Tổng quan về cơ sở lý luận phát triển Trung tâm HTCĐ Các báo cáo khoa học về "Cơ sở khoa học của các giải pháp quản lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng
Trang 1Häc viÖn Qu¶n lý Gi¸o dôc
Mét sè gi¶i ph¸p qu¶n lý ph¸t triÓn hÖ thèng
Trang 2Tóm tắt kết quả nghiên cứu
- Tên đề tài: Một số giải pháp quản lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập
cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
- Mã số: B2008 - 29 - 30TĐ
- Chủ nhiệm đề tài : PGS TS Ngô Quang Sơn
Tel 090 341 7982 E-mail : ict10000@gmail.com
- Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Quản lý giáo dục
- Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Vụ Giáo dục thường xuyên; Trung tâm XMC và GDTX, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; Các Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, các Trung tâm học tập cộng đồng và các chuyên gia giáo dục ; UNESCO Bangkok, UNESCO Hà Nội
- Thời gian thực hiện: tháng 5 năm 2008 đến tháng 5 năm 2010
2.1 Hệ thống hoá những nội dung chủ yếu về cơ sở lý luận của việc quản lý
phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học
tập ở Việt Nam
2.2 Đánh giá thực trạng thành lập và phát triển hệ thống Trung tâm HTCĐ 2.3 Đề xuất các giải pháp quản lý phát triển hệ thống Trung tâm HTCĐ góp phần xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
2.4 Thử nghiệm các giải pháp (trên phạm vi 4 tỉnh), lấy ý kiến phản hồi và điều chỉnh các giải pháp
2.5 Biên soạn sổ tay hướng dẫn quản lý phát triển bền vững các Trung tâm HTCĐ (cho Chủ nhiệm Trung tâm HTCĐ)
2.6 Thử nghiệm tiếp tục các giải pháp đã được điều chỉnh và sử dụng quyển sổ tay hướng dẫn quản lý phát triển bền vững các Trung tâm HTCĐ (Tại một số Trung tâm HTCĐ ở các tỉnh)
3 Kết quả chính đạt được
3.1 Báo cáo :
Trang 3- Cơ sở lý luận của việc thành lập và phát triển bền vững Trung tâm học tập cộng đồng
Tổng quan về cơ sở lý luận phát triển Trung tâm HTCĐ
Các báo cáo khoa học về "Cơ sở khoa học của các giải pháp quản lý
phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở trên thế giới và ở Việt Nam"
- Các chuyên đề lý luận về vấn đề nghiên cứu
- Báo cáo khoa học trong các hội thảo về cơ sở lý luận
3.3 Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài
3.4 Báo cáo tóm tắt đề tài
3.5 Sổ tay hướng dẫn việc quản lý phát triển bền vững cácTrung tâm HTCĐ (Cho Chủ nhiệm Trung tâm HTCĐ)
3.6 Một số bài báo khoa học đăng trên các Tạp chí trong nước và nước ngoài
có liên quan đến kết quả nghiên cứu của đề tài:
- 03 bài báo đăng trong Kỷ yếu Khoa học của Hội nghị Quốc tế ( Tiếng
Anh)
- 05 bài báo đăng trong Tạp chí Khoa học ở trong nước (Tiếng Việt)
3.7 Góp phần xây dựng Tài liệu tập huấn, bài giảng trong các lớp cử nhân QLGD tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội trong các năm
2008 – 2010
3.8 Hướng dẫn học viên cao học làm luận văn Thạc sĩ QLGD về Trung tâm
HTCĐ: 03 học viên Cao học đã bảo vệ xuất sắc (2008 - 2009)
- Hướng dẫn 01 Đề cương Luận án nghiên cứu sinh về Trung tâm học tập cộng đồng:“ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Trung tâm học tập cộng
đồng ở Việt Nam”, xét tuyển nghiên cứu sinh QLGD năm 2010 tại Hội đồng Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam
Trang 4- Hướng dẫn viết 01 Đề cương Luận văn Thạc sĩ và sẽ hướng dẫn Luận văn Thạc sĩ về Trung tâm học tập cộng đồng: “Quản lý ứng dụng Cụng nghệ
Thụng tin và Truyền thụng trong dạy học cho học viờn lớn tuổi ở cỏc Trung tõm học tập cộng đồng”, Luận văn Thạc sĩ QLGD năm 2010 - 2011 tại Đại học
Sư phạm Hà Nội
- Góp phần hướng dẫn học viên Cao học làm luận văn Thạc sĩ QLGD về Trung tâm HTCĐ: 2 học viên Cao học đã bảo vệ xuất sắc (2009)
SUMMARY
- Project Title: Some Management Solutions for Developing Community
Learning Center System and Contributing Learning Society Development in Vietnam
- Code Number: B2008 - 29 - 30TĐ
- Coordinator: Assoc.Prof Dr Ngo Quang Son
Tel 0903417982 E-mail : ict10000@gmail.com
- Implementing Institution: National Insttitute for Education Management (NIEM), Ministry of Education and Training (MOET)
- Cooperating Institution (s): Continuing Education Department, Ministry of Education and Training (MOET); Center for Literacy and Continuing Education, Vietnam Education Science Institute; Provincial Offices of Education and Training (POET);District Offices of Education and Training (DOET); Community Learning Centers and National and Local Education Experts; UNESCO Bangkok, UNESCO Hanoi
- Duration: from May 2008 to May 2010
1 Objectives
On basis of theoretical and practical to propose some management solutions for developing Community Learning Center System and contributing Learning Society Development in Vietnam
2 Main contents
2.1 To systematize key contents about theoretical basis of the development management of Community Learning Center System and contributing Learning Society Development in Vietnam
Trang 52.2 To assess the establishment and development of present Community Learning Center System
2.3 To propose some management solutions for developing Community Learning Center System and contributing Learning Society Development in Vietnam
2.4 To test solutions (in 4 provinces), collect feedbacks and revise solutions 2.5 To compile Handbook of establishing and maintaining the sustainable development of Community Learning Centers for Chairman of Community Learning Centers
2.6 To continue testing revised solutions and use the Handbook of establishing Community Learning Centers (in some provincial Community Learning Centers)
3.Main Results Obtained (Science, Application, Training )
3.1 Science Reports
Theoretical basis of the establishment and sustainable development of Community Learning Centers
- Theoretical themes on research
- Scientific report in seminars of theoretical basis
3.2 Establishing and developing situation of Community Learning Centers
- Criteria and set of investigating orders to assess establishing and developing situation of Community Learning Centers (Three Questionaires for Managers, Teachers and Learners)
- Report on establishing and developing situation of Community Learning Centers
- Scientific reports at local seminars on establishing and developing situation of Community Learning Centers
3.3 Report on research results
3.4 Brief research report
3.5 Handbook of establishing and maintaining the sustainable development of Community Learning Centers for Community Learning Centers Chairman
3.6 Scientific articles relating results of topic research in National and International Magazines:
- 03 scientific articles in English
- 05 scientific articles in Vietnamese
Trang 63.7 Partly contribute to the development of training materials, lectures in Education Management BA Courses at Hanoi National University and Hanoi University of Education from 2008 - 2010
3.8 Guide 03 Education Management MA Thesis on Community Learning
Trang 7mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của việc chọn đề tài nghiên cứu
Nền giáo dục của các nước đều hướng tới những tư tưởng của giáo dục hiện đại như Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO đã kết luận: Giáo dục dựa trên bốn trụ cột “Học để biết, Học để làm, Học để cùng chung sống với nhau
và Học để làm người” Bốn trụ cột này đặt trên nền tảng học tập suốt đời và xây dựng một xã hội học tập Bước vào thế kỷ XXI, một trong những nhân tố quyết
định, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế là chất lượng nguồn nhân lực của mỗi quốc gia Đứng trước một thế giới đang chuyển từ một xã hội công nghiệp hoá theo kiểu truyền thống sang một xã hội mà tri thức đang xuất hiện và nổi trội lên, sự thách thức đối với mỗi nước là phải trở thành một xã hội học tập và phải bảo đảm cho công dân của mình được trang bị kiến thức, kỹ năng và tay nghề cao Giáo dục thường xuyên (GDTX) ngày nay đã và đang trở thành công cụ để mở rộng cơ hội học tập cho mọi người và để xây dựng xã hội học tập
Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó Trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến nhân tố con người, coi sự phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực chính của sự phát triển kinh tế – xã hội Giáo dục- đào tạo được xem là cơ sở của sự phát triển nguồn nhân lực, con đường cơ bản để phát huy nguồn lực con người
Xõy dựng xó hội học tập là một sự nghiệp lớn của thời đại mà quốc gia nào, nếu khụng muốn an bài, đều phải nhanh chúng bắt tay vào cụng việc này Kết quả tất yếu do XHHT mang lại là tăng nhanh tri thức như một nguồn của cải quan trọng nhất của xó hội Caul Romer: “ Động lực của tăng trưởng bắt nguồn từ tớch lũy tri thức” Tri thức cú tớnh khụng cạnh tranh và tớnh khụng thể bài ngoại từng phần, tri thức mang lại lợi ớch cho người phỏt minh ra nú và cho người sở hữu nú, làm tăng tổng khối lượng tri thức của toàn xó hội Xõy dựng xó hội học tập là cụng việc làm tăng nhanh vốn tri thức, từ đú làm chuyển đổi xó hội, thực hiện việc hiện đại húa cỏc quan hệ truyền thống, hiện đại húa phương thức tư duy truyền thống, cựng cỏc vấn đề y tế, văn húa, phỏt triển nhõn lực Từ đú, con người sẽ nắm tốt hơn vận mệnh của mỡnh, mở rộng tầm nhỡn, giảm thiểu những ỏch tắc xó hội, nhờ
đú đời sống của mỗi quốc gia cũng như đời sống của nhõn loại sẽ phong phỳ hơn, hạnh phỳc hơn, giàu cú hơn
