là người DTTS đã qua đào tạo nghề, mỗi tỉnh 25 người (15 lao động đã qua đào tạo nghề được làm việc đúng nghề, 5 lao động đã qua đào tạo nghề đang làm việc trái nghề, 5 lao động đã qua đào tạo nghề nhưng chưa có việc làm); Điều tra 60 thanh niên là người DTTS chưa qua đào tạo nghề, mỗi tỉnh 20 người (15 lao động chưa đào tạo nghề đang có việc làm và 5 lao động chưa có việc làm)

Phương pháp chọn mẫu: Nhóm điều tra cùng với lãnh đạo một số cơ quan liên quan để đánh giá tổng quan về tình hình đào tạo, tình hình sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề, lập danh sách các cơ

sở đào tạo, các DN có sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề sau đó tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên

Trang 6

Đối với các đối tượng thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề và chưa qua đào tạo nghề, các đoàn công tác làm việc với lãnh đạo chính quyền địa phương, lãnh đạo tổ chức Đoàn thanh niên ở xã lập danh sách, sau đó tiến hành lẫy mẫu ngẫu nhiên, không lặp lại

2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu sơ cấp

Các thông tin, tư liệu, số liệu sơ cấp được thu thập bằng các phương pháp sau đây:

+ Điều tra xã hội học theo hệ thống biểu mẫu soạn sẵn đã qua các cuộc hội thảo lấy ý kiến góp ý và chuẩn hoá

+ Phương pháp điền dã dân tộc học

+ Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Tại các địa bàn điều tra, các đoàn công tác tổ chức các cuộc hội thảo với các đối tượng thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề và chưa qua đào tạo nghề để thu thập các thông tin mới liên quan đến nội dung cần làm rõ của dự án

+ Hội thảo tại địa phương: Tại các tỉnh, các đoàn công tác đã phối hợp với địa phương tổ chức các hội thảo tại tỉnh để thu thập các thông tin liên quan đến các nội dung cần làm rõ của dự án Thành phần tham dự gồm lãnh đạo và chuyên viên các cơ quan: Ban dân tộc, Sở Nội vụ, Sở LĐ-TB&XH; Sở NN & PTNT; Sở KH&ĐT, Sở Giáo dục và đào tạo; Một số

cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh; BCH Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

3 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu

Các thông tin, tư liệu, số liệu điều tra sau khi được kiểm tra, loại bỏ những thông tin sai lệch, các thông tin, số liệu không đại diện được nhập vào máy tính trên phần mềm EXCEL theo các Form thiết kế cho từng loại biểu mẫu và xử lý theo hệ thống các chỉ tiêu đầu ra cần thiết cho các nội dung phân tích

4 Phương pháp phân tích

4.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp này được sử dụng để mô tả bức tranh tổng quát về tình hình đào tạo vầ sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo ở các địa bàn chọn điểm Qua đó rút ra những kết luận về kết quả đào tạo và kết quả

sử dụng lao động thanh niên dân tộc đã qua đào tạo nghề

4.2 Phương pháp phân tích so sánh

Phương pháp này được vận dụng để phân tích so sánh biến động về tình hình đào tạo và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo qua một chuỗi thời gian 3 năm để rút ra các kết luận

Trang 7

4.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Chủ nhiệm dự án mời một số chuyên gia am hiểu về lĩnh vực đào tạo

và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề viết 10 chuyên

đề khoa học liên quan đến các nội dung dự án Các đoàn công tác đã có các cuộ phỏng vấn, toạ đàm, trao đổi với một số vị lãnh đạo, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý có nhiều kinh nghiệm xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách đào tạo và sử dụng lao động là thanh niên đã qua đào tạo

để thu thập các ý kiến tư vấn về các vấn đề liên quan đến các nội dung cần làm rõ của dự án

4.4 Phương pháp phân tích chính sách

Phương pháp này được vận dụng để phân tích các ưu điểm, nhược điểm và các vấn đề cần hoàn thiện của hệ thống chính sách hiện hành liên quan đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS và sử dụng lao động

là thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

Trang 8

- Tình hình sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề phân theo nghề đào tạo

- Tỷ lệ thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề chưa có việc làm Các nguyên nhân không tìm kiếm được việc làm của lao động thanh niên DTTS

đã qua đào tạo nghề

- Tỷ lệ lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề được thu hút vào các loại hình tổ chức sản xuất

- Tỷ lệ thanh niên tự tạo được việc làm sau đào tạo ở các địa bàn chọn điểm điều tra

- Năng lực tự tạo nghề của thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề ở các địa bàn chọn điểm điều tra

- Tình hình việc làm và thu nhập của thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề ở các địa bàn chọn điểm điều tra

- Đánh giá của lãnh đạo địa phương, lãnh đạo các doanh nghiệp về

tỷ lệ thanh niên DTTS có việc làm ngay sau đào tạo nghề ở các địa bàn chọn điểm điều tra

- Đánh giá của thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề và chưa qua đào tạo nghề về tỷ lệ thanh niên DTTS có việc làm sau khi được đào tạo nghề ở các địa bàn chọn điểm điều tra

- Nguyện vọng và kiến nghị của thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề ở các địa bàn chọn điểm điều tra

- Những khó khăn chính trong việc tìm kiếm việc làm và tự tạo việc làm của lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghể ở các địa bàn chọn điểm điều tra

- Những điểm chưa phù hợp của hệ thống chính sách trợ giúp thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề tự tạo việc làm

Trang 9

Phần thứ nhất TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN DTTS

1 Một số khái niệm

1.1 Thanh niên DTTS

Điều 1 Bộ Luật Thanh Niên được Quốc hội nước ta thông qua tại kỳ

họp thứ 8 Quốc hội khoá 11 đã đưa ra định nghĩa: “Thanh niên là công dân

Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”[1] Từ định nghĩa này,

khái niệm về thanh niên DTTS được hiểu như sau: “Những người trong

cộng đồng các DTTS là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi gọi là thanh niên DTTS” Việc phân biệt khái niệm thanh niên nói chung với khái

niệm thanh niên DTTS có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng các DTTS nhằm xoá dần những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế-xã hội giữa các dân tộc đông người và các DTTS

1.2 Nghề

Theo nghĩa tiếng Việt, thuật ngữ nghề là một thành phần tạo nên các

từ ghép như: Tay nghề, làm nghề, lành nghề, hành nghề… Trong tiếng Việt

từ nghề ghép với từ nghiệp thành từ nghề nghiệp, từ này có thể dùng dưới

dạng danh từ để chỉ nghề theo một cách nói khái quát không gắn với một nghề cụ thể nào, cũng có thể dùng làm định ngữ như hoạt động nghề nghiệp, giáo dục nghề nghiệp

Nghề là thuật ngữ chung chỉ hoạt động lao động chân tay và trí óc chuyên làm có thể giúp người ta một phương tiện kiếm sống Nghề có thể thiên về thủ công hoặc trí tuệ, có thể là tự người lao động tạo ra hoặc làm làm công ăn lương, làm thuê Nghề có thể đơn giản hoặc phức tạp, có thể được đào tạo hoặc không được đào tạo Phần lớn các nghề thuộc loại làm công ăn lương, thường có trình độ quy định theo bậc từ thấp đến cao và đòi hỏi được đào tạo Thuật ngữ nghề thường đi kèm theo một danh từ cụ thể

để chỉ một lĩnh vực, phạm vi và cả trình độ hoạt động như: nghề thợ tiện, nghề cơ khí, nghề kỹ sư, nghề y tá… Để làm phong phú thêm tiếng Việt và

có sự phân biệt rõ nghĩa hơn về các từ ngữ này, nên chăng chúng ta dùng từ nghề để chỉ các nghề đơn giản thiên về thủ công, thực hành, còn dùng từ nghề nghiệp để chỉ các nghề phức tạp thiên về trí tuệ

Trang 10

Từ Nghiệp có gốc là chữ Hán, có nghĩa là nghề hay ngành, như nông nghiệp là nghề nông, lâm nghiệp là nghề rừng hay chuyên nghiệp có nghĩa

là chuyên ngành nghề

Theo từ điển tiếng Việt, Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động xã hội (ví dụ: nghề dạy học, nghề nông) Nghề là phương tiện tạo ra thu nhập bằng vật chất, hay tiền bạc để đảm bảo cuộc sống cho con người và tiếp tục làm nghề

Theo chúng tôi, thuật ngữ Nghề nghiệp nên hiểu là các nghề phức

tạp thiên về trí tuệ có trình độ cao hơn, bao giờ cũng đòi hỏi phải được đào tạo, nhiều khi lâu dài, luôn gắn với cơ hội thăng tiến trong nghề của con người, vì trong thành phần từ ghép này có chữ nghiệp, hiểu theo nghĩa sự nghiệp, kế nghiệp (kế tục sự nghiệp)

“Nghề nghiệp” là một trong những khái niệm cơ bản thể hiện bản chất của việc làm trong nền kinh tế hiện đại, tuy nhiên lại không có ý nghĩa nhiều trong nền kinh tế truyền thống Trong nền kinh tế mà công việc được trả công chiếm ưu thế, công việc có thể phân loại theo các chức năng và nhiệm vụ Mỗi người lao động sẽ được phân công làm việc trong các ngành nghề khác nhau phù hợp với khả năng của họ

Nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở nhóm chức năng, mức độ hiểu biết Năng lực và kinh nghiệm của người lao động sẽ đạt được thông qua trình độ tay nghề và kiến thức Các nghề có xu hướng yêu cầu người lao động đạt được những trình độ nhất định thông qua các chương trình đào tạo căn bản và tại các cơ sở đào tạo có độ tin cậy cao Mặc dù có nhiều nghề nghiệp phổ biến rộng rãi và đã tồn tại khá dài, nhưng chúng khác nhau bởi các điều kiện cụ thể và chúng không thể tồn tại mãi được do có sự thay đổi và phát triển của của công nghệ Do đó, nghề nghiệp này có thể bị lạc hậu để nhường chỗ cho sự xuất hiện của những nghề nghiệp mới

1.3 Đào tạo và đào tạo nghề

1.31 Đào tạo

Theo cách giải thích của Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, về

cơ bản thì đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ

xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật và văn hoá của đất nước Khái

Trang 11

niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả khái niệm đào tạo Khái niệm về đào tạo đã được nêu ra trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam như sau:

Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách

có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [26]

Từ khái niệm trên đây cho thấy đào tạo chính là quá trinh hình thành nhân cách, hình thành các tri thức, kỹ năng kỹ xảo cho từng con người để

họ có thể đáp ứng được các yêu cầu phát triển bản thân và xã hội

1.3.2 Đào tạo nghề

Có thể hiểu khái niệm đào tạo nghề như sau: Đào tạo nghề là một

quá trình hoạt động nhằm trang bị cho một con người cụ thể nào đó những kiến thức chuyên môn kỹ thuật ở những cấp độ nhất định để giúp cho họ có thể tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động

Trên thực tế hiện nay có nhiều loại hình đào tạo: Tập huấn kỹ thuật, đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa Tất cả các hoạt động đó đều nhằm trang bị cho một con người cụ thể nào đó những sự am hiểu nhất định về chuyên môn,

kỹ thuật để thực hiện các công việc phù hợp với chuyên môn kỹ thuật mà

họ đã được đào tạo

1.4 Việc làm và thất nghiệp

1.4.1 Việc làm

Việc làm là các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập cho con người Tuy nhiên các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập đó phải được xã hội thừa nhận thì mới được gọi là việc làm Chính vì vậy, trong điều 13 Chương 2 Bộ luật Lao động của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã đưa ra

định nghĩa về việc làm như sau: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập

không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm [1]. Theo khái niệm này khái niệm về việc làm được hiểu phải là các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập nhưng các hoạt động tạo ra thu nhập đó phải được pháp luật thừa nhận

1.4.2 Thất nghiệp

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về thất nghiệp như sau: Thất

nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm nhưng không tìm được việc làm Có nhiều cách phân loại thất nghiệp, theo các nhà kinh tế,

có thể phân loại thất nghiệp như sau:

Trang 12

- Thất nghiệp tạm thời: Đó là tình trạng người lao động bị mất việc làm tạm thời

- Thất nghiệp vĩnh cửu: Đó là tình trạng người lao động mong muốn

có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm trong mọi trường hợp

- Thất nghiệp tự nhiên: Đó là tình trạng thất nghiệp không thể giảm được trong bất kỳ một nền kinh tế năng động nào

- Thất nghiệp tự nguyện: Đó là tình trạng thất nghiệp do ở một mức lương nào đó người lao động không chấp nhận làm việc

1.5 Sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề

Sau khi được đào tạo nghề, người được đào tạo có thể tham gia làm các công việc cụ thể nào đó (có thể sử dụng đúng nghề hoặc trái nghề) hoặc cũng có thể bị thất nghiệp (chưa tìm kiếm được việc làm) Do vậy, có thể

hiểu khái niệm thuật ngữ sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề như sau: Sử

dụng lao động đã qua đào tạo nghề là việc huy động các lao động đã được đào tạo nghề vào các công việc cụ thể nào đó, có thể là các công việc đúng với chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo nhưng cũng có thể là các công việc trái với chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo

Theo khái niệm này, trong một chừng mực nào đó, khái niệm về sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề đồng nghĩa với tình trạng việc làm của lao động đã qua đào tạo nghề,

2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho thanh niên DTTS 2.1.1 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên vùng DTTS

Đặc điểm về điều kiện tự nhiên vùng đồng bào DTTS có ảnh hưởng tích cực và những tác động tiêu cực đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS, thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, vùng đồng bào DTTS là vùng có diện tích tự nhiên rộng lớn, có tiềm năng lớn về phát triển nông, lâm nghiệp hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu Đây là thuận lợi cho việc phát triển đào tạo nghề cho thanh niên nói chung, thanh niên DTTS nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng lao động nông nghiệp ngày càng cao hơn để phát triển nông nghiệp hàng hoá gắn với chế biến và xuất khẩu

Thứ hai, vùng đồng bào DTTS, nhất là vùng TDMNPB là vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản nhưng hiện nay vẫn chưa được đầu tư khai thác đúng mức và hiệu quả Trong giai đoạn tới đầu tư khai thác các nguồn tài nguyên ở các vùng này đòi hỏi phải có một lực lượng đông đảo lao động

Trang 13

được đào tạo chuyên môn kỹ thuật Đây là thuận lợi rất cơ bản cho công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS

Thứ ba, vùng đồng bào DTTS thường là các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa, địa hình chia cắt phức tạp, giao thông khó khăn là yếu tố cản

tở rất lớn đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS

Thứ tư, địa bàn trải rộng, giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kémở các vùng DTTS đã dẫn tới các vùng này không mấy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nên việc phát triển thị trường lao động ở các vùng này rất chậm Đây là yếu tố không thuận lợi đối với công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS

2.1.2 Các yếu tố về điều kiện kinh tế-xã hội

Có thể nói yếu tố về điều kiện kinh tế-xã hội ở các vùng DTTS hiện nay gần có ít sự thuận lợi cho công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS Ngược lại, điều kiệnh kinh tế-xã hội ở vùng DTTS có rất nhiều khó khăn đối với công tác đào tạo nghề Điều này thể hiện trên các khía cạnh:

Một là, lực lượng thanh niên DTTS thường là lực lượng lao động

chính trong các gia đình, nếu họ đi học sẽ gây nên sự thiếu hụt lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và thu nhập của gia đình họ

Hai là, trình độ văn hoá của một bộ phận khá lớn thanh niên DTTS

còn thấp, không đáp ứng được yêu cầu trình độ văn hoá tối thiểu để đào tạo các nghề phi nông nghiệp trình độ sơ cấp hoặc các nghề nông, lâm, ngư nghiệp trình độ trung cấp trở lên

Ba là, thu nhập của đa số thanh niên DTTS còn ở mức thấp nên họ

khó có thể trang trải các khoản kinh phí đào tạo nghề nếu không được bao cấp toàn bộ của Nhà nước

Bốn là, nhận thức của thanh niên DTTS trong việc học tập, đào tạo

nghề chưa đúng mức, nhiều người cho rằng họ không cần đào tạo nghề vẫn

có thể làm ăn bình thường được

Năm là, cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng vùng có nhiều

DTTS sinh sống còn rất nghèo nàn, thiếu thốn cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS

Sáu là, kinh tế ở các vùng có nhiều DTTS sinh sống kém phát triển,

chủ yếu là nông nghiệp, các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm nên thị trường lao động và việc làm hạn chế Điều này đã tác động không nhỏ đến tâm lý thanh niên DTTS do họ e ngại sau khi đào tạo nghề sẽ có rất ít cơ hội tìm kiếm việc làm

Bẩy là, các dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh ở vùng

nhiều DTTS sinh sống chưa phát triển mạnh, nhất là dịch vụ ngân hàng, tín dụng nên nhiều thanh niên DTTS sau đào tạo nghề có ít cơ hội tiếp cận

Trang 14

dịch vụ tín dụng để vay vốn mở mang ngành nghề theo chuyên môn đào tạo Trên thực tế có những lao động thanh niên DTTS đã được đào tạo nghề nhưng không thể phát huy được nghề đào tạo do không có vốn kinh doanh

2.1.3 Sự phát triển của hệ thống đào tạo nghề

Sự phát triển hệ thống đào tạo nghề ở vùng DTTS là nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS Một

hệ thống đào tạo nghề phát triển rộng rãi kết hợp với các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước sẽ tạo ra những thuận lợi cơ bản cho công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS và ngược lại

2.1.4 Yếu tố về cơ chế, chính sách của Nhà nước

Chính sách là quyết sách của Chính phủ nhằm đạt các mục tiêu nào

đó mà Chính phủ cần đạt tới trong một thời kỳ nào đó Bằng các công cụ chính sách, Nhà nước có thể điều tiết công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS theo các định hướng lựa chọn Để phát triển công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS, Nhà nước có thể sử dụng các chính sách sau:

+ Chính sách đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống đào tạo nghề bằng ngân sách Nhà nước

+ Chính sách ưu đãi, khuyến khích đội ngũ giáo viên dạy nghề ở các vùng DTTS

+ Chính sách hỗ trợ cho thanh niên DTTS đi học nghề

+ Chính sách xã hội hoá công tác đào tạo nghề

+ Chính sách khuyến khích sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng lao động thanh niên lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

Sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề đồng nghĩa với việc thu hút lực lượng lao động này vào làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp hay các việc làm do bản thân lao động tự tạo ra Kết quả sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố quan trọng nhất là: (i) Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động; (ii) Các yếu tố thuộc về sự phát triển của thị trường lao động; (iii) Các yếu tố về chính sách của Nhà nước và các địa phương

1.2.1 Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động

Việc sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố thuộc về bản thân người lao động Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động được thể hiện trên 2 khía cạnh: (i) Năng lực tự tạo việc làm của lao động được đào tạo; (ii) Khả năng đáp ứng của

Trang 15

người lao động được đào tạo trước những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động

- Năng lực tự tạo việc làm thể hiện trên các giác độ: Năng lực đầu tư (vốn đầu tư, trang thiết bị kỹ thuật, trình độ chuyên môn kỹ thuật), điều kiện về mặt bằng sản xuất (đối với việc mở mang các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp), khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm của người lao động, tập quán văn hoá, tâm lý và nguyện vọng của thanh niên sau đào tạo nghề

Nhìn chung, năng lực tự tạo việc làm của thanh niên DTTS hiện nay còn ở mức thấp Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới tình trạng này là đa

số lao động thanh niên DTTS đều trong tình trạng thiếu vốn đầu tư Nhiều lao động trẻ còn phụ thuộc gia đình nên khả năng chủ động tự tạo việc làm sau khi đào nghề bị hạn chế rất nhiều

- Thị trường lao động ở nước ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, thị trương lao động ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn đối với người lao động muốn tham gia thị trường lao động Điều này thể hiện trên các lĩnh vực: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động nào cao thì

họ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận việc làm trên thị trường lao động; Người lao động nào có sức khoẻ tốt sẽ có cơ hội tốt hơn khi tìm kiếm việc làm; Người lao động nào có ý thức chấp hành tốt kỷ luật lao động tốt

sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận việc làm trên thị trường lao động; Người lao động nào sẵn sàng chấp nhận mức đơn giá tiền công thấp sẽ thuận lợi hơn khi tìm kiếm việc làm

1.2.2 Sự phát triển của thị trường lao động

Thị trường lao động trong nông nghiệp, nông thôn nước ta đã hình thành và phát triển khá sôi động và tác động khá mạnh đến việc sử dụng lao động là thanh niên DTTS nói chung, lao động là thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề nói riêng

Cũng như các thị trường hàng hoá khác, thị trường lao động cũng có

3 yếu tố cấu thành quan trọng là cung, cầu và giá Lượng cung trên thị trường lao động là lượng lao động sẵn sàng bán với một mức giá chung của thị trường Lượng cầu trên thị trường lao động là lượng lao động sẵn sàng mua (sẵn sàng tuyển dụng), giá cả trên thị trường lao động là mức giá chung của thị trường (giá cân bằng thị trường lao động)

Trước hết xét về cầu trên thị trường lao động vùng DTTS: Cầu về lao động phụ thuộc vào sự phát triển và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp, Trang trại, HTX, Cơ sở tư nhân, tiểu chủ có thuê mướn lao động ở vùng DTTS Nhìn chung, các vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống hiện tại đang là các vùng còn khó khăn nhiều mặt, đặc biệt là sự thiếu thốn về cơ sở vật chất-kỹ thuật và kết cấu hạ tầng Do vậy

Trang 16

các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp ở các vùng này phát triển chậm, không tạo ra được nhiều việc làm

Về cung trên thị trường lao động vùng DTTS: Lượng cung trên thị trường lao động ở vùng đồng bào DTTS là lượng lao động sẵn sàng cung ứng cho thị trường lao động ở một mức đơn giá tiền công nào đó Nếu đơn giá tiền công lao động cao, chắc chắn sẽ có nhiều lao động là thanh niên DTTS mong muốn rham gia vào thị trường lao động và ngược lại Tuy nhiên, như trên đã trình bày, thị trường lao động ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn về chất lượng lao động (các yếu tố về thể lực, trí lực và trình độ chuyên môn kỹ thuật) Do đó những lao động dược đào tạo sẽ có những cơ hội thuận lợi hơn khi tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động

1.2.3 Các yếu tố về cơ chế chính sách

Chính sách của Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến công tác đào tạo nghề và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề Bằng các chính sách ban hành, nhà nước có thể điều tiết các hoạt động đào tạo nghề cho lao động là thanh niên DTTS theo đúng chủ trương đặt ra Cũng bằng cơ chế chính sách, Nhà nước có thể điều tiết được việc

sử dụng lao động là thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề nhằm thu hút tối

đa lực lượng này vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra của cải cho xã hội

Các chính sách khuyến khích đào tạo nghề cho thanh niên DTTS có thể là các chính sách hỗ trợ về kinh phí đào tạo; chính sách hỗ trợ xây dựng

cơ sở trường lớp, chính sách ưu tiên đối với đội ngũ giáo viên và các chính sách ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nghề cho người lao động là thanh niên DTTS

Các chính sách khuyến khích sử dụng lao động là thanh niên DTTS

đã qua đào tạo nghề chó thể là: Chính sách hỗ trợ tạo vốn lập nghiệp; Chính sách ưu đãi các thành phần kinh tế tuyển dụng lao động là thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề; chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh

tế xã hội để chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng có nhiều đồng bào DTTS theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ để tạo thêm việc làm

Ngoài các chính sách của Nhà nước Trung ương, các địa phương cũng có các chính sách về đào tạo nghề và sử dụng lao động là thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề phù hợp với mục tiêu chương trình phát triển kinh tế của địa phương mình

II TỔNG QUAN VỀ DẠY NGHỀ Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

1 Hệ thống pháp luật về dạy nghề

Hệ thống pháp luật dạy nghề ở nước ta đã được thiết lập thông qua việc ban hành Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005, Luật Dạy nghề năm 2006,

