1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng mô hình phân hoá bậc trung học trong giai đoạn cải cách giáo dục

98 740 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng mô hình phân hoá bậc trung học trong giai đoạn cải cách giáo dục
Người hướng dẫn TS. Đoàn Duy Hinh
Trường học Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục
Chuyên ngành Giáo dục trung học
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 766,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lần thí điểm lần ba, từ năm 2003 đến 2006, theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Ban nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng lại Chương trình phân ban THPT theo các định

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN HÓA

BẬC TRUNG HỌC TRONG GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH GIÁO DỤC

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

được giao

TS Đoàn Duy Hinh Viện CL & CT GD Chủ nhiệm đề tài

Bà Nguyễn Phương Hồng Viện CL & CT GD Thư kí đề tài

TS Nguyễn Anh Dũng Viện CL & CT GD Thành viên PGS TS Nguyễn Thị Minh Phương Viện CL & CT GD Thành viên Ông Bùi Đức Thiệp Viện CL & CT GD Thành viên Ông Bùi Gia Thịnh Viện CL & CT GD Thành viên PGS TS Đỗ Ngọc Thống Viện CL & CT GD Thành viên

DANH SÁCH ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH Tên đơn vị Nội dung phối hợp Họ tên nguời đại diện

Vụ Giáo dục

Trung học

Triển khai thực hiện phân hóa trong giáo dục Trung học phổ thông

Ông Lê Quán Tần

Dự án Phát triển

Giáo dục Trung

học phổ thông

Xây dựng Chương trình và biên soạn Sách giáo khoa theo mô hình phân hóa trong giáo dục THPT

GS TS Đinh Quang Báo PGS TS Nguyễn Văn Đản

Trang 3

MỤC LỤC

2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 13

5 Phương pháp nghiên cứu 14

PHẦN THỨ NHÂT: MÔ HÌNH PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC

I ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÂN HÓA TRONG GIÁO DỤC

TRUNG HỌC TRÊN THẾ GIỚI 15

1.1 Khái niệm mô hình phân hóa trong giáo dục 15

1.2 Các cách thức thực hiện phân hóa trong giáo dục 17

II MÔ HÌNH PHÂN BAN KẾT HỢP VỚI CÁC MÔN TỰ CHỌN CỦA

MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 24

2.1 Phân hoá trong giáo dục THPT của Pháp 24

2.3 Phân hoá trong giáo dục THPT (Gymnasium) của Thụy Sĩ 26

2.4 Phân hoá trong giáo dục THPT của Italia 27

III MÔ HÌNH PHÂN LUỒNG KẾT VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC TỰ

CHỌN THEO CÁC ĐỊNH HƯỚNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ

GIỚI 28 3.1 Phân hoá trong giáo dục THPT của Trung Quốc 28

3.2 Phân hoá trong giáo dục THPT của Hàn quốc 29

3.3 Phân hoá trong giáo dục THPT của Sinhgapo 32

3.4 Phân hóa trong giáo dục THPT của Tây Ban Nha 34

Trang 4

3.5 Phân hoá trong giáo dục THPT của Thụy Điển 35

3.6 Phân hoá trong giáo dục THPT của Hà Lan 36

3.7 Phân hoá trong giáo dục THPT của Đức 36

IV MÔ HÌNH PHÂN HÓA TRONG GIÁO DỤC HOÀN TÒAN BẰNG

4.1 Phân hoá trong giáo dục THPT của Hoa Kì 39

4.3 Phân hoá trong giáo dục THPT của Nhật Bản 41

4.4 Phân hoá trong giáo dục THPT của Canada 42

4.5 Phân hoá trong giáo dục THPT của Niu Dilân 44

4.6 Phân hoá trong giáo dục THPT của Hungary 45

PHẦN THỨ HAI: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN PHÂN HOÁ TRONG

GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC 52

I QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC TRUNG

1.1 Thời kì 1, 2 và 3: Từ đầu Công nguyên tới thời đế chế Napoléon 52

II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRUNG QUỐC 57

2.1 Sơ lược về lịch sử phát triển giáo dục Trung học của Trung Quốc 57

2.2 Thực hiện phân hoá và phân luồng trong giáo dục Trung học phổ

thông của Trung Quốc 58 2.3 Thiết kế và thử nghiệm chương trình cao trung mới 59

III QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA NHẬT BẢN 60

3.1 Sơ lược về lịch sử phát triển giáo dục Trung học của Nhật Bản 60

3.2 Phân hoá trong giáo dục Trung học phổ thông của Nhật Bản 62

Trang 5

PHẦN THỨ BA: MÔ HÌNH PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC

I VIỆC THỰC HIỆN PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC TRUNG HỌC

1.2 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay: Thí điểm mô hình THPT phân ban 72

II TÁC ĐỘNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN VIỆC

PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 76

2.1 Các thành tố của phát triển kinh tế tác động đến phân hoá trong giáo

2.2 Phát triển kinh tế tác động đến phân hoá trong giáo dục THPT ở

2.3 Một số vấn đề xã hội và việc phân hóa trong giáo dục 81

III MÔ HÌNH PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG CỦA VIỆT NAM CHO GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH GIÁO DỤC

3.1 Những định hướng đối với việc xây dựng mô hình phân hoá trong

giáo dục THPT cho giai đoạn Cải cách giáo dục (sau năm 2015) 84

3.2 Thực hiện phân hoá trong giáo dục Trung học phổ thông theo các

định hướng bằng các môn học tự chọn 85

PHỤ LỤC

Trang 7

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tên đề tài: Xây dựng mô hình phân hóa bậc Trung học trong giai đoạn cải

cách giáo dục

Mã số: B2005 – 80 – 31 TĐ

Chủ nhiệm đề tài: TS Đoàn Duy Hinh

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục

Thời gian thực hiện: Từ tháng 5 năm 2005 đến tháng 7 năm 2007

1 Mục tiêu nghiên cứu

- Trình bày bức tranh khái quát về các mô hình phân hóa trong GD THPT hiện nay của khoảng 20 nước phát triển và đang phát triển trên thế giới và so sánh được các đặc điểm khái quát của các mô hình phân hóa trên đây của các nước này

- Mô tả và phân tích lịch sử quá trình thực hiện phân hóa trong GD THPT của một số nước phát triển và đang phát triển để rút ra được nhận xét về mối quan hệ qua lại giữa điều kiện kinh tế và xã hội với mô hình tương ứng đối với việc phân hóa trong GD của các nước đó

- Đề xuất mô hình phân hóa trong GD THPT của nước ta trong giai đoạn tới, phù hợp với xu thế tiến bộ trong GD của thế giới và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta, góp phần tích cực vào sự phát triển của nền GD nước ta

2 Nội dung nghiên cứu

- Phân tích thực trạng, thực tiễn phân ban trong thời gian qua ở Việt Nam

- Tìm hiểu các bộ chương trình THPT hiện hành của khoảng 20 nước phát triển

và đang phát triển trên thế giới để tìm được các đặc điểm khái quát của các mô hình phân hóa hiện hành trong GD THPT của các nước này

- Phân tích các điều kiện kinh tế, xã hội và GD của nước ta trong giai đoạn tới

để đề xuất mô hình phân hóa trong GD THPT sao cho có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng tốt hơn nhu cầu, nguyện vọng và năng lực của HS, góp phần phân luồng trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội và phù hợp với điều kiện thực tế dạy học và GD THPT của nước ta

Trang 8

3 Kết quả chính dạt được

- Mô tả các mô hình phân hóa trong GD THPT hiện nay của khoảng 20 nước phát triển và đang phát triển trên thế giới và nêu được các đặc điểm khái quát của các mô hình phân hóa này

- Mô tả và phân tích lịch sử quá trình thực hiện phân hóa trong GD THPT của

ba nước phát triển và đang phát triển và nêu được sơ bộ mối quan hệ qua lại giữa điều kiện kinh tế và xã hội với mô hình tương ứng đối với việc phân hóa trong GD của các nước đó

- Đề xuất được mô hình phân hóa trong GD THPT của nước ta trong giai đoạn tới, tiếp cận thêm một bước tới các mô hình phân hóa của các nước trên thế giới và

kế thừa những mặt tích cực của các phương án phân hóa đã thí điểm và đang triển khai đại trà của nước ta

Trang 9

SUMMARY Title: Developing an educational differentiated model in secondary level

towards education reforms

Code: B2005 – 80 – 31 TĐ

Co-coordinator: TS Đoàn Duy Hinh

Implementing agency: NIESAC

Duration: from May -2005 to July - 2007

1 Objectives

- To draw an overall picture of existing educational differentiated model in upper-secondary levels of 20 developed and developing countries, to come up with general aspects of those models

- To describe and analyze the implementing process of aforementioned models in order to provide brief comments on the relationship between socio-economic conditions and corresponding practices towards the educational differentiated models themselves

- To propose educational differentiated model in upper-secondary levels in the coming times to keep up with demands of economic, social and educational development

- To analyze prospective educational, socio-economic conditions so as to propose appropriate educational differentiated model at upper-secondary level

3 Main findings

- A description of the educational differentiated models in upper-secondary levels of 20 developed and developing countries Their general aspects have been

Trang 10

addressed

- A description and analysis of implementing practices of educational differentiated models in upper-secondary levels of 3 developed and developing countries, and briefly identify the relationship between socio-economic conditions and corresponding models in those countries, respectively

- A proposal of an educational differentiated model in upper-secondary levels

in the prospective time which approaches advanced practices and adopts current lessons drawn from pilot and mainstreamed programs in Viet Nam

Trang 11

Trong lần thứ hai, từ năm 1993 đến năm 2000, Hội đồng Giáo dục trung học đã lựa chọn tiến hành thí điểm phương án phân ban sớm (từ lớp 10) và đậm dần ở các năm học sau, gồm ba ban là: ban Khoa học tự nhiên, ban Khoa học tự nhiên-Kĩ thuật và ban Khoa học xã hội Trong quá trình thí điểm đã có ba lần điều chỉnh, trong đó lớn nhất là điều chỉnh ban Khoa học tự nhiên-Kĩ thuật để các HS của ban này có thể thi tuyển vào các trường đại học Những điều chỉnh khác bao gồm việc giảm thời lượng dạy học môn Kĩ thuật và Kĩ thuật ứng dụng đối với ban Khoa học

tự nhiên và ban Khoa học xã hội và Nhân văn, tăng thời lượng cho một số môn

“chéo ban” để đảm bảo tính phổ thông của nội dung dạy học Nghị quyết NQ/HNTW khoá VIII về Giáo dục- Đào tạo yêu cầu ngừng quy mô thí điểm và việc thí điểm chỉ tiếp tục đến tháng 6 năm 2000

02-Như vậy với hai lần thí điểm nói trên, việc thực hiện phân hóa trong GD THPT bằng hình thức phân ban đã không được triển khai đại trà Từ đó, một bài học lớn cần được rút ra là các mô hình thí điểm đối với việc phân hóa trong GD THPT đã không được xã hội và các nhà trường chấp nhận, nó không đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của nhiều phụ huynh và HS, mong muốn theo học THPT để đạt được một nền học vấn cơ bản và để có thể thi tuyển vào học đại học Mặt khác, đội ngũ