Trang 8Xây dựng XHHT là một xu thế tất yếu của mọi thời đại Do điều kiện và hoàn cảnh khác mà mỗi quốc gia tìm cho mình những cách làm riêng, phù hợp và khả thi Học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học Đây cũng là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng trong bối cảnh thế giới đang có những đổi thay to lớn và nhanh chóng trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin Tư tưởng đó, nội dung đó được thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng khi nhấn mạnh “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy”, thực hiện: “giáo dục cho mọi người”, “Cả nước trở thành một xã hội học tập” và được Văn kiện Đại hội X nêu
rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục” Có thể nói xã hội học tập là một xu thế mới trong quá trình phát triển của nhân loại ở thời kỳ hậu công nghiệp Đó cũng là đòi hỏi của yêu cầu phát triển kinh tế, của tiến bộ khoa học và công nghệ và cũng là đòi hỏi của sự phát triển con người ở thời đại mới
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẳng định: “Phát triển giáo dục không chính quy như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng XHHT, tạo cơ hội cho mọi người,
ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp với mọi hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực Tạo cơ hội cho đông đảo người lao động tiếp tục học tập, được đào tạo lại, được bồi dưỡng ngắn hạn, định kỳ và thường xuyên theo chương trình
kỹ năng nghề nghiệp, phù hợp với nhu cầu nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp ” Quan điểm về xây dựng một XHHT đã được cụ thể hóa trong chương trình hành động của ngành GD&ĐT mà Trung tâm HTCĐ là một trong những nhân tố quan trọng
Tổng Giám đốc UNESCO khu vực, ông Victor Ordonez đánh giá như sau:
“Trung tâm học tập cộng đồng có thể coi là phát minh quan trọng nhất mà bấy lâu thế giới đang tìm kiếm”
Trang 9Hiện nay, phỏt triển trung tõm học tập cộng đồng đó và đang trở thành xu thế tất yếu trờn thế giới và cú vai trũ rất quan trọng khụng thể thiếu được trong hệ thống giỏo dục thường xuyờn của mỗi quốc gia Cỏc nước trong khu vực chõu Á - Thỏi Bỡnh Dương đó tổ chức nhiều hội nghị về trao đổi kinh nghiệm và hợp tỏc giải quyết những vấn đề cú liờn quan đến việc phỏt triển giỏo dục thường xuyờn, trong đú nhấn mạnh về vai trũ của cỏc trung tõm học tập cộng đồng đối với việc phỏt triển hệ thống giỏo dục quốc dõn của từng quốc gia Trung tõm học tập cộng đồng là nơi tạo cơ hội, nơi tổ chức cho cỏc thành viờn của cộng đồng mọi lứa tuổi được học tập thường xuyờn, học tập suốt đời, cựng nhau xỏc định và liờn kết cỏc nhu cầu và nguồn lực để giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng, nõng cao chất lượng cuộc sống và xõy dựng, phỏt triển cộng đồng
Trung tõm HTCĐ là cơ sở giỏo dục tổ chức học tập theo phương thức khụng chớnh quy ở xó, phường, thị trấn để cung cấp cỏc cơ hội học tập khỏc nhau, nhằm nõng cao chất lượng cuộc sống của nhõn dõn và phục vụ cho việc phỏt triển kinh tế
- xó hội của cộng đồng Trung tõm HTCĐ gúp phần phỏt triển nguồn nhõn lực, thụng qua việc cung cấp cỏc cơ hội học tập cho tất cả cỏc đối tượng, đỏp ứng và kớch thớch nhu cầu học tập đa dạng của cộng đồng, từ đú gúp phần xõy dựng XHHT Cỏc Trung tõm HTCĐ đang phỏt triển đa dạng, phự hợp với nhu cầu học tập của cỏc tầng lớp nhõn dõn ở cỏc độ tuổi, ngành nghề đó mang lại nhiều lợi ớch thiết thực cho người dõn, nhất là tạo cơ hội học tập cho mọi người, trong đú đặc biệt quan tõm đến người nghốo Mụ hỡnh Trung tõm HTCĐ là một sự đỏp ứng thớch hợp, nú tỏc động tớch cực vào “Ngũ dõn”: dõn trớ được mở mang; dõn quyền được đảm bảo; dõn sinh được nõng cao; dõn nghiệp được vững chắc và dõn sinh được ổn định
Trung tâm học tập cộng đồng (Trung tâm HTCĐ), một trong những cơ sở của GDTX được hình thành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong cộng đồng tại các xã, phường, thôn, bản, phum, sóc được học tập, được trang bị kiến thức góp phần tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm Cho đến ngày 30 tháng 5 năm 2010 có 9990 Trung tâm HTCĐ đang hoạt động ở 11105 xã của 63 tỉnh, thành phố Trung tâm HTCĐ đã thực sự trở thành trường học của nhân dân lao động, là công cụ thiết yếu để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở Điều đó cho thấy việc phát triển các Trung tâm HTCĐ là cần thiết và đã trở thành xu thế tất yếu của xã hội
Trang 10Sau gần 12 năm xây dựng và phát triển, bên cạnh những trung tâm hoạt động
có hiệu quả, vẫn có không ít Trung tâm hoạt động còn kém hiệu quả do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Một số Trung tâm HTCĐ hoạt động chưa hiệu quả là do nội dung, hình thức còn nghèo nàn, cơ sở vật chất yếu kém, kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên còn hạn hẹp, cơ cấu tổ chức bộ máy chưa hợp lý, cơ chế vận hành còn nhiều lúng túng; hơn nữa đội ngũ của trung tâm hầu hết là kiêm nhiệm từ Chủ nhiệm trung tâm đến giáo viên giảng dạy
Thực trạng đội ngũ Chủ nhiệm của Trung tâm HTCĐ hiện nay về hình thức,
số lượng là “đủ”, nhưng về thực chất còn nhiều vấn đề phải xem xét Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của Trung tâm HTCĐ thì năng lực quản lý (NLQL) của Chủ
nhiệm Trung tâm HTCĐ là sự tổng hợp các năng lực: năng lực kế hoạch hoá, năng
lực tổ chức, năng lực chỉ đạo, năng lực kiểm tra và đánh giá Đại bộ phận đội ngũ
Chủ nhiệm có phẩm chất đạo đức, tận tuỵ, nhiệt tình với công việc, nhưng vẫn còn một số tồn tại cơ bản như phần lớn chưa qua đào tạo bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ quản lý giáo dục, thiếu kiến thức về quản lý cơ sở GDTX, thiếu năng lực huy động, tổ chức các điều kiện phục vụ chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm HTCĐ Đội ngũ giáo viên (GV), hướng dẫn viên (HDV) của Trung tâm chủ yếu là người tự nguyện trong xã, bản, làng, phum, sóc, có trình độ, có nhiệt tình truyền thụ kiến thức cho đồng bào, song không ổn định, không học qua các khoá đào tạo ngắn hạn về nghiệp vụ sư phạm Chương trình hoạt động của Trung tâm đòi hỏi phải đa dạng, linh hoạt đáp ứng nhu cầu của xã hội, cộng đồng trong từng giai
đoạn nhưng cho đến nay số Trung tâm xây dựng được các chương trình hoạt động
đa dạng, hiệu quả là chưa nhiều
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Trung tâm HTCĐ bước đầu cũng bộc
lộ một số yếu kém, hạn chế nhất định về nhiều vấn đề, trong đó có việc quản lý phát triển bền vững của các Trung tâm HTCĐ, đặc biệt là các Trung tâm HTCĐ ở các bản, làng dân tộc miền núi Mặt khác, mức độ phát triển của các Trung tâm HTCĐ ở miền núi còn chậm hơn nhiều so với miền đồng bằng và trung du Hiện nay ở các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên mới đạt tỷ lệ có Trung tâm HTCĐ từ 60-65% Xây dựng các giải pháp quản lý phát triển Trung tâm HTCĐ, đặc biệt là các Trung tâm HTCĐ ở các xã, thôn, bản, làng, phum, sóc dân tộc miền núi đang là một đòi hỏi cấp bách cần giải quyết Như vậy, việc xây dựng và quản lý các hoạt động để phát triển bền vững các trung tâm HTCĐ trong giai đoạn hiện nay là vấn đề
Trang 11mang tính thời sự và cần thiết Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này
Với những lý do chính đã phân tích ở trên, Học viện Quản lý giáo dục đã
đăng ký và triển khai nghiên cứu đề tài khoa học - công nghệ (KH-CN) trọng điểm
cấp Bộ: “Một số giải pháp quản lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập
cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp quản lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở
Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp quản lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng góp
phần xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hoá những nội dung chủ yếu về cơ sở lý luận của việc xây dựng và phát triển Trung tâm học tập cộng đồng
4.2 Đánh giá thực trạng quá trình xây dựng và phát triển hệ thống Trung tâm
học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
4.3 Đề xuất các giải pháp quản lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng
đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do còn hạn chế về nguồn lực và thời gian, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát việc phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng tại các vùng miền chủ yếu: thành thị, nông thôn, trung du, miền núi
Để trung tâm HTCĐ phát triển bền vững phải tập trung quản lý về các mặt sau: Quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, hướng dẫn viên; tài chính và cơ sở vật chất thiết bị; xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt
động thường xuyên của Trung tâm Trong đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm, giáo viên và hướng dẫn viên là nội dung quản lý cơ bản và hết sức quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến các nội dung khác như: quản lý tài chính, cơ sở vật chất thiết bị và quản lý kế hoạch hoạt động của trung tâm Thực tiễn đã chỉ ra rằng, để xây dựng và phát triển Trung tâm HTCĐ, trước tiên phải nâng cao năng lực của chủ nhiệm, giáo viên và hướng dẫn viên ở Trung
Trang 12tâm Từ đó sẽ xây dựng được chương trình hoạt động hiệu quả, nội dung tài liệu
và phương pháp giảng dạy phù hợp cho các đối tượng học viên ở Trung tâmHTCĐ Do điều kiện thời gian có hạn, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu vào các nội
dung sau:
1 Quản lý nâng cao năng lực của chủ nhiệm trung tâm HTCĐ;
2 Quản lý nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên và hướng dẫn viên ở Trung tâm HTCĐ;
3 Quản lý việc xây dựng và phát triển các hoạt động đa dạng, hiệu quả ở Trung tâm HTCĐ
4 Quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Đây là những nội dung quản lý hết sức quan trọng, góp phần phát triển bền vững hệ thống Trung tâm HTCĐ ở nước ta
