Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục 1.3 Tư tưởng Hồ Chớ Minh về mục đớch, nội dung, phương thức phỏt triển của nền giỏo dục mới 22 Chương 2: Thực trạng Phát triển nền giáo
Trang 1Häc viÖn chÝnh trÞ – hµnh chÝnh quèc gia
Cơ quan chủ trì: Viện Triết học
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Nga
Thư ký khoa học: Th.s Hoàng Thị Kim Oanh
8275
HÀ NỘI - NĂM 2010
Trang 2DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 TS Hoàng Anh – Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Báo Chí và Tuyên truyền
2 PGS, TS Nguyễn Văn Cư – Khoa Giáo dục chính trị, Đại học Sư phạm Hà Nội
3 Th.s Nguyễn Thanh Hà – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh
4 Th.s Đào Hữu Hải – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh
5 GS, TS Nguyễn Hùng Hậu – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh
6 TS Nguyễn Chí Hiếu – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh
7 Th.s Phạm Anh Hùng – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh
8 CN Phạm Quang Hùng - Phòng Đào tạo, Trường Trung học cảnh sát nhân dân 1
9 Th.s Vũ Thanh Hương - Vụ QLĐT, Học viện CT - HCQG Hồ Chí Minh
10 PGS, TS Nguyễn Thế Kiệt – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh
11 CN Ngô Thị Nụ – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh
12 Th.s Hoàng Thị Kim Oanh – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh
13 PGS, TS Trần Sỹ Phán – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh
14 PGS, TS Trần Văn Phòng – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh
15 Th.s Đỗ Thị Bích Thảo – Bộ môn Mác - Lênin, Học viện An ninh
16 GS, TS Trần Phúc Thăng – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh
17 GS.TS Mạch Quang Thắng – Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh
18 Th.s Hoàng Thu Trang – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh
Trang 31.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục
1.3 Tư tưởng Hồ Chớ Minh về mục đớch, nội dung,
phương thức phỏt triển của nền giỏo dục mới
22
Chương 2: Thực trạng Phát triển nền giáo dục của
nước ta hiện nay và vấn đề đặt ra cho việc
phát triển giáo dục những thập niên đầu
Chương 3 : phát triển nền giáo dục Việt Nam NHững
thập niên đầu thế kỷ XXi theo tư tưởng Hồ
Chí Minh - Quan điểm và giảI pháp cơ bản
76
3.1 Quan điểm cơ bản phát triển nền giáo dục Việt Nam
những thập niên đầu thế kỷ XXI theo tư tưởng Hồ
Chí Minh
76
3.2 Một số giải phỏp phỏt triển nền giỏo dục Việt Nam
những thập niờn đầu thế kỷ XXI theo tư tưởng Hồ
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Coi trọng phát triển giáo dục là quan điểm nhất quán của Đảng
ta trong thời kỳ đổi mới Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng xác định: “Khoa học và
công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu”
Đó cũng là tinh thần chỉ đạo cơ bản thể hiện trong các Văn kiện Đại hội của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương
Đảng (khoá VIII) và kết luận Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung
ương (khoá IX) về phát triển giáo dục và đào tạo đã được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ
Thực tế, trong thời gian đổi mới, công tác giáo dục đào tạo đã được
Đảng và Nhà nước cũng như đông đảo các nhà khoa học và quần chúng nhân dân quan tâm Ngoài những thành tựu quan trọng và tiến bộ đáng kể
đã được xã hội ghi nhận, công tác giáo dục đào tạo cũng bộc lộ những bất cập trước yêu cầu phát triển đất nước
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII- 1996)
đã nhận định, một bộ phận sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái về
đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, có lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng, trong mấy năm qua, công tác giáo dục ở nước ta
“có phần thừa về dạy “chữ”, ít “dạy nghề”, không chú trọng dạy người”
Đánh giá tình hình giáo dục Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI,
trong “Dự thảo chiến lược giáo dục 2009-2020 (lần thứ 14)” do Bộ Giáo
dục và Đào tạo công bố, bên cạnh việc đánh giá những thành tựu đã đạt
được về quy mô, chất lượng giáo dục cũng như công tác quản lý giáo dục,
dự thảo cũng khẳng định vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém Quan sát bề mặt xã hội cũng cho thấy, trình độ văn hoá và dân trí ở nước ta còn thấp, biểu hiện trên lối sống, suy nghĩ, tác phong, ý thức trách nhiệm cộng đồng, đạo
đức… bị xói mòn tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống xã hội Hơn thế,
Trang 5nước ta không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, chất lượng lao
động thấp… Đến thời điểm hiện nay, những hạn chế, yếu kém trên vẫn chưa được khắc phục, thậm chí có phần gia tăng ở nhiều chiều cạnh Đánh giá tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết đại hội X của Đảng trong nửa
đầu nhiệm kỳ về phát triển giáo dục- đào tạo, Ban chấp hành Trung ương khoá X đã ghi nhận những điều trên1 Đó là những thách thức mà thực tiễn
đang đặt ra cho công tác giáo dục Bên cạnh đó, những thập niên đầu của thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế và trong nước cũng đặt ra nhiều cơ hội, thách thức lớn đối với việc phát triển giáo dục
1.2 Kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới cho thấy, coi trọng và phát triển giáo dục là bí quyết của sự thành công, là con đường ngắn nhất, đi tắt, đón đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các quốc gia Từ góc độ xã hội, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội ở từng giai đoạn tương ứng, giáo dục góp phần phát triển kinh tế, góp phần ổn định an sinh xã hội Từ góc độ con người, giáo dục góp phần nâng cao vị thế con người trong xã hội, nâng cao hiểu biết, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nhiều kỹ năng xã hội cần thiết khác để con người phát triển cũng như mưu cầu hạnh phúc Khẳng định vấn đề này, UNESCO đưa ra tuyên bố: “ Không có sự tiến bộ và thành
đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không
đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản” Phát triển giáo dục, phát triển con người, phát triển xã hội
có mối quan hệ chặt chẽ Một quốc gia muốn phát triển phải coi trọng phát triển giáo dục, ngược lại, phát triển giáo dục lại là công cụ đòn bẩy cho sự phát triển bền vững của một quốc gia
Từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục là “quốc sách hàng
đầu”, là gốc cho đại kế trăm năm Tinh thần này đã được quán triệt trong
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, BCHTU khoá X, Nxb CTQG, H, 2009, tr
36-38
Trang 6những chủ trương lớn của Đảng Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là
điều kiện để phát triển nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”1
1.3 Từ thực tiễn giáo dục nước ta thời gian vừa qua, từ vai trò quan trọng của giáo dục cũng như kinh nghiệm của các nước cho thấy việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển nền giáo dục Việt nam là một nhu cầu cấp bách Việc khắc phục những yếu kém, bất cập của nền giáo dục trong thời gian qua, việc phát triển nền giáo dục đào tạo có khả năng đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phát triển đất nước, việc phát triển nền giáo dục theo chủ trương coi giáo dục là quốc sách hàng đầu… là những yêu cầu cơ bản của việc phát triển giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XXI, đòi hỏi giáo dục cần
có những bước tiến
Hướng tới phát triển nền giáo dục trong thế kỷ XXI, ngoài việc tổng kết thực tiễn nền giáo dục nước nhà, ngoài việc kế thừa, phát huy những giá trị trong tư tưởng giáo dục truyền thống, kế thừa tinh hoa và kinh nghiệm giáo dục của các nước, phát triển giáo dục Việt Nam cần đặc biệt
được soi sáng bởi tinh hoa tư tưởng Hồ Chí Minh Bởi lẽ, với tư cách là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Trong lĩnh vực giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng lớn mà luôn là người thầy mẫu mực rất quan tâm chăm sóc cho sự nghiệp trồng người của dân tộc Ngay từ khi nước nhà độc lập, trên cương vị là Chủ tịch nước, Người đã rất chú trọng đề cao sự nghiệp giáo dục Vì thế, Hồ Chí Minh được coi là một nhà giáo dục vĩ đại Cùng với thời gian, dù có rất nhiều biến đổi ở trong nước cũng như thế giới, nhưng những chỉ dẫn về giáo dục của Người vẫn giữ nguyên tính khoa học, tính
Trang 7cách mạng, có ý nghĩa phương pháp luận lớn lao đối với sự nghiệp đổi mới
và phát triển giáo dục nước ta
Phát triển nền giáo dục Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã
được khẳng định trong luật giáo dục Việt Nam Thực tế thời gian qua nền giáo dục Việt Nam đã thực sự phát triển theo những chỉ dẫn của Người? Bằng cách nào để phát triển giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế
kỷ XXI theo tư tưởng Hồ Chí Minh? Với những lý do trên, chúng tôi lựa
chọn vấn đề “Phát triển nền giáo dục Việt Nam thế kỷ XXI dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phát triển giáo dục và nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển giáo dục đã được Đảng, Nhà nước, các tổ chức và các nhà nghiên cứu khoa học quan tâm Đặc biệt, từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991), trên cơ sở khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân, đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển giáo dục càng được đẩy mạnh Tinh thần này được thực hiện theo các hướng:
Thứ nhất: Trong các văn kiện chính thống của Đảng và Nhà nước
Tổng kết 15 năm đổi mới (1986- 2000), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) khẳng định những bài học đổi mới Đại hội VI, VII, VIII của Đảng nêu ra đến nay vẫn còn giá trị rất lớn Một trong những bài học chủ yếu được khẳng định lại là “quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta Có thể thấy, đó là những quan điểm chỉ đạo nhất quán, định hướng cho sự nghiệp phát triển toàn diện xã hội Việt Nam thế kỷ XXI, trong đó có giáo dục
Trang 8Ngược dòng thời gian cho thấy, vấn đề xây dựng nền giáo dục của dân tộc luôn được Đảng và Bác Hồ cũng như đại đa số người dân Việt
Nam quan tâm Đề cương văn hoá Việt Nam ra đời năm 1943 là dấu mốc
quan trọng, trong đó những tư tưởng dân tộc, khoa học, đại chúng là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục cách mạng ở nước ta
Thời kỳ đổi mới, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta xác định: “Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu”
Đó cũng là tinh thần chỉ đạo cơ bản thể hiện trong các Văn kiện Đại hội
VII, Đại hội VIII của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá VIII) (ngày 24 – 12 – 1996) nêu rõ tư
tưởng chỉ đạo và mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá (đến năm 2020) Luật Giáo dục (luật số
11/1998/QH10 ngày 2 – 12 – 1998) đã cụ thể hoá tinh thần trên bằng
các qui định pháp luật cụ thể Tiếp nối tinh thần của các đại hội trước, văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX khẳng định, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Cụ thể hoá quan điểm chỉ đạo của Đảng, ngày 28-12-2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 201/2001/QĐ- TTg về
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 với những phướng hướng,
mục tiêu và những giải pháp lớn phát triển giáo dục giai đoạn 2001-
2010 Các nội dung cụ thể được thể hiện trong các quy định của Nghị quyết
- Quyết định số 25/ 2005/QĐ-TTg ngày 27-1-2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc quy định danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống quốc dân đề cập các nội dung giáo dục chủ yếu của các cấp học trong hệ thống
Trang 9- Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18-4-2005 của Chính phủ về
việc xã hội hoá các hoạt động giáo dục y tế, văn hoá và thể dục thể thao Trên cơ sở khảo sát tình hình thực hiện xã hội hoá các hoạt động trên, Nghị quyết đưa ra quan điểm và định hướng, các mục tiêu, các giải pháp
và cơ chế chính sách lớn, cơ chế tổ chức thực hiện để đẩy mạnh các hoạt
động này trong giai đoạn 2005-2010
- Luật Giáo dục (luật số 38/2005/QH11, ngày 14-6-2005) với 120
điều bao gồm các quy định chung về mục tiêu, tính chất, nguyên lý giáo dục, nội dung, phương pháp, chương trình và các điều quy định cụ thể của các cấp học, các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục, vấn đề quản lý nhà nước về giáo dục…
- Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD và ĐT ngày 24-6-2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển xã
hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010” thể hiện quan điểm và định
hướng chung, định hướng và mục tiêu phát triển xã hội hoá ở các cấp học, trình độ và loại hình giáo dục, các giải pháp và cơ chế đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục
- Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về “Đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020” đã đưa ra quan điểm chỉ
đạo, các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể với các nhiệm vụ và giải pháp nhằm đổi mới toàn diện ở bậc giáo dục đại học Việt Nam đến 2020
Cuối tháng 12/2008, những tháng đầu năm 2009, dự thảo Chiến lược
giáo dục 2009- 2020 lần thứ 13 và lần thứ 14 đã được Bộ GD - ĐT công
bố Bản dự thảo đã khái lược, đánh giá những thành tựu, yếu kém cũng như nguyên nhân của thành tựu, yếu kém của tình hình giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, đồng thời chỉ ra các cơ hội, thách thức trong quá trình phát triển giáo dục Các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục
với định hướng chung: “Phát triển sự nghiệp giáo dục cần đặt trên một hệ
thống triết lý Đó là hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
Trang 10cần được vận dụng một cách sáng tạo phù hợp thực tiễn giai đoạn mới”1 Tình hình phát triển giáo dục thời gian gần đây cũng được đánh giá và chỉ
đạo trong văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khoá X
Thứ hai, các công trình tiêu biểu nghiên cứu hướng tới nền giáo dục Việt Nam thế kỷ XXI
Liên quan đến chủ đề này, GS Phạm Minh Hạc, nhà nghiên cứu giáo dục cũng là nhà quản lý giáo dục đã có rất nhiều công trình, bài viết
Năm 1994, bài viết: “UNESCO: Chuẩn bị giáo dục cho thế kỷ
XXI”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (tháng 2/1994), đã đề cập đến bốn
quan điểm trụ cột của UNESCO về giáo dục trong thế kỷ XXI là: “Học
để biết, học để làm việc, học để cùng chung sống (học cách sống với người khác), học để làm người (học để tự khẳng định mình)” Năm
1997, bài viết: “Giáo dục thế kỷ XXI: Bảy vấn đề cần phải giải quyết”,
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (tháng 12/1997) đã đề cập đến những vấn
đề quan trọng mà nền giáo dục thế kỷ XXI không thể bỏ qua bao gồm: Quan hệ giữa toàn cầu và địa phương, giữa toàn thể và cá thể, giữa truyền thống và hiện đại, giữa lâu dài và trước mắt, giữa cạnh tranh và bình đẳng cơ hội, giữa khối lượng tri thức ngày càng tăng quá nhanh với khả năng tiếp thu có hạn của mỗi người, giữa tinh thần và vật chất Sách
“Phát triển giáo dục phát triển con người phục vụ phát triển xã hội –
kinh tế” (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1996), một trong nhiều nội
dung tác giả đề cập khái lược đánh giá thành tựu 50 năm nền quốc học nhân dân từ khi cách mạng Tháng Tám thành công đến sau 10 năm Việt Nam đổi mới, tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục cũng được
đề cập với tư cách là người vạch ra phương hướng cơ bản của chiến lược con người, chiến lược giáo dục ở nước ta suốt thời gian qua và cả trong
thời gian sắp tới Sách “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ
XXI” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1999) Sách “Về giáo dục” (do GS
Phạm Minh Hạc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2003)
Trang 11Bên cạnh đó cũng có nhiều sách của các tác giả khác bàn về vấn
đề này
Sách “Giáo dục Việt Nam thời hội nhập” (Nhà xuất bản lao động-
2007) tập hợp nhiều bài viết của các tác giả, đề cập đến những tư tưởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác bàn về giáo dục, kinh nghiệm phát triển giáo dục, những ý kiến chỉ đạo định hướng phát triển giáo dục cho nền
giáo dục nước ta những năm đầu thế kỷ XXI Sách “Giáo dục Việt Nam
hướng tới tương lai – Vấn đề và giải pháp” của tác giả Đặng Quốc Bảo-
Nguyễn Đắc Hưng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004) đề cập một cách hệ thống và khái lược về nền giáo dục Việt Nam với những phương
hướng nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục Việt Nam trong thế ký XXI Sách “Cải
cách và chấn hưng giáo dục” do GS Hoàng Tụy (chủ biên), (Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh 2005) Sách “Những vấn đề giáo dục hiện nay -
Quan điểm và giải pháp” (Nhà xuất bản Tri thức, 2007) tập hợp các bài
viết về thực trạng giáo dục Việt Nam, những nghiên cứu, ý kiến trao đổi về những vấn đề cụ thể mà giáo dục Việt Nam đang phải đối mặt, cũng như những kiến nghị, đề xuất, định hướng cho giáo dục Việt Nam trong điều
kiện hiện nay Sách “Suy nghĩ về khoa học và giáo dục trong xã hội
đương đại Việt Nam” của GS Vũ Cao Đàm (Nhà xuất bản Khoa học kỹ