Trang 12

GV và các cán bộ quản lí, cơ sở vật chất cho việc dạy và học của các trường THPT cũng chưa được chuẩn bị đầy đủ để sẵn sàng thực hiện công việc này

Trong lần thí điểm lần ba, từ năm 2003 đến 2006, theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Ban nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng lại Chương trình phân ban THPT theo các định hướng: Đảm bảo tính phổ thông, toàn diện và hướng nghiệp; trước mắt phân theo hai ban là ban Khoa học tự nhiên (KHTN) và ban Khoa học xã hội và Nhân văn (KHXH & NV); chênh lệch về kiến thức tương ứng của cùng một môn học được phân hóa giữa hai ban không quá 20% Đồng thời, đề án về Chương trình phân ban mới ở THPT đã xác định rõ cấu trúc nội dung CT; điều kiện, khả năng thực hiện; chi phí, hiệu quả và các bước đi Các môn phân hoá bao gồm các môn Toán, Lý, Hoá, Sinh cho ban KHTN; các môn Văn- Tiếng Việt, Sử, Địa cho ban KHXH-NV Các môn còn lại được xây dựng theo chương trình chuẩn Ngoài ra còn có chương trình tự chọn các môn học với các loại chủ đề khác nhau

Trong quá trình triển khai năm đầu thí điểm đề án phân ban trên đây ở THPT, Quốc hội đã yêu cầu “nghiên cứu điều chỉnh phương án phân ban THPT góp phần tích cực hướng nghiệp cho học sinh và phù hợp với thực tiễn Việt Nam” (NQ 37/2004/QH11) Bộ GD& ĐT đã tổ chức nghiên cứu, đưa ra phương án điều chỉnh

mô hình và được Thủ tướng Chính phủ chấp nhận: “theo hướng học sinh cả nước phải được học một chương trình chuẩn thống nhất; đồng thời từng bước phát triển việc dạy và học các môn nâng cao theo các ban KHTN (có các môn nâng cao là: Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học), ban KHXH-NV (gồm các môn nâng cao là: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ) hoặc tự chọn một số môn nâng cao (đối với ban Cơ bản) nhằm phân hoá, hướng nghiệp và nâng dần trình độ chung của GD phổ thông” (Thông báo số 13/VPCP-TB, ngày 16 tháng 1 năm 2006)

Sau năm học đầu tiên (2006-2007) triển khai trên toàn quốc mô hình phân ban trên đây đối với lớp 10, những đánh giá bước đầu cho thấy mô hình phân hoá theo hướng phân ban kết hợp với dạy học tự chọn tương đối phù hợp với yêu cầu của xã hội và bước đầu đáp ứng được nguyện vọng của nhiều phụ huynh đối với việc học tập của con em mình ở THPT và do đó là có thể chấp nhận đựơc

Tình hình trên đây cho thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu để tìm được một mô

Trang 13

hình phân hóa đối với GD THPT sao cho đáp ứng tốt hơn nữa các yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội, nhất là đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đáp ứng tốt hơn nữa nguyện vọng, nhu cầu, sở thích, năng lực của HS và yêu cầu phân luồng, hướng nghiệp của GD THPT, cũng như nguyện vọng và mong mỏi của đông đảo phụ huynh HS khi cho con em theo học cấp THPT

Đề tài: “ Xây dựng mô hình phân hóa bậc Trung học trong giai đoạn cải cách

giáo dục” nhằm góp phần giải quyết và đáp ứng các yêu cầu nêu ra trên đây

2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tất cả các nước phát triển và các nước đang phát triển hàng đầu thế giới đều thực hiện phân hóa trong GD Trung học Trong đó ở cấp THCS, ngoài các môn học bắt buộc, việc phân hóa trong GD có tính chất bước đầu, sơ bộ và thường được thực hiện bằng một số môn học tự chọn hoặc một số hoạt động tự chọn Ở cấp THPT, việc phân hóa trong GD được thực hiện với mức độ sâu hơn, rộng hơn và được thực hiện theo nhiều cách rất đa dạng, phong phú Vì việc tìm hiểu việc phân hóa trong

GD THPT của các nước đòi hỏi nhiều thời gian và việc này là cần thiết trước hết

đối với việc phát triển giáo dục của nước ta trong giai đoạn tới nên đề tài chỉ tập

trung vào việc tìm hiểu các cách thức thực hiện phân hóa (ở cấp độ vĩ mô) trong

GD THPT Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một cơ sở quan trọng cho

việc thực hiện phân hóa trong giáo dục Trung học phổ thông của Việt Nam trong giai đoạn tới

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Trình bày bức tranh khái quát về các mô hình phân hóa trong GD THPT hiện nay của khoảng 20 nước phát triển và đang phát triển trên thế giới và so sánh để tìm được các đặc điểm khái quát của các mô hình phân hóa trên đây của các nước này 3.2 Mô tả và phân tích lịch sử quá trình thực hiện phân hóa trong GD THPT của một số nước phát triển và đang phát triển để rút ra được nhận xét về mối quan hệ qua lại giữa điều kiện kinh tế và xã hội với mô hình tương ứng đối với việc phân hóa trong GD của các nước đó

3.3 Đề xuất mô hình phân hóa trong GD THPT của nước ta trong giai đoạn tới, phù hợp với xu thế tiến bộ trong việc phân hóa GD của thế giới và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta, góp phần tích cực vào sự phát triển của nền GD của

Trang 14

nước ta

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Phân tích thực trạng, thực tiễn phân ban trong thời gian qua ở Việt Nam

4.2 Tìm hiểu các bộ chương trình THPT hiện hành của khoảng 20 nước phát triển

và đang phát triển trên thế giới để tìm được các đặc điểm khái quát của các mô hình phân hóa hiện hành trong GD THPT của các nước này và chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa những điều kiện kinh tế và xã hội với mô hình tương ứng đối với việc phân hóa trong GD của các nước đó

4.3 Phân tích các điều kiện kinh tế, xã hội và GD của nước ta trong giai đoạn tới để

đề xuất mô hình phân hóa trong GD THPT sao cho có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng tốt hơn nhu cầu, nguyện vọng và năng lực của HS, góp phần phân luồng trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội và phù hợp với điều kiện thực tế dạy học ở THPT của nước ta trong giai đoạn tới

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu, phân tích các văn bản, tài liệu liên quan tới đề tài đã nêu trên đây

5.2 Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến, cung cấp tư liệu, trao đổi, thảo luận về các bộ chương trình THPT của các nước trên thế giới và về mô hình phân hóa trong

GD THPT của nước ta trong giai đoạn tới

6 Kinh phí thực hiện đề tài: 120 triệu đồng

7 Thời gian thực hiện đề tài:

26 tháng, từ tháng 5 năm 2005 đến tháng 7 năm 2007

8 Sản phẩm của đề tài

8.1 Sản phẩm trung gian và 2 bài báo đăng trên tạp chí Giáo dục và tạp chí Khoa học giáo dục

8.2 Báo cáo tổng kết đề tài

8.3 Báo cáo tóm tắt đề tài

8.4 Kỉ yếu hội thảo khoa học

Trang 15

PHẦN THỨ NHẤT: MÔ HÌNH PHÂN HOÁ TRONG GIÁO DỤC TRUNG HỌC CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

I ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÂN HÓA TRONG GIÁO DỤC TRUNG HỌC TRÊN THẾ GIỚI

1.1 Khái niệm mô hình phân hóa trong giáo dục

1.1.1 Khái niệm mô hình

Phương pháp tư duy bằng mô hình (MH) và làm việc với MH được sử dụng trong khoa học, kĩ thuật và nghệ thuật Tuy nhiên khái niệm MH được dùng theo nhiều nghĩa rất khác nhau

Thuật ngữ “mô hình” (modelo) có nguồn gốc từ tiếng Ý, ban đầu dùng để chỉ một phương pháp được sử dụng trong nghệ thuật tạo hình: các nhà điêu khắc và các kiến trúc sư phác thảo những MH, nghĩa là những vật thể nhằm thể hiện những ý tưởng cơ bản, có tính chất phác họa, dành cho một tác phẩm mà họ dự định thực hiện Ví dụ MH tòa nhà quốc hội, MH một tượng đài dự định xây dựng v v Trong trường hợp này MH còn được gọi là vật mẫu

Trong khoa học và kĩ thuật, các MH là các vật thể có cùng hình dạng với các vật thật, nhưng có kích thước nhỏ hơn, dùng để mô phỏng cấu tạo, hoạt động và những thuộc tính nhất định của các đối tượng thật cần nghiên cứu Ví dụ như MH máy bay,

MH động cơ đốt trong v v Các MH này được gọi là MH vật chất

MH cũng có thể là việc mô tả bằng lời, bằng sơ đồ, hình vẽ đối với các mối quan

hệ, các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng hoặc những diễn biến theo thời gian của một quá trình cần nghiên cứu Khi đó người ta nói rằng MH thể hiện một sự mô phỏng theo nghĩa rộng của từ này Ví dụ như MH hành tinh nguyên tử (bằng lời hoặc bằng hình vẽ), MH nhân cách của HS trong một thời kì nhất định nào đó, MH giáo dục, MH kinh tế v v Các MH loại này được gọi là các MH trừu tượng hay

MH ý tưởng MH phân hóa trong GD thuộc loại MH này

1.1.2 Khái niệm phân hóa trong giáo dục

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (2002) thì

phân hóa là “chia ra thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau” (x.11)

Phân hóa trong GD là chia người học thành nhiều loại đối tượng khác nhau để có cách dạy học, giáo dục thích hợp nhằm phát huy cao nhất năng lực, sở trường của

Trang 16

mỗi cá nhân người học, đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực đa dạng và có chất lượng, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội của đất nước (x 5)

Triết lí phát triển xã hội của chủ nghĩa Marx cho rằng cần phải phát huy cao nhất

năng lực của mỗi cá nhân và sự phát triển của mỗi cá nhân là điều kiện cho sự phát triển cho mọi người (x 15) Tư tưởng nhân văn này được phản ánh rõ nét trong GD

đào tạo Một nền GD nhân văn đòi hỏi mục đích GD phải toàn diện, nội dung GD phải thiết thực, đa dạng và tương thích với từng loại đối tượng, cấu trúc của nó phải mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và điều kiện của người học Nhân văn hóa

GD được thực hiện bằng cách cá nhân hóa nội dung, phương pháp và hình thức GD, làm cho chúng có cấu trúc phù hợp với trình độ và kinh nghiệm, hứng thú và khuyng hướng nhân cách của mỗi cá nhân người học, từ đó tạo điều kiện phát triển

họ một cách tốt nhất

Theo quan điểm xã hội học, việc hình thành các nhóm xã hội mang tính quy luật Các nhóm này được hình thành trên cơ sở những dấu hiệu xã hội chung về mặt sinh học và về mặt xã hội GD sẽ đạt hiệu quả tốt hơn nếu căn cứ vào những dấu hiệu đặc thù khác nhau của từng nhóm HS để có những tác động về nội dung và phương pháp GD phù hợp khác nhau Bằng cách đó, việc phân hóa trong GD đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội trong GD, trong đó người học được chia thành các nhóm khác nhau, dựa trên những đặc điểm khác nhau về hoàn cảnh, thể lực, khả năng, nhu cầu, nguyện vọng v v để cung ứng những dịch vụ giáo dục thích hợp nhằm phát triển cao nhất những năng lực của mỗi cá nhân HS