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng tôi tiếp cận nghiên cứu đề tài này theo các phương pháp chủ yếu:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Bằng việc nghiên cứu các văn bản quản lý, các công trình khoa học đã có trong và ngoài nước; phương pháp này được sử dụng nhằm xây dựng hoặc thống nhất các khái niệm, các thuật ngữ; thực hiện các phán đoán và suy luận nhằm chỉ
ra bản chất của sự vật, hiện tượng và quy luật mang tính cơ sở lý luận về phát triển
hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng Đặc biệt chỉ ra các yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến các hoạt động và phát triển của Trung tâm học tập cộng đồng
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Bằng việc sử dụng các phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn, chuyên gia, hội thảo khoa học, tổng kết kinh nghiệm, thử nghiệm một số biện pháp đã đề xuất và sử dụng phương pháp thống kê toán học, nhóm phương pháp này được
sử dụng với mục đích tìm hiểu và đánh giá đúng thực trạng quản lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở nước ta Xõy dựng cỏc mẫu phiếu hỏi nhằm trưng cầu ý kiến cỏc đối tượng là học viờn (HV), Giỏo viờn (GV), Cỏn bộ quản lớ (CBQL) cỏc Trung tõm HTCĐ, Phũng Giỏo dục và Đào tạo, Trung tõm GDTX, thành viờn cộng đồng và lónh đạo địa
Trang 13phương về thực trạng hoạt động, những thuận lợi, khú khăn của Trung tõm, những biện phỏp khắc phục và về sự cần thiết và tớnh khả thi của cỏc giải phỏp đề xuất
Để xử lý cỏc số liệu, lượng hoỏ kết quả nghiờn cứu, chỳng tụi sử dụng cỏch tớnh %, trung bỡnh cộng n
ixi n
x = ∑
7 kinh phí nghiên cứu đề tài
Tổng kinh phí của đề tài là 230.000.000đ, đã được chi phí cho các hoạt động
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Thuê khoán chuyên môn: 120.000.000 đ;
- Hội thảo và hội nghị khoa học: 30.000.000 đ;
- Điều tra thực trạng: 50.000.000 đ;
- Chi quản lý, văn phòng phẩm, bảo vệ đề tài: 30.000.000 đ
Các khoán chi trên đã được quyết toán hợp quy định về quản lý tài chính
8 sản phẩm nghiên cứu của đề tài
8.1 Báo cáo :
- Cơ sở lý luận của việc thành lập và phát triển bền vững Trung tâm học tập cộng đồng
+ Tổng quan về cơ sở lý luận phát triển Trung tâm HTCĐ
+ Các báo cáo khoa học về "Cơ sở khoa học của các giải pháp quản
lý phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở trên thế giới và ở Việt Nam"
- Các chuyên đề lý luận về vấn đề nghiên cứu
- Báo cáo khoa học trong các hội thảo về cơ sở lý luận
8.3 Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài
8.4 Báo cáo tóm tắt đề tài
8.5 Sổ tay hướng dẫn việc quản lý phát triển bền vững cácTrung tâm HTCĐ (Cho Chủ nhiệm Trung tâm HTCĐ)
Trang 148.6 Một số bài báo khoa học đăng trên các Tạp chí trong nước và nước ngoài
có liên quan đến kết quả nghiên cứu của đề tài:
- 03 bài báo đăng trong Kỷ yếu Khoa học của Hội nghị Quốc tế (Tiếng
Anh)
- 05 bài báo đăng trong Tạp chí Khoa học ở trong nước (Tiếng Việt)
8.7 Góp phần xây dựng Tài liệu tập huấn, bài giảng trong các lớp cử nhân QLGD tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội trong các năm
2008 - 2010
8.8 Hướng dẫn học viên cao học làm luận văn Thạc sĩ QLGD về Trung tâm
HTCĐ: 03 học viên Cao học đã bảo vệ xuất sắc (2008 - 2009)
- Hướng dẫn 01 Đề cương Luận án nghiên cứu sinh về Trung tâm học tập cộng đồng:“ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Trung tâm học tập cộng
đồng ở Việt Nam”, xét tuyển nghiên cứu sinh QLGD năm 2010 tại Hội đồng Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam
- Hướng dẫn viết 01 Đề cương Luận văn Thạc sĩ và sẽ hướng dẫn Luận văn Thạc sĩ về Trung tâm học tập cộng đồng: “Quản lý ứng dụng Cụng nghệ Thụng
tin và Truyền thụng trong dạy học cho học viờn lớn tuổi ở cỏc Trung tõm học tập cộng đồng”, Luận văn Thạc sĩ QLGD năm 2010 - 2011 tại Đại học Sư phạm
Hà Nội
- Góp phần hướng dẫn học viên Cao học làm luận văn Thạc sĩ QLGD về
Trung tâm HTCĐ: 02 học viên Cao học đã bảo vệ xuất sắc (2009)
Trang 15Kết quả nghiên cứu
Chương I Cơ sở lý luận về phát triển hệ thống trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng x∙ hội học tập
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Sự phát triển Trung tâm HTCĐ và xây dựng xã hội học tập ở một số nước
a Anh
Ở Vương quốc Anh mọi học sinh (HS) đi học đến 15 tuổi đều khụng mất tiền Trờn 50% dõn số độ tuổi 18-30 đều cú cơ hội tiếp cận GD cao đẳng Trờn 70% thanh niờn Anh được đào tạo nghề Về GD người lớn cú cỏc loại hỡnh trường lớp sau:
- Trường Đại học cho học viờn lớn tuổi: Trường cấp cỏc chứng chỉ về nghề nghiệp
- Trường Đại học mở: Đào tạo cỏc nghề dưới trỡnh độ cử nhõn
Trang 16trung tõm huấn luyện, một trung tõm thụng tin, một địa điểm hội họp, một trung tõm văn húa, thể thao của cộng đồng và tại đõy thường tổ chức cỏc lớp sau XMC, cỏc buổi thảo luận nhúm, cỏc lớp huấn luyện đơn giản ngắn ngày, tổ chức phổ biến thụng tin cho dõn chỳng, tổ chức cỏc hoạt động giải trớ, văn húa, thể thao cho cộng đồng Những Trung tõm này chủ yếu do cộng đồng tự cam kết, thành lập và quản
lớ
c Nhật Bản
Để xõy dựng xó hội học tập, Chớnh phủ Nhật Bản đó lập ra “Uỷ ban Quốc gia
về giỏo dục suốt đời” Theo luật định, Nhật Bản cú hai hệ giỏo dục: GD nhà trường và GD xó hội GD nhà trường chớnh là hệ GD ban đầu, gồm trường mẫu giỏo, trường phổ thụng (ở Nhật, trường phổ thụng là loại trường phổ cập GD) và cỏc loại hỡnh trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học
Với hệ GD xó hội, tức là xó hội GD tiếp tục, Nhật bản là nước rất quan tõm bởi đõy là hệ GD cú tỏc dụng rất lớn trong việc nõng cao chất lượng nguồn lực Trong
hệ này cú cỏc loại hỡnh trường cơ bản sau:
- TERAKOYA (Theo tiếng Nhật TERA cú nghĩa là chựa, TERAKO chỉ những học sinh/học viờn học tại chựa, cũn TERAKOYA cú nghĩa là Trung tõm học tập) Vào thời kỳ Edo, khoảng thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 ở Nhật Bản đã có khoảng 15.000 Trung tâm HTCĐ ở tại các thôn, xã, gọi là TERAKOYA (TERA là đình, chùa; TERAKO là học viên học tại các lớp ở đình chùa, TERAKOYA là nơi học tập quy mô nhỏ ở cộng đồng – Trung tâm HTCĐ )
- KOMINKAN: Đõy là một thiết chế GD giống như cỏc Trung tõm HTCĐ ở nước
ta Sau Thế chiến thứ II, Bộ Giáo dục Nhật Bản sáng tạo một mô hình cơ sở giáo
dục mới, gọi là Kô-min-kan (TTHTCĐ) Ngày 5 tháng 7 năm 1946, Bộ Giáo dục
đã có thông báo khuyến khích thành lập Kô-min-kan Thông báo khẳng định tiếp:
“Cần hình thành các Kô-min-kan tại mọi làng, xã - như một ngôi nhà của công dân
- nơi mà nhân dân trong làng, xã có thể đến bất cứ lúc nào; có thể là nơi đọc sách, trao đổi tranh luận; là nơi mà đôi lúc có thể tiếp nhận sự giúp đỡ của người khác về các vấn đề sinh sống của cá nhân hay các vấn đề liên quan đến công việc
Kô-mi-kan không những được thành lập do yêu cầu của dân mà còn được dân tham gia quản lý Về kinh phí hoạt động, ngoài sự hỗ trợ phần nào của nhà nước, chủ yếu là do uỷ ban địa phương tự lo
Trang 17- SHENSHU GAKKO: Đõy là loại trường cú chức năng bồi dưỡng năng lực cụng tỏc cho người lao động và nõng cao trỡnh độ GD phổ thụng cho những người đó học xong sơ trung hay cao trung Cả nước Nhật cú khoảng 3000 Shenshu Gakko
- KAKUSHU GAKKO: Loại hỡnh trường này cú chức năng dạy nghề cho thanh niờn, giỳp họ nõng cao kỹ năng thực hành trong nhiều lĩnh vực như may mặc, nấu
ăn, đỏnh mỏy, lỏi xe, sửa chữa mỏy tớnh, ụ tụ, xe mỏy và những thiết bị kỹ thuật
d Thái Lan
Thỏi Lan là một nước cú nhiều kinh nghiệm về phỏt triển giỏo dục khụng chớnh quy (từ năm 1940) Từ năm 1972, Thỏi Lan đó chỳ ý phỏt triển cỏc Trung tõm đọc sỏch làng xó Từ năm 1977, Thái Lan thực hiện dự án phát triển giáo dục không chính quy trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời Dự án đã xây dựng lại hệ thống các cơ sở giáo dục không chính quy cho người lớn như sau:
- Xây dựng 5 Trung tâm nghiên cứu và phát triển tại 5 vùng
- Xây dựng mạng lưới các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp tỉnh (6 tỉnh) và các Trung tâm giáo dục không chính quy các huyện (khoảng 700 Trung tâm)
- Xây dựng mạng lưới các TTHTCĐ cấp xã hoặc liên xã (khoảng 6000 Trung tâm) Các TTHTCĐ cấp xã tại Thái Lan chịu sự quản lý của dân làng Hiện nay ở Thỏi Lan cú khoảng 35.000 Trung tõm đọc sỏch làng, xó Từ năm 1998, Thỏi Lan bắt đầu triển khai mạnh việc thành lập cỏc Trung tõm HTCĐ nhằm thực hiện giỏo dục
cơ sở (XMC, sau XMC), tổ chức cỏc lớp huấn luyện kỹ năng ngắn ngày
e Trung Quốc
Về tổ chức hệ thống GD theo hướng XHHT ở Trung Quốc ta thấy GD ban đầu của quốc gia này cú sự phỏt triển mạnh Với đối tượng là người lớn, Trung Quốc
cú nhiều loại hỡnh trường lớp, chủ yếu là:
-Trường xoỏ mự chữ nghiệp dư: Loại hỡnh này gắn với tổ chức sản xuất nụng nghiệpvới những tờn gọi khỏc nhau như trường buổi tối cho nụng dõn, trường nghiệp dư cho nụng dõn, trường xoỏ mự chữ và dạy kỹ thuật cho nụng dõn
-Trường dạy nghề sơ cấp cho nụng dõn: trường này dạy khoa học và kỹ thuật nụng nghiệp và cỏc kỹ thuật khỏc như tơ tằm, chăn nuụi, đỏnh cỏ, cơ khớ nụng nghiệp Trường do cộng đồng hoặc phũng nụng nghiệp huyện quản lý
- Trường trung học nghiệp dư cho nụng dõn: Trường mở cỏc lớp sơ trung và cao trung Nội dung chủ yếu gồm cỏc mụn chớnh trị, toỏn, vật lý hoỏ học, kỹ thuật nụng nghiệp, tiếng Hoa
Trang 18- Trường trung học nghiệp dư cho cỏn bộ, nhõn viờn, cụng nhõn dạy kỹ thuật cụng nghiệp
g Myanmar
Mô hình Trung tâm HTCĐ được xây dựng tại Myanmar từ năm 1994 Được sự trợ giúp của UNDP, UNESCO và các tổ chức phi chính phủ khác, đến nay Myanmar đã có 480 Trung tâm HTCĐ Trung tâm HTCĐ tại Myanmar được xác
định là một cơ sở giáo dục taị một làng xã, nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy, được thành lập và quản lý bởi nhân dân địa phương, cung cấp cho nhân dân những cơ hội học tập đa dạng nhằm phát triển và cải thiện chất lượng cuộc sống Trung tâm HTCĐ là của cộng đồng, cho cộng đồng và vì cộng đồng