thuật, 2007) đề cập đến những trăn trở, suy tư của người làm giáo dục lâu năm với chính sách khoa học giáo dục của Nhà nước trước một thế giới
đầy biến động
Ngoài các công trình nghiên cứu trong nước, một số công trình nghiên cứu về giáo dục hiện đại cũng đã được dịch và xuất bản
Sách “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” của học giả
Edgar Morin do dịch giả Nguyễn Hà Thủ dịch (Nhà xuất bản tri thức, 2008) phân tích bảy tri thức tất yếu mà nền giáo dục tương lai cần tính tới như sai lầm và ảo tưởng; những nguyên tắc để có nhận thức đúng; giáo dục
phải hướng đến một “đạo lý con người”… Sách “Triết học giáo dục hiện
Trang 12đại” của tác giả Lương Vi Hùng và Khổng Khang Hoa, dịch giả Bùi Đức
Thiệp dịch, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2008), các tác giả đã bàn sâu
về các vấn đề chung của giáo dục như bản chất giáo dục, chức năng, mục
đích, phương pháp giáo dục với những dẫn chứng từ thực tế giáo dục Trung Quốc trong những thập niên vừa qua trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác và các nhà lãnh đạo Trung Quốc Gần đây, dự thảo chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 cũng thu hút sự quan tâm đóng góp
ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước như nguyên Thủ tướng Singapo, nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà giáo dục Hồ Ngọc
Đại…
Thứ ba, một số công trình tiêu biểu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về giáo dục và việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển giáo dục:
Sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với chính sách xã hội”, (Lê Sĩ Thắng chủ biên) (NXB Chính trị Quốc gia, 1996) Sách “Tư tưởng
triết học Hồ Chí Minh” (GS.TS Lê Hữu Nghĩa chủ biên) (Nhà xuất bản
Lao động Hà Nội, 2002 – in lần thứ hai) Sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh
với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” của
tác giả Thành Duy (NXB Chính trị Quốc gia, 2001) Sách “Tư tưởng Hồ
Chí Minh và thời đại” của tập thể tác giả, gồm nhiều bài viết, dưới
nhiều góc độ trong đó có bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”,
đặc biệt nhấn mạnh giá trị tư tưởng của Người ở khía cạnh giáo dục thế
hệ trẻ, giáo dục nhân dân, giáo dục cán bộ đảng viên Sách “Danh nhân
Hồ Chí Minh” của tập thể tác giả, đề cập đến nhiều lĩnh vực, trong đó,
Hồ Chí Minh được khẳng định là nhà tư tưởng giáo dục, nhà sư phạm
thực tiễn vĩ đại của dân tộc Sách “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng lỗi lạc”
của GS Song Thành (Nhà xuất bản lý luận chính trị, 2005) gồm nhiều nội dung, trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giáo dục - đào tạo và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau như một bộ phận làm
nên hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
Trang 13xuất bản Chính trị quốc gia, 2005), bàn đến các vấn đề văn hoá, con người Việt Nam, trong đó văn hoá giáo dục, vấn đề “xây dựng con người Việt Nam theo chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh đã
được tác giả đề cập
Bên cạnh đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục các
đối tượng cụ thể cũng được đề cập trong các đề tài nghiên cứu, các bài viết
như: Luận án tiến sĩ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn
diện” của tác giả Nguyễn Hữu Công, (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2001); Luận án tiến sĩ “Giáo dục đạo đức cho thanh niên học sinh
theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay” của tác giả Trần Minh
Đoàn (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002); Đề tài “Tư tưởng
nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay” do TS Hoàng Trang làm chủ nhiệm (Đề tài cấp bộ, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003); Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
lý tưởng cách mạng cho thanh niên và việc vận dụng trong thực tiễn cách mạng hiện nay” do TS Trần Văn Hải chủ nhiệm (Đề tài cấp bộ, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007)
Vấn đề này cũng được đề cập trong một số công trình, bài viết
đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục” của tác giả Đinh Xuân Lâm – Bùi Đình Phong (Tạp chí Thông tin lý
luận, 1995): “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vận dụng giáo dục đạo đức cách
mạng cho thanh niên” của tác giả Thái Bình Dương (Tạp chí Giáo dục lý
luận, 9-2005); “Học, làm, sống – ba trong một và xây dựng xã hội học
tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Kì (Tạp chí Phát
triển giáo dục, 6-2005); “Vận -dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phương
pháp dạy học của người thầy” (Tạp chí Giáo dục lý luận, 1-2007)…
Hầu hết các tác giả trên đều đề cập đến các khía cạnh khác nhau, các góc độ khác nhau của vấn đề Điều quan trọng hơn, khi tổng kết thực trạng giáo dục thời gian qua là phải hướng tới nền giáo dục có khả năng đáp ứng được những xu hướng phát triển đất nước trong thế kỷ
Trang 14XXI, đáp ứng được mục tiêu, nguyện vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; khẳng định được tư tưởng Hồ Chí Minh gợi mở những bài học gì cho việc xác định các phương hướng mục tiêu và các giải pháp nhằm hướng tới phát triển nền giáo dục xứng đáng với vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Qua khảo sát một số công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến vấn đề, có thể thấy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề “Phát triển nền giáo dục Việt Nam
trong những thập niên đầu thế kỷ XXI theo tư tưởng Hồ Chí Minh” góp
phần phát triển giáo dục Việt Nam với tư cách là quốc sách hàng đầu như tư tưởng chỉ đạo của Đảng đã nêu ra Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây đã cung cấp nhiều tài liệu, đề xuất nhiều gợi ý khoa học và là cơ
sở quan trọng để chúng tôi tham khảo, kế thừa và phát triển sâu hơn trong quá trình nghiên cứu đề tài
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
1.3.1 Mục tiêu:
Trên cơ sở phân tích tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục, thực trạng nền giáo dục nước nhà và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình phát triển giáo dục trong xu hướng biến động của những thập niên đầu thế
kỷ XXI, đề tài đề xuất một số quan điểm và giải pháp để phát triển nền giáo dục Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XXI theo tư tưởng
Hồ Chí Minh
1.3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục Việt Nam
- Phân tích thực trạng nền giáo dục nước nhà trước những yêu cầu
đặt ra về phát triển giáo dục trong xu hướng biến động của những thập
Trang 15có sự đánh giá khái quát xu hướng vận động của xã hội trong thế kỷ XXI Vì vậy, đề tài được thực hiện bằng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như:
• Phương pháp thống kê so sánh, tổng kết thực tiễn: sử dụng các số liệu thống kê, thông tin khảo sát để phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm làm
rõ thực trạng giáo dục Việt Nam trong những năm qua
• Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành với một số các nhà nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà quản
lý nhằm rút ra những quan điểm có tính định hướng cho phát triển giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XXI
• Phương pháp chuyên gia, thảo luận nhóm: Tổ chức hội thảo, tọa
đàm để chọn lọc, tìm kiếm ý tưởng cũng như sự thống nhất trong các đánh giá, xác định phương hướng và giải pháp
1.5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Thứ nhất: Đề tài góp phần làm rõ triết lý, phương hướng và giải
pháp phát triển nền giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XXI
Thứ hai: Đề tài góp phần quảng bá tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa
và phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực giáo dục
Trang 16Thứ ba: Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
giáo dục, nghiên cứu về các vấn đề liên quan
Thứ tư: Đề tài góp phần cung cấp các luận cứ khoa học và thực
tiễn cho các nhà hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam thế kỷ XXI
Trang 17PhÇn néi dung Ch−¬ng 1 t− t−ëng Hå ChÝ Minh
vÒ ph¸t triÓn nÒn gi¸o dôc Trong x∙ héi míi
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam và thế giới, đồng thời Người cũng là một nhà giáo dục lớn của nhân dân Việt Nam Tư tưởng về giáo dục của Người không được thể hiện thành một tác phẩm, một bài viết cụ thể riêng nào về giáo dục, mà được lồng ghép, xen kẽ trong các bức thư, các bài phát biểu, các bài nói chuyện và trong cả thơ ca của Người Như phần mở đầu đề tài đã khái quát, đây là lĩnh vực được Người đặc biệt quan tâm, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào và cũng là một trong những vấn đề Người căn dặn trước lúc đi xa Vấn đề này được phân tích đề cập trong nhiều các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi không đi sâu vào liệt kê tất cả