Về mặt giáo dục học thì chức năng của GD xét trên mọi góc độ là chức năng phát triển, có nghĩa là GD giúp cho mỗi cá nhân phát triển và trên cơ sở đó tạo ra động lực thúc đẩy xã hội phát triển Mọi nền GD tiến bộ đều hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Với mục đích đó thì mỗi cá nhân đều cần được phát triển và rõ ràng là năng lực của mỗi cá nhân chỉ có thể được phát triển tối đa khi hệ thống GD đáp ứng đúng khả năng, nhu cầu, nguyện vọng và hoàn cảnh của mỗi người học Muốn vậy, hệ thống GD phải bao gồm nhiều CT, có nội dung đa dạng và được tổ chức theo nhiều hình thức để người học lựa chọn, nghĩa là cần có một hệ thống GD được phân hóa cao Mặt khác, xã hội sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn nếu nguồn nhân lực được đào tạo theo định hướng phân hóa,

Trang 17

phù hợp với cơ cấu lao động của xã hội và định hướng phát triển của từng nhóm ngành nghề khác nhau, đáp ứng được những yêu cầu phát triển của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Xét trên bình diện lí luận giáo dục học thì mọi nền GD, ở mọi nước và ở các thể chế chính trị khác nhau, đều nhất quán nguyên tắc “tính phù hợp” đối tượng trong các hoạt động dạy học và GD và được phát biểu dưới các dạng như “đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong dạy học” (Hà Thế Ngữ, 1987); “đảm bảo tính vừa sức và tính cá biệt trong quá trình giáo dục” (Đặng

Vũ Hoạt, 1993) hoặc như “đảm bảo sự thống nhất giữa đồng loạt và phân hóa” (Nguyễn Bá Kim, 2001)

Như vậy các nghiên cứu về GD trên nhiều phương diện đều khẳng định rằng một nền GD có hiệu quả là một nền GD dựa trên nguyên tắc "phân hoá"

1.2 Các cách thức thực hiện phân hóa trong giáo dục

Theo nghĩa chung nhất và tổng quát nhất thì phân hóa trong GD là việc tổ chức nền GD theo cách phân chia người học thành các nhóm đối tượng khác nhau để tiến hành việc dạy học và giáo dục theo các mục đích, nội dung, hình thức và phương pháp thích hợp nhằm phát huy tối đa các phẩm chất năng lực và nhân cách của mỗi

cá nhân người học, đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực đa dạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội của đất nước

Trên thực tế của nhiều nước, cách thức thực hiện việc phân hoá trong GD rất đa dạng và rất khác nhau, nhưng thường diễn ra ở ba cấp độ sau đây :

1.2.1 Tổ chức các loại hình trường khác nhau

Đây là mô hình phân hoá GD ở cấp độ vĩ mô thứ nhất Trong cấu trúc hệ thống

GD của nhiều nước, chủ yếu có hai loại trường sau giai đoạn Trung học cơ sở (THCS) Đó là các trường chuyên nghiệp, học nghề (vocational education ) và các trường Trung học phổ thông (THPT), trong đó các trường THPT chủ yếu hướng các

HS học lên đại học (academic education) Cách thức phân hóa cho HS theo học các

trường Trung học khác nhau còn được gọi là phân luồng sau THCS Do mục tiêu

đào tạo khác nhau nên hai loại trường này cũng khác nhau về cách thức tổ chức, chương trình đào tạo, danh mục các môn học, các lĩnh vực môn học và các hoạt động GD, phương pháp và phương tiện đào tạo; cơ cấu, tổ chức và hệ thống quản lí

Trang 18

và các văn bằng có thể đạt được

Do nhu cầu đòi hỏi nguồn nhân lực đa dạng và có chất lượng cao, nên ở các nước có xu hướng đưa việc học một số nghề phổ thông vào chương trình GD của các trường THPT và đồng thời tăng cường hơn việc dạy học khoa học cơ bản ở các trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghể

1.2.2 Xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục khác nhau trong trường Trung học phổ thông

Đây là mô hình phân hoá GD ở cấp độ vĩ mô thứ hai Theo cách này thì việc phân hoá GD trong mỗi trường THPT được thực hiện bằng việc tổ chức cho HS lựa chọn các ban khác nhau, hoặc các định hướng khác nhau (cũng được gọi là các luồng khác nhau), hoặc bằng việc cho HS hoàn toàn tự chọn các môn học tuỳ theo năng lực, nguyện vọng và sở thích của riêng mỗi cá nhân HS Khi đó các trường THPT thực hiện nhiều CTGD khác nhau về mục tiêu, về các môn học và hoạt động

GD, về nội dung và cấu trúc mỗi môn học, về phương pháp và phương tiện dạy học

và GD Tuy có sự phân hoá và khác biệt như thế, nhưng bằng những cách khác nhau, các chương trình đều đảm bảo mặt bằng học vấn phổ thông, tối thiểu cần thiết như nhau đối với mọi HS, dù theo học các CT khác nhau Phần còn lại, thường là các môn học và giáo trình tự chọn, chính là phần thể hiện sự khác nhau hay sự phân hóa của các chương trình GD Dưới đây là những nét chính về những hình thức phân hóa trong GD loại này

1.2.2.1 Phân ban

Phân ban là hình thức phân hoá trong GD ra đời từ thế kỉ thứ XVIII ở trường Trung học Pháp Vào thời kì này các trường trung học Pháp không còn dành riêng cho con em các tầng lớp quý tộc như trước, mà bắt đầu mở rộng cửa cho con em tư sản, con em các tầng lớp trung lưu và dân nghèo có trình độ phát triển trí tuệ khác nhau và mục đích học tập khác nhau Một chương trình thống nhất cho bậc học này,

rõ ràng là không đáp ứng được những khác biệt trên và sự ra đời của các ban khác nhau ở trường trung học là một tất yếu lịch sử

Đặc điểm của hình thức này là mỗi trường tổ chức dạy học và GD theo một số

CTGD khác nhau hay các ban khác nhau, trong đó mỗi ban gồm các môn học nhất định, được tập trung vào một số môn học đặc trưng riêng cho mục đích GD hay đào

Trang 19

tạo của từng ban và được quy định thống nhất, như nhau trong toàn quốc Chương

trình học tập của các ban khác nhau thì khác nhau cả về số môn học lẫn cấu trúc và trình độ nội dung môn học HS được phân chia vào học các ban khác nhau tuỳ theo năng lực, hứng thú và nhu cầu và việc GD và dạy học được tổ chức theo các lớp học với những HS cố định (gọi là lớp học truyền thống hay lớp học kiểu hành chính) Phân hoá bằng hình thức phân ban có ưu điểm là thuận lợi về mặt quản lí (quản

lí nội dung dạy học, tổ chức lớp học, tuyển chọn HS, đánh giá thi cử v.v ) Tuy nhiên phân ban cũng có nhược điểm là kém mềm dẻo, khó đáp ứng được sự phân hoá hết sức đa dạng về năng lực, hứng thú và nhu cầu của các đối tượng HS khác nhau Để khắc phục nhược điểm này, các trường phải tổ chức một số lớn các ban khác nhau, nhưng tất nhiên khi đó phải giải quyết những khó khăn và mặt tổ chức

và quản lí

Hình thức phân ban ngày càng được hoàn thiện theo hướng kết hợp với các môn học hoặc giáo trình tự chọn và hiện được áp dụng tại một số nước châu Âu và các nước thuộc các châu lục khác chịu ảnh hưởng của nền GD Pháp

Hiện nay, hình thức phân ban thuần túy (không có môn học hoặc giáo trình tự chọn) chỉ còn được áp dụng ở các nước trước đây chịu ảnh hưởng của nền GD Pháp

và hiện nay chưa đủ điều kiện về tài chính, năng lực quản lí, trình độ GV và cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

1.2.2.2 Phân hoá bằng các môn học tự chọn

Hình thức phân hoá bằng các môn học tự chọn, còn gọi là dạy học tự chọn, xuất

hiện trước cả hình thức phân ban Nội dung GD ở các trường Trung học của châu

Âu trước thế kỉ XVIII tập trung chủ yếu vào các môn học kinh điển như Ngôn ngữ

cổ, Văn chương, Triết học, Tôn giáo Khi khoa học và kĩ thuật bắt đầu phát triển mạnh mẽ thì các môn học Toán, Khoa học tự nhiên, Kĩ thuật được đưa vào dạy ở

các trường Trung học, nhưng chỉ dưới hình thức các môn học tự chọn không bắt

buộc Như vậy, về mặt lịch sử, các môn học tự chọn ban đầu được đưa vào nhà

trường không nhằm mục đích phân hoá GD, mà chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của một

số người Tuy nhiên việc tổ chức việc phân hoá trong GD bằng các môn học tự chọn ngày càng phát triển, hoàn chỉnh và vào những năm đầu của thế kỉ XX, khi quan điểm thực dụng chi phối nền GD Hoa Kì với khẩu hiệu "cần gì học nấy", "HS phải

Trang 20

được quyết định cả về số lượng lẫn chất lượng nội dung học tập của mình" thì hình thức phân hoá này trở thành hình thức phân hoá chính thống của GDTH của Hoa

Kì Hiện nay việc phân hoá trong GD bằng các môn học tự chọn, với các mức độ khác nhau, được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới

Đặc điểm của hình thức phân hoá này là các môn học và giáo trình bao gồm các

môn học hoặc các lĩnh vực học tập bắt buộc tạo thành chương trình cốt lõi đối với

mọi HS và nhóm các môn học, giáo trình tự chọn nhằm đáp ứng sự khác biệt về

năng lực, hứng thú và nhu cầu học tập của các đối tượng HS khác nhau Nhóm các

môn học và giáo trình tự chọn lại được chia thành các môn học và giáo trình tự

chọn bắt buộc (elective subjects) và các môn học và giáo trình tự chọn tuỳ ý

(optional subjects) Mỗi môn học bắt buộc hay tự chọn được biên soạn theo một số đơn vị học trình (ĐVHT) đã được quy định và mỗi ĐVHT tương đương với một số tiết học nhất định HS tuỳ theo năng lực, hứng thú và nhu cầu của mình mà chọn các môn học và giáo trình thích hợp theo một số quy định nhất định tuỳ theo mỗi nước Như vậy mỗi HS sẽ có một CT học tập và một thời khóa biểu học tập riêng cho mình