h.Úc
Việc học suốt đời của người lớn cú cỏc loại hỡnh trường lớp sau:
- Trường Cao đẳng buổi tối: GD phổ thụng cao trung cho người lớn
- Trường cao đẳng kỹ thuật và GD tiếp tục
- Trường Đại học hoặc Cao đẳng GD nõng cao: đào tạo về nghề, cỏc lớp BTVH
- Trường đại học ban đờm: trường dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của cỏc trường đại học ban ngày và một số trường trung học chớnh quy Đối tượng đi học hoàn toàn là người lớn
- Tổ chức GD tại cộng đồng: Cỏc tổ chức này dựa vào cộng đồng, mở cỏc lớp học theo yờu cầu của cộng đồng Cơ quan GD địa phương cú trỏch nhiệm chủ trỡ cỏc lớp học
1.1.2 Sự phát triển Trung tâm HTCĐ và xây dựng x∙ hội học tập ở Việt Nam
Ở Việt Nam, GDTX đó cú quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển tương đối lõu dài; những nghiờn cứu về GDTX cũng phong phỳ, nhưng những nghiờn cứu về Trung tõm HTCĐ và phỏt triển Trung tõm HTCĐ mới chỉ được nghiờn cứu bước đầu trong những năm gần đõy
Năm 1993, Viện Khoa học giỏo dục Việt Nam đó cú những nghiờn cứu đầu tiờn về GDCĐ Tạp chớ Thụng tin khoa học giỏo dục đó cú một chuyờn san “Giỏo dục cộng đồng: Vấn đề và sự phỏt triển” (số 36-1993) Tạp chớ số 36 đó đăng cỏc bài viết của cỏc nhà nghiờn cứu của Viện Khoa học giỏo dục và Trường Cỏn bộ quản lý giỏo dục về GDCĐ Trong những bài viết đú, độc giả đặc biệt quan tõm đến bài viết của Đặng Quốc Bảo với tiờu đề: “Giỏo dục cộng đồng: quan niệm, vấn
đề và giải phỏp” Tỏc giả đó xỏc định nội hàm của GDCĐ và chỉ rừ những vấn đề
Trang 19tồn tại trong phỏt triển GDCĐ ở Việt Nam và bước đầu đề xuất cỏc giải phỏp nhằm giải quyết những vấn đề mới này
Trong những năm 1995 - 1996, trước đòi hỏi mở rộng nhiều hình thức giáo dục không chính quy của nhân dân, Viện Khoa học giáo dục đã nghiên cứu, thí
điểm mô hình Trung tâm HTCĐ ở các vùng kinh tế khác nhau, được UNESCO Bangkok và Nhật Bản nhiệt tình giúp đỡ Trung tâm XMC và GDTX thuộc Viện Khoa học giáo dục đã thử nghiệm tại các xã Cao Sơn (Hoà Bình), Pú Nhung (Lai Châu), Việt Thuận (Thái Bình) và An Lập (Bắc Giang)
Sau thí điểm có kết quả, từ đầu năm 1999, Bộ GD&ĐT đã mở rộng mô hình Trung tâm HTCĐ ở các tỉnh thành phố khác Các tổ chức quốc tế - như Hiệp hội Quốc gia và các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ) đã giúp 2 tỉnh Lai Châu,
Điện Biên xây dựng 40 Trung tâm HTCĐ và 3 Trung tâm GDTX (2000 - 2003); giúp đỡ 8 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai và Sơn La mỗi tỉnh xây dựng một Trung tâm HTCĐ UNESCO Hà Nội giúp 5 tỉnh Tây Nguyên ( Kon Tum, Gia Lai, Đăc Lắc, Đăc Nông, Lâm Đồng) và Bình Phước mỗi tỉnh xây dựng một Trung tâm HTCĐ
Nhằm đỏp ứng và khuyến khớch nhu cầu học tập của cộng đồng, ngày 24/8/1999 Bộ Chớnh trị ban hành Chỉ thị số 50-CT/TW về tăng cường sự lónh đạo của Đảng đối với cụng tỏc khuyến học trong quỏ trỡnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 29/1999-CT/TTg, ngày 15/10/1999 của Thủ tướng Chớnh phủ về phỏt huy vai trũ của Hội khuyến học Việt Nam trong phỏt triển sự nghiệp giỏo dục Do đú, Hội khuyến học cỏc cấp đó phỏt triển rất nhanh chúng và trở thành lực lượng nũng cốt trong việc xõy dựng XHHT; chủ trương phỏt triển GDCĐ, xõy dựng cả nước trở thành XHHT ở Việt Nam ngày càng được đẩy mạnh và cú những biện phỏp cụ thể để thực hiện nú Một trong những biện phỏp đú là cho ra đời hệ thống cỏc Trung tõm HTCĐ trong phạm vi cả nước Chủ trương trờn được thể hiện khỏ rừ nột trong cỏc văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước ta:
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đó đề ra chủ trương mới về phỏt triển giỏo dục và đào tạo ngang tầm thời đại: “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhõn dõn bằng những hỡnh thức giỏo dục chớnh quy và khụng chớnh quy, thực hiện giỏo dục cho mọi người, cả nước trở thành một XHHT và thực hiện chủ trương xó hội hoỏ giỏo dục, phỏt triển đa dạng cỏc hỡnh thức đào tạo…” Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoỏ IX) về phỏt triển giỏo dục và đào tạo đến năm 2010 cũng đó cụ thể hoỏ Nghị quyết Đại hội IX: “Phỏt triển giỏo dục
Trang 20không chính quy, hệ thống Trung tâm HTCĐ ở các xã, phường, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người, với mọi trình độ có thể học tập suốt đời; mở các chương trình học tập, rèn những kỹ năng nghề nghiệp có thể tạo thu nhập, các chương trình chuẩn hoá… hướng tới XHHT Ngày 28/12/2001, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, trong mục 4 về mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 đã nêu: phát triển giáo dục không chính quy như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng XHHT, tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng của nguồn nhân lực Trong mục 5 về giải pháp phát triển giáo dục cũng
đã chỉ rõ: củng cố và mở thêm các cơ sở GDTX như Trung tâm HTCĐ… đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của mọi người, ở mọi lứa tuổi và trình độ Nhằm sớm đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống, ngày 29/01/2001 Hội Khuyến học Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học tại Thị trấn Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội, là nơi có Trung tâm HTCĐ hoạt động tốt để phân tích đánh giá ưu, khuyết điểm của các loại hình thức HTCĐ như Trung tâm HTCĐ, Trung tâm Khuyến học cộng đồng
Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26/7/2002 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2005 và 2010 đã nhấn mạnh cần đặc biệt tập trung vào các nhiệm vụ:
“Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức HTCĐ ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống KT-XH, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người
có thể học tập suốt đời, hướng tới XHHT” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra chủ trương “Chuyển mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục
mở - mô hình XHHT” Quyết định số 06/2003/QĐ-TTg, ngày 09/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ghi rõ ở điểm thứ 14: Tạo điều kiện để các địa phương mở Trường Cao đẳng cộng đồng, các Trung tâm HTCĐ Kế hoạch phối hợp công tác năm 2002-2003 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Khuyến học Việt Nam, ký ngày 21/10/2002 đã khẳng định: Ngành Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hội khuyến học tổng kết hoàn chỉnh mô hình, xây dựng thể chế, biên soạn tài liệu, hướng dẫn và huấn luyện cán bộ, tranh thủ sự ủng
hộ của các ngành, các cấp nhằm đẩy mạnh việc thành lập Trung tâm HTCĐ ở xã, phường góp phần phát triển XHHT từ cơ sở Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT,
Trang 21ngày 24 thỏng 3 năm 2008 của Bộ Giỏo dục và Đào tạo về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tõm HTCĐ tại xó, phường, thị trấn” Hưởng ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước và Trung ương Hội khuyến học, nhiều địa phương như tỉnh Thỏi Bỡnh, Thanh Hoỏ, Hải Dương, Phỳ Thọ, Ninh Bỡnh, Vĩnh Phỳc, Hà Tõy… đó cú nhiều biện phỏp sỏng tạo, chủ động huy động sức mạnh tổng hợp của
xó hội để tận dụng những tiềm lực sẵn cú phỏt triển nhanh chúng Trung tõm HTCĐ Đặc biệt, thỏng 6 năm 2003, Thỏi Bỡnh là tỉnh đầu tiờn đạt 100% xó, phường, thị trấn cú Trung tõm HTCĐ
Tớnh từ khi xõy dựng những Trung tõm HTCĐ đầu tiờn cho đến nay, thời gian đó gần 12 năm Trong khoảng thời gian đú, số lượng Trung tõm HTCĐ đó tăng lờn rất nhanh Năm học 1998-1999, cả nước chỉ cú 10 Trung tõm được xõy dựng thớ điểm với sự hỗ trợ kinh phớ của Nhật Bản Ngày 31/12/2009 cú 9.820 Trung tâm HTCĐ/10933, đạt tỷ lệ 89,8% xã, bản, phường, thị trấn trong cả nước Tớnh đến ngày 30/5/2010 cú 9990 Trung tõm HTCĐ / 11105 xó, đạt tỷ lệ 89,9% xã, bản, phường, thị trấn trong cả nước Đặc biệt có nhiều tỉnh đạt 100% số xã, phường, thị trấn có Trung tâm HTCĐ như Thái Bình, Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc, TP Đà Nẵng, Hải Dương và Đồng Tháp
Tỡnh hỡnh phỏt triển của Trung tõm HTCĐ
2002
- 2003
2003
- 2004
2004
- 2005
2005
- 2006
2006
- 2007
Trang 22giao ứng dụng khoa học cụng nghệ, hướng nghiệp, học nghề; thiết thực gúp phần xõy dựng khu dõn cư đoàn kết văn hoỏ - khuyến học; trang bị kiến thức cho cỏn
bộ, đảng viờn và thế hệ trẻ để tạo nguồn xõy dựng Đảng, chớnh quyền và cỏc đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh Vấn đề phỏt triển Trung tõm HTCĐ là biện phỏp quan trọng để xõy dựng xó hội học tập từ cơ sở
Qua thực tiễn hoạt động của các Trung tâm HTCĐ trong cả nước nhiều cấp
uỷ Đảng, chính quyền ở các tỉnh, thành phố đã khẳng định rằng: Trung tâm HTCĐ
là công cụ quan trọng góp phần ổn định tình hình chính trị, thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội Trung tâm HTCĐ đã và đang trở thành trường học của nhân dân lao động, là cơ sở quan trọng để xây dựng xã hội học tập từ cơ
sở Trung tâm HTCĐ đã góp phần đẩy mạnh việc củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác XMC - phổ cập giáo dục tiểu học, nâng tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và tăng tỷ lệ người biết chữ
Các Trung tâm HTCĐ đã góp phần giúp người lao động biết cách xoá đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính
đáng thông qua việc truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn
Một số Trung tâm HTCĐ hoạt động chưa có hiệu quả, nội dung và hình thức tổ chức học tập cho người lao động còn nghèo nàn Mặt khác, do chưa có cơ chế phối hợp, phân rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành từ trung ương đến các đơn vị cơ