mà chỉ tập trung khái quát những quan điểm cơ bản của Người về việc phát triển nền giáo dục cách mạng - nền giáo dục trong xã hội mới
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của việc phát triển nền giáo dục mới
Có nhiều cách hiểu khác nhau về giáo dục Có người cho rằng, giáo dục là việc truyền dạy kinh nghiệm sống của thế hệ trước cho thế hệ sau; hoặc giáo dục là dạy cho người ta biết hành động; giáo dục là làm bộc lộ năng khiếu của con người chứ không phải nhồi nhét thông tin vào đầu người ta; giáo dục là quá trình, là cách thức làm bộc lộ những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục Dù nhấn mạnh khía cạnh nào cũng thấy vai trò đặc biệt của giáo dục với sự phát triển con người và xã hội.Các bậc vĩ nhân trong hoạt động và lãnh đạo cách mạng của mình đã xác định vai trò vị trí giáo dục là nhân tố thiết yếu mở đường cho sự nhận thức
và cải tạo thế giới đồng thời cũng là vấn đề có ý nghĩa sống còn của sự hưng thịnh đất nước
Trang 18Quả thật, giỏo dục cú vai trũ cực kỳ to lớn trong đời sống xó hội đối với bất kỳ quốc gia, dõn tộc nào, ở bất kỳ thời kỳ nào Giỏo dục là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất của văn hoỏ Cú con người là đó cú giỏo dục Giỏo dục là của từng con người rồi sau mới là của gia đỡnh, nhà trường và xó hội Cổ nhõn xưa đó dạy: “Vỡ lợi ớch mười năm phải trồng cõy, vỡ lợi ớch trăm năm phải trồng người” Tinh thần này được Chủ tịch
Hồ Chớ Minh kế thừa, nhắc lại như một nguyờn tắc bất biến trong nhận thức cũng như trong chỉ đạo hành động của Người Về vấn đề này, C.Mỏc cũng nhấn mạnh: “muốn thay đổi những điều kiện xó hội phải cú một chế
độ giỏo dục thớch hợp”1 V.I.Lờnin vị lónh tụ của cuộc Cỏch mạng thỏng Mười Nga cũng khẳng định vai trũ to lớn của giỏo dục, coi đú là điều kiện đảm bảo cho sự nghiệp xõy dựng chủ nghĩa xó hội Theo Lờnin, người mự chữ là “người đứng ngoài chớnh trị” Đú cũng là một trong những lý do con người phải: "Học, học nữa, học mói" éõy là những luận điểm cơ bản của tư tưởng nhõn loại núi về sự cần thiết phải giỏo dục
Xây dựng, phát triển một nền giáo dục mới là khát vọng cháy bỏng
và cũng là mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam Đó cũng là tư tưởng mang tính nhất quán của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Có thể nói truyền thống văn hoá, giáo dục, tinh thần nhân ái, lòng yêu nước Việt Nam, tư tưởng yêu nước Việt Nam, tư tưởng dân sinh, dân chủ của các sĩ phu Việt Nam yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; triết lý giáo dục, triết lý nhân sinh của Nho giáo, Phật giáo; tư tưởng nhân văn về con người, giáo dục con người thời cận đại là các tinh hoa văn hoá nhân loại đã được Hồ chí Minh tiếp cận, tiếp thu có chọn lọc phê phán và sáng tạo Đặc biệt, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin là tiền đề quan trọng nhất tạo nên sự phát triển về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhiều lĩnh vực, trong đó
có giáo dục
Hơn nữa, những hậu quả của nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực
dân Pháp, những hệ luỵ về chính trị – xã hội – con người trong chính
Trang 19sách “ngu dân để trị” của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, sự trải nghiệm thực tiễn hoạt động cách mạng và đặc biệt yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam về việc xây dựng nền giáo dục mới, đào tạo những người công dân làm chủ là những tiền đề thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục mới
Nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ chí Minh cho thấy, Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục, coi đó là nhiệm vụ cơ bản, không thể tách rời của cách mạng Việt Nam Với triết lý đã trở thành niềm tin sâu sắc rằng “ một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Nguyễn ái Quốc đã lên án “chính sách ngu dân” của chính
quyền thực dân áp dụng ở Việt Nam Năm 1930, trong Lời kêu gọi nhân
ngày thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương, Người đã nêu ra khẩu hiệu” thực hành giáo dục toàn dân”, tức là phải tiến hành phổ cập giáo dục Cách mạng Tháng Tám thành công, Người đã lãnh đạo nhân dân xoá bỏ nền giáo dục thực dân- một nền giáo dục dạy cho thanh niên Việt Nam yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc mình, khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống dân tộc mình, phụ nữ và đồng bào các dân tộc thiểu số
ít được học chữ và xây dựng nền giáo dục mới Người nhận thức một
cách sâu sắc về sự cần thiết phát triển nền giáo dục cách mạng, là một bộ phận không thể tách rời với sự nghiệp xây dựng nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới
Trong quá trình bôn ba khắp thế giới, Người đã tiếp thu được những tinh hoa của nhân loại Thực tế ấy đã góp phần hình thành con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước Một niềm tin sâu sắc đã được khẳng
định, non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không? Dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu hay không điều đó phụ thuộc vào sự nỗ lực, phấn đấu, nâng cao dân trí của chính người Việt Nam
- đặc biệt thế hệ trẻ Xây dựng một nền giáo dục để ai cũng được học tập là nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp cách mạng
Quan điểm này là sự kế thừa truyền thống văn hoá Việt Nam nhưng
đã được nâng lên ở tầm cao mới, phù hợp với khuynh hướng vận động của
Trang 20lịch sử, thời đại và văn minh nhân loại Nó được kiểm chứng bởi thực tế cũng như xu hướng phát triển kinh tế tri thức của nhân loại trong thế kỷ XXI: muốn trở thành cường quốc, muốn có nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững phải đầu tư cho giáo dục, xây dựng được nền giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Mặt khác, xã hội phong kiến xưa và cả chế độ thực dân cũ đã để lại trong xã hội ta nhiều hủ tục lạc hậu, nhiều thói hư tật xấu cần phải thay đổi
để trở thành xã hội văn minh Triết lý “hoá dân dịch tục” tức giáo hoá nhân dân để cải biến phong tục, cùng với mục tiêu nâng cao dân trí là một trong những nhiệm vụ của nền giáo dục mới Hơn nữa, chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, nhân tố quan trọng của công cuộc xây dựng xã hội mới là con người Việt Nam, là đông đảo tầng lớp nhân dân Việt Nam ở mọi thế hệ, mọi vùng miền Họ cũng cần được trang bị những kiến thức cần thiết, hoàn thiện nhân cách cá nhân, có được những năng lực và phẩm chất cần thiết
để làm chủ và xây dựng xã hội mới Con người có thể thay đổi, cải tạo
những thói hư, tật xấu, bồi dưỡng cái mới tốt đẹp nhờ có giáo dục
Trong tập Nhật ký trong tự, ở bài số 100, Hồ Chớ Minh đã nờu lờn
vai trũ rất lớn của giỏo dục:
Dạ bỏn
Thụy thỡ đụ tượng thuần lương hỏn, Tỉnh hậu tài phõn thiện, ỏc nhõn;
Thiện, ỏc nguyờn lai vụ định tớnh,
Đa do giỏo dục đớch nguyờn nhõn
Trang 21Về vai trò của giáo dục, theo các nhà nghiên cứu, Hồ Chí Minh đã 13 lần
phát biểu về vấn đề này, vào các năm 1942, 1945 (2 lần), 1947, 1955, 1956 (3 lần), 1958, 1959, 1960, 1961, 1969, trong đó Người nhấn mạnh hai vấn đề sau:
- Giáo dục, đào tạo có vị trí vô cùng to lớn, nó góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; Giáo dục có vai trò góp phần hoàn thiện nhân cách con người, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên
Cụ thể, Hồ Chí minh nhấn mạnh rằng một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; dốt thì dại, dại thì hèn; hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên; không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì
đến kinh tế; giáo dục là một mặt trận quan trọng; v.v “Khụng cú giỏo dục, khụng cú cỏn bộ thỡ cũng khụng núi gỡ đến kinh tế, văn húa”2 Giáo dục góp phần xây dựng thế hệ tương lai của đất nước; giáo dục góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong điều kiện mới; giáo dục là công cụ hữu hiệu không thể thiếu nhằm giải phóng con người, phát triển con người theo hướng tự do, toàn diện
Với tư tưởng chủ đạo nhất quán và xuyên suốt rằng, xã hội mới phải
có những con người mới được tạo nên bởi những quan hệ xã hội mới và một nền giáo dục mới Người nhấn mạnh:“ Về giáo dục, chế độ khác thì giáo dục cũng khác”3 Bởi vậy, phải phát triển nền giáo dục có sự thay đổi
về chất - đó là nền giáo dục nhân dân, nền giỏo dục toàn diện và khoa học
Trang 221.2 T− t−ëng cña Hå ChÝ Minh vÒ ph¸t triÓn nÒn gi¸o dôc nh©n d©n, d©n téc vµ khoa häc