Trang 17

các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, của Bộ LĐTBXH và các

Bộ ngành có liên quan

Ngày 14/6/2005, Quốc hội thông qua Luật Giáo dục sửa đổi, trong

đó có một mục riêng (Mục 3: Giáo dục nghề nghiệp, Chương II: Hệ thống giáo dục quốc dân) quy định chung về giáo dục nghề nghiệp, bao gồm dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp

Trên cơ sở Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005, Luật dạy nghề đã được soạn thảo và được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/6/2007 Luật dạy nghề quy định rõ dạy nghề có 3 cấp

trình độ đào tạo: Sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Luật

Dạy nghề cũng quy định tổ chức và hoạt động của trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề Việc ban hành Luật Dạy nghề đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển dạy nghề theo định hướng cầu của thị trường lao động nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực có tay nghề phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập nền kinh tế thế giới

Để hỗ trợ phát triển dạy nghề, trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành một số các văn bản quy phạm pháp luật khác như: QĐ số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010; QĐ số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách

hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn; QĐ số TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với DTTS nội trú; NĐ 05/2005/NQ-CP của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề; NĐ 43/NĐ-CP ngày 8/4/208 của Chính phủ hướng Điều 62 và 72 của Luật Dạy nghề; QĐ 86/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

267/2005/QĐ-tổ chức của Tổng cục Dạy nghề

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã phê duyệt các chiến lược, chương trình về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề: Chiến lược Phát triển Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2001-2010; Chương trình mục tiêu Quốc gia

về giáo dục và đào tạo trong đó có Dự án riêng cho dạy nghề

Về phía Bộ LĐ-TB&XH, với chức năng là Cơ quan quản lý Nhà nước về dạy nghề, trong thời gian qua Bộ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về các nội dung sau: Cơ sở dạy nghề; Xây dựng chương trình dạy nghề; Hướng dẫn liên thông trong dạy nghề; Tuyển sinh học nghề, thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp; Văn bằng chứng chỉ nghề; công tác học sinh, sinh viên học nghề; giáo viên dạy nghề; Kiểm định chất lượng dạy nghề; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động

Trang 18

2 Mạng lưới cơ sở dạy nghề

Từ năm 1998 đến nay, mạng lưới các có sở dạy nghề tăng nhanh và

phát triển mạnh trên khắp cả nước Tại thời điểm 7/1998, cả nước có trên

170 cơ sở dạy nghề, gồm 129 trường dạy nghề và 45 Trung tâm dạy nghề

Tính đến tháng 6/2008, mạng lưới các cơ sở dạy nghề đã tăng một cách

đáng kể, cụ thể như sau: 319 trường dạy nghề (75 trường cao đẳng nghề,

204 trường trung cấp nghề, 40 trường dạy nghề chưa chuyển đổi thành

trường trung cấp nghề hoặc chưa nâng cấp lên trường cao đẳng nghề), 684

trung tâm dạy nghề và hơn 1000 cơ sở dạy nghề khác

Có thể nói việc phát triển mạnh mẽ hệ thống cơ sở dạy nghề trong

những năm qua đã khắc phục được “tình trạng trắng trường” ở một số địa

phương, đa dạng hóa loại hình cơ sở dạy nghề; tạo điều kiện cho mọi người

dân có thể lựa chọn học nghề tại địa phương mình hoặc ở địa phương khác

3 Quy mô tuyển sinh dạy nghề

Trong 5 năm qua, qui mô tuyển sinh dạy nghề hàng năm đều đạt và

vượt chỉ tiêu được giao Số lượng tuyển sinh học nghề tăng mạnh từ năm

2003 đến năm 2007, cụ thể như bảng sau:

Bảng 2.1 Tuyển sinh dạy nghề từ năm 2003 đến 2007

Quy mô đào tạo tăng bình quân khoảng 6,5%/năm Quy mô đào tạo

tăng đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 13,4% năm 2001 lên trên

20% năm 2007

4 Các hình thức dạy nghề

Trong những năm qua, các hình thức dạy đã được đa dạng hóa nhằm

đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng người học Ngoài hình thức dạy nghề

chủ yếu từ trước đến nay là dạy nghề tại các cở sở dạy nghề, các hình thức

dạy nghề khác cũng đã xuất hiện, mở rộng và phát triển bao gồm: dạy

nghề, kèm nghề tại các làng nghề truyền thống, dạy nghề tại các doanh

nghiệp; dạy nghề lưu động, chuyển giao kỹ thuật cho lao động nông thôn;

dạy nghề cho học sinh dân tộc nội trú; dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ

5 Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề

Về giáo viên dạy nghề: Cùng với sự phát triển của mạng lưới cơ sở

dạy nghề, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý tại các cơ sở dạy nghề đã gia

Trang 19

tăng trong những năm qua Theo thống kê, tính đến ngày 31/12/2007, tổng

số giáo viên tại các cơ sở dạy nghề là gần 36.000 giáo viên (trong đó tại trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề là trên 14.000; tại trung tâm dạy nghề là gần 6.000; tại các cơ sở dạy nghề khác trên 15.500) Trong những năm qua, năng lực cũng như chất lượng của đội ngũ giáo viên dạy nghề đã được nâng lên về trình độ chuyên môn và trình độ sư phạm Số giáo viên có trình độ đại học trở lên ở trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 59%; trung tâm dạy nghề là 38%

Hiện nay, tại một số trường dạy nghề đã hình thành Khoa sư phạm dạy nghề nhằm tăng số lượng giáo viên cho các cơ sở dạy nghề và nâng cao chất lượng giáo viên

Về chương trình, giáo trình: Chương trình, giáo trình và tài liệu

giảng dạy đã được bổ sung, đổi mới để thích ứng với những đòi hỏi mới của công nghệ kỹ thuật và yêu cầu của thị trường lao động Tính đến nay,

Bộ LĐTBXH đã ban hành 48 chương trình khung cho các trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề là cơ sở rất quan trọng để các Trường dạy nghề xây dựng chương trình, giáo trình phục vụ công tác học tập và giảng dạy Dự kiến đến cuối năm 2008, Bộ LĐTBXH sẽ tiếp tục ban hành tiếp 60

bộ chương trình khung

Cơ sở vật chất thiết bị: Nhiều cơ sở dạy nghề được nâng cấp, mở

rộng hoặc xây dựng từ đầu Nhiều cơ sở dạy nghề đã được đầu tư trang thiết bị khá hiện đại, đạt tiêu chuẩn Khoảng 25% các trường được đầu tư

để trở thành trường trọng điểm quốc gia và khu vực, đặc biệt các TTDN cấp huyện được ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước Khoảng 25% các trường được đầu tư để trở thành trường trọng điểm quốc gia và khu vực, đặc biệt các TTDN cấp huyện được ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước

6 Đánh giá chất lượng dạy nghề

Trong những năm qua dạy nghề được thực hiện theo định hướng trong cầu, do đó đã đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động Khoảng 70% học sinh học nghề tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp (ở các cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp và ở một

số nghề, tỷ lệ này đạt trên 90%) Phần lớn học sinh tốt nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong nước, đặc biệt là ở nhiều học sinh đã có thể đảm nhận được các yêu cầu công việc ở một số lĩnh vực đòi hòi tay nghề kỹ thuật cao và phức tạo: như bưu chính viễn thông, lắp ráp điện tử, dầu khí, thi công cầu-hầm, vận hành các dây chuyền tự động vv Nhiều học sinh ra trường đã được tuyển dụng đi lao động tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan, các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất

Đoàn học sinh Việt Nam tham gia Hội thi tay nghề ASEAN đã giành được các thứ hạng cao: xếp thứ hai tại Hội thi tay nghề ASEAN lần thứ 4

Trang 20

năm 2002; xếp thứ nhất tại hội thi tay nghề ASEAN lần thứ 5 năm 2004 và lần thứ 6 năm 2006

Song, do những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ, chất lượng học sinh ra trường hiện nay vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong và ngoài nước Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có tay nghề trình độ cao vẫn còn thấp so với nhu cầu thực tế

7 Quản lý chất lượng dạy nghề

Các nội dung liên quan đến quản lý, đánh giá chất lượng dạy nghề gồm kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá kỹ năng nghề và cấp văn bằng chứng chỉ quốc gia đã chính thức được quy định tại Chương VIII và Chương IX của Luật Dạy nghề (Chương VIII quy định về kiểm định chất lượng dạy nghề, Chương IX quy định về kiểm tra, đánh giá và cấp văn bằng chứng chỉ) Hiện nay, tại Tổng cục Dạy nghề đã có 2 vụ chức năng được thành lập để thực hiện các công việc liên quan đến quản lý Nhà nước

về kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ quốc gia

8 Đầu tư tài chính cho dạy nghề

Vốn Ngân sách Nhà nước: Trong 5 năm qua, tổng chi Ngân sách

Nhà nước cho dạy nghề gồm chi thường xuyên, chi chương trình mục tiêu

và chi xây dựng cơ bản tăng từ 1.644 tỷ đồng năm 2003 (xấp xỉ 4,9% tổng chi Ngân sách cho giáo dục-đào tạo) lên 4.993 tỷ đồng năm 2007 (xấp xỉ 7% tổng chi Ngân sách cho giáo dục-đào tạo), tốc độ tăng đầu tư ngân sách cho dạy nghề đạt tới 32,01%/năm

Hình 1 Chi ngân sách Nhà nước cho dạy nghề từ 2003 đến 2007

Trang 21

Trong cơ cấu chi ngân sách cho dạy nghề, tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách cho dạy nghề giảm từ 48,42% năm 2003 xuống còn 44,06% vào năm 2007, tỷ trọng chi xây dựng cơ bản giảm từ 41,3% năm 2003 xuống còn 34,9% vào năm 2007, tỷ trọng chi cho các chương trình mục tiêu tăng từ 10,22% năm 2003 lên 21,23% vào năm 2007

Hình 2 Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước cho dạy nghề từ 2003 đến 2007

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Chi thường xuyên Chi chương trình mục tiêu Chi XDCB

Nguồn: [5]

Vốn ODA nước ngoài: Trong thời gian, chúng ta đã thu hút được

hàng trăm triệu đô la Mỹ vốn ODA nước ngoài đầu tư cho dạy nghề thuộc các chương trình Dự án do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Pháp, Đức, Thụỵ Sĩ, Áo, Hàn Quốc, Nhật Bản… tài trợ theo hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay

Cơ cấu xã hội hóa các nguồn lực đầu tư cho dạy nghề: Tính đến nay,

Ngân sách Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu các nguồn lực đầu tư cho dạy nghề Cơ cấu nguồn lực đầu tư cho dạy nghề năm 2007 như sau: Ngân sách Nhà nước 63%, Người học 21%, Doanh nghiệp 10%, Đầu

tư nước ngoài 3%, Cơ sở dạy nghề 3%

III TỔNG LƯỢC MỘT SỐ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nứơc ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách rất quan trọng về đào tạo nghề để nâng cao một bước chất lượng nguồn nhân lực Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng nhằm thu hút, sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động đã qua đào tạo nghề Trong phạm vi nghiên cứu của dự án

Trang 22

này, chúng tôi chỉ tóm lược một số chủ trương, chính sách quan trọng nhất liên quan đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

1 Các chính sách liên quan đến đào tạo nghề cho thanh niên DTTS

Thanh niên niên các DTTD cùng một lúc được hưởng ưu đãi của các chính sách dạy nghề chung cho thanh niên Việt Nam và các chính sách riêng về dạy nghề cho đồng bào DTTS

1.1 Các chính sách về dạy nghề cho thanh niên

Các chính sách liên quan đến công tác dạy nghề cho thanh niên nói chung được quy định tại Luật Thanh năm 2005, Luật Dạy nghề năm 2006,

Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2010 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 103/2008QSS-TTg ngày 21/7/2008)

Trong bộ Luật Thanh niên ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại

Điều 18 qui định: “Nhà nước ưu đãi thuế, tín dụng, đất đai để phát triển

giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề cho thanh niên; phát triển hệ thống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp thanh niên tiếp cận thị trường” [10]