cở nên nhiều ngành, tổ chức xã hội chưa có trách nhiệm hỗ trợ cho các Trung tâm HTCĐ hoạt động
Hiện nay có 100% số tỉnh, thành tổ chức Trung tâm HTCé, 50% số tỉnh, thành đó xõy dựng được gần 100% số xó, phường cú Trung tâm HTCé, trong đú gần 50% trung tõm hoạt động khỏ và tốt, 25% trung tõm hoạt động trung bỡnh éỏng chỳ ý, hầu hết cỏc địa phương cú Trung tâm HTCé đang hoạt động cũn nghốo éầu tư ban đầu rất hạn chế Cơ sở vật chất cho hoạt động cỏc Trung tâm HTCé cũn thiếu thốn, thiếu phương tiện quản lý, đồ dựng học tập và tài liệu học tập
Chỉ thị 11-CT/TW ngày 13/4/2007 về tăng cường sự lónh đạo của Đảng đối với cụng tỏc khuyến học, khuyến tài, xõy dựng XHHT là sự cụ thể húa chủ trương, đường lối của Đảng trong lĩnh vực giỏo dục và đào tạo Trong XHHT sự học khụng giỏn đoạn về thời gian và khụng gian cho dự giữa cỏc bậc học khụng nhất thiết và khụng phải lỳc nào cũng cú sự liờn tục cỏc năm
Trang 23Xây dựng XHHT là một quá trình từ thấp đến cao để tạo sự thay đổi về lượng biến đổi về chất; từ dân trí đến chất lượng nhân lực; từ trình độ tiếp thu, ứng dụng đến sáng tạo ra các tri thức mới, công nghệ mới và đào tạo nhân tài cho đất nước Nhưng xây dựng được một XHHT không phải dễ dàng, sẽ còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Trước hết là ở nhận thức và tư duy, không phải chỉ ở người dân còn chưa rõ về một XHHT, về nghĩa vụ và trách nhiệm của mình mà cả ở những nhà quản lý, các tổ chức kinh tế, xã hội và cơ quan nhà nước Việc hình dung ra một XHHT thích ứng với từng giai đoạn để xây dựng các mô hình XHHT cụ thể, đặt ra các yêu cầu về tổ chức chỉ đạo và điều hành cũng chưa có tiền lệ, chưa có đầy đủ thực tiễn và kinh nghiệm Mọi việc phải vừa làm, vừa nhận thức, vừa sáng tạo và hoàn thiện cơ chế chính sách Chuyển sang mô hình xây dựng XHHT thực chất là một bước nhảy vọt về tư duy giáo dục và hoạt động thực tiễn, nhất định sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Xây dựng XHHT là một quá trình tri thức hóa từng người dân đi đến tri thức hóa thôn, bản, phum, sóc, xã, phường và từ đó xây dựng nền dân trí, một nền tảng
cơ sở để tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình thực hiện mục tiêu nhân lực, nhân tài
và nhân cách Muốn xây dựng XHHT cần có những giải pháp tổng thể không những đối với giáo dục trong nhà trường mà còn đối với cả giáo dục ngoài nhà trường Mô hình XHHT là mô hình trong đó sự học tập không còn là một hoạt động tách biệt mà là học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thời gian của cuộc đời Đó là mục tiêu của xã hội, là môi trường để con người học tập
Học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học Đây cũng là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi to lớn và nhanh chóng trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin Tư tưởng đó, nội dung đó được thể hiện trong văn kiện Đại hội IX của Đảng khi nhấn mạnh “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện” “thực hiện giáo dục cho mọi người” “Cả nước trở thành một xã hội học tập” và được Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở -
mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông
Trang 24giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục” Có thể nói xã hội học tập là một xu thế mới trong quá trình phát triển của nhân loại ở thời kỳ hậu công nghiệp Đó cũng là đòi hỏi của yêu cầu phát triển kinh tế, của tiến bộ khoa học, và công nghệ và cũng là đồi hỏi của sự phát triển con người ở thời đại mới
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã làm thay đổi căn bản kỹ thuật và công nghệ sản xuất, giúp cho loài người tạo ra một lượng của cải vật chất công nghiệp từ năm 1970 trở lại đây bằng lượng của cải công nghiệp đạt được trong suốt 270 năm trước đó Chính cuộc cách mạng khoa học và công nghệ này
đã tạo ra những điều kiện thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, đồng thời nó buộc chúng ta phải đổi mới tư duy kinh tế và tư duy kỹ thuật của thời đại
Để sống với thế giới hiện đại, sánh vai với các nước phát triển, các quốc gia đều phải xây dựng cho mình một kho tàng trí tuệ đồ sộ và phong phú, phải có được nguồn nhân lưc chất lượng cao, có đủ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, phải có đội ngũ lao động tri thức thích ứng cao độ với thế giới công nghệ hiện đại Muốn vậy, mỗi con người trong xã hội phải lấy sự học hỏi làm lẽ sống của mình XHHT hình thành từ những lý do đó Trong XHHT, mỗi con người đều phải được giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học tập suốt đời Khẩu hiệu
“Đào tạo một lần cho một đời người” được thay đổi bằng khẩu hiệu “Đào tạo liên tục trong suốt đời người” Trong XHHT, mỗi người đều có nhiều cơ hội học tập: Học tập ở nhà trường, học tập trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa Do đó, hệ thống giáo dục không chỉ bó hẹp trong các loại hình nhà trường, mà còn trong các hình thức học ngoài nhà trường Đó là hệ thống giáo dục mềm dẻo, tạo ra sự đa dạng của các ngành học, hình thức học, về những kênh liên thông giữa các loại hình khác nhau
Có thể nói, XHHT là một hiện tượng có tính qui luật của sự phát triển, là vấn
đề chung của thời đại Song mỗi nước lại có chiến lược xây dựng XHHT của riêng mình Ở nước ta, khi xây dựng XHHT phải chú ý đến mấy điểm sau: Giai đoạn phát triển đầu tiên của XHHT phải gắn liền với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội Phát triển học tập là để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Để làm được điều đó thì phải dựa vào khoa học và công nghệ, dựa vào một nền sản xuất bền
Trang 25vững Bảo đảm sự tăng trưởng nhất thời đã là một việc khó, còn phải đảm bảo tăng trưởng bền vững lại càng khó hơn
Giai đoạn thứ hai của việc xây dựng XHHT là phát triển kinh tế tri thức dựa trên trên nguồn nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở đầu tư vào một số vấn đề: Nhanh chóng phát triển hệ thống giáo dục sau trung học trong cộng đồng để trí thức hóa công, nông, tạo đội ngũ lao động tri thức Đại chúng hóa giáo dục sau trung học phải được coi là một hướng phát triển giáo dục quan trọng; tăng đầu tư cho giáo dục để tăng tư bản con người (vốn con người) Muốn làm được điều này thì ngay từ bây giờ phải đổi mới tư duy giáo dục, xóa quan niệm chi phí cho giáo dục là chi phí tiêu dùng, thay vào đó là quan niệm về chi phí cho giáo dục mang tính sản xuất Tư bản con người là tổng hợp các khả năng của người lao động và đồng thời là các khoản chí phí của Nhà nước, của doanh nghiệp và của mỗi người cho việc hình thành và thường xuyên hoàn thiện những khả năng đó; phải có đội ngũ nhân tài đông đảo về các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, khoa học, công nghệ, quân sự, quản lý kinh tế và quản lý xã hội, có đủ năng lực sáng tạo ra những công nghệ mới, làm chủ những công nghệ cao, bình đẳng với các quốc gia trong vấn đề trao đổi, chuyển giao công nghệ, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm động lực cho sự phát triển xã hội học tập, xây dựng con người Việt Nam hiện đại; thực hiện nền giáo dục 100% dân cư với yêu cầu phát triển hết mọi năng lực sẵn có trong mỗi con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn Đó là nền giáo dục phát triển mạnh mẽ các tính con người, phát huy năng lực con người, làm cho mỗi người là một chủ thể sáng tạo trong một xã hội văn hóa và văn minh
1.2 C¸c khái niệm khoa học liên quan
1.2.1 Cộng đồng
Là toàn thể những người cùng sống trên cùng một địa bàn có những điểm
giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội Cộng đồng dân cư là tập hợp những cá nhân được gắn kết bởi nhiều mối quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, dân số, môi trường… trong một địa bàn nhất định Cộng đồng là một thuộc tính của xã hội loài người ngay từ lúc sơ khai và khái niệm cộng đồng đã tồn tại từ lâu trong lịch sử Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu
về khái niệm này mãi đến cuối thế kỷ XIX mới được các nhà xã hội học tiến hành, một trong số những người tiên phong là nhà xã hội học người Đức F.Tonnies
Trang 26Từ điển The American College Dictionary của Nhà xuất bản Random house năm
1965 định nghĩa như sau: “Cộng đồng là một nhóm xã hội với bất kỳ quy mô nào
mà các thành viên của nó cùng cư trú trong một địa phương riêng biệt, cùng chia sẻ quyền lực nhà nước, và cùng có một di sản văn hóa và lịch sử ”
Từ điển Wester’s new world năm 1995 định nghĩa :
“Cộng đồng là bao gồm những người sống trong cùng một địa phương, một thành phố riêng biệt, ”; hoặc là, “Cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau như là một đơn vị xã hội nhỏ hơn ở trong một xã hội lớn hơn và có cùng những mối quan tâm, việc làm ”
Từ điển bách khoa của Nhà xuất bản Hachette năm 1998 định nghĩa như sau: Nghĩa thứ nhất : “Cộng đồng là nét đặc trưng của cái mà nó có chung ở nhiều người, ở nhiều nhóm xã hội”;
Nghĩa thứ hai : “Cộng đồng là nhóm người cùng chung sống và cùng chia sẻ những lợi ích chung, một nền văn hóa chung hay cùng một lý tưởng”
Trong tiếng Anh-Mỹ, danh từ “Community” có nghĩa là “Cộng đồng”;
Theo Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, cộng đồng được hiểu như một trạng
từ chỉ trạng thái , có nghĩa : “cùng chung với nhau”
Trong tiếng Việt hiện nay, người ta hiểu danh từ chung cộng đồng có nghĩa là:
“toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống
nhau, gắn bó thành một khối ”; Hoặc có nghĩa là : “tập hợp của những người có những điểm giống nhau làm thành một khối như một xã hội ”
Theo UNESCO , “Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực hiện chức năng như một thể thống nhất.”