Việc thực hiện phân hoá trong GD bằng các môn học tự chọn ở các mức độ khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển cũng như quan niệm của từng nước về quá trình GD Có nước cho phép HS lựa chọn các môn học và giáo trình một cách hoàn toàn tự do (một số bang của Hoa Kì) Đa số các nước thực hiện phân hóa GD theo cách này thường quy định một số nhất định đối với các môn học hay lĩnh vực học tập bắt buộc, cũng như các môn học tự chọn, mà mỗi HS phải hoàn thành trong suốt cấp học Còn việc chọn học môn nào, bao nhiêu môn và học lúc nào, hoàn toàn do mỗi HS chủ động lựa chọn và sắp xếp tùy theo điều kiện về năng lực, quỹ thời gian

và các điều kiện khác

Ưu điểm nổi bật của việc phân hoá trong GD bằng các môn học tự chọn là khả năng phân hoá cao, có thể đáp ứng được những khác biệt hết sức đa dạng của HS, tạo điều kiện cho mọi HS đều được học tập ở mức độ phù hợp nhất với năng lực, hứng thú và nhu cầu của mình Tuy nhiên hình thức này cũng bộc lộ một số nhược điểm lớn như học vấn cơ bản của HS dễ bị thiếu hụt và thiếu hệ thống do tâm lí thích chọn các giáo trình dễ, bỏ qua các giáo trình khó của các môn học truyền

Trang 21

thống quan trọng như Toán, Vật lí, Hoá học Đặc biệt là hình thức phân hoá này đòi hỏi rất cao về năng lực quản lí, cũng như trình độ của GV và trang thiết bị của nhà trường

1.2.2.3 Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn

Đặc điểm của hình thức này là HS vừa được phân chia theo học các ban khác nhau, đồng thời được chọn một số môn học, giáo trình hoặc chủ đề tự chọn ngoài phần nội dung học tập bắt buộc của mỗi ban Hình thức này cho phép tận dụng

được những ưu điểm và khắc phục được một phần những nhược điểm của hai hình thức phân hoá kể trên

Hình thức kết hợp phân ban và dạy học tự chọn đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng, trong đó phải kể đến những nước có nền GD Trung học nổi tiếng như Pháp, Nga Hình thức phân hoá trong GD mà chúng ta đang thí điểm và bắt đầu đưa vào thực hiện đại trà cho lớp 10 (từ năm học 2006/2007) cũng chính là hình thức kết hợp này

1.2.2.4 Phân luồng và tổ chức dạy học tự chọn theo các định hướng

Đặc điểm của hình thức này là cấp THPT được tổ chức với nhiều loại trường

khác nhau và HS đều được dự thi tú tài Mỗi loại trường THPT này tiến hành dạy học tự chọn theo một số định hướng Các định hướng thường là về Khoa học tự

nhiên, Khoa học xã hội, Kinh tế, Công nghệ Khi chọn học theo bất kì định hướng

nào, HS đều phải học một số môn bắt buộc như nhau theo quy định chung và tuỳ

theo định hướng được lựa chọn, HS phải chọn học một số môn nhất định trong số

các môn mà chương trình giới thiệu (tự chọn bắt buộc) và ngoài ra, tuỳ theo năng lực, hứng thú, sở thích, có thể chọn học tuỳ ý một số môn khác nữa (tự chọn tùy ý

hay nhiệm ý)

Việc lựa chọn các môn học theo một số định hướng nhất định hiện đang được áp dụng ở khá nhiều nước trên thế giới Ví dụ, HS Trung quốc được lựa chọn các môn học và giáo trình theo ba định hướng là: Nghề, Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội và nhân văn Còn ở Đức thì có hai loại trường THPT là Gymnasium và Gymnasiale Schule HS học các trường này đều được thi tú tài (Abitur), nhưng trường Gymnasium định hướng vào các Khoa học cơ bản, còn trường Gymnasiale Schule thì theo định hướng để HS theo học các trường đại học kĩ thuật, kinh tế,

Trang 22

thương mại

Nhiều nước phát triển, một số bang ở Mĩ, một số nước đang phát triển ở châu Á

và châu Phi cũng áp dụng hình thức phân hoá bằng dạy học tự chọn theo một số định hướng xác định hoặc theo một số lĩnh vực hay một số chương trình xác định (ví dụ như bang New York có 3 định hướng, Malaysia có 4 định hướng, Hàn Quốc

có 5 lĩnh vực, Thụy Điển có 17 chương trình v.v )

Hình thức phân hoá này có nhiều nét tương đồng với hình thức phân ban và tương đối dễ tổ chức thực hiện

1.2.2.5 Mô hình "Giáo dục hướng tới cá nhân"

Từ những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, yêu cầu phân hoá cao trong GD đã làm

phát triển mô hình "Giáo dục hướng tới cá nhân", nhằm cung cấp cho người học

nhiều hơn nữa cơ hội lựa chọn việc học tập phù hợp với năng lực và nguyện vọng

cá nhân để vừa hoàn thiện "cái tôi" của mỗi người, vừa đáp ứng những yêu cầu ngày càng đa dạng của một xã hội phát triển Nhiều hình thức phân hoá mới trong

GD xuất hiện, trong đó có loại hình "trường học tự chọn" ra đời đầu tiên vào năm

1990 ở bang Virginia (Mỹ) và đang được áp dụng rộng rãi ở một số bang hoặc vùng miền của những nước phát triển Đây là trình độ cao của dạy học tự chọn Trong các trường học tự chọn, HS được chọn từ nội dung, phương pháp, thời gian dành cho mỗi môn học đến GV dạy từng môn học của mình Có thể nói mỗi HS ở đây được học theo một chương trình, kế hoạch học tập và thời khóa biểu riêng thích hợp với năng lực và nguyện vọng cá nhân

Xu thế "Giáo dục hướng tới cá nhân” làm cho hình thức dạy học tự chọn ngày càng chiếm ưu thế hơn so với hình thức phân ban và rất có thể trở thành hình thức phân hoá GD chủ yếu được áp dụng trong thế kỉ này

1.2.3 Thực hiện việc cá nhân hoá trong mỗi tiết dạy học hoặc trong mỗi hoạt động giáo dục

Đây là mô hình phân hoá GD ở cấp độ vi mô, còn được gọi là phân hoá trong dạy học hay dạy học phân hoá

Dạy học phân hoá là một cách thức dạy học mà theo đó, GV tích cực thay đổi hoặc điều chỉnh chương trình dạy học, phương pháp giảng dạy, các phương tiện dạy học và các hoạt động học để đáp ứng hiệu quả năng lực học tập của mỗi cá nhân

Trang 23

học sinh Muốn vậy GV phải nhận thức được khả năng lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, tâm thế sẵn sàng, sở thích, hứng thú học tập khác nhau của HS để có thể có các kế hoạch và cách thức giảng dạy khác nhau đáp ứng thích hợp và kịp thời những khác biệt đó Kết quả là GV tiếp cận được mỗi cá nhân HS, làm cho mỗi cá nhân HS tiến

bộ nhanh nhất có thể được trong một môi trường học tập gồm nhiều trình độ và khả năng học tập khác nhau Như vậy dạy học phân hóa không đơn giản là một phương pháp dạy học, mà xa hơn thế, nó là một sự tổng hòa những suy nghĩ và thực hiện việc dạy và học đối với mỗi HS trong một lớp học gồm nhiều HS khác nhau về nhiều mặt như: trình độ xuất phát, mức độ sẵn sàng học tập, khả năng lĩnh hội, nhịp

độ học tập, phương pháp học v v Mục đích chủ yếu của dạy học phân hóa là thúc đẩy tối đa sự phát triển của mỗi HS bằng cách đáp ứng đúng nhu cầu của mỗi em và giúp các em đạt kết quả học tập cần có trong mỗi tiết học và trong mỗi lớp học (x 16)

Trang 24

II MÔ HÌNH PHÂN BAN KẾT HỢP VỚI CÁC MÔN HỌC TỰ CHỌN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Phân hoá trong giáo dục THPT của Pháp

2.1.1 Một số đặc điểm

Nước Pháp có ba loại trường Cao trung là trường Trung học phổ thông (THPT, lycée d’enseignement général), trường Trung học công nghệ (lycée d’enseignement technologique) và trường Trung học nghề (lycée d’enseignement professionnel)

Để chuẩn bị cho việc phân luồng đối với HS Trung học cơ sở (THCS) sẽ theo học

ba loại trường Cao trung nói trên, từ năm 1999 việc phân hoá trong GD được thực hiện từ lớp cuối của cấp THCS (lớp 9) bằng hình thức phân ban và dạy học tự chọn

(Xem Phụ lục 1a) Lớp 9 có hai ban là Ban ngôn ngữ (còn gọi là Ban phổ thông) và

Ban công nghệ Ở mỗi ban đều có các môn học bắt buộc, các môn học lựa chọn (tự

chọn bắt buộc) và các môn học tuỳ chọn (lựa chọn tuỳ ý) Các HS học xong Ban ngôn ngữ của trường THCS được hướng tiếp tục học lên trường THPT, còn các HS học xong Ban công nghệ của trường THCS được hướng tiếp tục học lên các trường

Trung học công nghệ và Trung học nghề

Việc phân hoá trong GD ở trường Trung học công nghệ được thực hiện theo các ngành nghề tương đối rộng, còn ở trường Trung học nghề được thực hiện theo các ngành nghề hẹp với khối lượng giờ thực hành nghề cao Dưới đây là sự phân hoá trong GD THPT (x 20, 23, 38)

2.1.2 Cách thức tổ chức phân hóa

2.1.2.1 Lớp 10

Việc phân hoá trong GD ở lớp 10 được thực hiện bằng hình thức dạy học tự chọn

và không phân ban, bao gồm các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn bắt

buộc và tự chọn tùy ý (Xem Phụ lục 1b)

2.1.2.2 Lớp 11 và lớp 12

Việc phân hoá trong GD ở lớp 11 và lớp 12 được thực hiện bằng hình thức phân

ban và dạy học tự chọn, với ba ban là : Ban văn học- nghệ thuật còn gọi là Ban

Ngôn ngữ hiện đại ; Ban Kinh tế và khoa học xã hội ; Ban Khoa học

Chương trình lớp 11 gồm các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn bắt buộc, được quy định cụ thể và khác nhau đối với các ban khác nhau Các môn học

Trang 25

tự chọn bắt buộc ở lớp 11 là nhằm chuẩn bị cho HS các ban đi vào các chuyên ngành khác nhau ở lớp 12

Cũng như chương trình lớp 11, chương trình lớp 12 của các ban cũng bao gồm các môn học bắt buộc, các môn học tự chọn bắt buộc và ngoài ra còn có thêm các môn tự chọn tùy ý Trong đó các môn tự chọn bắt buộc là các môn chuyên ngành (Xem Phụ lục 1c và 1d)

2.2 Phân hoá trong giáo dục ở trường THPT của Nga

2.2.1 Một số đặc điểm

Các chương trình GD trong các trường học của nước Nga rất đa dạng, phụ thuộc vào việc có sử dụng hay không sử dụng tiếng Nga Ở đây chỉ đề cập tới việc phân hoá trong GD của những trường sử dụng tiếng Nga Bậc THPT ở những trường này chỉ có 2 lớp là lớp 10 và lớp 11

2.2.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Theo tài liệu "Chiến lược hiện đại hoá nội dung giáo dục phổ thông" của Bộ Giáo

dục Cộng hoà liên bang Nga năm 2001 thì việc phân hoá trong GD THPT của Nga

được thực hiện bằng cách kết hợp phân ban với giáo trình tự chọn và hoạt động tự

chọn (x 3)