Trong bộ Luật Dạy nghề ban hành ngày 29/11/2006, tại điều 7 quy

định “…đầu tư mở rộng các cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng dạy nghề

góp phần bảo đảm cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông; tạo điều kiện phổ cập nghề cho thanh niên.[12]

Trong Đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2010” đã quy định một số chính sách hỗ trợ học nghề cho thanh niên như sau:

- Thanh niên học nghề được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, theo

đó, các đối tượng thanh niên khi đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề thuộc các thành phần kinh tế nếu có nhu cầu vay vốn sẽ được Nhà nước cho vay vốn tín dụng ưu đãi [6]

- Các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp có chức năng dạy nghề khi

mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề cho thanh niên sẽ được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, theo đó các cơ sở dạy nghề, các doanh

nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có chức năng dạy nghề đang hoạt động theo quy định của pháp luật được ưu tiên cho vay vốn lãi suất ưu đãi để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề cho thanh niên [6]

Trang 23

- Chính sách đầu tư trung tâm giới thiệu việc làm và dạy nghề trọng điểm của Đoàn thanh niên, theo đó, 10 Trung tâm giới thiệu việc làm và

dạy nghề hiện có thuộc hệ thống cơ sở do Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quản lý được ưu tiên đầu tư cho công tác giới thiệu việc làm và dạy nghề cho thanh niên [6]

1.2 Các chính sách liên quan đến dạy nghề cho thanh niên DTTS

Tính đến nay, hệ thống chính sách về dạy nghề cho dân tộc thiểu số bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật sau: (i) QĐ số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc nội trú; (ii) Luật Dạy nghề được Quốc hội thông qua tháng 11/2006; (iii) Nghị định 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề; (iv) Quyết định số 1121/1997/QĐ-TTg ngày 23/12/1997 và Quyết định số 194/2001/QĐ-TTg ngày 21/12/2001 quy định trợ cấp xã hội; (v) Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010

1) Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg: Ngày 31/10/2005 Thủ tướng Chính

phủ ban hành Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc nội trú Quyết đinh quy định như sau:

- Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông dân tộc nội trú kể cả nội trú dân nuôi được cử tuyển học nghề nội trú, trong đó ưu tiên con em các dân tộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn Thời gian đào tạo nghề từ 3 tháng trở lên Trong thời gian học nghề đối tượng học sinh trên được hưởng học bổng, trợ cấp xã hội và các chính sách khác như học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú

- Trường hợp không đủ điều kiện học nghề vào học nghề nội trú tại các cơ sở dạy nghề công lập với các nghề có thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên thì được học nghề theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg ngày 4/8/2005

về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn

Tính đến thời điểm hiện tại, đây là một chính sách quan trọng quy định cụ thể về việc dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số Tuy nhiên, chính sách nêu trên chỉ dành cho những đối tượng là học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú Chính sách đã ban hành mới đáp ứng được 10-15% nhu cầu học nghề ở vùng đồng bào DTTS Đối tượng được thụ hưởng các chính sách mới dừng lại ở các học sinh dân tộc trong các trường phổ thông dân tộc nội trú (khoảng 10% tổng số học sinh DTTS) mà chưa có chính sách hỗ trợ cho học sinh DTTS học ở các trường đại trà (chiếm 90% tổng số học sinh DTTS)

Trang 24

2) Nghị định 139/2006/NĐ-CP: NĐ 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006

của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục và

Bộ luật Lao động về dạy nghề có 2 điều quy định về chính sách đối với dân

tộc thiểu số: Cơ sở dạy nghề cho người dân tộc thiểu số được xét giảm,

miễn thuế; Người học nghề là người dân tộc thiểu số được hỗ trợ học nghề

3) Luật Dạy nghề 2006: Luật Dạy nghề được Quốc hội thông qua tháng

11/2006 có một số điều liên quan đến dạy nghề cho người dân tộc thiểu số:

Tại Điều 7, Luật dạy nghề năm 2006 đã quy định: Hỗ trợ các đối

tượng được hưởng chính sách người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật, trẻ em

mồ côi không nơi nương tựa, người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho hộ được học nghề Tại Điều 54 quy định: Nhà nước có chính sách đầu tư, đảm bảo các điều kiện cho cơ sở dạy nghề tiếp nhận học sinh phổ thông dân tộc nội trú khi ra trường được vào học nghề Tại Điều

65 quy định: Học sinh tốt nghiệp trường trung học cơ sở dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, kể cả nội trú dân nuôi được tuyển thẳng vào học trường trung cấp nghề Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khi chuyển sang học nghề được hưởng chính sách như học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú

4) Quyết định số 1121/1997/QĐ-TTg ngày 23/12/1997 và Quyết định số 194/2001/QĐ-TTg ngày 21/12/2001: Hai Quyết định này quy định người

dân tộc ít người ở vùng cao, vùng sâu và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn học tại các trường công lập hệ chính quy, dài hạn tập trung được hưởng trợ cấp xã hội với mức 140.000 đồng/người/tháng x 12 tháng/năm

5) Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007: Quyết định số

20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, Thông

tư liên tịch số 102/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 20/8/2007 của liên

Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg quy định: người nghèo vùng dân tộc thiểu số được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá 12 tháng; cơ sở dạy nghề được hỗ trợ 300.000 đồng/người học nghề/tháng; Hỗ trợ trực tiếp cho người học nghề: Tiền ăn trong thời gian học nghề là 10.000 đồng/người/ngày, người học nghề ở xa nơi cư trú từ 15 km trở lên được hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé phương tiện giao thông công cộng, nhưng tối đa không quá 200.000 đồng/người/khoá học

Trang 25

2 Các chính sách liên quan đến sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

Các chính sách liên quan sử dụng lao động qua đào tạo là thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc thiểu số được quy tại Luật Thanh niên, Đề

án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 1998-2010

Trong bộ Luật Thanh niên ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại

Điều 18 qui định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá

nhân giải quyết việc làm cho thanh niên” [10]

Trong Đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2010” quy định một số chính sách hỗ trợ học nghề cho thanh niên như sau:

- Thanh niên tự tạo việc làm, cơ sở sản xuất kinh doanh do thanh niên làm chủ được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, theo đó các đối

tượng thanh niên đã qua đào tạo nghề được ưu tiên cho vay vốn với tín dụng ưu đãi để tự tạo việc làm Các thanh niên có nguyện vọng xây dựng

cơ sở sản xuất kinh doanh do thanh niên làm chủ được vay vốn tín dụng ưu đãi để khởi sự doanh nghiệp hoặc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thu hút thêm thanh niên vào làm việc [10]

- Chính sách tín dụng ưu đãi đối với thanh niên đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo đó, thanh niên có nhu cầu vay vốn đi làm việc

nước ngoài theo hợp đồng được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi [10]

Ngoài các chính sách nêu trên, trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và Chiến lược phát triển thanh niên Việt nam đến năm 2010 của Chính phủ đã thể hiện rõ Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chính sách quan tâm đến dạy nghề và sử dụng lao động thanh niên,trong đó có thanh niên DTTS Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chỉ thị về việc thanh niên tham gia thực hiện phát triển các chương trình kinh tế-xã hội, yêu cầu các Bộ, ngành có liên quan lập kế hoạch với những mục tiêu, nhiệm vụ nhằm sử dụng tiềm năng trong thanh niên, nhấn mạnh sự cần thiết thu hút thanh niên tham gia một số chương trình trọng điểm quốc gia và các dự án chủ chốt ở Trung ương và địa phương

Ở các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cũng

đã ban hành các chính sách cụ thể của địa phương nhằm thúc đẩy công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS cũng như các chính sách khuyến khích

sử dụng lao động là thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề

Với nhiều chủ trương, chính sách quan trọng của Trung ương và địa phương, trong những năm gần đây, công tác đào tạo nghề cho thanh niên DTTS đã đạt được những kết quả nhất định Việc thu hút ngày càng nhiều hơn lực lượng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề vào làm việc

Trang 26

đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội đất nước nói chung, phát triển kinh tế-xã hội các địa phương có nhiều đồng bào DTTS sinh sống nói riêng

IV ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA

Dự án chọn 3 tỉnh là điểm điều tra đại diện cho các vùng, trong đó: Tỉnh Lào Cai đại diện cho vùng TDMNPB, tỉnh Đắk Lắk đại diện cho vùng Tây Nguyên, tỉnh Sóc Trăng đại diện cho vùng ĐBSCL Dưới đây là đánh giá tổng quát các đặc điểm về điều kiện tự nhiên và các đặc điểm về điều kiện kinh tế-xã hội có liên quan đến công tác đào tạo và sử dụng lao động thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề ở các vùng này

1 Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên

1.1 Vùng Trung du miền núi phía Bắc

1.1.1 Vị trí địa lý

Vùng Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) gồm 15 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình (Tiểu vùng Tây Bắc), Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh (tiểu vùng Đông Bắc)

TDMNPB có phía Tây và phía Tây Bắc giáp với 2 nước láng giềng Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với 2.300 km đường biên giới; Phía Đông giáp với Biển 250 km; Phía Nam giáp vùng ĐBSH TDMNPB có tiềm năng phát triển giao thông đường bộ, đường sông, đường biển Vị trí khá độc đáo này đã tạo ra cho nơi đây trở thành vị trí đặc biệt quan trọng về phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị của Tổ quốc

1.1.2 Địa hình

Trên địa bàn này núi rừng trùng điệp với hàng trăm ngọn núi Dãy Hoàng Liên Sơn là dãy núi hùng vĩ nhất với nhiều đỉnh cao, cao nhất là đỉnh Phanxipăng (3.143m) Toàn vùng có tới 3/4 diện tích là đồi núi, địa hình cao, độ dốc lớn, chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh nhọn, nhiều sườn dốc dựng đứng trên những thung lũng hẻm vực Lọt vào giữa các dãy núi triền sông là các hồ lớn, những cánh đồng rộng và một số cao nguyên phì nhiêu, đáng kể là cao nguyên Mộc Châu

1.1.3 Khí hậu thời tiết

Trung du miền núi phía Bắc mang các đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa Do địa hình chia cắt mạnh nên hình thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau Khi gió mùa Đông Bắc tràn về thì vùng này là vùng lạnh nhất trong

cả nước nhưng tiểu vùng Đông Bắc thì lạnh rét khắc nghiệt hơn tiểu vùng

Trang 27

Tây Bắc Ngược lại, vùng Tây Bắc hàng năm thường xuất hiện một đợt gió Lào khô, nóng, gây thiệt hại cho sản xuất và khó khăn cho đời sống

Lượng mưa trong vùng ở mức cao, thường biến động từ 1.100-1.800

mm, mùa hạ chiếm 75-85% lượng mưa cả năm

1.1.4 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất: Diện tích đất tự nhiên trên toàn miền có 10.069,3 ngàn ha chiếm 30,66% tổng diện tích tự nhiên cả nước Đất đai rất đa dạng,

có hàng chục loại, nhưng đất tốt không nhiều Trong đất tự nhiên, đất nông nghiệp chiếm 12,92% Mặc dù diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng dân số vùng này không nhiều nên bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên đầu người không quá thấp nhưng lại phân bố không đều Có những vùng, người nông dân rất thiếu đất sản xuất như ở các vùng núi cao Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai

Tài nguyên nước: TDMNPB là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông Toàn vùng có 5 lưu vực sông chính và nhiều sông suối nhỏ khác tạo thành dòng chảy lớn Vùng này là đầu nguồn của các công trình thuỷ điện lớn nhất đất nước, hàng năm cung cấp cho hạ lưu trên 150 tỷ m3 nước, góp phần quan trọng vào hình thành và phát triển nền văn minh lúa nước của ĐBSH Song, do rừng bị tàn phá nặng nề nên hàng năm thường xẩy ra lũ quét, lũ ống, gây ra không ít tai hoạ cho nhân dân Nguồn nước ngầm khá phong phú nhưng khai thác thì khó khăn, hiện có 9 huyện vùng núi cao ở 2 tỉnh Cao Bằng, Hà Giang thiếu nước sinh hoạt gay gắt vào mùa khô