Trong Thư gửi học sinh tháng 9 năm 1945 nhân ngày khai trường
đầu tiên, Hồ Chủ Tịch đã viết: “ từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam Trước đây, cha anh các
em, và mới năm ngoái cả các em nữa, đã phải chịu nhận một nền học vấn
nô lệ, nghĩa là nó chỉ đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho bọn thực dân người Pháp Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó
sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em”1
Trong nhiều bài viết, bài nói chuyện, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, nền giáo dục mà thực dân Pháp thực hiện ở nước ta trong thời gian chúng đô
hộ là nền giáo dục thực dân, nhằm mục đích đào tạo những kẻ làm tay sai, tôi tớ cho thực dân Pháp Để dễ bề cai trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân đối với nhân dân ta Chúng hạn chế mở trường học, chúng muốn nhân dân ta mù chữ để dễ lừa gạt và bóc lột Do vậy, dưới ách thực dân Pháp, 95% dân số nước ta mù chữ2 Còn nền giáo dục của cách mạng
là nền giáo dục dân tộc, nền giáo dục Việt Nam độc lập, nhằm đào tạo ra những con người xây dựng Tổ quốc Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, một nền giáo dục nhằm phát triển năng lực của con người
Nền giáo dục cách mạng Việt Nam là nền giáo dục nhân dân Nền
giáo dục cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh khai sinh là nền giáo dục nhân dân bởi lẽ:
Nền giáo dục này trước hết có mục đích duy nhất là phục vụ toàn
thể nhân dân, phục vụ con, em nhân dân Việt Nam theo phương châm “đại chúng hóa về tổ chức đào tạo” Tư tưởng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ con người, tư tưởng “thân dân” theo quan niệm của Chủ tịch
Trang 23Hồ Chí Minh, chính là nền tàng triết lý giáo dục chủ đạo chi phối toàn bộ
hệ thống tư tưởng và quá trình hoạt động trong lĩnh vực giáo dục của Người Người đã từng nói: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”1 Người đã có lần giải thích, chủ nghĩa xã hội chính là để thực
hiện triệt để lý tưởng “thân dân”: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân
dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ” Vì thế cho nên, “giáo dục cần nhằm vào mục đích thật thà là phụng sự nhân dân”, “cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, “Dạy và học phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước”
Thứ hai, sự nghiệp giáo dục vĩ đại này chỉ có thể thành công khi có
sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân Không phải ngẫu nhiên
mà để xóa mù chữ, Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân bình dân học vụ với phương châm: “Những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn, người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình”2
Thứ ba, sự nghiệp giáo dục cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng Chỉ trên cơ sở phát huy vai trò của quần chúng thì sự nghiệp giáo dục này mới đem lại kết quả thiết thực Do vậy, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng
Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, T.8, tr.276.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG,H, 1995, tập 4, Tr.36-37
Trang 24thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó”1
Thứ tư, nền giáo dục cách mạng Việt Nam là nền giáo dục nhân
dân còn bởi lẽ, chính nhân dân là người thầy vĩ đại của sự nghiệp giáo dục này Nhân dân không chỉ là kho kiến thức, nhân dân còn là kho chứa kinh nghiệm học tập quý báu Hồ Chí Minh đã hoàn toàn đúng khi căn dặn cán bộ, đảng viên rằng, phải “Học ở trường học, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học ở nhân dân là một thiếu sót rất lớn”2; “cán bộ phải đi sát dân, học dân”3
Tính nhân dân gắn liền với tính dân tộc và tính khoa học Nền giáo dục mới phải quán triệt việc coi trọng tinh thần dân tộc trong nội dung, mục đích, đối tượng giáo dục Nền giáo dục mới phải là nền giáo dục khoa học, phài thanh trừ được những tiêu cực từ nền giáo dục Thực dân, Phong kiến, hướng tới loại bỏ các lạc hậu, hủ tục, trang bị kiến thức khoa học để giải phóng con người về nhiều mặt Trong nền giáo dục mới hiện đại, hướng tới việc trang bị những tri thức cần thiết để xây dựng xã hội mới theo nguyên tắc “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn liền với thực tiễn”,
“giáo dục nhà trường gắn kết với giáo dục gia đình và xã hội” Dù không
có tác phẩm nào tập trung đề cập đến vấn đề xây dựng nền giao dục khoa hoc, hiện đại nhưng tinh thần cơ bản ấy được khắc họa hết sức sâu sắc trong những bài viết, những lời nói, những tư tưởng chỉ đạo, những việc làm của Người Cùng với thử thách của thời gian và thực tiễn cho thấy tư tưởng ấy là đúng đắn, phù hợp với nguyên tắc rất căn bản của giáo dục hiện đại Tính toàn diện, tính khoa học của nền giáo dục cách mạng Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc trong các quan điểm cụ thể về mục tiêu, đối tượng, nội dung, cách thức phát triển nền giáo dục
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG,H, 1996, tập 12, Tr.403
Trang 25Trong "Lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn ái
Quốc Trung ương" (Tháng 9 -1949), Hồ Chí Minh viết:
Trong "Thư gửi giáo sư, học sinh, cán bộ, thanh niên và nhi đồng"
(ngày 31-10-1955) Hồ Chí Minh xác định: nhà trường dưới chế độ mới,
chế độ dân chủ nhân dân là "nhằm mục đích đào tạo * những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà” Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến
Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa, để tiến bộ hơn nữa"
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, Tập 5, tr 684
* Người trớch nhấn mạnh
Trang 26Xỏc định mục tiờu xuyờn suốt của nền giỏo dục nước nhà là phải đào tạo ra những người cú đủ đức, đủ tài, vừa hồng lại vừa chuyờn để phục vụ sự nghiệp xõy dựng chủ nghĩa xó hội
Nội dung giáo dục: Trong giáo dục có một vấn đề đặt ra là dạy cái
gì, đó là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Người đã nhiều lần đề cập
về vấn đề này Theo Người, nội dung giáo dục phải toàn diện, thiết thực, sát với thực tế Việt Nam Để đạt được mục tiờu đú, theo Hồ Chớ Minh nội dung của nền giỏo dục cũng phải toàn diện: “Trong việc giỏo dục và học tập, phải chỳ trọng đủ cỏc mặt; đạo đức cỏch mạng, giỏc ngộ chủ nghĩa xó hội, văn húa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”1 Theo đú, cú thể khỏi quỏt những nột chớnh trong tư tưởng Hồ Chớ Minh về nội dung của nền giỏo dục thể hiện ở những điểm sau:
Giỏo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho mọi người
Về giỏo dục tư tưởng, Người quan niệm: “Nếu ta khụng chuẩn bị sẵn sàng, khụng kịp thời lónh đạo, thỡ tư tưởng sẽ hỗn loạn, hành động sẽ hỗn loạn”2 Cho nờn “Bồi dưỡng tư tưởng mới để đỏnh thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người cũ để trở thành con người mới”3 Từ đõy, Hồ Chớ Minh đó đưa ra nội dung giỏo dục về đạo đức hết sức mới mẻ và sõu sắc,
đú là đạo đức cỏch mạng Bỏc giải thớch: “Đạo đức cỏch mạng là ra sức
phấn đấu để thực hiện mục tiờu của Đảng, hết sức trung thành để phục vụ
giai cấp cụng nhõn và nhõn dõn lao động, tuyệt đối khụng thể lừng
chừng…đạo đức cỏch mạng là vụ luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải
quyết tõm đấu tranh, chống mọi kẻ địch… và thực hiện được nhiệm vụ
cỏch mạng… Đạo đức cỏch mạng là hũa mỡnh với quần chỳng thành một
khối, tin quần chỳng, hiểu quần chỳng, lắng nghe ý kiến của quần chỳng”4
Tư tưởng Hồ Chớ Minh về giỏo dục toàn diện cả tài và đức, tài và đức ở Hồ Chớ Minh khụng cú sự tỏch biệt mà luụn thống nhất biện chứng
1 Hồ Chớ Minh, Toàn tập, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.10, tr.190
2 Hồ Chớ Minh, sđd, t.7, tr.318
Trang 27với nhau Nếu đức là tiêu chuẩn cho đạo lý làm người thì tài là phương diện thực hiện mục đích đó Có thể nói thông qua tài, đức mới thực sự được biểu hiện và thực thi trong đời sống Như vậy, theo Bác, việc giáo dục phải coi trọng cả tài lẫn đức trong đó phải coi đức là gốc, nếu không
có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không
có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà
tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”1
Nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức ở Hồ Chí Minh thật bao quát, rộng lớn nhưng lại hết sức cụ thể, thiết thực gắn liền với cuộc sống, việc làm và hành động của mỗi con người Trong nội dung giáo dục đạo đức,
Hồ Chí Minh cho rằng: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời
sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc”2 Bên cạnh đó, Bác còn chỉ dạy mọi người phải ra sức chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu Theo Người, giáo dục đạo đức cách mạng không có nghĩa là phá bỏ tất cả những tư tưởng cũ mà chỉ có cái gì cũ kỹ, lạc hậu gây tác hại xấu đối với
sự nghiệp cách mạng thì phải phê phán, cải tạo, phá bỏ, còn những cái gì
là tiến bộ, hợp lý thì phải tiếp thu, kế thừa một cách triệt để
Đạo đức cách mạng là vô cùng cần thiết và quan trọng đối với mỗi con người trong việc xây dựng con người mới, xã hội mới nhưng đạo đức cách mạng không phải từ trên trời xa xuống, nó có được do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày Vì thế, Hồ Chí Minh quan niệm mọi người cần phải được giáo dục tư tưởng đạo đức thường xuyên và đó là một phần quan trọng trong nội dung giáo dục
Giáo dục văn hóa, trình độ chuyên môn và tinh thần yêu lao động
1 Hồ Chí Minh, sđd, t.5, tr.252-253
2 Hồ Chí Minh, sđd, t.5, tr.631
Trang 28Hồ Chí Minh quan niệm: “Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo
tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”1
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vị trí, tầm quan trọng và vai trò của văn hóa Văn hóa là do con người sáng tạo ra nhưng khi được hình thành
nó sẽ đi vào mọi mặt của đời sống xã hội, góp phần nuôi dưỡng, chi phối lề lối, thói quen, phong tục, tập quán, tín ngưỡng trong sự phát triển xã hội Theo
Hồ Chí Minh, việc đào tạo con người xã hội chủ nghĩa phải được thực hiện trên cơ sở nền tảng của một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa Đó là nền văn hóa được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị của nền văn hóa truyền thống cũng như tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại Đó là nền văn hóa lấy con người làm trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội, tất cả vì con người và do con người Do đó, giáo dục nâng cao trình độ văn hóa cho mọi người, góp phần to lớn vào việc hình thành và xây dựng nền văn hóa mới là hết sức cần thiết
Cùng với việc nâng cao trình độ văn hóa, trong nội dung giáo dục, Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc bồi dưỡng kiến thức khoa học cho mọi người Vì “khoa học là tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh giữa giai cấp
bị bóc lột và giai cấp bóc lột và đấu tranh giữa con người với thiên nhiên”2
Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi người, mọi ngành đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật
để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi
Giáo dục đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước
Có thể nói, nội dung này được thể hiện ở hầu hết các bài phát biểu, bài viết, việc làm và hành động của Hồ Chí Minh Theo Người, tinh thần yêu nước là niềm tự hào cũng như là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam Tinh thần yêu nước còn là cơ sở, nền tảng, mục đích
Trang 29của sự tồn vong đối với mỗi quốc gia, dân tộc Với những ý nghĩa lớn lao
ấy, Hồ Chí Minh đã coi việc giáo dục tinh thần yêu nước là yếu tố cốt lõi nhất, cơ bản nhất và được xếp hạng bậc nhất trong nội dung giáo dục Vì thế, cần phải coi trọng việc giáo dục tinh thần yêu nước cho mọi người, bởi: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm, bổn phận của chúng ta là làm cho những cái quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày Nghĩa là phải
ra sức tổ chức, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công cuộc yêu nước, công cuộc kháng chiến”1
Giáo dục tinh thần yêu nước, theo Hồ Chí Minh còn có ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong việc cải tạo hiện thực Tại Đại hội lần thứ III của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam Người đã nói: “Đại hội này cần một chương trình hoạt động thật cụ thể và thiết thực để làm cho thanh niên ta thấm nhuần sâu sắc tinh thần làm chủ nước nhà… đưa tất cả trí tuệ và lực lượng của tuổi trẻ góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”2
Bên cạnh đó, Người còn luận chứng một cách sâu sắc về mối quan
hệ biện chứng giữa tinh thần yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế vô sản Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế; chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là thống nhất với nhau, không tách rời nhau, tác động trợ giúp cho nhau trong tiến trình xây dựng một xã hội vì con người và vì cuộc sống của con người, vì hòa bình, độc lập, công bằng, tự do cho các dân tộc và cho loài người Từ đó, Hồ Chí Minh kêu gọi thế hệ trẻ phải có tinh thần đoàn kết, thương yêu nhau Đó là tinh thần quốc tế Với tinh thần ấy, sau này các cháu nhi đồng thế giới lớn lên sẽ không áp bức nhau, xung đột nhau, không chiến tranh đánh giết lẫn nhau, ngược lại các cháu sẽ giúp đỡ lẫn
1 Hồ Chí Minh, sđd, t.6, tr.172
2 Hồ Chí Minh: Bàn về công tác giáo dục, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.73
Trang 30nhau, cùng nhau giữ gìn và hưởng thụ nền hòa bình, dân chủ Do đó, giáo dục phải có nhiệm vụ tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, để xây dựng tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em một nhà
Trên cơ sở giáo dục tinh thần yêu nước, trong nội dung giáo dục,
Hồ Chí Minh còn rất chú trọng đến việc giáo dục, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho mọi người Đây là việc làm vô cùng có ý nghĩa, nó là một trong những động lực quan trọng đối với cuộc đấu tranh chống kẻ thù Được giáo dục chính trị, chúng ta mới có trình độ giác ngộ cách mạng, nhận thức được quyền lợi, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình Từ đó, mọi người mới thực sự “ghét cay, ghét đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp
Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn Vì chúng nó mà ta khổ”1 Hồ Chí Minh cho rằng trong việc học tập chính trị cần đặc biệt coi trọng các bộ môn lý luận Mác - Lênin là đỉnh cao của trí tuệ và văn hóa khoa học Đó là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất Với những tính chất nêu trên, chủ nghĩa Mác - Lênin không những không bó buộc giáo dục – đào tạo mà còn soi đường, chỉ lối cho giáo dục – đào tạo phát triển cũng như là mảnh đất màu mỡ cho các nhà khoa học, các thày, cô giáo, học sinh, sinh viên nghiên cứu, khám phá
Như vậy, việc giáo dục, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho mọi người là điều kiện quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đời sống mới, con người mới Việc nâng cao trình độ lý luận còn giúp mọi người xác định đúng đắn lý tưởng sống, hoài bão lập thân, lập nghiệp, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân
Giáo dục sức khỏe và mỹ dục cho mọi người
Bên cạnh việc nâng cao trình độ lý luận, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, giáo dục tinh thần yêu nước, yêu lao động… trong nội dung của nền giáo dục mới, Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến việc giáo dục sức khỏe và mỹ dục cho mọi người Nếu đạo đức, tư tưởng, trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật, tinh thần yêu lao động, làm chủ sản xuất là tài sản tinh thần quý báu của mỗi
Trang 31con người thì sức khỏe là tiền đề quan trọng quyết định làm ra tài sản đó Theo
Hồ Chí Minh “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khỏe Muốn giữ gìn sức khỏe thì nên thường xuyên tập thể dục, thể thao
Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục, thể thao cho rộng khắp”* Ngay từ những ngày đầu xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người
đã khẳng định: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc
gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công Mỗi người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”1 Vì thế
“các cháu ra sức học tập, siêng tập thể dục cho mình mẩy nở nang” Cho nên
“ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ”2
Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đến việc giáo dục sức khỏe, rèn luyện
về thể chất mà còn chú ý nâng cao trình độ thưởng thức thẩm mỹ cho mọi
người Bác giải thích: “Mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không
đẹp”3 “Chữ mỹ nghĩa là tốt đẹp, “Thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang bằng phục
vụ cho lợi ích của nhân dân”4 Như vậy, giáo dục thẩm mỹ, thực hiện điều thiện và giáo dục phục vụ lợi ích của nhân dân là tốt đẹp Cái tốt cái đẹp, cái thiện cần phải được trau dồi, nuôi dưỡng và thể hiện nó trong cuộc sống Tuy vậy, Bác cũng cho rằng, trong xã hội Thiện và Ác luôn tồn tại đan xen nhau, luôn đấu tranh gay gắt với nhau Cuộc đấu tranh ấy phải trường kỳ, gian khổ nhưng cái Ác nhất định sẽ bại và cái Thiện nhất định sẽ thắng Hơn nữa, trong mỗi con người cũng luôn tồn tại song song cả Thiện Và Ác, vì thế cần ra sức học tập, cải tạo và rèn luyện để cái Ác trong mỗi chúng ta ngày càng bớt đi và cái Thiện thì ngày càng tăng lên