Trong thực tế, dựa theo những yếu tố giống nhau đặc trưng nhất, thường cú cỏc loại cộng đồng như: Cộng đồng Tụn giỏo (Cộng đồng người Hồi giỏo), Cộng đồng Ngụn ngữ (Cộng đồng núi Tiếng Phỏp), Cộng đồng Dõn tộc (Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài), Cộng đồng phong tục (Cộng đồng người Tày), Cộng đồng Huyết thống (Cộng đồng dũng họ, gia tộc…) Ở Việt Nam, làng, xó, tổ dõn phố, cụm dõn cư, gia tộc, cỏc tộc người mang tớnh cộng đồng khỏ rừ ràng
1.2.2 Giáo dục cộng đồng
Trang 27Khái niệm Giáo dục cộng đồng (GDCĐ) (Community Education) được sử dụng từ cuối thế kỷ XIX ở Bắc Mỹ ( Mỹ và Canada) Nơi đây, khái niệm GDCĐ xuất hiện gắn với sự xuất hiện các hình thức đào tạo ngắn hạn có mục đích tự thân
là phục vụ nhu cầu hiểu biết và lao động sản xuất của cộng đồng địa phương, không phân biệt lứa tuổi, dân tộc, thu nhập, thành phần xã hội…Khái niệm này
được sử dụng ở Châu Âu có muộn hơn; còn ở Việt Nam, nó được dùng khá sớm ở miền Nam, trong khi đó ở miền Bắc đã có một số loại hình giáo dục mang tính chất cộng đồng trước khi khái niệm GDCĐ được đề cập một cách chính thức trong
hệ thống thuật ngữ giáo dục Việt Nam như hiện nay
Hiệp hội GDCĐ quốc tế quan niệm rằng, “GDCĐ là quá trình làm cho cộng
đồng có đủ khả năng kiểm soát sự phát triển và cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng thông qua học tập suốt đời Nó tạo thêm sinh lực cho mọi người và
sử dụng các nguồn lực công, nguồn lực tư và nguồn lực tự nguyện để xây dựng, cải thiện cộng đồng thông qua việc xác định và đáp ứng những nhu cầu của cộng
đồng Nó trao quyền cho mọi người để họ có thể quyết định và hành động vì sự phát triển của cộng đồng mình”
Nội hàm của khái niệm GDCĐ gồm các đặc trưng cơ bản sau:
- GDCĐ là một phương thức giáo dục - đào tạo không chính quy, hoặc những hoạt
động mang tính chất giáo dục, diễn ra tại cộng đồng, không phân biệt lứa tuổi;
- Làm cho người dân trong cộng đồng, nhà trường cộng đồng (NTCĐ), chính quyền, các đoàn thể trở thành những đối tác tích cực và chủ động liên kết các nhu cầu và nguồn lực để giải quyết những vấn đề chung của chính cộng đồng mình ;
- Giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển cộng đồng
Về mục đích ý nghĩa của GDCĐ:
- GDCĐ nhằm tạo cơ hội cho các thành viên của cộng đồng, các công dân địa phương, người dân ở mọi lứa tuổi, các cá nhân, nhà trường, doanh nghiệp, các tổ chức tư nhân và nhà nước trở thành những đối tác tích cực trong việc giải quyết những vấn đề của cộng đồng, giải quyết những mối quan tâm về giáo dục cũng như những mối qua tâm chung của cộng đồng
- GDCĐ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về sự phát triển, tạo ra những thay đổi Nó làm cho cộng đồng đủ khả năng kiểm soát được sự phát triển và cải thiện cuộc sống, làm giàu thông qua việc học tập suốt đời
Trang 28- GDCĐ làm cho các thành viên của cộng đồng xích lại gần nhau, cùng nhau xác
định và liên kết những nhu cầu và nguồn lực của cộng đồng theo cách thức “giúp mọi người tự giúp mình” để nâng cao chất lượng cuộc sống trong cộng đồng
- GDCĐ giúp con người sử dụng các nguồn lực công, tư, tự nguyện để xây dựng , cải thiện cộng đồng thông qua việc xác định và đáp ứng những nhu cầu của cộng
đồng
Giáo dục cộng đồng là giáo dục trong cộng đồng và có sự tham gia của cộng
đồng vào giáo dục Bên cạnh GD chính quy, tất cả các hình thức học tập của GD không chính quy và GD phi chính quy được coi là những hình thức học tập phổ biến của GDCĐ Triết lý cơ bản của GDCĐ là “Giáo dục là giáo dục cho mọi người, học tập là hoạt động suốt đời", theo đó, người học vừa được cung cấp một
số kiến thức thực tiễn để có thể ứng dụng ngay vào đời sống, lại vừa được chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thích nghi và biết sống trong xã hội tương lai
1.2.3 Nhà trường cộng đồng
Thực tiễn phát triển GDCĐ gắn liền với các kiểu nhà trường trong cùng một
thiết chế xã hội chặt chẽ, trong đó luôn khẳng định vai trò của nhà trường Quá trình phát triển nhà trường CĐ bao hàm việc chuyển đổi, phân hoá các loại hình trường học, kể cả trường cao đẳng, đại học thành trung tâm, trường CĐ cũng như khả năng hình thành một loại cơ sở học tập mới như trung tâm học tập dựa vào CĐ
có khả năng thoả mãn mọi đòi hỏi và đáp ứng các nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhu cầu phát triển của CĐ
1.2.4 Phỏt triển cộng đồng
Hiện nay chưa cú một định nghĩa chớnh thức nào đối với cụm từ này Nhưng qua những hoạt động về phỏt triển cộng đồng (PTCĐ) thời gian qua, cú thể hiểu thực chất PTCĐ là quỏ trỡnh tăng trưởng kinh tế cộng đồng cựng với tiến bộ cộng đồng theo hướng cỏc giỏ trị chõn, thiện, mỹ Núi cỏch khỏc, PTCĐ là làm cho cộng đồng thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp, chất lượng cuộc sống ngày càng cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần, tổ chức quản lý cộng đồng ngày càng hoàn thiện theo hướng tiến bộ…
1.2.5 Sự tham gia của cộng đồng
“Tham gia” cú nghĩa là dự phần trong mọi sinh hoạt, mọi hoạt động liờn quan đến đời sống con người trong cộng đồng Người dõn thể hiện sự tham gia qua cuộc sống gia đỡnh của họ, trong cỏc sinh hoạt sản xuất và trỏch nhiệm đối với cộng đồng Tham gia cú nghĩa là người dõn trong cộng đồng cú tiếng núi trực tiếp
Trang 29trong quỏ trỡnh xõy dựng cỏc quyết định; làm việc theo nhúm, theo tập thể; thực hiện cỏc hoạt động tập thể nhằm đạt được cỏc mục tiờu chung; chia sẻ và cú ảnh hưởng lẫn nhau; chia sẻ trỏch nhiệm và tỡnh cảm; được quyền cú ý kiến trong việc phõn bổ cụng bằng và hài hũa
1.2.6 Phát triển bền vững
Khái niệm Phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi từ năm 1987 từ báo cáo Brundtland (còn gọi là báo cáo tương lai chung) của Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới (WCED), nay là uỷ ban Brundtland Báo cáo ghi rõ: Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không
ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai , hay nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn Để đạt được
điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay cùng nhau thực hiện
Theo từ điển Tiếng Việt, phỏt triển bền vững cú nghĩa là phỏt triển vững chắc và bền lõu Phỏt triển bền vững của Trung tõm HTCĐ ở đõy mang ý nghĩa này Sự phỏt triển bền vững của TTHTCĐ được tạo nờn bởi nhiều nhõn tố Đú là :
(1) Sự hỗ trợ về chớnh trị (Political Support)
(2) Tinh thần làm chủ của cộng đồng (Community OwnerShip)
(3) Huy động nguồn lực (Resource Mobilization)
(4) Bồi dưỡng và xõy dựng năng lực cho cỏn bộ Trung tõm HTCĐ (Capacity
Building)
(5) Mạng lưới và liờn kết (Linkages and Networking) : Trung tõm HTCĐ phải dựa
trờn sự phối kết hợp với cỏc ban, ngành, đoàn thể, cỏc cơ sở cụng thương nghiệp
… ở địa phương để khai thỏc triệt để cỏc nguồn lực của từng đơn vị
(6) Giỏm sỏt và đỏnh giỏ (Monitoring and Evaluation)
Nhận xột :
Trong sỏu nhõn tố này, cỏc nhõn tố (1), (4) và (6) chớnh Trung tõm HTCĐ cú thể điều chỉnh, rỳt kinh nghiệm và khắc phục được; nhưng cỏc nhõn tố (2), (3) và (5) phụ thuộc vào người dõn trong cộng đồng và đối tỏc bờn ngoài Thậm chớ, nếu làm tốt việc hỡnh thành mạng lưới và cỏc mối liờn kết (nhõn tố 5) để gõy dựng cỏc nhúm hoạt động nũng cốt tại cộng đồng cho Trung tõm sẽ tăng cường và duy trỡ
Trang 30bền vững được nguồn nội lực cho Trung tõm (nhõn tố 3); qua đú lụi kộo được sự tham gia của cộng đồng (nhõn tố 2)
1.2.7 Quản lý phát triển bền vững
Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam đã tổ chức lễ phát động Thập kỷ của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục vì sự phát triển bền vững (2005 - 2014) và ra mắt Uỷ ban Quốc gia thập kỷ giáo dục vì sự phát triển bền vững của Việt Nam vào ngày 15/2/2006 Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành chương trình Nghị sự 21 về
“Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”, trong đó giáo dục được coi là chìa khóa, là công cụ chủ chốt khơi dậy nhận thức và thay đổi cách hành vi ứng xử của mỗi người dân Công trình “Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp” (1997) của Phạm Xuân Nam làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội; Phát triển kinh tế; Bảo vệ môi trường; Phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ; Và chỉ báo quốc tế về phát triển Khái niệm phát triển bền vững đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với sự phát triển của mỗi quốc gia đó Việt Nam với chính sách: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” (vì giáo dục là con đường ngắn nhất dẫn đến văn minh nhân loại, dẫn đến kinh tế, văn hoá, chính trị ), tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập công bằng, thực hiện nhu cầu học tập suốt đời của bản thân và cùng tạo một xã hội học tập lành mạnh vì sự phát triển lâu dài, phát triển bền vững tri thức của bản thân, của xã hội và của nhân loại nói chung Trung tâm HTCĐ là một tập con của hệ thống giáo dục quốc dân, nằm trong luồng phát triển chung của nền giáo dục toàn cầu, và trung tâm HTCĐ cũng đang trong đà phát triển bền vững cùng với ngành giáo dục Căn cứ khái niệm Phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland, giáo dục đáp ứng được sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn
đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa
1.2.8 Xã hội học tập
Thuật ngữ “Xó hội học tập” được UNESCO nờu lờn lần đầu tiờn cỏch đõy hơn 30 năm Xó hội học tập bao gồm 2 khớa cạnh cú quan hệ mật thiết với nhau:
Thứ nhất: Là mọi tổ chức, tập thể, mọi cỏ nhõn theo khả năng của mỡnh đều cú thể