Thảm động thực vật: Động vật có 7 nhóm với 1000 loài gồm nhiều

động vật hoang dã tự nhiên và gia súc, đáng chú ý là bò thịt và bò sữa Thực vật có hàng nghìn loài, trong đó có các loại đặc sản và dược liệu có giá trị kinh tế cao Thảm động, thực vật ở Trung du miền núi phí Bắc cho phép vùng này phát triển nông lâm nghiệp hàng hoá rất đa dạng

Tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng ở vùng này đã một thời được coi

là "rừng vàng, biển bạc” đã sản sinh ra nhiều loại gỗ quý và song, mây, tre,

nứa, trúc sào Có nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn quả nổi tiếng Diện tích rừng hiện tại chiếm khoảng 37% diện tích tự nhiên, tỷ lệ rừng được che phủ khoảng 34% Mặc dù những năm gần đây, nhờ sự đầu tư phát triển tài nguyên rừng thông qua Chương trình 327, Chương trình 661 (Chương trình trồng 5 triệu ha rừng) cũng như sự hoạt động của các dự án bảo tồn rừng, tài nguyên rừng tuy đã được phục hồi dần nhưng vẫn còn suy kiệt

Tài nguyên khoáng sản: TDMNPB giàu tài nguyên khoáng sản bậc

nhất nước ta Hiện tại trong vùng có tới 3.500 mỏ và điểm quặng của 80 loại khoáng sản khác nhau, trong đó có 250 mỏ và 30 loại khoáng sản đã được khai thác

Trang 28

Danh lam thắng cảnh và tài nguyên nhân văn: TDMNPB có nhiều danh lam thắng cảnh, cho phép phát triển kinh tế du lịch Vinh Hạ Long đã được thế giới xếp hạng trong các kỳ quan thế giới và được coi là di sản thiên nhiên thế giới

Trong vùng có nhiều cửa khẩu quan trọng và hàng chục cặp chợ đường biên đã mở, có nhiều khu nghỉ mát lý thú và các di tích lịch sử văn hoá như Khu di tích Tân Trào, Khu di tích Điện Biên, Khu di tích Pắc Bó, Khu di tích ATK Định Hoá, Chợ Đồn mở ra cho miền núi phía Bắc nhiều triển vọng về phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ

TDMNPB còn có bờ biển ở vùng Đông Bắc dài gần 250 km với hơn

2000 đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 67.000 ha Chiếm 70% số đảo và 30% diện tích đảo của cả nước, là tiềm năng rất lớn cần được khai thác để phát triển kinh tế du lịch

1.2 Các đặc điểm tự nhiên vùng Tây Nguyên

1.2.1 Vị trí địa lý

Vùng Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, nằm cả ở phía Đông và phía Tây Trường Sơn Tây Nguyên nằm dọc biên giới Việt Lào và Việt Nam-Campuchia Với vị trí này, Tây Nguyên được coi là mái nhà của Đông Dương, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng đối với nước ta và khu vực Đông Dương

1.2.2 Địa hình

Tây Nguyên có nhiều dẫy núi cao do cấu trúc địa hình phức tạp, trong đó dãy núi Ngọc Lĩnh là đồ sộ hơn cả, kéo dài gần 200 km với đỉnh cao nhất ở độ cao 2.598 m tiếp nối là 3 đỉnh cao khác; Lum Hoe, Ngọc

K'rinh, Ngọc Bóc cao từ 1.757m-2.023m Tây Nguyên còn có những cao nguyên bằng phẳng như cao nguyên Kon Tum, Plâyku, Lâm Viên, Di Linh

và đáng kể là cao nguyên Buôn ma thuột; bên cạnh đó cũng hình thành nhiều thung lũng hẹp Địa hình cũng bị chia cắt khá phức tạp tạo nên các tiểu vùng kinh tế sinh thái khác nhau hình thành một nền nông nghiệp tương đối đa dạng hàng hoá

1.2.3 Khí hậu thời tiết

Tây Nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa một năm chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Vào mùa mưa, thời tiết khá mát mẻ, cây cối xanh tươi Lượng mưa trong mùa này chiếm tới 85-90% lượng mưa cả năm cả năm Vào mùa khô nóng thường có gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa này thiếu nước trầm trọng, sản xuất và đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn

Trang 29

1.2.4 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất: Diện tích tự nhiên toàn vùng gần 5,5 triệu ha, bằng

16,55% diện tích tự nhiên cả nước Trong đất tự nhiên, đất nông nghiệp chiếm 22,65%, đất lâm nghiệp 54,59% Đất ở Tây Nguyên có hàng chục loại, rất phong phú và hấp dẫn Đất đỏ vàng chiếm 36%, là môi trường sinh sôi cho nhiều kiểu rừng, đặc biệt là loại đất Bazan là loại đất tốt nhất nước

ta chiếm tới 32% diện tích tự nhiên, phân bổ trên các cao nguyên bằng phẳng hoặc dốc thoải, là loại đất mầu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng nhất là cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su

Tài nguyên nước: Tây Nguyên là đầu nguồn của hầu hết các con

sông ở Miền Trung và Đông Nam Bộ có tác động ảnh hưởng đến đời sống dân cư trong vùng và hàng triệu dân cư vùng phụ cận ở Nam Lào và Đông Bắc Campuchia Tây Nguyên là thượng nguồn của 4 hệ thống sông lớn: Sông Sê San, sông Ba, sông Xêrêpok và sông Đồng Nai, nhưng dòng chảy

6 tháng mùa khô chỉ chiếm 30% cả năm, nước ngầm ở độ sâu 30-50m, phân bổ không đều

Thảm động, thực vật: Thảm động thực vật ở Tây Nguyên khá phong

phú, với 5 nhóm động vật có xương sống đã có 718 loài, có nhiều loài động vật quí hiếm như thú rừng, chim rừng, bò sát, lưỡng cư Thảm thực vật cũng rất đa dạng với 3600 loài bậc cao, chiếm 1/2 số loài ở Đông Dương, trong đó có 70% số loài cho gỗ, có nhiều nhóm cây gỗ quí, cây thuốc, cây cảnh, cây có giá trị kinh tế cao như dầu, nhựa, cà phê, cao su, điều

Tài nguyên rừng: Trước đây, rừng Tây Nguyên rất phong phú, đa

dạng phân hoá thành nhiều hệ sinh thái rừng lá thưa, lá rộng, cây họ dầu chiếm ưu thế trên cao nguyên, còn lưu giữ nhiều thảm thực vật sơ khai Tuy nhiên, rừng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ suy kiệt do khai thác lấy gỗ và chặt phá để sản xuất nông nghiệp Nếu tài nguyên rừng ở Tây Nguyên không nhanh chóng được phục hồi thì sẽ xảy ra những hậu quả khó lường về môi sinh môi trường không chỉ trong vùng mà còn tác động rất lớn đến vùng Duyên hải miền Trung, vùng Đông nam bộ và 2 quốc gia láng giềng là Lào và Campu chia

Tài nguyên khoáng sản: Tây Nguyên có nhiều loại khoáng sản như

Bô xít, quặng, vàng, đá quí, than bùn, than nâu, vật liệu xây dựng Ngoài ra còn có các kim loại màu như Sn, U, Sb, Pisít, đá granít Tuy nhiên, trữ lượng khoáng sản ở Tây Nguyên không lớn như vùng Đông Bắc

Danh lam thắng cảnh và tài nguyên nhân văn: Tây Nguyên có nhiều

danh lam thắng cảnh và tài nguyên nhân văn là tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế du lịch để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Trong vùng có các thác nước đẹp như thác Buôn Tring ở Đắk Lắk, thác Prent ở Lâm Đồng; Có các hồ nổi tiếng như hộ Lắc (Đắk Lắk), hồ Than Thở (Lâm

Trang 30

Đồng); có thành phố du lịch được biết đến từ lâu như thành phố Đà Lạt; Có các khu du lịch mới hình thành như khu du lịch buôn Đôn (Đắk Lắk), khu

du lịch thác Prent (Lâm Đồng) Các bản sắc văn hoá độc đáo của đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên như: Lễ hội đâm trâu, Lễ hội cồng chiêng các nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, làm rượu cần là các tài nguyên vô giá cần được bảo tồn, một mặt giữ gìn bản sắc văn hoá tinh hoa dân tộc, một mặt tạo điều kiện phát triển kinh tế du lịch- sinh thái- nhân văn

1.3 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.3.1 Vị trí địa lý

Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực Nam nước ta, gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp ĐBSH có bờ biển dài 578 km, có gần 250 km đường biên giới với Campuchia, có sông Mê Kông dài 4200 km chảy qua 5 nước rồi đến Việt Nam, là nơi liền kề vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, có đường giao thông hàng không, hàng hải quốc tế Đây là vùng có mối quan hệ kinh tế-xã hội 2 chiều rất đa dạng Do vậy ĐBSCL có vị trí rất quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội của cả nước đặc biệt được coi là vùng trọng điểm lương thực thực phẩm của nước ta

Bờ biển có nhiều cửa sông và vịnh, trên biển có những đảo lớn như Thổ Chu, Phú Quốc, có điều kiện thuận lợi để khai thác, nuôi trồng hải sản,

có khoảng 1150 ngàn ha rừng ngập mặn có ảnh hưởng tốt đến môi trường

và phát triển kinh tế

1.3.2 Địa hình

Từ xa xưa, ĐBSCL hình thành nằm ở cửa Sông Cửu Long, nguyên là một địa hào lớn, từ từ vận động rồi sụt dần trên diện rộng, biển tiến vào hình thành vịnh, đồng thời phù sa các sông bồi tụ ngày càng lớn đọng lại ở cửa sông lấp dần vịnh biển Với đặc điểm kiến tạo tự nhiên, ĐBSCL được hình thành có nhiều cù lao, nhiều vùng trũng, là vùng châu thổ gần như bằng phẳng, phì nhiêu, mặc sức cho cò bay thẳng cánh

1.3.3 Khí hậu thời tiết

ĐBSCL mang các đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm, gần xích đạo, nhiệt

độ cao, ít chênh lệch trong năm Có 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa, ít

có bão lượng mưa trung bình gần 1.600 mm nhưng phân bố không đều giữa các tỉnh và các tháng trong năm

Hàng năm, vùng này có thường bị ngập trên dưới 2 tháng tuy ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân nhưng bù lại, mùa nước nổi đã đem đến cho ĐBSCL một nguồn lợi phù sa và thuỷ sản rất lớn

Trang 31

1.3.4 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất: Diện tích đất tự nhiên trên toàn vùng có 3.971,3

ngàn ha, bằng 12% diện tích tự nhiên cả nước, trong đó đất nông nghiệp chiếm 74,8%, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 8,5% Thổ nhưỡng trong vùng

là đất phù sa mới, có 3 nhóm đất chính: Nhóm phù sa ngọt chiếm khoảng 45% diện tích, đất tốt rất thuận lợi để trồng lúa nước Nhóm đất phù sa nhiều phèn chiếm khoảng 30% tổng diện tích, trong đó có một nửa có hàm lượng độc tố cao, mùa khô dễ nứt nẻ, canh tác khó khăn, năng xuất thấp; Nhóm đất phù sa nhiễm mặn chiếm khoảng 15% tổng diện tích, một nửa trong loại đất này có thể trồng lúa, cây ăn quả và nuôi tôm nước ngọt, còn lại chủ yếu là đất mặn phù hợp với loại sú vẹt ĐBSCL trù phú như ngày nay gồm có 3 bộ phận châu thổ Phần thượng châu thổ là phần chính, là dải đất phù sa rất phì nhiêu rộng lớn như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên Phần hạ châu thổ là nơi sông Tiền, sông Hậu tiếp giáp với biển, địa hình ở hạ châu thổ được tạo thành bởi nhiều cù lao (đảo nhỏ) Phần dải đất bằng phụ cận bán đảo Cà Mau là đồng bằng phù sa biên rìa do tác động của phù sa ven hồ Ở đây một khu vực khá rộng còn trong tình trạng đồng lầy như ven vùng U Minh thuộc địa bàn tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, một phần ở Đồng Tháp, Bến Tre