Một xã hội mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xã hội mà ở đó con người không chỉ được thỏa mãn nhu cầu về vật chất mà còn phải được thoả mãn về mặt tinh thần Đó là nhu cầu được yêu thương, hướng thiện, nhu cầu
Trang 32về khỏm phỏ, thưởng thức cỏi đẹp của nghệ thuật và của cuộc sống Vỡ thế, Hồ Chớ Minh quan niệm mỗi con người cần phải được bồi dưỡng tinh thần về cỏi đẹp, cỏi nghệ thuật Hơn nữa, muốn hoàn thành nhiệm vụ được tốt thỡ chỳng ta cũng cần phải được học tập, phải được trau dồi tư tưởng, trau dồi nghệ thuật
Nguyên lý, phương pháp giỏo dục Về nguyên lý giáo dục, Hồ Chí Minh đã phát biểu 22 lần vào những năm 1947 (2 lần), 1950 (2 lần), 1951,
1954, 1955 (4 lần), 1956, 1957 (3 lần), 1958, 1959, 1960, 1962, 1963,
1968, 1969 (2 lần)
Về phương pháp giáo dục, đặc biệt là phương pháp dạy học, Hồ Chí
Minh đã phát biểu tới 23 lần vào các năm 1942, 1947 (3 lần), 1948, 1949,
1950 (4 lần), 1955, 1956 (3 lần), 1957, 1959 (3 lần), 1961, 1963, 1965 (3 lần), 1968
Đó là những nguyên lý, nguyên tắc, phương pháp cơ bản sau:
- Lý luận liên hệ với thực tế;
- Học đi đôi với hành Học mà không hành thì học vô ích Hành mà không học thì hành không trôi chảy Đọc hàng vạn cuốn sách mà không
đem ra thực hành thì khác nào cái hòm đựng sách Hiện nay, trong học tập chúng ta vẫn nghiêng về lý thuyết, thiếu những những người giỏi việc, thiếu thợ, thừa thầy
- Dạy học phải có hệ thống, tuần tự, tránh lối dạy nhồi sọ, phải gợi
mở vấn đề dùng cách so sánh; dạy học phải sát đối tượng Hiện nay một số lớp lý luận chính trị, học viên có trình độ rất khác nhau Về phương pháp
giáo dục, trên báo Nhân dân (số 183, ngày 11 - 5 - 1954), Hồ Chủ tịch chỉ
rõ: Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, không tham nhiều, không nhồi sọ Giáo dục cũng phải theo hoàn cảnh, điều kiện Phải ra sức làm nhưng làm vội không được Làm phải có kế hoạch, từng bước Theo Người, trong giáo dục cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục Giáo dục phải căn cứ vào "trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng"
Trang 33Người thường xuyên nhấn mạnh hiệu quả của việc phát huy mối liên
hệ mật thiết giữa nhà trường - gia đình và xã hội trong giáo dục, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ "Giáo dục trong nhà trường dù có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không thu
được hoàn toàn" Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách;
trước hết là phải làm gương mẫu cho các em trước mọi việc Bác khuyên
các thầy cô giáo: "Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô các chú phải là người tốt"1 Điều này thật thấm thía, bởi vì giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, của các lực lượng xã hội Vì vậy, chỉ có kết hợp chặt chẽ các yếu tố này mới tạo thành sức mạnh tổng hợp để đưa sự nghiệp "trồng người" đi đến thắng lợi
- Đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục “vì nếu không
có thầy thì không có giáo dục”, học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu Các thầy cô phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm, phải có chí khí cao thượng, phải tiên ưu, hậu lạc, phải dạy tốt, nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn trên cơ sở chính trị và tư tưởng tốt Người đã 26 lần phát biểu về vấn đề này Người thầy phải cú năng lực và phẩm chất cao, phải yờu nghề, yờu trẻ, phải “làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc” Để làm được điều đú, Bỏc đó căn dặn: “cỏn bộ giỏo dục phải luụn luụn ra sức thi đua cụng tỏc và học tập, thật thà phờ bỡnh và tự phờ bỡnh để cựng nhau tiến bộ mói”, “Cỏc cụ cỏc chỳ là những thầy giỏo, những cỏn bộ giỏo dục đều phải luụn cố gắng học thờm, học chớnh trị, học chuyờn mụn Nếu khụng tiến bộ mói thỡ sẽ khụng theo kịp đà tiến chung,
Trang 34Có thể nói, nội dung tư tưởng giáo dục của Hồ Chủ tịch hết sức phong phú, đa dạng nhưng có thể khái quát lại ở một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đối tượng của giỏo dục phải là toàn thể nhõn dõn Việt
Nam (khụng phõn biệt già hay trẻ, nam hay nữ, sinh sống ở nông thôn hay thành thị, là người dân tộc thiểu số hay đa số, ) và nhiệm vụ lớn nhất của công tác giáo dục là phải làm cho “ai cũng được học hành”
Thứ hai, mục tiờu của giáo dục là đào tạo những con người có ích,
những con người có đủ đức và tài, vừa hồng vừa chuyờn để phục vụ sự nghiệp xõy dựng chủ nghĩa xó hội, đóng góp cho sự hưng thịnh của đất nước, đưa đất nước “sánh vai các cường quốc năm châu”; Giáo dục phải chú trọng quan tâm đến chất lượng đào tạo nhằm nâng cao dân trí thực sự chứ không phải chỉ để chạy theo thành tích; Giỏo dục phải phỏt huy được năng lực sẵn cú của mỗi người
Thứ ba, nội dung giáo dục phải toàn diện bao gồm tất cả các mặt
đức, trí, thể, mỹ Nội dung giáo dục phải kết hợp được tri thức khoa học với kiến thức thực tế (học phải đi đôi với hành), phỏt huy được tớnh sỏng tạo, khả năng tư duy của người học (trỏnh lối học vẹt, sỏo rỗng, thầy đọc - trũ chộp ), đồng thời phải đảm bảo chứa đựng cả tớnh dõn tộc và tính thời
đại (kết hợp những nét văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc với những tinh hoa tri thức văn minh, hiện đại, tiến bộ của nhân loại)
Thứ tư, phương pháp giỏo dục phải khoa học, phù hợp với nhiều loại
đối tượng khác nhau như: “… Dạy dần dần từ ớt đến nhiều, từ dễ đến khú,
từ thấp đến cao, khụng tham nhiều, khụng nhồi sọ”; Giỏo dục không nên chỉ bó hẹp trong nhà trường, mà phải phỏt huy mối liờn hệ mật thiết giữa nhà trường - gia đỡnh và xó hội trong giỏo dục chăm lo, bồi dưỡng thế hệ
trẻ; Với mỗi đối tượng, mỗi cấp học (từ dựng của Hồ Chớ Minh là "mỗi
một cấp giỏo dục") cần thực hiện những phương phỏp giỏo dục khỏc nhau cho phự hợp (đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực gúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà; Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc
Trang 35những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế; Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công; Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe của các cháu(1) v.v )
Thứ năm, giỏo dục cần được thực hiện dưới nhiều hình thức, cỏch
thức, loại hình, chương trình đào tạo khỏc nhau (trong nhà trường, trong cuộc sống; thụng qua sỏch vở, trao đổi; học thầy, học bạn, tự học; học ở mọi nơi, mọi lỳc ) nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn dân cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
Thứ sỏu, công tác giáo dục phải chú ý cả hai đối tượng người học và
người dạy Cụ thể: cỏc cụ giỏo, thầy giỏo, trước hết, phải trau dồi đạo đức cỏch mạng, khụng ngừng rốn luyện chuyờn mụn, phải là tấm gương trong sỏng để học sinh noi theo, phải gương mẫu từ lời núi đến việc làm, phải thương yờu chăm súc học sinh như con em ruột thịt của mỡnh, phải thật sự yờu nghề, yờu trường, phải khụng ngừng học hỏi để tiến bộ mói Trỏch nhiệm của người thầy "khụng phải là gừ đầu trẻ để kiếm cơm" mà phải chăm lo, dạy dỗ, đào tạo cỏc em thành người cụng dõn tốt, người lao động tốt, người cỏn bộ tốt, người chiến sĩ tốt, trung với nước, hiếu với dõn, cú lũng yờu nước nồng nàn, cú đạo đức trong sỏng, cần - kiệm - liờm - chớnh - chớ cụng - vụ tư, cú tri thức và sức khỏe để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhõn dõn, làm cho dõn giàu, nước mạnh
Với tư cách là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Trong lĩnh vực giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng, Người luôn hiện thân là người thầy mẫu mực chăm sóc cho sự nghiệp trồng người của dân tộc Sau khi nước nhà độc lập, trên cương vị là Chủ tịch nước, sự nghiệp giáo dục luôn được Người chú trọng Cùng với thời gian, đó cú rất nhiều biến đổi ở trong nước cũng như thế giới, nhưng những chỉ dẫn về giáo dục của Người vẫn giữ
(1) Hồ Chớ Minh: Toàn tập; Nxb CTQG, H, 1995, tập 8, Tr 84
Trang 36nguyên tính khoa học, tính cách mạng, có ý nghĩa phương pháp luận lớn lao với sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục nước ta Với ý nghĩa đó,
Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục vĩ đại Tổ chức UNESCO khi tôn vinh
Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá kiệt xuất đã khẳng định sự đóng góp quan trọng của Người về nhiều mặt, trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, nghệ thuật
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, là lãnh tụ vĩ
đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời là nhà văn hoá, nhà giáo dục- Người sáng lập, đặt nền móng và chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục mới cho cách mạng Việt Nam Tư tưởng của Người là ánh sáng soi đường, là kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng Việt nam
Trang 37Chương 2 Thực trạng Phát triển nền giáo dục của nước ta hiện nay và vấn đề đặt ra cho việc phát triển giáo dục
những thập niên đầu thế kỷ XXI 2.1 Thực trạng phỏt triển nền giỏo dục nước ta hiện nay
2.1.1 Những thành tựu phỏt triển nền giỏo dục Việt Nam hiện nay
Cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu đỏnh giỏ về cỏc thành tựu cũng như những hạn chế của nền giỏo dục nước nhà trong thế kỷ thứ XX Nhà quản
lý giỏo dục đồng thời cũng là nhà nghiờn cứu giỏo dục, giỏo sư Phạm
Minh Hạc trong cụng trỡnh “Giỏo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa XXI”
đó hệ thống, phõn tớch một cỏch sõu sắc và thấu đỏo về nền giỏo dục Việt Nam trong xó hội mới Đỏnh giỏ chung về thành tựu giỏo dục Vịờt Nam, cụng trỡnh này khẳng định: “Trờn thế giới nhiều tổ chức quốc tế và bố bạn
đó đỏnh giỏ cao kết quả giỏo dục Vịờt Nam” Trong bỏo cỏo “Nghiờn cứu
về tài chớnh cho giỏo dục Việt Nam” (10/1996), Ngõn hàng Thế giới đó
cho biết: “ Việt Nam đó cú một thành tớch đầy ấn tượng về giỏo dục, ngay cả khi so sỏnh với nhiều nền kinh tế cú mức thu nhập cao hơn” Quỹ
phỏt triển dõn số Liờn hợp quốc trong Bỏo cỏo giỏo dục tại Việt Nam “Xu
hướng phỏt triển và những khỏc biệt” (5/1996) đó khẳng định, vấn đề giỏo
dục tại Việt Nam từ lõu đó được coi là then chốt để xõy dựng một đất nước phồn vinh và giàu mạnh Rừ ràng là Chớnh phủ đó rất thành cụng trong việc trang bị những kiến thức cơ bản nhất cho đại bộ phận dõn chỳng1
Một số đỏnh giỏ cũng chỉ rừ, bờn cạnh những thành tựu, những cố gắng trong việc đầu tư cho phỏt triển giỏo dục, nõng cao dõn trớ, thời gian trước đõy (trước đổi mới), do điều kiện nền kinh tế cũn nghốo, những tàn
dư, ảnh hưởng của chiến tranh vẫn cũn nặng nề, cộng với cơ chế quản lý, điều hành theo kiểu mệnh lệnh hành chớnh quan liờu khi đú nờn những thành tựu mang tớnh đột phỏ trong lĩnh vực giỏo dục cũng chưa được như
1Phạm Minh Hạc: Giỏo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chớnh trị Quốc gia, Hà Nội,
1999, tr.298
Trang 38mong đợi của toàn Đảng và toàn dõn Hệ thống trường, lớp, cơ sở vật chất phục vụ cho cụng tỏc giảng dạy ở mọi cấp học cũn rất thiếu thốn Tỷ lệ học sinh chưa được đến trường cũn cao Số lượng sinh viờn cỏc trường đại học, cao đẳng trong cả nước cũn thấp, đặc biệt là ở những vựng nụng thụn, miền nỳi Chương trỡnh, nội dung cỏc mụn học nhỡn chung mới chỉ đỏp ứng những kiến thức cơ bản cho người học Cỏc phương phỏp giảng dạy trong cỏc nhà trường cơ bản chỉ thuần tỳy theo lối thuyết trỡnh của giỏo viờn với phấn và bảng đen Hệ thống giỏo trỡnh, tài liệu phục vụ cho cụng tỏc giảng dạy cũn rất nghốo nàn Trỡnh độ năng lực của đội ngũ giỏo viờn nhỡn chung cũn thấp và khụng đồng đều v.v
Nhận thức được những hạn chế đú, Đảng ta đó thẳng thắn nhỡn vào
sự thật, chỉ ra những khuyết điểm yếu kộm, những nguyờn nhõn (cả khỏch quan và chủ quan) của thực trạng đú và quyết tõm tiến hành đổi mới nhằm đảm bảo giỏo dục là quốc sỏch hàng đầu, thực hiện cỏc bước đổi mới, phỏt triển sự nghiệp giỏo dục nước nhà theo những tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chớ Minh, đồng thời căn cứ vào tỡnh hỡnh thực tiễn của đất nước
và thời đại Với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, đến nay nền giáo dục nước ta có những thay đổi đáng kể.Theo cỏc tài liệu của Bộ giỏo dục và Đào tạo, những năm đầu của thế kỷ XXI, ngành giỏo dục Việt Nam
đó đạt được những thành tựu cơ bản
Thứ nhất, Quy mụ giỏo dục và mạng lưới giỏo dục phỏt triển đó
đỏp ứng tốt hơn nhu cầu phỏt triển của xó hội, nhu cầu học tập của đụng đảo tầng lớp nhõn dõn
Nước ta đó xõy dựng được hệ thống giỏo dục quốc dõn thống nhất, khỏ hoàn chỉnh bao gồm đủ cỏc cấp học, bậc học, trỡnh độ đào tạo, cỏc loại hỡnh nhà trường và phương thức giỏo dục Dõn trớ nước ta đó ngày càng được nõng cao: từ một dân tộc có tới 95% số dân mù chữ trong thời Pháp thuộc (năm 1945 chỉ cú 5% dõn số biết chữ), đến nay trình độ dân trí nước
ta đã được nâng cao Theo Bỏo cỏo Kết quả cuộc tổng điều tra dõn số quốc gia năm 2009 được Tổng cục Thống kờ cụng bố ngày 21/7/2010, tỷ lệ biết
Trang 39chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên liên tục tăng: 90,3% năm 1999 và 94,0% năm 2009 Trong đó, tỷ lệ biết chữ của nữ tăng 4,9% trong khi tỷ lệ này của nam chỉ tăng 2,2%, làm cho chênh lệch giữa 2 giới được thu hẹp đáng
kể Sự chênh lệch về tỷ lệ biết chữ giữa thành thị và nông thôn cũng rất thấp: 97,3% ở thành thị và 92,5% ở nông thôn Đến nay, tỷ lệ người từ 5 tuổi trở lên đã từng đi học là 95,0% Tính đến tháng 9/2009, có 48/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi (đạt 76,1%); 56/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn cập giáo dục THCS (đạt 88,9%) Đến tháng 6/2010 đã có 61/63 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS (đạt 96,8%)
Mạng lưới cơ sở giáo dục đã được mở rộng đến khắp các xã, phường với đa dạng các loại hình, phương thức đào tạo (chính qui, tại chức, giáo dục từ xa, tổ chức các lớp học tình nguyện, các nhóm học tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa ) Các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, huyện được mở rộng Về cơ bản đã xóa được "xã trắng" về giáo dục mầm non; trường tiểu học đã có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện Các cơ sở đào tạo nghề, cao đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn dân cư lớn, các vùng, các địa phương, đặc biệt ở vùng chậm phát triển như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú và bán trú cho các con em dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa Hiện nay, cả nước có trên 9.000 trung tâm học tập cộng đồng, gần 700 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và huyện
Số lượng học sinh, sinh viên cũng đạt tốc độ tăng trưởng rõ rệt Từ năm 2000 trở lại đây, mỗi năm cả nước có khoảng 20 triệu học sinh, sinh viên các cấp Theo thống kê của Bộ giáo dục – đào tạo, năm học 2007-
2008, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng 2,86% so với năm học 2000-2001; trong đó số học sinh học nghề tăng 2,14 lần; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,41 lần; số sinh viên cao đẳng, đại học tăng 1,75 lần, nâng tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học trên một vạn dân tăng 1,6
Trang 40lần Về quy mô trường học, năm 1987 cả nước có 101 trường đại học – cao đẳng (63 trường Đại hoc, 38 trường Cao đẳng) đến năm 2009 vừa qua
số trường Đại học và Cao đẳng trên cả nước tăng lên con số 376 trường (150 trường Đại học, 226 trường Cao đẳng) tương đương tăng gấp 3,7 lần
về số lượng Đặc biệt, số học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng 2,5 lần Năm học 2009-2010 cả nước cũng có khoảng hơn 22 triệu học sinh, sinh viên các cấp học, trong đó giáo dục đại học, cao đẳng hơn 1,8 triệu sinh viên và hơn 1,2 triệu học sinh trung cấp chuyên nghiệp, bổ túc văn hóa Chỉ tính riêng năm 2010, cả nước có tổng số sinh viên là 1,8 triệu (năm
1987 là 130.000, năm 1997 là hơn 700.000 và năm học 2004 có hơn 1.032.000 sinh viên) đã cho thấy mặt bằng dân trí nước ta hiện nay đã cao hơn nhiều so với trước đây Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các trình độ khác nhau tăng từ 20% vào năm 2000 lên gần 30% vào năm 2010 Lĩnh vực dạy nghề từ năm 2000 đến nay đã phát triển rất nhanh, từ chỗ đào tạo dưới 1 triệu lao động thì từ năm 2004 đã đào tạo trên 1 triệu lao động, năm
2007 là 1,4 triệu lao động và năm 2008 là trên 1,5 triệu lao động tăng 7% (Quốc hội giao chỉ tiêu số lao động được đào tạo nghề hàng năm tăng 5,8
%/năm) Hầu hết các tỉnh đều có trường dạy nghề (hiện còn 15 tỉnh chưa
có trường dạy nghề), bước đầu phát triển các trường dạy nghề thuộc một
số ngành kinh tế mũi nhọn Xét về góc độ quản lý vĩ mô thì hầu hết các trường dạy nghề đều đảm bảo chỉ tiêu tuyển sinh) Số kỹ sư, cử nhân tốt nghiệp năm 2009 là 220.000 người, gấp 11 lần năm 1987 là 20.000 người 90% số sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ ở nước ta có việc làm(1)
Tổng số học sinh, sinh viên của cả nước có tới gần 23 triệu, tăng 1,03% so với năm học 2000 – 2001
Trong đó học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng cao nhất (2,48 lần), học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 2,41 lần và số học sinh học nghề tăng 2,14 lần