cung ứng cơ hội học tập cho cộng đồng
Thứ hai: Là giỏo dục húa xó hội tạo ra một xó hội học tập Mọi người trong xó hội
đều cú thể tận dụng cơ hội để học tập và tham gia phỏt triển giỏo dục cộng đồng
Trang 31tùy theo nhu cầu, khả năng và điều kiện nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, của cộng đồng và của toàn xã hội
Theo báo cáo của UNESCO: Xã hội học tập bao hàm ý niệm giáo dục là một chức năng của các bộ phận trong xã hội chứ không riêng gì của các cơ quan giáo dục Về bản chất, xã hội học tập là một xã hội mà trong đó mọi người đều học tập, học thường xuyên, học suốt đời và mọi lực lượng trong xã hội đều có trách nhiệm tạo cơ hội học tập cho mọi người; là một xã hội mà trong đó các tổ chức trong xã hội đều là người cung cấp giáo dục, mọi công dân đều phải học tập và triệt để tận dụng cơ hội do xã hội học tập cung cấp
Ở nước ta, Văn kiện Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy”, thực hiện “Giáo dục cho mọi người”, “Cả nước trở thành xã hội học tập”: Văn kiện Đại hội X của Đảng nhấn mạnh:“Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”
Tóm lại, có thể nói xã hội học tập, mà nội dung cốt lõi của nó là học tập suốt đời;
đây là một xu thế mới trong quá trình phát triển của nhân loại ở thời kỳ hậu công nghiệp Đó cũng là đòi hỏi của yêu cầu phát triển kinh tế, của tiến bộ khoa học và công nghệ và cũng là đòi hỏi của sự phát triển con người ở thời đại mới
1.3 Trung tâm học tập cộng đồng
Hiệp hội HTCĐ ở British Columbia cho rằng HTCĐ có 8 đặc điểm:
- Có sự tham gia của các cư dân trong cộng đồng vào giải quyết vấn đề và ra quyết định, thông thường qua hội đồng cộng đồng
- Tìm kiếm và tạo ra cơ hội học tập suốt đời cho người học ở mọi lứa tuổi
- Sử dụng các nguồn lực của cộng đồng cho các chương trình giáo dục
- Có cơ hội cho các bậc cha mẹ tham gia vào quá trình học tập của con cái và cuộc sống học tập
- Sử dụng tối đa các phương tiện giáo dục hiện có trong cộng đồng
- Có sự phối kết hợp và cộng tác của nhiều cơ quan, tổ chức để cung cấp dịch vụ giáo dục về xã hội, kinh tế, giải trí, văn hoá… cho mọi thành viên của cộng đồng
- Có quan hệ đối tác giữa các doanh nghiệp, nhà kinh doanh và nhà trường cộng
Trang 32đồng để cải thiện bầu không khí học tập
- Có các tình nguyện viên giúp đỡ để cung cấp, phân phát dịch vụ cho cộng đồng
Theo Luật Giáo dục 2005 (mục b, điều 46) Trung tâm HTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên được tổ chức tại xã, phường, thị trấn
Trung tâm HTCĐ được hiểu là cơ sở giáo dục được thành lập tại xã, phường, thị trấn hoạt động theo phương thức giáo dục không chính quy Trung tâm HTCĐ được lập ra nhằm cung cấp cơ hội học tập cho mọi người trong xã, phường, thị trấn để phát triển nguồn nhân lực, cải thiện đời sống và phát triển cộng đồng, xây dựng XHHT, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội tại địa phương
1.3.1 Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm HTCĐ trong hệ thống Giáo dục Việt nam
Theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 3 năm 2008 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm HTCĐ tại xã, phường, thị trấn, trong đó có 1 số điều tóm tắt như sau :
Điều 2 Vị trí của trung tâm học tập cộng đồng
1 Trung tâm HTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước
2 Trung tâm HTCĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
Điều 3 Chức năng của trung tâm học tập cộng đồng
Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; là nơi thực hiện việc phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến với mọi người dân nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và
cả cộng đồng
Điều 4 Nhiệm vụ của trung tâm học tập cộng đồng
1 Tổ chức thực hiện công tác xoá mù chữ và BTVH, công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức; phối hợp triển khai các chương trình khuyến nông, khuyến ngư…
và các dự án, chương trình tại địa phương
2 Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách báo, tư vấn khuyến học, giáo dục cho con em nhân dân địa phương, phòng chống
tệ nạn xã hội
Trang 333 Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hình thức học tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng
4 Quản lý tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của pháp luật
1.3.2 Hoạt động của Trung tâm HTCĐ
Dựa trên nhu cầu của cộng đồng và khả năng cho phép, Trung tâm HTCĐ tổ chức các hoạt động khác nhau; có thể xếp các hoạt động ấy theo các lĩnh vực sau:
- Xóa mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa
- Hình thành – nâng cao kỹ năng lao động
- Nâng cao chất lượng cuộc sống
- Học tập theo sở thích
- Các dịch vụ thông tin
- Văn hóa địa phương
- Thể dục – thể thao, vui chơi giải trí [2]
1.3.3 Nguồn lực của Trung tâm HTCĐ
Trung tâm HTCĐ thực hiện nhiều nhiệm vụ, chức năng khác nhau, do đó để hình thành và phát triển bền vững thì việc tạo nguồn lực cho Trung tâm là rất cần thiết Các nguồn lực ở đây gồm : nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực
a.Nhân lực: Gồm bộ phận quản lý (Ban Quản lý hay Ban Chủ nhiệm) và hướng
dẫn viên (Cán bộ chuyên môn, Báo cáo viên, Cán bộ trợ giảng )
b.Vật lực : Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động, thư
viện
c.Tài lực: Nguồn kinh phí phục vụ cho việc thành lập, tu bổ Trung tâm, mua sắm
trang thiết bị, tài liệu học tập … để tổ chức các hoạt động
d.Tin lực: Nguồn tài nguyên thông tin Các thông tin này có thể tìm kiếm, khai
thác trên Internet để phục vụ cho cộng đồng hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí , …
Nguồn lực cho hoạt động của Trung tâm cũng chủ yếu khai thác từ cộng đồng Nguồn lực tại chỗ có thể kể đến là nhân lực, vật lực, tài lực của các thành viên trong cộng đồng, CSVC kỹ thuật và nguồn tài chính sẵn có của các cơ quan, đoàn thể địa phương, sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn…
Nguồn lực từ bên ngoài có thể khai thác bao gồm các nguồn tài trợ của nhà nước, của các tổ chức quốc tế thông qua các chương trình, dự án phát triển cộng
Trang 34đồng Các chương trình dự án này thường do các ngành chức năng quản lý và điều phối Trung tâm HTCĐ có thể tham gia, phối hợp với các cơ quan hữu quan từ việc xây dựng dự án đến việc thực hiện dự án [1]
1.3.4 Mạng lưới và liên kết của Trung tâm HTCĐ
1.3.4.1 Mạng lưới và liên kết
Sự cộng tác qua lại lẫn nhau trong công việc tạo ra hoặc là mạng lưới hay
sự liên kết Sơ đồ minh họa Mạng lưới hay Liên kết như sau :
Hình 1.1 Sơ đồ minh họa Mạng lưới hay liên kết Bảng 1.1 : Sự khác biệt giữa Mạng lưới hay Liên kết
+ Mối quan hệ chặt chẽ
1.3.4.2 Xây dựng, phát triển mạng lưới và liên kết cho Trung tâm HTCĐ
Các nguồn lực mà các Trung tâm HTCĐ có thường yếu kém và hạn chế do
đó việc phát triển mạng lưới và các mối liên kết sẽ giúp cho Trung tâm HTCĐ mạnh hơn lên khi hoạt động trong sự hợp tác với toàn thể cộng đồng cũng như với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài địa phương ở mọi cấp độ; ngoài ra còn giúp cho cả Trung tâm HTCĐ lẫn đối tác: không có sự trùng lặp về nỗ lực vì có chung mục tiêu, chương trình và đối tượng; thay thế cho việc hai bên tổ chức huấn luyện riêng rẽ, nay họ có thể phối hợp, chia sẻ nguồn lực cho nhau; tiết kiệm được nguồn lực vốn đã hạn chế nhưng có thể phục vụ tối đa Sự cộng tác giúp chương trình mang tính tổng thể, tồn tại lâu dài và bền vững hơn
1.3.4.3 Quá trình thành lập mạng lưới và các mối liên kết
Có hai phương pháp kết nối mạng lưới:
- Liên kết ngang để trao đổi tin tức và thông tin giữa các tổ chức có cùng một cấp
độ với Trung tâm HTCĐ trong cộng đồng để cộng tác và thúc đẩy hợp tác với nhau, tránh cạnh tranh, và giảm thiểu các hoạt động lặp lại
- Liên kết dọc để trao đổi tin tức và thông tin giữa các tổ chức cấp cộng đồng với các tổ chức ở cấp cao hơn - từ cấp thôn, xã đến cấp huyện, cấp tỉnh hoặc thậm chí
Trang 35ở cấp quốc gia Trong đó, các mối liên kết dọc chủ yếu là mối liên kết tất yếu rộng lớn, do chính các Trung tâm HTCĐ tạo ra hoặc ít nhất là bước đầu được hỗ trợ bởi
cơ quan chính quyền hoặc một tổ chức phi chính phủ cấp trên của Trung tâm Mối liên kết ngang với các cơ quan khác và các cộng tác viên không thể tự động phát sinh mà chủ yếu phụ thuộc vào các sáng kiến của lãnh đạo địa phương
- Các mạng lưới và các mối liên kết “nội bộ”
Mạng lưới nội bộ Trung tâm HTCĐ bao gồm các nhóm cộng đồng và các nhóm nghề nghiệp đa dạng Đối với các đặc tính của nhóm, có một số đã phát triển thông qua các mối quan hệ cá nhân cùng nhau hình thành và phát triển nghề nghiệp Đồng thời, cũng bao gồm mạng lưới các tổ chức nhà nước/cơ quan trong cộng
đồng, tổ chức chính quyền các cấp, các tổ chức trường học và trạm y tế…
- Quy trình thiết lập các mạng lưới và mối liên kết:
(1) Các bước cần tiến hành để lập mạng lưới hay liên kết với các cá nhân hay đơn
vị khác mà họ có nguồn lực như sau :
Hình 1.2 Quy trình thiết lập mạng lưới và mối liên kết
(2) Quy trình tạo mối liên kết và phối hợp như sau :
“Bước đầu tiên là xác định các nguồn lực cần có đối với Trung tâm HTCĐ, sau
đó xác định xem những nguồn lực này có thể huy động từ nguồn lực nào, tốt
nhất là tìm ra nơi có đối tác phối hợp
- Tiếp xúc thường xuyên với từng cá nhân, tổ chức
- Xây dựng dữ liệu về các tổ chức có liên quan bao gồm cả sự hiểu biết về điểm mạnh, điểm yếu, các chương trình hoạt động và khả năng của từng tổ chức
- Tiếp xúc với các tổ chức, ban, ngành, đoàn thể xã hội
- Suy nghĩ một cách tổng thể về sự phát triển chung của cộng đồng.”
(3) Quy trình thiết lập mạng lưới và mối liên kết của Trung tâm HTCĐ gồm bảy bước [28] như sau:
Hình 1.3 Quy trình thiết lập mạng lưới và liên kết
(3) Lập kế hoạch
để có thể tiếp cận với các nguồn lực đó
Trang 36Bước 1: Tìm hiểu cộng đồng
Để có được một kiến thức toàn diện và thực tế về cộng đồng mà Trung tâm HTCĐ phục vụ, trước khi chính thức hóa cho một liên kết hoặc tìm kiếm các đối tác
Bước 2: Phân tích các nhu cầu và cơ hội của cộng đồng
Trên cơ sở của Bước 1, Ban quản lý Trung tâm HTCĐ phải quan tâm đến nhu cầu thực sự của cộng đồng Kế hoạch của Trung tâm HTCĐ phải dựa trên tình trạng của các vấn đề và nhu cầu của người dân trong cộng đồng
Bước 3: Tìm đối tác
Sau khi đã xem xét các nhu cầu, lãnh đạo của Trung tâm HTCĐ phải thiết lập một
hệ thống cung cấp tương ứng với nhu cầu Điều này có nghĩa là phải xác định các
tổ chức cơ quan chính phủ, hiệp hội, tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân quyền, quỹ tài chính,…v v , liên quan đến cộng đồng của họ có thể đáp ứng nhu cầu hoặc tận dụng được những cơ hội tiềm năng
Bước 4: Làm phù hợp quá trình hợp tác
Tiếp theo là xác định những đối tác liên kết cụ thể có tiềm năng để đáp ứng cho từng nhu cầu Các đối tác này có thể được xác định thông qua tổ chức hỗ trợ, có thể thông qua các buổi họp giữa lãnh đạo của Trung tâm HTCĐ và các cơ quan, tổ chức khác trong cộng đồng
Bước 5: Tiếp cận đối tác tiềm năng
Lãnh đạo của các Trung tâm HTCĐ phải tiếp cận những đối tác tiềm năng, bắt đầu bằng những buổi hội đàm không chính thức, chỉ ra những mối quan tâm chung, lợi ích qua lại, hiệu quả tiềm năng
Bước 6: Triển khai cộng tác qua các dự án thí điểm
Các Trung tâm HTCĐ phải tiến hành các hoạt động không chính thức hay kiểm tra thực nghiệm một vài chương trình Nếu như đối tác và sự liên kết còn khá mới mẻ thì cách tốt nhất cho các hoạt động là bắt đầu từ một quy mô nhỏ và không chính
Tìm hiểu cộng
đồng
Phân tích các nhu cầu và các
cơ hội của cộng đồng
Tiếp cận đối tác tiềm năng
Triển khai cộng tác qua các dự
Hình thành các thỏa thuận thông qua bản ghi nhớ
(7)
Trang 37thức Một hoạt động như vậy có thể là một cuộc thử nghiệm hay một nghiên cứu tình huống
Bước 7: Hình thành các thỏa thuận thông qua bản ghi nhớ
Cuối cùng phải đề ra những thỏa thuận và sắp xếp để những hoạt động phối hợp không thực hiện ngay cùng một lúc Thỏa thuận bao gồm bản ghi nhớ, bản ghi nhớ thỏa thuận, kế hoạch chung cho hoạt động hợp tác trong tương lai, bao gồm việc đặt lịch làm việc để tránh chồng chéo lên các liên kết và mạng lưới khác, kể cả việc bảo đảm sự nhiệt tình và tiếp tục hỗ trợ của cộng đồng địa phương
Nhận xét :
(1) Trung tâm HTCĐ có chức năng đa dạng nhằm phục vụ cho chính lợi ích của cộng đồng, vấn đề quan trọng là các hoạt động trong kế hoạch cộng đồng đều phải dựa trên tình trạng của các vấn đề và nhu cầu của người dân cũng như các cơ hội tiềm năng của cộng đồng
Tuy nhiên, các vấn đề và nhu cầu của cộng đồng không phải là yếu tố cố định
tại thời điểm thành lập Trung tâm mà luôn thay đổi Do vậy, quy trình cần thiết phải có thêm các bước: (1) Tìm hiểu cộng đồng và (2) Phân tích các nhu cầu
và cơ hội của cộng đồng
(2) Bước Tìm hiểu cộng đồng, Phân tích nhu cầu và cơ hội của cộng đồng chưa rõ
ràng và cụ thể; các bước 3, 4 và 5 thực chất chỉ nhằm mục đích xác định và hình
thành sơ bộ mối liên kết với đối tác Thêm vào đó, việc xác định và hình thành sơ
bộ mối liên kết đòi hỏi phải có thời gian và sự phân công cụ thể để đảm bảo tính khả thi, do vậy cần có bước lập kế hoạch cho công việc này
Nghĩa là trình tự sau bước (1), (2) sẽ là bước tiến hành: tìm đối tác, tiếp cận đối tác, lập kế hoạch tiến hành liên kết
(3) Các hoạt động phục vụ của Trung tâm HTCĐ có bền vững hay không phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của Trung tâm đối với cộng đồng và các đối tác, đòi hỏi cần thiết phải kiểm tra tính khả thi của hoạt động có được qua liên kết khi triển khai trên diện rộng Do vậy, sau khi xác định và tiếp cận được đối tác, cần tiếp tục tiến hành các bước triển khai sự cộng tác qua các dự án thí điểm tiến tới hình thành các thỏa thuận thông qua bản ghi nhớ để chính thức hóa mối liên kết giữa đối tác và Trung tâm HTCĐ
Quy trình thiết lập các mối liên kết và mạng lưới đề nghị điều chỉnh lại gồm 6 bước như sau :
Trang 38Bước 1 : Tìm hiểu cộng đồng bằng các hình thức thăm viếng và quan sát, tổ chức
các cuộc họp lắng nghe ý kiến của người dân trong cộng đồng, tham khảo các tài liệu nghiên cứu về cộng đồng, …để thu thập các thông tin cơ bản về cộng đồng, các vấn đề và nhu cầu của cộng đồng, kể cả các cơ hội tiềm năng có thể mang lại lợi ích, tác động tích cực cho sự phát triển của cộng đồng
Bước 2 : Phân tích nhu cầu và cơ hội của cộng đồng
(1) Phân loại sắp xếp các vấn đề và nhu cầu, cơ hội của cộng đồng vào các lĩnh vực
(2) Phân tích các vấn đề và nhu cầu, cơ hội của cộng đồng để tìm hiểu thực chất của vấn đề, nguyên nhân, cách giải quyết
(3) Sắp xếp ưu tiên các vấn đề và nhu cầu (có tác động to lớn và sâu rộng nhất; có
số người bị tác động lớn nhất; vấn đề được giải quyết đem lại lợi ích lớn nhất…)
Bước 3 : Xác định các nguồn lực cần có của Trung tâm
(1) Dựa vào bảng phân tích nhu cầu và cơ hội ở Bước 2, tiến hành xem xét xác định các nguồn lực tương ứng cần có của Trung tâm
(2) Bên cạnh đó, xác định các nguồn lực nào Trung tâm không có, xem xét các địa chỉ có khả năng có các nguồn lực ấy mà Trung tâm có thể tranh thủ huy động được
Bước 4 : Xác định và tiếp cận đối tác tiềm năng, lập kế hoạch tiến hành liên kết
(1) Dựa trên các địa chỉ đã xác định, xây dựng dữ liệu về các tổ chức ấy
(2) Bắt đầu bằng những buổi hội đàm không chính thức, tiếp xúc từng cá nhân, tổ chức, ban ngành đoàn thể xã hội (theo địa chỉ và dữ liệu đã đánh giá) cần liên kết
(3) Lập kế hoạch tiến hành liên kết, cần xác định các hoạt động theo trình tự, lên khung thời gian cho các hoạt động, phân công trách nhiệm thực hiện các hoạt động phù hợp kế hoạch dự kiến của đối tác cũng như của Trung tâm HTCĐ
Bước 5 : Triển khai sự cộng tác qua các dự án thí điểm
Theo kế hoạch đã định, tiến hành các hoạt động không chính thức hay kiểm tra thực nghiệm một vài chương trình hay một nghiên cứu tình huống
Bước 6 : Hình thành các thỏa thuận thông qua bản ghi nhớ
Các bên phải đi đến hình thành các thỏa thuận về các hoạt động phối hợp bao gồm: thời gian tiến hành hoạt động, hoạt động, nhiệm vụ của từng đơn vị (đối tác
và Trung tâm HTCĐ), để chính thức hóa các thỏa thuận, ký kết chịu trách nhiệm
Hình 1.4 Quy trình thiết lập mạng lưới và liên kết (đã điều chỉnh)
Trang 391.3.4.4 Phân tích mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và nguy cơ (SWOT)
Khái niệm SWOT
SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh:
- S (Strengths) : Các mặt mạnh, tích cực của nhóm/ tổ chức,
- W (Weaknesses) : Các mặt yếu kém, tiêu cực của nhóm/tổ chức,
- O (Opportunities) : Các yếu tố thuận lợi của môi trường pháp lý, xã hội,
chính trị, thị trường, thiên nhiên, các cơ hội thuận tiện cho sự thay đổi
- T (Threats) : Các yếu tố đe dọa, cản trở và là những nguy cơ từ môi trường pháp lý, xã hội, chính trị, thị trường, thiên nhiên
Mục tiêu của phân tích SWOT là tìm ra những thời cơ và nguy cơ trong môi trường bên ngoài, các điểm mạnh và điểm yếu của chính tổ chức có tác động mạnh
mẽ đến hoạt động của tổ chức; và trên cơ sở đó xác định những vấn đề chiến lược cần giải quyết… Những điểm mạnh và những điểm yếu nằm chính trong bản thân
tổ chức, ở chừng mực nào đó có thể điều khiển được hoặc chí ít cũng thay đổi được trong một thời gian nhất định Các yếu tố thời cơ và nguy cơ không phụ thuộc và nằm ngoài tầm kiểm soát của tổ chức, do vậy tổ chức chỉ có thể tận dụng những thời cơ, giảm thiểu ảnh hưởng chứ không thể chủ động lập kế hoạch thay đổi chúng được
Phân tích môi trường nội bộ: Khẳng định những mặt mạnh, yếu trong nội bộ của
địa phương để tìm những nguồn lực hỗ trợ và kêu gọi sự tham gia Đồng thời cũng biết được những hạn chế có thể có trong cộng đồng để lên kế hoạch giải quyết khắc phục
Phân tích môi trường bên ngoài: Quan sát và đánh giá những cơ hội và những
nguy cơ/cản trở trong xã hội, thị trường để bàn bạc và đối chiếu với các mặt mạnh
cũng như những mặt yếu kém từ đó đề ra các chiến lược phát triển
Hình 1.5 Sơ đồ liệt kê các yếu tố của mô hình SWOT
Tìm hiểu
cộng đồng
Phân tích các nhu cầu và các
cơ hội của
ộ đồ
Triển khai sự cộng tác qua các dự án thí điể
Hình thành các thỏa thuận thông qua bản
hi hớ
Xác định các nguồn lực cần
có của Trung â
Xác định và tiếp cận đối tác tiềm năng, lập kế hoạch tiến
hà h liê kế
(5) (6)
Trang 40Xõy dựng XHHT để tiến tới nền kinh tế tri thức đang là một trong những chủ đề trọng tõm của UNESCO, của cỏc Hội nghị giỏo dục quốc tế XHHT là một xó hội
mà mọi người được khuyến khớch và hỗ trợ để học tập, mọi người vừa làm vừa học, học thường xuyờn, học liờn tục nhằm đỏp ứng những yờu cầu của thời đại mới Hệ thống giỏo dục trong nhà trường khụng đủ đỏp ứng nhu cầu học tập của nhõn dõn lao động, đặc biệt là ở vựng nụng thụn, miền nỳi, vựng sõu, vựng xa; do
đú, cần phải phỏt triển mạnh hệ thống giỏo dục bờn ngoài nhà trường, ngay địa phương họ đang sinh sống Để xõy dựng hệ thống giỏo dục bờn ngoài nhà trường, qua nghiờn cứu kinh nghiệm của thế giới và thớ điểm ở trong nước, Bộ Giỏo dục
và Đào tạo và Hội Khuyến học Việt Nam đó rỳt ra kết luận: Trung tõm HTCĐ là cụng cụ thiết yếu để xõy dựng XHHT từ cơ sở bởi lẽ Trung tõm HTCĐ đỏp ứng nhu cầu “cần gỡ học nấy” một cỏch thường xuyờn, liờn tục, học suốt đời của cỏn bộ
và cỏc tầng lớp nhõn dõn ở cỏc cụm dõn cư xó, phường, thị trấn Là một tổ chức đa chức năng, đũi hỏi Trung tõm HTCĐ phải cú đủ cỏc nguồn lực để đảm bảo hoàn thành mục tiờu đặt ra Muốn được như thế, Trung tõm HTCĐ cần phối kết hợp thành mạng lưới với cỏc đối tỏc cú liờn quan, cũng như chỳ ý đến mối liờn kết và phối hợp giữa cỏc ban, ngành, đoàn thể và giữa cỏc cơ quan chớnh phủ và tổ chức
phi chớnh phủ cú liờn quan tại địa phương Thực hiện tốt chức năng liờn kết và
phối hợp là một yếu tố cơ bản bảo đảm thành cụng của Trung tõm HTCĐ
1.3.5 Đặc điểm của người học tại các Trung tâm HTCĐ
Học viên (HV) là những người có nhu cầu và có nghĩa vụ học tập, đủ điều kiện tham gia vào một hoặc nhiều chương trình giáo dục của trung tâm HV của trung tâm đa dạng về lứa tuổi, đa dạng về trình độ, đa dạng về nhu cầu học tập của người học Vì thế việc dạy học trong các Trung tâm này cần thích ứng với người học
HV có nhiệm vụ: Thực hiện các yêu cầu của Trung tâm, giữ gìn bảo vệ tài sản của Trung tâm HV có quyền: Chọn chương trình, hình thức học, địa điểm học phù hợp với mình, được tôn trọng, được khen thưởng nếu có thành tích
1.3.6 Hệ thốngTrung tõm học tập cộng đồng (Trung tõm HTCĐ)
T
O
Mặt yếu Mặt mạnh
Thỏch thức
Cơ hội