Tài nguyên nước: ĐBSCL có một mạng lưới sông, kênh, rạch dày

đặc, có nguồn thuỷ lưu ấm đem lại nhiều phù sa, phù du Có 3 con sông lớn

là sông Tiền, sông Hậu, và sông Vàm Cỏ Tổng lượng nước ngọt của hệ thống sông Cửu Long khoảng 5 tỷ m3, trong đó sông Tiền chiếm khoảng 75%, sông Hậu 20% nhưng phân bổ không đều theo mùa mưa, bắt đầu từ tháng 6-7 và kết thúc vào tháng 11-12, dễ gây lũ lụt

Thảm động thực vật: Thảm động thực vật ở ĐBSCL rất phong phú

đa dạng Vùng U Minh như là một huyền thoại, nước đỏ, rừng xanh, trong

đó rừng đặc dụng là rừng tràm, hiện có hơn 72.000 ha gồm vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) khu bảo tồn tự nhiên U Minh Thượng ( Kiên Giang), rừng đất mũi (Cà Mau) là loại rừng lớn và quý, chỉ sau rừng Amazôn ở Brazin Cây tràm như có thiên lực, tái sinh rất nhanh, trong rừng đất tốt, nhiều chim, lắm tôm cá, dùng lờ đơm bắt không khó gì, khỉ không

ít, rùa vô số, đến mùa hoa tràm người dân gác kèo khô để thu ong lấy mật, rắn cũng tha hồ vắt vẻo trên cành cây Nơi đây còn có đầy cá sấu và thú dữ, tất cả đều là nguồn thực phẩm dồi dào, có giá trị cao cho cư dân sở tại

Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản ĐBSCL rất nghèo,

chỉ co đá để sản xuất xi măng, đá granit, cát, sỏi, than bùn nhưng trữ lượng thấp Dầu khí ở thềm lục địa giáp biển Đông và vịnh Thái Lan có triển vọng khoảng 2 tỷ tấn

Trang 32

Danh lam thắng cảnh và tài nguyên nhân văn: ĐBSCL cũng có một

số danh lam thắng cảnh như núi Thiết Sam (An Giang), Đảo Phú Quốc (Kiên Giang) là các địa điểm có thể phát triển kinh tế du lịch rất tốt Tài nguyên nhân văn chủ yếu là các bản sắc tinh hoa dân tộc, nổi tiềng là những làn điệu dân ca đặc biệt như Dạ lang hoài cổ, Xang xừ liếu, ú liêu ú xang, Tết dân tộc của đồng bào Khơ me Một số nơi có các di tích lịch sử văn hoá như khu di tích cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp

2 Các đặc điểm kinh tế-xã hội

2.1 Vùng Trung du miền núi phía Bắc

Năm 2007, TDMNPB có 13,19 triệu người với hơn 40 dân tộc anh

em chung sống Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 56%, còn lại là dân tộc Kinh Dân số nông thôn chiếm khoảng 80% Đặc trưng văn hoá của hơn 40 dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc là có nền văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể khá phong phú Văn hoá vật thể là các loại nhà sàn truyền thống, nhà trệt nền đất, cối giã gạo bằng tay hoặc giã bằng sức nước, là những bộ áo quần sắc màu riêng biệt theo từng dân tộc, là tập quán trồng

và ăn gạo nếp, ưa ăn nướng, cơm lam, rượu cần, ăn trầu, hút thuốc, là những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp Văn hoá phi vật thể là các lễ hội như

lễ hội Lồng tồng (xuống đồng), lễ hội cơm mới, là các phong tục tập quán đặc sắc, các hoạt động văn hoá nghệ thuật, âm nhạc gắn với thiên nhiên, phản ánh thiên nhiên qua từng nhạc cụ tuy đơn giản nhưng độc đáo, là những điệu múa đậm đà bản sắc dân tộc như múa xoè, múa sạp, múa khèn,

là những thể loại bài hát như hát Sli, hát lượn, hát then

Cơ sở xã hội là bản (làng) và gia đình Bản/làng là tên gọi phổ biến Trong bản/làng có trưởng bản hoặc già làng là người am hiểu và có uy tín Trong bản có ít hay nhiều hộ là tuỳ theo dân tộc và vùng cảnh quan sinh sống, thường có từ 10 hộ trở lên, có bản tới hàng trăm hộ, có những quy ước riêng dù chỉ bằng lời nhưng rất nghiêm ngặt Gia đình tồn tại 2 dạng: Gia đình nhỏ và gia đình lớn, gia đình nhỏ là phổ biến, tư tưởng trọng nam khinh nữ trong gia đình vẫn chưa thay đổi được bao nhiêu, có các quy tắc khắt khe về ứng xử trong gia đình, người phụ nữ phải tuân thủ chặt chẽ

Đặc trưng của các dân tộc TDMNPB là cư trú trên 2 vùng cảnh quan

rõ rệt: vùng rẻo cao, rẻo giữa và vùng thung lũng chân núi Đồng bào thường trồng lúa nước ở những khu vực thung lũng, làm ruộng bậc thang ở vùng rẻo giữa và canh tác nương rẫy ở khu vực rẻo cao Trên mảnh đất đã chọn, nếu là nơi bằng phẳng gần nước thì cày bừa, gieo cấy, ở chỗ đất dốc thì chọc lỗ hoặc bổ lỗ bằng cuốc để tra hạt Trong canh tác nương rẫy còn thổ canh hốc đá, luân canh giữa lúa khoai, sắn hoặc xen canh với các loại rau đậu, bí và trong lối canh tác này đã sản sinh ra nhiều qui ước luật tục đồng thời cũng nẩy sinh nhiều lễ nghi thần bí kéo theo là du canh du cư,

Trang 33

rừng bị tàn phá nặng nề, môi trường suy giảm mạnh mà đời sống của đồng bào vẫn đói nghèo cực khổ Đồng bào chăn nuôi một số loại súc vật như trâu, bò, lợn, gà, dê, ngựa trâu được nuôi nhiều ở vùng thung lũng và rẻo giữa để làm ruộng, bò được nuôi nhiều ở rẻo cao để cày, bừa nương

Nghề tiểu thủ công nghiệp khá đa dạng và có truyền thống từ lâu đời,

có những sản phẩm tinh tế, thẩm mỹ cao gắn với đặc trưng tộc người và cảnh quan địa phương như nghề dệt tạo dáng hoa văn Nhiều sản phẩm thủ công nay đã thành đặc sản như thổ cẩm, đệm bông lau, bông chít, bàn ghế làm bằng song mây, đan lát nhuộm màu Đồng bào các dân tộc còn săn bắt các loại gà rừng, chồn, cáo kết hợp với bảo vệ nương rẫy, đánh cá, bắt tôm, cua, ốc hái các loại rau rừng, nấm hương, mộc nhĩ và đào bới các loại củ quả có sẵn trong tự nhiên là công việc gần như thường xuyên vào bất cứ thì gian nào để bù đắp vào khẩu phần còn thiếu trong bữa ăn hàng ngày, khai thác gỗ những năm gần đây có ít hơn nhưng vẫn không dưới 700 ngàn m3/năm, khai thác củi thì nhiều hơn 1,3-1,5 triệu m3/năm, gỗ củi khai thác được phần lớn để dùng trong gia đình, phần còn lại các hộ đem bán

Giao lưu mua bán sản phẩm và hàng hoá diễn ra ở 2 cấp độ khác nhau, ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa đến nay vẫn chưa có chợ thì việc mua bán phải thông qua các tiểu thương, họ len lỏi đến từng bản, làng mua

rẻ bán đắt, nhiều trường hợp còn mua bán theo hình thức trao đổi hiện vật

Ở những nơi đã có chợ phiên, chợ biên giới, gần đây lại có thêm chợ Trung tâm cụm xã thì việc mua bán đã có thuận lợi hơn Các chợ phiên như là ngày hội đến với đồng bào các dân tộc, không chỉ là mua bán, mà còn là gặp gỡ người thân, nơi nhen nhóm tình yêu giữa các đôi trai gái

Nhìn chung, trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động dân tộc thiểu số ở vùng này còn thấp, chỉ phù hợp với lối sản xuất

tự cung tự cấp, chưa quen với sản xuất hàng hoá, chưa quen ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật vì thiếu vốn đầu tư

Cơ sở hạ tầng đã có bước phát triển, nổi hơn là trường học và thuỷ lợi Cho đến nay, ở hầu hết các xã đều có trường học Trong vùng có xấp xỉ

100 hồ chứa nước, hơn 1200 đập dâng, khoảng 100 công trình thuỷ điện,

480 trạm bơm điện và hàng vạn công trình thuỷ nông Mạng lưới giao thông đường bộ đạt 0,25 km/m2 (mức trung bình cả nước là 0,32 km/km2) đường sắt có 7 tuyến, có 2 sân bay tập trung ở tiểu vùng Tây Bắc Tuy nhiên, nhìn chung cơ sở hạ tầng ở miền núi phía Bắc còn rất lạc hậu, xuống cấp nặng, nhiều công trình tạm, đường giao thông chất lượng rất kém, đường quốc lộ được dải nhựa chỉ khoảng 50% Ở các xã đặc biệt khó khăn thì còn yếu kém hơn nhiều, số xã có đủ 4 loại công trình chính là đường ô

tô, trường học, trạm xá, điện đang ở tỷ lệ rất thấp Cho đến nay vẫn còn khoảng trên 200 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, 30% số xã thuộc Chương trình 135 chưa có trạm y tế

Trang 34

2.2 Vùng Tây Nguyên

Trước cách mạng tháng 8/1945 chỉ có hơn 300 ngàn người, năm

1956 có 530 ngàn, năm 1976 có 1,23 triệu người, năm 2007 có 4,93 triệu người, trong đó nông thôn chiếm hơn 73% Đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây nguyên chiếm khoảng 32,6%, các dân tộc sống lâu đời ở Tây Nguyên

là Gia Rai, Êđê, BaNa, M'nông, Xê Đăng, Vân Kiều, K'Ho, Chill, Chu Ru, STiêng, Mạ dân số tăng nhanh đã làm biến đổi cơ cấu dân tộc, nguyên nhân chính là di cư từ ngoài vùng đến, nhất là di cư tự do Dân tộc ít người

ở Tây Nguyên cũng tăng nhanh xấp xỉ 3% do sinh đẻ nhiều, số con bình quân của 1 phụ nữ đều trên 6 người, các dân tộc M'nông, Êđê, BaNa,

R'măm, Giẻ triêng, Xơ Đăng có tới 7 con

Trước khi giải phóng miền Nam năm 1975, cuộc sống các dân tộc thiểu số ở đây lấy nông nghiệp làm chính, canh tác nương, rẫy theo phương thức cổ truyền với những công cụ thô sơ, một số nơi cấy được lúa nước thì làm theo phương pháp thuỷ nậu (trâu quần chứ không cày bừa) Đồng bào chăn nuôi gia súc gia cầm chủ yếu dành để cúng lễ, 1 phần tự cấp tự túc thực phẩm cho gia đình, ngoài ra nông nghiệp có nghề dệt, đan lát, làm đồ gốm, chủ yếu cũng là tự túc, để mưu sinh, trong điều kiện tự nhiên và trình

độ sản xuất thấp Trong thời chiến tranh chống Mỹ ác liệt có hàng trăm buôn làng bị giặc đốt phá, triệt hạ, đồng bào vẫn tin tưởng vào cách mạng, song cuộc sống càng thêm túng quẫn, du canh du cư tiếp diễn nhiều hơn Tuy đời sống vật chất khốn khó như vậy nhưng đồng bào vẫn sống với nhau rất bình đẳng, tinh thần tương thân tương ái cao, sẵn sàng cưu mang giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn, có đức tính thật thà, trung thực mến khách và trọng danh dự

Sau giải phóng, cuộc sống của người dân Tây Nguyên đã có nhiều thay đổi Với sự đầu tư của Nhà nước và sự nỗ lực của nhân dân các dân tộc, kinh tế-xã hội Tây Nguyên ngày càng khởi sắc Đến nay, Tây Nguyên

đã trở thành vùng cây công nghiệp xuất khẩu lớn của đất nước với những sản phẩm có giá trị kinh tế khá như: Cao su, Cà phê, Hồ tiêu, Điều và nhiều loại cây ăn quả Công nghiệp nông thôn cũng có những bước phát triển ấn tượng song chưa xứng với tiềm năng, chưa tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển mạn mẽ và ổn định