2.2.2.1 Các ban

Có 3 ban và mỗi ban được chia thành 6 chuyên ngành khác nhau: Ban Nhân văn

gồm các chuyên ngành Ngữ văn, Lịch sử xã hội, Nghệ thuật, Địa lí, Kinh tế và Sư

phạm ; Ban Toán-Khoa học tự nhiên có các chuyên ngành Toán, Lí-Hoá, Hoá-Sinh, Địa chất- Địa lí, kĩ thuật, Tâm lí sư phạm ; Ban Công nghệ gồm có các chuyên

ngành Công nghệ và kinh doanh, Công nghệ, sáng chế và chế tạo vật liệu và thiết

kế, Công nghệ văn phòng, Công nghệ điều khiển, Công nghệ nhà ở, Sư phạm gia đình

2.2.2.2 Môn học bắt buộc và dạy học tự chọn của các ban

- Chương trình học tập của mỗi ban đều bao gồm một số môn học bắt buộc và một số giáo trình tự chọn

- Mỗi môn học bắt buộc có thể có 3 loại giáo trình khác nhau là giáo trình cơ bản

(CB), giáo trình chuyên ban (CHB), giáo trình chuyên sâu (CS)

Chẳng hạn, HS các chuyên ngành Ngữ văn, Lịch sử xã hội, Nghệ thuật thuộc ban

Trang 26

Nhân văn sẽ học các giáo trình Toán cơ bản, HS chuyên ngành Toán thuộc ban Toán-Khoa học tự nhiên sẽ học các giáo trình Toán chuyên sâu, HS của các chuyên ngành còn lại thuộc ban Toán-Khoa học tự nhiên sẽ học các giáo trình Toán chuyên ban

- Chương trình của các chuyên ngành trong mỗi ban khác nhau cả về các môn học bắt buộc lẫn các giáo trình tự chọn (Xem Phụ lục 2)

2.3 Phân hoá trong giáo dục THPT (Gymnasium) của Thụy Sĩ

2.3.1 Một số đặc điểm

Ở Thụy Sĩ không có chương trình GD chung cho toàn quốc Mỗi bang có một chương trình riêng Tuy nhiên, đạo luật của liên bang quy định những yêu cầu chung cho kì thi lấy bằng tốt nghiệp THPT (bằng Matura) Các chương trình để thi lấy bằng tốt nghiệp THPT đều do liên bang duyệt và được phát triển trên cơ sở chương trình khung quốc gia, do Hội đồng Bộ trưởng giáo dục các bang ban hành (x 35)

2.3.2 Cách thức thực hiện phân hoá

2.3.2.1 Các ban của trường THPT

Trong các trường THPT hiện nay của Thuỵ Sĩ gồm có 5 ban Đó là: Ban A tập trung vào Tiếng Hy Lạp và Tiếng La tinh ; Ban B tập trung vào Tiếng La tinh và các Ngôn ngữ hiện đại ; Ban C tập trung vào môn Toán và các môn Khoa học tự nhiên ;

Ban D tập trung vào các Ngôn ngữ hiện đại ; Ban E tập trung vào các môn Kinh tế 2.3.2.2 Môn học của các ban

Mỗi ban đều gồm 12 môn Cụ thể là:

- Các môn bắt buộc chung cho tất cả các ban gồm: 3 môn cốt lõi là: Tiếng mẹ

đẻ (Tiếng Đức, Pháp, Ý, Rhaeto-Romanic), Ngôn ngữ thứ hai được sử dụng trong toàn quốc, Toán ; 7 môn bắt buộc khác là: Lịch sử, Địa lí, Vật lí, Hoá học, Sinh học,

Âm nhạc (hoặc Nghệ thuật), Thể thao

- 2 môn quy định riêng cho từng ban, cụ thể là: tiếng Hy Lạp và tiếng La tinh đối với Ban A ; Tiếng La tinh và Ngôn ngữ thứ ba dùng trong toàn quốc (hoặc Tiếng Anh) đối với Ban B ; Toán ứng dụng và Ngôn ngữ thứ ba dùng trong toàn quốc (hoặc Tiếng Anh) đối với Ban C ; Ngôn ngữ thứ ba dùng trong toàn quốc (hoặc Tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, Tiếng Nga) Ban D ; các môn Kinh tế và Ngôn

Trang 27

ngữ thứ ba dùng trong toàn quốc (hoặc Tiếng Anh) đối với Ban E (Xem Phụ lục 3

về Chương trình khung mới của trường THPT ở Thuỵ Sĩ)

2.4 Phân hoá trong giáo dục THPT của Italia

2.4.1 Một số đặc điểm

a) Đối với GD THPT, Bộ Giáo dục (The Ministry of public education) ban hành các chương trình bắt buộc Tuy nhiên các môn học là rất đa dạng và khác nhau tùy vào loại hình nhà trường Đồng thời Bộ GD cũng đưa ra những hướng dẫn chung về

CT và đánh giá; lưu ý những thay đổi về CT và chuẩn (Syllabus) Bộ GD đảm bảo rằng tất cả các CT này đáp ứng tất cả các loại hình nhà trường, cho mỗi môn học và đáp ứng được các mục tiêu GD

b) Năm học của trường THPT nhìn chung kéo dài 200 ngày Thời khóa biểu hàng tuần tùy theo loại hình nhà trường Chẳng hạn thời khóa biểu các trường Liceo classico có từ 27 đến 29 tiết học mỗi tuần, mỗi tiết học là 60 phút; các trường loại Liceo scientifico có thời khóa biểu từ 25 đến 30 tiết mỗi tuần, mỗi tiết học cũng là

60 phút

c) Theo luật về quyền tự chủ của địa phương, được thực hiện vào tháng 9 năm

1999, các trường có quyền tự do hơn trong việc tổ chức ngày học, thời khóa biểu, các kỳ nghỉ lễ và việc tổ chức dạy học Chẳng hạn, họ có thể quyết định rút ngắn tuần học, thay đổi thời điểm và thời gian nghỉ lễ của nhà trường; hoặc quyết định buổi chiều học dài hơn để tập trung vào dạy học các môn như Ngoại ngữ hoặc Công nghệ thông tin Kết quả là các thời khóa biểu của các trường trở nên mềm dẻo hơn Trứớc đây thời khóa biểu của nhà trường dựa trên 6 ngày học/tuần và từ 8h sáng đến 1h chiều Giờ đây nhà trường được tự do lựa chọn tuần học ngắn hơn (5 ngày) với việc tăng thêm các lớp buổi chiều và có thể đề xuất các kì nghỉ giữa học kì, hoặc

có thể phân phối lại thời lượng cho các môn học, chẳng hạn như tổ chức các khóa học tập trung vào Ngoại ngữ Ngoài ra, các trường cũng có thể tự quyết định nội dung cho 20% chương trình, tuy nhiên nội dung của phần chương trình này cũng phải đáp ứng những mục tiêu quốc gia đã được xác đinh

2.4.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Việc phân hóa trong GD THPT của Italia được thực hiện bằng các loại trường THPT khác nhau (các trường Lycée) CTGD của các loại trường khác nhau thì khác

Trang 28

nhau Cùng một loại trường thực hiện cùng một CT gồm những môn học bắt buộc

và những môn tự chọn được quy định thống nhất trong toàn quốc (x 27)

a) Các loại trường Lyceé gồm: Trường Lycée truyền thống loại 2 năm (trường Gymnasium) ; Trường Lycée truyền thống loại 3 đến 5 năm ; Trường Lycée về Khoa học ; Trường Lycée về Nghệ thuật ; Trường Lycée về Mỹ thuật

b) Các môn học bắt buộc: Được quy định cho từng loại trường Lyceé (Xem chi tiết ở Phụ lục 11)

c) Môn học tự chọn đối với tất cả các loại trường Lyceé đều là môn Giáo dục tôn giáo

III MÔ HÌNH PHÂN LUỒNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC TỰ CHỌN THEO CÁC ĐỊNH HƯỚNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

3.1 Phân hoá trong giáo dục THPT của Trung Quốc

3.1.1 Một số đặc điểm

Trong khoảng 20 năm gần đây, Trung Quốc đã và đang từng bước tiến hành cải cách GD phổ thông trên mọi phương diện, từ thể chế, CT, SGK đến cơ cấu, loại hình trường lớp nhằm đào tạo một lớp người mới đáp ứng được các yêu cầu của

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thích ứng với một xã hội mới đang phát triển mạnh mẽ Một trong những yêu cầu của cải cách GD là thực hiện sự phân hóa trong GD: một mặt coi trọng GD trí dục, GD tư tưởng đạo đức, GD thể chất, mặt khác phải quan tâm đến sự phát triển của từng HS, làm cho cá tính và sở trường của mỗi HS được phát triển lành mạnh, phù hợp với các nhu cầu của gia đình và xã hội Thực tiễn GD Trung Quốc cho thấy HS có những đặc điểm về tâm sinh lí, về hoàn cảnh gia đình, xã hội hết sức đa dạng Quan tâm đến những khác biệt của HS, nghĩa là thực hiện phân hóa trong GD ở mọi cấp độ mới đảm bảo cho một nền GD

có chất lượng thực sự và đạt hiệu quả cao Mặt khác việc thực hiện phân hóa trong

GD phổ thông còn đáp ứng các yêu cầu đa dạng của sự phát triển kinh tế - xã hội và những xu hướng xã hội - nghề nghiệp không giống nhau của HS (x 4)

3.1.2 Cách thức thực hiện phân hoá

3.1.2.1 Các định hướng phân hóa trong giáo dục THPT

Phân hoá trong GD THPT của Trung quốc được thực hiện bằng việc quy định

Trang 29

các môn học bắt buộc, các giáo trình tự chọn và các môn học tự chọn cho mỗi một

trong số ba định hướng (luồng) sau: Định hướng I chú trọng giáo dục chuẩn bị bước vào nghề ; Định hướng II chú trọng khoa học xã hội và nhân văn để chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên ở các ngành này ; Định hướng III chú trọng khoa học

tự nhiên để chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên ở các ngành khoa học và kĩ thuật

Do có ba định hướng dành cho việc lựa chọn môn học nên có ý kiến cho rằng việc phân hoá trong GD THPT của Trung quốc được thực hiện bằng hình thức

"phân luồng" thông qua các môn học tự chọn trên cơ sở mặt bằng chung là các môn học bắt buộc (x 17)

3.1.2.2 Môn học bắt buộc và môn học tự chọn

Chương trình được thiết kế theo ba nhóm môn là nhóm các môn bắt buộc, nhóm các môn tự chọn có giới hạn (tự chọn bắt buộc) và nhóm các môn tự chọn tuỳ ý a) Nhóm các môn học bắt buộc gồm 12 môn là: Tư tưởng chính trị, Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ ( Tiếng Anh , Tiếng Nga , Tiếng Nhật, v.v ), Vật lí, Hoá học, Sinh vật, Lịch sử, Địa lí, Thể dục, Nghệ thuật và lao động kĩ thuật

b) Nhóm các môn học tự chọn có giới hạn là các môn học mà HS cần phải tăng cường học tập thêm một bước trên cơ sở các môn học bắt buộc, có chú trọng đến xu hướng sẽ tiếp tục học lên hay chuẩn bị bước vào nghề nghiệp Các môn tự chọn có giới hạn bao gồm: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ, Vật lí, Hoá học, Sinh vật, Lịch sử, Địa lí, Lao động kĩ thuật Tuỳ theo chí hướng, sở thích, nhu cầu mà HS lựa chọn các môn học theo sự hướng dẫn của GV

c) Nhóm các môn học tự chọn tuỳ ý là các môn học được bố trí để phát triển hứng thú, sở thích của HS, mở rộng và đào sâu kiến thức, bồi dưỡng sở trường, nâng cao năng lực nào đó của HS HS có thể căn cứ vào hứng thú, sở thích của cá nhân, dưới sự chỉ đạo của GV, tự chủ lựa chọn các môn học trong danh mục môn học tự chọn tuỳ ý mà nhà trường có thể cung cấp (Xem phụ lục 4)

3.2 Phân hoá trong giáo dục THPT của Hàn quốc

3.2.1 Một số đặc điểm

a) Nền GD của Hàn Quốc được nhiều nước trên thế giới đánh giá là một nền GD hiện đại và có hiệu quả cao Đội ngũ GV có trình độ tương đối cao, thể hiện ở khả năng của mỗi GV tự lực phát triển CT cho từng lớp HS mà họ được phân công

Trang 30

giảng dạy Trình độ quản lí của ban lãnh đạo nhà trường cũng rất tốt, đặc biệt là quản lí và giám sát các hoạt động chuyên môn của đội ngũ GV Cơ sở trường lớp và các phương tiện đảm bảo việc dạy và học khá hiện đại, thể hiện ở chỗ các trường đều tổ chức dạy học theo các học phần, do đó mỗi môn học được dạy và học ở những phòng học nhất định Ngoài ra hệ thống các phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm thực hành, phòng vi tính, phòng đa năng của mỗi trường khá đầy đủ và đẹp Chi phí cho giáo dục của Hàn Quốc khá cao trong bảng xếp hạng thế giới (x 19, 29, 40)

b) Việc dạy học ở lớp 10 của các trường THPT chủ yếu đảm bảo nền học vấn phổ thông trên cơ sở các môn bắt buộc Ngoài ra, HS được tham gia một số hoạt động tự chọn, để bước đầu phát hiện và bộc lộ năng lực, sở trường của mỗi HS c) Việc phân hóa trong GD THPT của Hàn Quốc được thực hiện chủ yếu ở lớp

11 và 12 với các môn học tự chọn (và các môn học bắt buộc) Các môn học tự chọn gồm nhóm các môn học phổ thông và nhóm các môn học chuyên ngành, trong đó nhóm các môn phổ thông lại được phân thành 5 lĩnh vực (5 định hướng hay 5 luồng) và gồm các giáo trình phổ thông và giáo trình nâng cao

d) Chương trình GD được chia thành các học phần Để tốt nghiệp THPT HS phải hoàn thành một số học phần đã được quy định cho mỗi loại giáo trình

3.2.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Việc phân hoá trong giáo dục ở trường THPT Hàn quốc được thực hiện bằng các

hoạt động tự chọn và học phần tự chọn Cụ thể như sau:

3.2.2.1 Lớp 10: Việc phân hoá dạy học ở lớp 10 được thực hiện bằng chương trình

chung với các môn học bắt buộc thống nhất trong toàn quốc và các hoạt động tự

chọn bắt buộc (xem Phụ lục 5a)

Trang 31

cho Khoa học nhân văn và xã hội gồm các môn tiếng Hàn, Giáo dục đạo đức, Tìm

hiểu xã hội ; Lĩnh vực II dành cho Khoa học tự nhiên và công nghệ gồm các môn Toán, Khoa học, Công nghệ, Kinh tế gia đình ; Lĩnh vực III dành cho Nghệ thuật và

thể dục gồm các môn Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật ; Lĩnh vực IV dành cho Ngoại ngữ ; Lĩnh vực V dành cho Tìm hiểu phổ thông gồm các môn Chữ Hán và Chữ Hán

cổ, các tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, huấn luyện quân sự và một số môn khác như Triết, Lôgic, Tâm lí, Giáo dục, Tôn giáo (Xem Phụ lục 5b)

Chương trình các môn tự chọn được xây dựng dưới dạng các giáo trình tự chọn

Có hai loại giáo trình tự chọn là giáo trình tự chọn phổ thông và giáo trình tự chọn

nâng cao (Xem Phụ lục 5c) Mỗi giáo trình bao gồm nhiều học phần Mỗi học phần

có thể có từ 2 đến 8 đơn vị học trình Muốn hoàn thành 1 đơn vị học trình phải học

17 tiết (mỗi tuần 1 tiết trong một học kì gồm 17 tuần)

- Các trường Trung học có thể tổ chức giảng dạy các môn học chuyên ngành Nhóm các môn chuyên ngành được phân thành nhiều lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, nghề cá và vận tải đường thuỷ, kinh tế gia đình và giáo dục nghề, khoa học, nghệ thuật, ngoại ngữ và ngoại giao Mỗi lĩnh vực đều bao gồm rất nhiều giáo trình chuyên ngành khác nhau Ví dụ lĩnh vực nông nghiệp có trên 70 giáo trình, lĩnh vực công nghiệp có trên 80 giáo trình, lĩnh vực khoa học có trên 20 giáo trình v.v Các giáo trình chuyên ngành cũng được phân thành các học phần (Xem Phụ lục 5d)

- Việc phân hoá dạy học được thực hiện như sau: Đối với các môn phổ thông, mỗi HS phải lựa chọn các giáo trình tự chọn và các hoạt động ngoại khoá sao cho trong hai năm học của lớp 11 và 12 có thể hoàn thành được 144 ĐVHT Trong đó

có 8 ĐVHT thuộc các hoạt động ngoại khoá và 136 ĐVHT thuộc các giáo trình tự chọn Trong số 136 ĐVHT thuộc các giáo trình tự chọn, HS phải chọn ít nhất 28 ĐVHT thuộc các giáo trình tự chọn phổ thông và số còn lại là các ĐVHT thuộc các giáo trình tự chọn nâng cao Để bảo đảm sự cân đối trong GD, mỗi HS phải chọn trong nhóm các môn học phổ thông tối thiểu 2 giáo trình thuộc lĩnh vực V và ít nhất

1 giáo trình cho mỗi lĩnh vực thuộc 4 lĩnh vực còn lại Từng trường có thể quy định

số ĐVHT chuẩn (từ 2 đến 4 đơn vị) cho mỗi giáo trình tự chọn

Trang 32

3.3 Phân hoá trong giáo dục THPT của Sinhgapo

3.3.1 Một số đặc điểm

Năm 2002, Chỉnh phủ Sinhgapo đã chấp nhận khuyến cáo của Bộ Giáo dục nhằm làm cho Chương trình THPT phong phú hơn, linh hoạt hơn và đa dạng hơn và

do đó tạo ra nhiều cơ hội học tập cho HS hơn Cụ thể là (x 18, 32):

a) Tập trung nhiều hơn vào việc hình thành các kĩ năng nhận thức, đặc biệt là các

kĩ năng tư duy và truyền đạt thông tin Điều này được thực hiện nhờ các môn học dựa trên nội dung, nhờ Bài tiểu luận (General Paper), nhờ môn học Làm việc theo

dự án (Project Work) và nhờ môn tự chọn mới là Hiểu biết và Tìm hiểu (Knowledge and Inquiry)

b) Làm cho nền GD THPT phong phú và cân đối hơn, trong đó yêu cầu HS phải học đều các môn về Nghệ thuật/Nhân văn và Toán/Khoa học tự nhiên, phải tham gia làm Bài tiểu luận, theo học môn Làm việc theo dự án và môn Tiếng mẹ đẻ

c) Tạo cho HS có sự lựa chọn linh hoạt hơn khi xác định phạm vi học tập cũng như trong việc tổ hợp các môn học Điều này được thực hiện bằng cách đưa vào hai trình độ H1 và H2 đối với mỗi môn học dựa trên nội dung, trong đó trình độ H2 hoàn toàn tương đương với trình độ “A” GCE hiện hành (GCE là viết tắt của cụm từ General Certificate of Education, có nghĩa là Chứng chỉ Giáo dục phổ thông, còn GCE ‘A’ Levels là viết tắt của GCE Advanced Levels, có nghĩa là Trình độ Giáo

dục phổ thông nâng cao), còn trình độ H1 tương đương với một nửa trình độ H2

HS phải học ít nhất ba môn dựa trên nội dung ở trình độ H2

d) Tạo điều kiện để HS mở rộng phạm vi học tập so với chương trình thông thường và theo học những lĩnh vực học tập mà mỗi HS có thế mạnh và có niềm say

mê riêng Đó là các môn học với trình độ mới H3, là trình độ đòi hỏi khả năng nghiên cứu độc lập, các giáo trình nhập môn đại học hoặc các phần chương trình mới do Bộ Giáo dục phát triển

e) Giảm bớt các môn học dựa trên nội dung để giảm tải CT và dành thời gian cho những môn học tăng cường như môn Làm việc theo dự án Coi trọng các CT không hàn lâm để phát triển cá tính, khả năng lãnh đạo và các kĩ năng làm việc với đồng đội

g) Thực hiện các CT học tập tích hợp để mang lại cho HS nhiều ích lợi hơn và

Trang 33

họ có thể tiến bộ nhanh chóng hơn Thời gian dôi ra được dùng để phát triển hơn nữa khả năng tư duy sáng tạo, tư duy phê phán và khả năng lãnh đạo ở HS

h) CT khung THPT được tổ chức theo ba vòng: Vòng trong cùng tập trung vào

các kĩ năng sống, CT vòng này gồm các môn không hàn lâm (như môn Giáo dục công dân và Đạo đức, Giáo dục dân tộc, Tìm hiểu các nghề và Hoạt động phát triển

cá tính) ; Vòng giữa tập trung vào các kĩ năng nhận thức nhằm phát triển tư duy của

HS, phát triển các kĩ năng xử lí thông tin CT vòng này gồm các môn như Bài tiểu

luận, Làm việc theo dự án, Hiểu biết và Tìm hiểu ; Vòng ngoài cùng gồm các môn

học dựa trên nội dung (như các môn Ngôn ngữ, các môn Nhân văn/Nghệ thuật, môn Toán, Khoa học tự nhiên) để đảm bảo cho HS có một nền tảng kiến thức đa môn

3.3.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Việc phân hóa trong GD THPT của Sinhgapo được thực hiện bằng việc phân

luồng kết hợp với môn học, giáo trình tự chọn trên một nền tảng chung là các môn học cốt lõi, bắt buộc, trong đó việc dạy học tự chọn được tổ chức theo các định

hướng (hay các luồng)

a) HS THPT có thể theo học một trong ba luồng là: Luồng Văn học-Nghệ thuật (the arts stream) ; Luồng Khoa học tự nhiên (the science stream) ; Luồng Thương

mại (the commerce stream)

b) Các môn học bắt buộc: Mỗi HS theo học bất kì luồng nào trong số ba luồng trên đây đều phải học các môn bao gồm: Các môn thi chủ yếu là Tiếng mẹ đẻ (tiếng Trung Quốc, tiếng Malay hoặc tiếng Tamil), Bài tiểu luận và các môn không thi gồm Giáo dục công dân và Đạo đức, Giáo dục thể chất

c) Các môn tự chọn: HS lựa chọn các môn học tuỳ theo sở thích, khuynh hướng

và ngành học ở đại học mà họ hướng tới HS theo học bất cứ luồng nào trong số ba

luồng nêu trên đều phải chọn từ 3 đến 4 môn ở trình độ “A”GCE và từ 1 đến 2 môn

ở trình độ “AO” GCE (Xem Phụ lục 6)

Các môn tự chọn của mỗi luồng là: Luồng Văn học-Nghệ thuật có các môn tự chọn là Văn học, Kinh tế, Lịch sử, Địa lí, Toán, Nghệ thuật, Âm nhạc ; Luồng Khoa

học tự nhiên có các môn tự chọn là Vật lí, Sinh học, Hoá học, Khoa học vật thể

(Physical Science), Toán, Toán bổ trợ, Kinh tế, Vi tính ; Luồng Thương mại có các

môn tự chọn là Các nguyên tắc kế toán, Quản lí doanh nghiệp, Kinh tế, Toán

Trang 34

3.4 Phân hoá trong giáo dục THPT của Tây Ban Nha

3.4.1 Một số đặc điểm

a) Chương trình THPT của Tây Ban Nha được thực hiện trong 2 năm học cuối

cùng của GD phổ thông Trong đó phần CT cốt lõi và là tối thiểu của cấp này được thực hiện thống nhất chung cho toàn quốc, chiếm từ 55% đến 65% tổng thời gian học tập trên lớp Sau đó các Cộng đồng tự chủ, các cơ sở quản lí GD và các trường THPT sẽ phát triển và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể (x 33)

b) Trước đây, các trường đều phải dạy tôn giáo như một môn học độc lập Hiện nay, HS có thể lựa chọn giữa tôn giáo hoặc các hoạt động thay thế

c) Hầu hết HS chọn học Tiếng Anh là môn học bắt buộc và là môn Ngoại ngữ hiện đại bắt buộc thứ nhất Tiếng Pháp thường được lựa chọn là Ngoại ngữ thứ hai

3.4.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Việc phân hóa trong GD THPT được thực hiện bằng việc tổ chức dạy học tự chọn theo các định hướng, trên mặt bằng là các môn học cốt lõi và bắt buộc Cụ thể là:

a) Hiện nay chương trình THPT được phát triển theo 4 định hướng là: Nghệ

thuật; Khoa học tự nhiên và Sức khoẻ ; Khoa học xã hội và Nhân văn ; Công nghệ

Trong đó mỗi trường phải tổ chức ít nhất 2 định hướng để HS lựa chọn

b) Các môn học cốt lõi, bắt buộc: Mọi HS, lựa chọn bất kì định hướng nào trong

số 4 định hướng trên đây, đều phải học các môn học bắt buộc gồm (rải ra trong hai năm học): Văn học và Tiếng Tây Ban Nha, Ngoại ngữ, Triết học, Lịch sử, Tôn giáo hoặc các hoạt động thay thế, Giáo dục thể chất

c) Các môn học tự chọn bắt buộc: Mỗi năm học, HS phải chọn học 3 trong số các môn tự chọn bắt buộc được quy định khác nhau cho mỗi định hướng Ví dụ định hướng Khoa học tự nhiên và Sức khoẻ có các môn tự chọn là: Vật lí và Hóa học, Sinh học và Địa chất học, Toán 1, Toán 2, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Vẽ kĩ thuật, Trái Đất và Khoa học về môi trường (Xem chi tiết Phụ lục 7 về danh sách các môn

tự chọn bắt buộc đối với mỗi định hướng)

d) Các môn tự chọn tuỳ ý: Theo quy định, ở năm học thứ nhất HS có thể chọn 1 môn học tuỳ theo nguyện vọng, sở thích cá nhân và ở năm học thứ hai có thể chọn học 2 môn loại này Ngoài ra, nếu được sự đồng ý của Hội đồng giáo viên, một số

Trang 35

HS có thể được phép chọn thêm một môn học nữa loại này (Xem Phụ lục 7)

3.5 Phân hoá trong giáo dục Trung học phổ thông của Thụy Điển

3.5.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Việc phân hóa trong GD THPT của Thụy Điển được thực hiện trước hết bằng các CT cấp quốc gia kết hợp với các môn học tự chọn trên nền tảng các môn học cốt lõi, bắt buộc

3.5.2.1 Các CT cấp quốc gia bao gồm:

a) 2 chương trình dành cho các khoa học cơ bản là:

- Chương trình về Khoa học tự nhiên gồm các môn: Khoa học tự nhiên,Toán, Máy tính và các Khoa học về môi trường Chương trình này thường hướng tới việc học tiếp lên về Toán, về Khoa học tự nhiên và Công nghệ thông tin

- Chương trình về Khoa học xã hội gồm các môn: Kinh tế, Văn hoá, các Khoa

học xã hội và các Ngôn ngữ Chương trình này thường nhằm tới việc học tiếp lên về Khoa học xã hội, Kinh tế và/hoặc các Ngôn ngữ

b) 15 chương trình chuyên ngành, định hướng bước đầu cho nghề nghiệp và các chương trình khác để thực hiện phân hoá trong giáo dục THPT (Xem Phụ lục 8a)

3.5.2.2 Các môn học cốt lõi, bắt buộc

Mọi loại hình GD THPT (nghĩa là toàn bộ 17 chương trình giáo dục quốc gia, chuyên biệt hoặc các chương trình cá nhân) đều có một nền tảng chung gồm 8 môn

học bắt buộc mà mọi HS đều phải học, chiếm khoảng 1/3 tổng thời lượng học tập

Đó là các môn: Tiếng Thụy Điển/ Tiếng Thụy Điển như là ngôn ngữ thứ hai; Toán; Tiếng Anh; Xã hội học/ Công dân học; Các Khoa học tự nhiên; Tôn giáo học; Hoạt động nghệ thuật; Thể thao/Giáo dục sức khoẻ và thể chất

3.5.2.3 Các môn học tự chọn:

Trong các CT quốc gia, mỗi HS thường có 300 giờ học dành cho các môn học

Trang 36

lựa chọn của riêng từng cá nhân HS Chẳng hạn, họ có thể chọn học một ngoại ngữ khác hoặc chọn các môn học của các CT khác

3.6 Phân hoá trong giáo dục Trung học phổ thông của Hà Lan

b) Cấp THPT của tất cả các loại hình nhà trường gồm các môn học sau: Tiếng

Hà Lan (Dutch), Tiếng Anh, Tiếng Pháp hoặc Tiếng Đức, Lịch sử và Chính trị, Địa

lí, Toán, Vật lí và Hóa học, Sinh học, Âm nhạc, Khiêu vũ và Kịch, Giáo dục thể chất, Công nghệ, Kĩ năng sống, Công nghệ thông tin, Kinh tế và các môn tự chọn

CT của các trường khác nhau ở mức độ chuyên sâu của các môn học, ở thời lượng phân bổ cho mỗi môn học (x 30)

3.6.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Việc phân hóa trong GD THPT của Hà Lan được thực hiện bằng việc tổ chức các môn học tự chọn theo các định hướng, trên cơ sở các môn học bắt buộc đối với mỗi loại bằng HAVO hay VWO (Xem Phụ lục 9a và 9b)

a) Các định hướng: Các môn học nêu trên đây được lựa chọn và kết hợp thành 4

định hướng sau: Khoa học và Công nghệ ; Khoa học và Sức khoẻ ; Kinh tế và Xã

hội ; Văn hoá và Xã hội

b) Các môn học bắt buộc: Mỗi định hướng trên đây đều gồm các môn học bắt buộc bao gồm các môn học cốt lõi và các môn chuyên sâu riêng đối với từng định hướng (Xem Phụ lục 9a)

c) Các môn tự chọn tuỳ ý: Danh mục các môn học này được xây dựng chung cho

cả hai loại bằng HAVO và VWO (Xem Phụ lục 9a và 9b)

3.7 Phân hoá trong giáo dục Trung học phổ thông của Đức

3.7.1 Đặc điểm của chương trình giáo dục

a) Ở Đức có các CTGD khung và CT chi tiết bắt buộc ở cấp quốc gia đối với

Trang 37

mọi môn học, cũng như đối với các lĩnh vực học tập trong các loại hình trường bắt

buộc (học hai buổi/ngày hoặc một buổi/ngày) Ở cấp này, Viện Liên bang về Giáo

dục Nhà trường và Người lớn giám sát việc phát triển các CTGD cấp liên bang

b) Ở cấp bang, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Văn hoá của mỗi bang chịu trách nhiệm phát triển và thực hiện các CTGD của các môn học được giảng dạy tại các cấp lớp và các loại hình nhà trường khác nhau

c) Ở cấp thấp hơn cấp bang, phụ trách việc phát triển các CT là các Uỷ ban phụ trách về phát triển CT Đó là các chuyên gia bộ môn, đại diện của ban thanh tra và một thành viên của Viện liên bang

d) Mỗi bang đều có một số loại hình trường THPT Các trường THPT cùng loại

và ở cùng một bang thì có cùng một CTGD với cùng một tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập của HS, cũng như các quy định về các điều kiện công nhận tốt nghiệp THPT (cấp bằng Abitur) Bằng tốt nghiệp THPT là điều kiện để HS ghi tên vào học các trường Đại học (ở Đức không có kì thi tuyển sinh vào tất cả các trường Đại học) e) Nhiệm vụ cơ bản của GV ở trường THPT là phải liên kết các mục tiêu đã được tuyên bố trong CTGD với các đặc trưng riêng của HS trong lớp học Vì thế bổn phận của GV là phải cộng tác với GV các bộ môn khác và chi tiết hoá các CT chung cho mỗi lớp hoặc cho mỗi năm học Chẳng hạn, các GV bộ môn sẽ quyết định sử dụng SGK nào đã được bang chuẩn y và các GV giảng dạy cùng một bộ môn ở các lớp khác nhau sẽ hợp tác như thế nào trong việc lập kế hoạch giảng dạy và chuẩn bị các bài kiểm tra trên lớp

3.7.2 Cách thức thực hiện phân hoá

Việc phân hoá trong GD ở Đức được thực hiện bằng các CTGD ở nhiều tầng bậc khác nhau, từ CTGD cấp liên bang, tới cấp bang và xuống tới từng trường THPT

CT của các trường THPT đều hướng HS vào việc thi lấy bằng Abitur (bằng tốt nghiệp THPT), trong đó việc phân hóa trong GD còn được thực hiện thông qua các môn học bắt buộc, các môn học tự chọn và với chương trình cơ bản và chương trình nâng cao đối với mỗi môn học (x 24)

a) Ở cấp liên bang có CTGD khung và và CT chi tiết bắt buộc đối với mọi môn học, cũng như đối với các lĩnh vực học tập trong các loại hình trường

b) Bộ Giáo dục của mỗi bang phát triển CTGD của các môn học được giảng dạy

Trang 38

tại các cấp lớp và các loại hình nhà trường khác nhau Các loại hình trường Trung học khác nhau trong cùng một bang có các CT giáo dục khác nhau và do đó các môn học bắt buộc và các môn tự chọn bắt buộc cũng được quy định khác nhau HS của những loại hình trường THPT sau đây được phép thi lấy bằng Abitur:

- Trường THPT (Gymnasium hoặc Gymnasiale Schule), Trường THPT kết hợp (Gesamtschule), Trường THPT chuyên ngành (Berufliches Gymnasium or Fachgymnasium): HS có bằng Abitur của các trường này được vào học tất cả các loại trường Đại học

- Trường Trung học dạy nghề (Berufsoberschule), Trường Trung học chuyên ngành (Fachoberschule), Trường Trung cấp nghề (Berufsfachschule): HS có bằng Abitur của các trường này thì chỉ được vào học các trường Đại học chuyên ngành c) Các môn học bắt buộc: Các môn học này được quy định tùy theo loại hình trường Trung học, trong đó Tiếng Đức, Ngoại ngữ, Toán, Giáo dục tôn giáo và Thể thao là môn học bắt buộc Nói chung các môn học bắt buộc được phân thành 3 lĩnh

vực chính là: Ngôn ngữ, Văn học, Nghệ thuật (ví dụ: Tiếng Đức, các Ngoại ngữ, Nghệ thuật tạo hình, Âm nhạc) ; Các khoa học xã hội (ví dụ: Lịch sử, Địa lí, Triết học, các Nghiên cứu xã hội, Chính trị, Kinh tế) ; Toán, các Khoa học tự nhiên,

Công nghệ (ví dụ: Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học)

Để đạt trình độ THPT, mỗi HS phải: học các môn trong mỗi lĩnh vực nêu trên cho hết lớp 13 tại trường hoặc hết lớp 12 với những điều kiện được quy định riêng ; thi lấy được bằng Abitur Kì thi này gồm ít nhất 4 môn thuộc 3 lĩnh vực nêu trên, trong đó Tiếng Đức và một Ngoại ngữ là 2 môn bắt buộc và có 2 môn ở trình độ nâng cao Mỗi môn của chương trình THPT dành cho việc thi lấy bằng Abitur được

phân thành Chương trình cơ bản và Chương trình nâng cao: Chương trình cơ bản

(thường dạy 3 giờ/môn/tuần) được thiết kế để bảo đảm rằng HS đạt được một nền

giáo dục đại cương rộng rãi và học qua hai phần ba số chương trình này ; Chương

trình nâng cao (thường dạy từ 5 đến 6 giờ/môn/tuần) được thiết kế để cung cấp

những kiến thức bổ sung tăng cường và để đáp ứng như là một sự khởi đầu làm quen với việc đi sâu nghiên cứu có tính chất hàn lâm Vì thế, trong các chương trình thi lấy bằng Abitur, các môn học chuyên sâu được biên soạn ở trình độ nâng cao

d) Các môn học tự chọn: HS phải lựa chọn ít nhất 2 môn nâng cao, trong đó môn

Trang 39

nâng cao thứ nhất phải là một trong số các môn Tiếng Đức, Ngoại ngữ thứ hai,

Toán hoặc một môn Khoa học tự nhiên Nếu chọn Tiếng Đức là chương trình nâng cao thứ nhất thì Toán hoặc Ngoại ngữ phải được chọn trong số bốn môn ở kì thi lấy

bằng Abitur Môn học nâng cao thứ hai được chọn phải là Ngoại ngữ hoặc các môn

học nghề trong số các môn học mới của THPT Một số bang hạn chế việc lựa chọn các CT nâng cao bằng việc chọn các tổ hợp các môn học

e) HS phải lựa chọn để tự xây dựng thành CT học tập riêng của mình Tuy vậy, các CT học tập của HS hầu hết gồm 2 môn học ở trình độ nâng cao và ít nhất 2 môn học ở trình độ cơ bản Trên thực tế, sự tuỳ ý lựa chọn này của HS đã xoá bỏ thời khoá biểu dành cho mỗi lớp trong GD THPT ở Đức Tuy nhiên, bất chấp sự tự do này, HS phải tự điều chỉnh để “giữ cân bằng” giữa các môn học chủ yếu và các môn học thứ yếu sao cho chúng không trở nên quá chuyên sâu (Xem thêm ở Phụ lục 10)

IV MÔ HÌNH PHÂN HÓA TRONG GIÁO DỤC HOÀN TOÀN BẰNG CÁC MÔN HỌC TỰ CHỌN

4.1 Phân hoá trong giáo dục THPT của Hoa Kì

4.1.1 Một số đặc điểm

a) Ở Mỹ, đối với tất cả các cấp học, kể cả cấp THPT, không có CT chung cho toàn liên bang Mỗi bang có CT, sự chỉ đạo và hướng dẫn riêng Tuy nhiên tất cả 50 bang phải tuân thủ những điểm quy định chung trong luật liên bang đối với những

môn Ngữ pháp tiếng Anh, Đọc và Viết, Toán, Khoa học tự nhiên và Phương pháp

khoa học, Lịch sử Hợp chủng quốc Hoa Kì và Nhà nước Hoa Kì, Nghệ thuật, Âm nhạc, Sức khoẻ và Dinh dưỡng, Thực hành nghệ thuật, Giáo dục thể chất, Địa lí, các Ngoại ngữ Nhiều trường đã bắt đầu dạy Lịch sử, Văn hoá và Truyền thống của

các quốc gia và các dân tộc khác

b) Mặc dù luật liên bang đã có những quy định chung đối với những môn học đã nêu trên, nhưng mỗi bang có thể lựa chọn và xây dựng một hệ thống các môn học bắt buộc riêng, tuỳ theo kế hoạch tương lai của bang đó Chẳng hạn, Ngoại ngữ là môn học bắt buộc ở một số bang, nhưng lại là môn học tự chọn bắt buộc hoặc tự chọn tuỳ ý ở một số bang khác

c) Mỗi bang và mỗi trường có trách nhiệm xây dựng chương trình các môn học

Trang 40

tự chọn và xác định nội dung các giáo trình tự chọn

d) Mỗi HS tự lập kế hoạch học tập riêng của cá nhân và do đó có một thời khoá biểu riêng, phù hợp với các quy định chung của bang và của nhà trường, phù hợp với khả năng, nguyện vọng và mong muốn của bản thân Vì thế mà một GV lên lớp giảng dạy ở một phòng học cố định, còn HS, theo thời khoá biểu của riêng mình, tới các phòng học khác nhau để học môn học khác nhau (x 36)

4.1.2 Cách thức thực hiện phân hoá

a) Việc phân hoá trong GD THPT được thực hiện hoàn toàn bằng các môn học

mà HS tự lựa chọn, kể cả việc tự chọn các môn học bắt buộc, và được tổ chức để phù hợp với các trình độ khác nhau của HS Cụ thể là:

- Mỗi bang chỉ quy định tổng số ĐVHT cần đạt để tốt nghiệp THPT, trong đó gồm số ĐVHT cho mỗi môn học bắt buộc và tổng số ĐVHT đối với các môn học tự chọn Do đó mỗi HS, tuỳ theo năng lực, hứng thú, nguyện vọng, sở thích, mong muốn, có thể chọn môn học bắt buộc và môn học tự chọn cho từng năm học, không nhất thiết phải theo một trình tự bắt buộc nào

- Mỗi môn học lại có ba loại giáo trình được xây dựng theo ba trình độ là: trình

độ cơ bản (basic), trình độ khá (standard) và trình độ giỏi (honor – trình độ cao nhất) HS, tuỳ theo khả năng mà lựa chọn theo học trình độ phù hợp, chứ không phải bắt buộc học tất cả

b) Các môn học bắt buộc và số ĐVHT cần đạt đối với mỗi môn học này được quy định tùy theo mỗi bang (Xem Phụ lục 12a và 12c)

c) Các môn học tự chọn: Mỗi bang giới thiệu các môn tự chọn khác nhau tuỳ theo yêu cầu của địa phương (Xem Phụ lục 12b)

4.2 Phân hoá trong giáo dục THPT của Anh

4.2.1 Một số đặc điểm

a) Nước Anh không có CTGD THPT thống nhất cho toàn quốc và đây là giai

đoạn GD không bắt buộc Nhà nước chỉ ban hành các tiêu chuẩn đánh giá chất

lượng học tập và được thể hiện trong các CT chi tiết

b) Mỗi HS căn cứ vào khả năng, nguyện vọng, sở thích và các điều kiện khác của riêng mình, đối chiếu với các chuẩn đánh giá chất lượng học tập để tự xây dựng một CT học tập phù hợp Các CT học tập mà mỗi HS lựa chọn và xây dựng đều

Ngày đăng: 31/07/2014, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu Hội nghị sơ kết một năm thực hiện đổi mới giáo dục THPT, Hà Nội – 6/2007 Khác
2. Nguyễn Hữu Châu (Chủ biên), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2007 Khác
3. Chiến lược hiện đại hóa nội dung giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục CHLB Nga, M. 2002 Khác
4. Hai mươi năm cải cách thể chế GD Trung Quốc, NXB Cổ Tịch, Trung Châu Khác
6. Hội Thông tin Giáo dục quốc tế, Giáo dục Nhật Bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2001 Khác
7. Hội Thông tin Giáo dục quốc tế, Hiện đại hóa Giáo dục Nhật Bản (Tập I và tập II), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2002 Khác
8. Chử Hồng Khởi, Con đường hiện đại hóa Giáo dục, NXB Giáo dục – 2006 Khác
10. Phân ban trong Trường Trung học ở Việt Nam, Trung tâm TTKHGD, Viện KHGD, 1994 Khác
11. Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, 2002 Khác
12. Phương án chương trình Cao trung (Trung học phổ thông - thực nghiệm) do Bộ Giáo dục nước CHND Trung Hoa xây dựng, NXB Giáo dục Nhân dân Trung Quốc Khác
13. Nguyễn Đăng Tiến, Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kí lịch sử”, 2001. (tr. 79) Khác
14. Trường ĐHSP Hà Nội, Viện Nghiên cứu sư phạm, Kỉ yếu Hội thảo khoa học, Phân hóa giáo dục phổ thông, Hà Nội, 06 – 2007 Khác
15. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, 1848 Khác
17. Vụ Giáo dục cơ sở, Bộ Giáo dục Trung Quốc, NXB Giáo dục ND TQ, 1997. TÀI LIÊU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Khác
18. Contact Singapore, Secondary School, 2004 Khác
19. Education in Korea, Ministry of Education, the Republic of Korea, S.1999 Khác
20. L’enseignement secondaire en France, Ministre de l’Éducation Nationale, Paris 1993 Khác
21. INCA, Australia, Curricula, 10/2005 Khác
22. INCA, Canada, Curricula, 10/2006 Khác
23. INCA, France, Curricula, 7/8/2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1.2. Bảng tổng quan các nước thực hiện theo ba mô hình phân hóa trên đây: - xây dựng mô hình phân hoá bậc trung học trong giai đoạn cải cách giáo dục
1.1.2. Bảng tổng quan các nước thực hiện theo ba mô hình phân hóa trên đây: (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w