Kết cấu hạ tầng ở Tây Nguyên đang từng bước được hoàn thiện do

có sự đầu tư to lớn của Nhà nước thông qua các dự án phát triển, các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Đường bộ có mạng lưới rộng khắp dài hơn 2000 km, có đường chạy sát biên giới Việt Nam-Campuchia, có cột mốc ngã ba biên giới Đông Dương, có đường đi các tỉnh trong vùng và đến Duyên Hải miền Trung Đường hàng không có 3 sân bay đang sử dụng là sân bay Buôn Ma Thuột, sân bay Liên Khương và Plâyku Cho đến nay, số xã có đường ô tô đến trung tâm xã gần 100%, đứng thứ 2

Trang 35

sau ĐBSH Tuy nhiên, nhiều tuyến đường thôn, bản vẫn còn là đường đất, mùa mưa đi lại rất khó khăn Số xã có trường tiểu học hơn 97%, số xã có trạm y tế: 97% Số xã đã có điện: khoảng 70%, cao hơn vùng TDMNPB nhưng thấp hơn các vùng còn lại Công trình thuỷ lợi phát triển khá, đã có xấp xỉ 1000 công trình chính và trên 500 công trình tạm tưới cho trên 250 ngàn ha Tăng hơn 2,2 lần so với năm 1995 Các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước trên địa bàn Tây Nguyên khá nhiều, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của vùng

Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động dân tộc thiểu

số cũng vẫn còn ở mức thấp Tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số được đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn thấp, không đáp ứng được các yêu cầu phát triển đất nước và phát triển vùng trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới Trong những năm tới, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế Tây Nguyên mạnh mẽ,

ổn định thì việc đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng

2.3 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Dân số ĐBSCL năm 2007 là 17,52 triệu người, bằng 20,6% dân số

cả nước, trong đó dân số nông thôn chiếm 78,8% Dân số phân bố không đều, có tỉnh có mật độ dân số trên 700 người/km2 nhưng có tỉnh chỉ hơn

200 người/km2 bình quân đất nông nghiệp theo nhân khẩu ở nông thôn cao gấp 3,5 lần ở ĐBSH và 1,4 lần với cả nước

Cư dân sinh sống ở ĐBSCL có 4 dân tộc chính là Kinh, Khơ Me, Hoa, Chăm và một vài dân tộc khác Các dân tộc thiểu số có hơn 210 ngàn

hộ với khoảng 1,1 triệu nhân khẩu Trong số này, đồng bào Chăm có khoảng 15 nghìn người cư trú ở An Giang, Sóc Trăng, còn lại là đồng bào Khơ Me hơn 1 triệu người, ở các tỉnh đều có nhưng sinh sống tập trung đông nhất ở các tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng Hầu hết dân tộc ít người nhất là đồng bào Khơ Me cư trú ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135

Cơ sở hạ tầng trong vùng nhìn chung thấp kém, giao thông nổi bật là đường sông, có hơn 7.000 km chiều dài, hơn 200 bến cảng, gần 70% khối lượng hàng hoá trong vùng được vận tải bằng đường sông, giao thông đường sông ở đây có ưu điểm là giải phóng mặt bằng ít tốn kém, chi phí vận tải thấp Song, nhược điểm lớn nhất là chưa có chiến lược, chưa phân cấp và tự phát cao, còn nhiều cầu khỉ bắc qua kênh rạch, hạn chế khả năng thông thuyền Giao thông đường bộ phần rải nhựa chỉ khoảng 10%, chỉ bằng nửa mức đạt của cả nước, hầu hết đường bộ đến mùa lũ gần như tê liệt Tỷ lệ số xã có đường ô tô đến trung tâm thấp nhất cả nước

Trang 36

Trường học ở bậc tiểu học số xã đã có là 98,3% trường PTCS bình quân 1 xã, phường có 2,8 trường, cao nhất so với các vùng khác, trường PTTH bình quân theo huyện, thị xã là 3,08 trường, đứng thứ 3 sau ĐBSH

và Bắc Trung Bộ Nhìn chung, số trường học không thiếu nhưng chưa được khang trang vững chắc, đáng kể là học sinh tốt nghiệp các cấp đạt tỷ lệ thấp Trạm y tế đạt 98,3% số xã đã có, đứng thứ 3 sau vùng ĐBSH và vùng Đông Nam Bộ

Đặc trưng văn hoá dân tộc chung sống trong vùng ĐBSCL là sống xen ghép hỗn cư dễ hoà đồng với nhau Dân tộc Chăm cả nước có khoảng

100 ngàn người thì ở ĐBSCL có trên 13 ngàn người, sống tập trung ở tỉnh

An Giang Đồng bào ở nhà sàn để tránh lũ lụt, sống ở các cồn trên rạch, cù lao trên sông, quần cư thành từng Play (làng), 60-70% làm nghề buôn bán dạo ở miền xa Một số làm nghề đánh cá, nghề dệt Nông nghiệp đối với người Chăm chỉ là nghề phụ Đa số người Chăm theo đạo Hồi, nơi hành lễ

và hội họp gọi là Thánh đường Trong vùng có 14 Thánh đường chính và

16 tiểu Thánh đường Đời sống của người Chăm nhìn chung cũng không mấy khá giả

Dân tộc Hoa hiện có ở nước ta hơn 1 triệu người, sống ở ĐBSCL Khoảng 160 ngàn người cư trú trên 6 tỉnh, trong đó đông hơn là An Giang, Kiên Giang, nhiều nhất ở Sóc Trăng Người Hoa định cư đến ĐBSCL vào đầu thế kỷ thứ 18 Đa số người Hoa hoạt động dịch vụ thương mại, lương thực, thực phẩm, đồ sắt, thuốc Bắc…một số luôn hướng về lập thị trấn thị

tứ Về tín ngưỡng, đồng bào Hoa quan niệm mọi vật đều có hồn, có thần, xem bói, tướng số, cúng và đốt vàng mã Theo đạo Phật, đạo Khổng, Thiên chúa giáo, Tin lành, thờ ông Độ mạng, bà Độ mạng, ông Bổn (bản xứ), Ngũ phương, Ngũ thổ long thần, quan Thánh Đế, bà Thiên Hậu lễ tết là Nguyên tiêu, Thanh minh, tết Đoan ngọ, tết Trung thu Người Hoa thường lập hội tương tế ái hữu để làm từ thiện cho những người gặp vận hạn không may Ăn uống theo sở thích riêng, ngoài cơm thì lẩu là món ăn truyền thống cùng với hủ tiếu, mì sợi

Dân tộc Khơ Me hiện ở nước ta có hơn 1 triệu người, cư trú chủ yếu

ở ĐBSCL, tỉnh nào cũng có, nhưng tập trung nhiều Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng đông nhất là Sóc Trăng Đồng bào cư trú ở hầu hết các vùng sâu, nơi đất mũi Cà Mau Người Khơ Me đến đây sớm nhất, cư trú lẻ tẻ, sống chính bằng nghề săn bắt và làm rẫy Ở vùng giữa Châu Thổ một số đồng bào cư trú trên các giông đất cao, ven chân núi, còn số đông thì cư ở vùng sâu vùng xa, hơn 90% cư trú tập trung thành các phum, sóc là đơn vị cơ sở truyền thống, lớn hơn thì gọi là Khum, Sork Nhà ở gần như kiểu nhà của người Kinh Nông nghiệp là nghề chính, với công cụ sản xuất rất đơn sơ như phảng, nọc xom, cù nèo, lưỡi liềm, có một vài nghề phụ như làm gốm, dệt vải, đan lát, nấu đường thốt nốt Tín ngưỡng đồng bào Khơ Me là đạo

Trang 37

phật theo hai hệ môn phái Hoàng tộc và đại chúng, đạo phật trở thành lý tưởng sống của người Khơ Me Con trai tuổi từ 15-17 tuổi phải vào chùa học đạo 3 năm, học tiếng Khơ Me, tiếng Phạn và chủ yếu là học kinh phật, một số ít theo đạo Hồi, Tin lành, Thiên chúa giáo, Islan giáo, Hoà hảo, Cao đài, Niêkta, Srặc

Chùa là biểu tượng đặc trưng của phật giáo, cả vùng có gần 500 chùa, kiến chúc chùa độc đáo các tỉnh có nhiều chùa là: Trà Vinh: 141, Sóc Trăng: 89, An Giang: 68 chùa là nơi gửi gấm lòng tin, là trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần Trong từng phum, sóc, sư sãi nhà chùa có vai trò quan trọng Lễ hội xưa kia có tới 20 lần trong năm, nay đã giảm hẳn, chỉ còn tết, lễ chính như tết vào năm mới, lễ cúng ông bà, lễ cúng trăng, lễ mừng lúa mới Những lễ tết này chung vui trong cả cộng đồng, trong đó lễ Oóc-Om-Boóc là lễ hội lớn nhất được tổ chức vào cuối tháng 10 âm lịch, còn được gọi là lễ cúng trăng, lễ cốm dẹp hay lễ tiễn thần nước Trong lễ hội này nhiều sinh hoạt văn hoá được tổ chức rất độc đáo như xem thể thao, xem đua ghe ngo, thả đèn gió, thả đèn nước

Văn hoá tinh thần của người Khơ Me rất phong phú, hầu hết các phum, sóc đều có dàn nhạc, đội ngũ âm với hàng chục làn điệu dân ca được diễn tấu trong các ngày hội, trong các lễ nghi sinh hoạt, tiệc tùng, đám cưới Ngoài các lễ hội chung, các gia đình còn thường thờ ông Bổn, cúng thần ruộng, thần lúa, thần Mục súc Luật tục cũng rất nghiêm khắc, phức tạp, nhất là những lễ tiệc trong đám tang

Đời sống vật chất của nhân dân các dân tộc thiểu số còn thấp, nhất là đồng bào Khơ Me Phần lớn đồng bào cư trú ở khu vực đặc biệt khó khăn Trong số 186 xã thuộc chương trình 135 năm 2000 ở ĐBSCL đều là những

xã thuộc khu vực III có đồng bào Khơ Me sinh sống chiếm trên dưới 40% dân số, thu nhập bình quân đầu người của đồng bào Khơ Me chỉ bằng trên dưới 50% thu nhập của đồng bào các dân tộc khác Thêm vào đó, ý thức tiết kiệm của đa số đồng bào Khơ Me chưa trở thành tập quán rộng rãi, vẫn còn nhiều người đi vay để tiêu xài, khó trả nợ nên đời sống của đồng bào vẫn còn bị nghèo đói bám riết

Trang 38

Phần thứ ba THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ

I TỔNG QUAN VỀ DẠY NGHỀ CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ

1 Mạng lưới cơ sở dạy nghề ở vùng DTTS

Mạng lưới cơ sở dạy nghề ở các tỉnh có đồng bào DTTS bước đầu có

sự phát triển Theo số liệu thống kê, đến năm 2008 có 10 trường CĐN nghề, 43 trường TCN, 110 TTDN huyện So với năm 2001 thì tổng số cơ

sở dạy nghề đã tăng thêm 119 cơ sở, trong đó trường dạy nghề tăng thêm

18 trường; TTDN tăng thêm 101 trung tâm Tuy nhiên, đa số các cơ sở dạy nghề đó tậo trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn

Các tỉnh có hệ thống cơ sở dạy nghề phát triển nhanh là: Lạng Sơn (14 cơ sở), Hòa Bình (17 cơ sở dạy nghề), Đắc Lắc (30 cơ sở), Sóc Trăng (13 cơ sở) Tuy nhiên, vẫn còn một số tỉnh hệ thống cơ sở dạy nghề phát triển rất chậm như: Lai Châu (tính đến nay mới chỉ có 3 cơ sở dạy nghề đang hoạt động), Đắc Nông (3 cơ sở) [5]

2 Quy mô tuyển sinh dạy nghề ở vùng DTTS

Theo báo cáo của 41 địa phương có người DTTS đang sinh sống, số người DTTS học nghề năm 2007 là 60.414 người, chiếm 4,3%; năm 2008

dự kiến là 59.120 người, chiếm 4,2%, trong đó:

- Số học sinh học nghề dài hạn, trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề năm 2007 là 9.998 người, chiếm tỷ lệ 3,4%; năm 2008 dự kiến là 12.486 người, chiếm tỷ lệ 4,2%

- Số người DTTS học nghề ngắn hạn và trình độ sơ cấp nghề năm

2007 là 50.426 người, chiếm tỷ lệ 4,5%; năm 2008 dự kiến 47.520 người, chiếm tỷ lệ 4,3%

Nhìn chung, tỷ lệ thanh niên DTTS đi học nghề còn thấp so với dân

số và so với số người được đào tạo nghề (chiếm 13,8% dân số và chiếm 4,2% số người đi học nghề) [5]

3 Các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy nghề ở vùng DTTS

3.1 Đội ngũ giáo viên dạy nghề

Biên chế giáo viên hiện nay vẫn không đủ, đặc biệt trung tâm dạy nghề không có biên chế cho giáo viên cơ hữu mà chỉ có 2 đến 3 biên chế cho cán bộ quản lý Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề thuộc vùng DTTS cũng đã có bước phát triển nhất định Nhưng

Trang 39

so với yêu cầu thì đội ngũ giáo viên dạy nghề của các cơ sở dạy nghề vẫn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, nhất là kỹ năng tay nghề

Giáo viên dạy nghề là người DTTS chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số giáo viên cơ hữu và giáo viên dạy nghề Ở các trường cao đẳng nghề, tỷ lệ giáo viên dạy nghề là người DTTS so với giáo viên cơ hữu là 1,2%, với giáo viên dạy nghề là 1,43%; các trường trung cấp nghề thì tỷ lệ này lần lượt là 1,13% và 1,28%; và đối với các trung tâm dạy nghề tỷ lệ này cũng chỉ ở mức lần lượt 1,13% và 1,18%

Hiện nay, phần nhiều vẫn còn có những trung tâm dạy nghề không

có giáo viên dạy nghề cơ hữu, mà chỉ sử dụng giáo viên dạy nghề thỉnh giảng Nhiều cán bộ quản lý các cơ sở dạy nghề (đặc biệt ở các trung tâm dạy nghề) chưa qua đào tạo nghiệp vụ quản lý dạy nghề Một số hiệu trưởng trường TCN, giám đốc trung tâm dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình

độ đào tạo, một số giám đốc trung tâm dạy nghề ở huyện do trưởng, phó phòng huyện kiêm nhiệm [5]

3.2 Chương trình, giáo trình dạy nghề

Các cơ sở dạy nghề đã tiến hành xây dựng chương trình, giáo trình

dạy nghề quy định của Bộ LĐ-TB&XH và hướng dẫn của Tổng cục Dạy nghề

Tính đến nay, Bộ LĐ-TB&XH đã ban hành 48 chương trình khung trình độ cao đẳng nghề và trình độ trung cấp nghề tạo điều kiện cho các trường triển khai xây dựng chương trình dạy nghề Có một số trường thuộc vùng các tỉnh có đồng bào DTTS cũng đã tham gia xây dựng chương trình khung, gồm Trường CĐSPKT Vĩnh Long và các Trường CĐN: Cần Thơ,

Đà Lạt, Sông Đà, Thanh niên DTTS Tây Nguyên Từ nay đến cuối năm

2008, Bộ LĐTB&XH sẽ tiếp tục ban hành tiếp 60 bộ chương trình khung trình độ trung cấp và cao đẳng Ngoài các chương trình dạy nghề trình độ trung cấp và cao đẳng, thì trên 40 chương trình đào tạo ngắn hạn tương ứng với trình độ sơ cấp và chương trình dạy nghề thường xuyên đã được xây dựng trong khuôn khổ Dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề do ADB, AFD, JICA và NDF tài trợ và Dự án Tăng cường năng lực các Trung tâm Dạy nghề do Thụy Sĩ tài trợ Các chương trình này đã được cung cấp cho các trung tâm dạy nghề trong cả nước, đặc biệt phù hợp cho đối tượng là người DTTS Nhiều cơ sở dạy nghề đang áp dụng các chương trình này rất

có hiệu quả

Tuy nhiên, quá trình xây dựng chương trình, giáo trình của các cơ sở dạy nghề ở vùng DTTS còn gặp nhiều khó khăn do khả năng của đội ngũ giáo viên dạy nghề còn hạn chế

Trang 40

3.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề

Nhiều cơ sở dạy nghề đã được đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương, hỗ trợ bằng nguồn ngân sách Trung ương thông qua Chương trình mục tiêu Quốc gia để nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, cụ thể như sau:

- Các cơ sở dạy nghề được đầu tư tập bằng Ngân sách địa phương và Trung ương: Trường TCN Sơn La; Trường TCN Lào Cai; Trường TCN Cao Bằng; Trường TCN Gia Lai; Trung tâm dạy nghề AYun Pa, An Khê tỉnh Gia Lai; Trường CĐN Sóc Trăng và các trung tâm dạy nghề thuộc tỉnh Sóc Trăng

- Các cơ sở dạy nghề được đầu tư từ nguồn vốn ODA: Trường CĐN Thanh niên Dân tộc Tây Nguyên, Trường CĐN Đà Lạt, Trường CĐN Cần Thơ, Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (được đầu tư từ Dự

án GDKT&DN, Trung cấp Y tế Điện Biên); TCN Việt-Đức, Lạng Sơn (đầu

tư từ Dự án Chương trình đào tạo nghề do Đức tài trợ)

Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều cơ sở dạy nghề ở các tỉnh có nhiều đồng bào DTTS vẫn còn chưa được đầu tư thỏa đáng để nâng cấp cơ sở vật chất, nhiều cơ sở dạy nghề vẫn còn tình trạng thiếu trang thiết bị dạy nghề hoặc có trang thiết bị nhưng lạc hậu; một số trường dạy nghề chưa xây dựng khu ở nội trú nên không thu hút được học sinh DTTS vào học như Trường TCN Hà Giang, Trường TCN Miền núi Thanh Hoá, Trường TCN Bắc Quảng Nam, Trường TCN Cao Bằng

II THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở CÁC TỈNH ĐIỀU TRA GIAI ĐOẠN 2005-2007

1 Tình hình phát triển hệ thống đào tạo nghề ở các tỉnh điều tra

1.1 Tỉnh Lào Cai

Đến nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã hình thành được một hệ thống đào tạo nghề gồm các trường, các trung tâm dạy nghề: Trường trung cấp kinh tế-kỹ thuật; Trường trung cấp nghề; Trung tâm đào tạo lao động-việc làm thành phố Lào Cai, Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân tỉnh, Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe cơ giới thuộc Công ty

cổ phần vận tải Lào Cai và 2 doanh nghiệp tư nhân đăng ký mở lớp dạy nghề (Công ty TNHH Tân Á Anh, Công ty Phú Minh)

Ngoài ra trong tỉnh cũng có một số cơ sở: HTXTTCN, hộ gia đình cũng có các hoạt động đào tạo nghề theo hình thức vừa học vừa làm nhưng các đối tượng học nghề tại các cơ sở này không được cấp chứng chỉ nghề

và hiện nay cũng chưa có số liệu chính xác về các HTXTTCN, các hộ gia đình tham gia đào tạo nghề theo hình thức này

Ngày đăng: 31/07/2014, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
2. Nguyễn Đình Chính – Tổng quan các đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội liên quan đến công tác đào tạo nghề và sử dụng thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
3. Nguyễn Đình Chính – Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
4. Lê Văn Chương – Tổng lược các chính sách liên quan đến công tác đào tạo và sử dụng lao động thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề.Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
5. Lê Văn Chương – Tổng quan hệ thống dạy nghề ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay . Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
6. Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại QĐ 103/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 Khác
7. Phạm Thị Thuý Hà- những vấn đề lý luận liên quan đến công tác đào tạo và sử dụng lao động là thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
8. Trương Thị Bích Hạnh – Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
9. Trần Thị Hồng Liên - Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường lao động ở vùng dân tộc thiểu số. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
11. Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005 của Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Khác
13. Trần Chi Mai - Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng sử dụng lao động là thanh niên DTTS đã qua đào tạo nghề. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
15. Nghị định 05/2005/NQ-CP của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề Khác
16. Nghị định 43/NĐ-CP ngày 8/4/2008 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Điều 62 và 72 của Luật Dạy nghề Khác
17. Nguyễn Tiến Mạnh - Định hướng chính sách đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số và sử dụng lao động thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
18. Nguyễn Tiến Mạnh - Các giải pháp hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề tự tạo việc làm trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nghiên cứu chuyên đề, 2008 Khác
19. Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010 Khác
20. Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Khác
21. Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với DTTS nội trú Khác
22. Quyết định 86/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề Khác
23. Quyết định số 1121/1997/QĐ-TTg ngày 23/12/1997 và Quyết định số 194/2001/QĐ-TTg ngày 21/12/2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Chi ngân sách Nhà nước cho dạy nghề từ 2003 đến 2007 - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 1. Chi ngân sách Nhà nước cho dạy nghề từ 2003 đến 2007 (Trang 20)
Hình 2. Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước cho dạy nghề từ 2003 đến 2007 - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 2. Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước cho dạy nghề từ 2003 đến 2007 (Trang 21)
Bảng 2.2. Hệ thống đào tạo nghề ở tỉnh Lào Cai - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Bảng 2.2. Hệ thống đào tạo nghề ở tỉnh Lào Cai (Trang 41)
Bảng 2.3. Hệ thống đào tạo nghề ở tỉnh Đắk Lắk - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Bảng 2.3. Hệ thống đào tạo nghề ở tỉnh Đắk Lắk (Trang 42)
Bảng 2.4. Hệ thống đào tạo nghề ở tỉnh Sóc Trăng - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Bảng 2.4. Hệ thống đào tạo nghề ở tỉnh Sóc Trăng (Trang 43)
Bảng 2.5. Nguồn cung cấp thông tin đào tạo nghề cho thanh niên DTTS - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Bảng 2.5. Nguồn cung cấp thông tin đào tạo nghề cho thanh niên DTTS (Trang 44)
Hình 3. Kết quả đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở Lào Cai - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 3. Kết quả đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở Lào Cai (Trang 45)
Hình 4. Kết quả đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở Đắc Lắc - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 4. Kết quả đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở Đắc Lắc (Trang 46)
Hình 5. Kết quả đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở Sóc Trăng - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 5. Kết quả đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở Sóc Trăng (Trang 46)
Bảng 2.6. Cơ cấu đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở các tỉnh điều tra - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Bảng 2.6. Cơ cấu đào tạo nghề cho thanh niên DTTS ở các tỉnh điều tra (Trang 48)
Hình 7. Trình độ văn hoá của thanh niên DTTS chưa qua đào tạo ở xã  ĐắkNuê huyện Lắc tỉnh Đắk Lắk - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 7. Trình độ văn hoá của thanh niên DTTS chưa qua đào tạo ở xã ĐắkNuê huyện Lắc tỉnh Đắk Lắk (Trang 50)
Hình 6. Trình độ văn hoá của thanh niên DTTS chưa qua đào tạo ở xã  Trì Quang huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 6. Trình độ văn hoá của thanh niên DTTS chưa qua đào tạo ở xã Trì Quang huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai (Trang 50)
Bảng 2.7. Một số thông tin cơ bản về lao động thanh niên DTTS  chưa qua đào tạo nghề - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Bảng 2.7. Một số thông tin cơ bản về lao động thanh niên DTTS chưa qua đào tạo nghề (Trang 51)
Hình 8. Trình độ văn hoá của thanh niên DTTS chưa qua đào tạo ở xã  Lâm Kiết huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 8. Trình độ văn hoá của thanh niên DTTS chưa qua đào tạo ở xã Lâm Kiết huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng (Trang 51)
Hình 9. Các khó khăn chính của lao động thanh niên DTTS   ở xã Trì Quang có nguyện vọng được đào tạo nghề - điều tra thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên dân tộc thiểu số nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số giai đoạn cnh-hđh
Hình 9. Các khó khăn chính của lao động thanh niên DTTS ở xã Trì Quang có nguyện vọng được đào tạo nghề (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm