Phát hiện, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho nữ sinh viên trau dồi năng lực, phát triển bản thân… trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt
Trang 1BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TRUNG ƯƠNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm: TS Vũ Thanh Mai, Ủy viên Ban Thường vụ,
Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Thanh niên
Trường học Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
Cơ quan chủ trì: Ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn
8933
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tuổi trẻ là tương lai của đất nước, là mùa xuân của nhân loại; thanh niên
là rường cột của quốc gia Thanh niên sinh viên là một bộ phận quan trọng của thanh niên cả nước, những người có tri thức, đang tích lũy tri thức, là lực lượng
kế thừa và phát huy những thành quả cách mạng, tiêu biểu cho khí phách và trí thông minh của dân tộc Đất nước muốn phát triển, giàu đẹp và thịnh vượng thì nhân lực phải dồi dào và chất lượng Chính vì thế việc quan tâm, bồi dưỡng lực lượng thanh niên là nhiệm vụ tất yếu của mỗi quốc gia Trong bối cảnh hiện tại, khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, hướng tới mục tiêu xây dựng nước ta cơ bản là một nước có nền công nghiệp phát triển vào năm 2020, nhiệm vụ này càng trở nên quan trọng, cấp thiết hơn bao giờ hết
Riêng với lực lượng nữ thanh niên, những người có vai trò quan trọng không kém bất cứ một nam thanh niên nào trong công cuộc xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; họ còn là nguồn năng lượng tinh thần tiềm ẩn vô giá, góp phần gìn giữ vẻ đẹp văn hiến ngàn năm của người Việt Nam, đặc biệt là của người phụ nữ Việt Nam Nữ sinh viên là một phần của lực lượng trí thức, nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai Chính vì vậy cần chú trọng công tác chăm lo cho nữ sinh viên nhằm đào tạo ra một đội ngũ nữ trí thức trẻ giỏi về chuyên môn, năng động trong các hoạt động xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Phát hiện, bồi dưỡng
và tạo điều kiện cho nữ sinh viên trau dồi năng lực, phát triển bản thân… trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam nhằm định hướng các giá trị cho nữ sinh viên, đồng hành cùng họ trên con đường học tập, lao động và lập thân, lập nghiệp; đồng thời, góp phần hỗ trợ đắc lực cho Đảng và Nhà nước trong việc định hướng và giáo dục thanh thiếu niên
Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội Đảng, các Nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Trang 3Ban Bí thư Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện
để phụ nữ phát triển và khẳng định mình Trung ương Đoàn, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam đã ban hành các chương trình hành động cụ thể vì sự tiến
bộ của nữ thanh niên, nữ sinh viên, góp phần tạo chuyển biến trong nhận thức
và hành động về công tác nữ thanh niên nói chung và công tác nữ sinh viên nói riêng, cổ vũ nữ thanh niên, nữ sinh viên trong học tập, rèn luyện và công tác
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang mở ra nhiều cơ hội song cũng đặt ra không ít thách thức đối với nữ sinh viên về trình độ, kiến thức, bản lĩnh,
sự cạnh tranh về việc làm sau khi tốt nghiệp, kỹ năng làm việc, khả năng thích ứng; tinh thần dũng cảm đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực; lối sống thụ động, buông thả, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội Sự phân hóa giàu nghèo trong sinh viên nói chung và nữ sinh viên nói riêng đang diễn ra một cách rõ nét, đó sẽ là những khởi điểm bất công trong đời sống xã hội của nữ sinh viên Hiện tượng
nữ sinh viên không ý thức được bản thân dẫn đến ăn chơi, đua đòi, mắc vào tệ nạn xã hội, trong đó nổi nên là tệ nạn mại dâm, “sống thử”, tham gia các động lắc, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân trong nữ sinh viên đã tạo hình ảnh không tích cực về nữ sinh viên, làm mất đi nét đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của công tác Đoàn Hội và phong trào sinh viên, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên các cấp đã có nhiều chủ trương, chương trình hành động cụ thể nhằm hỗ trợ, giúp đỡ nữ thanh niên sinh viên Tuy nhiên, trên thực tiễn việc triển khai cụ thể hóa chương trình hành động của Đoàn, Hội trong thời gian vừa qua chưa được đầu tư đúng mức, công tác nữ sinh viên tại các trường chưa được chú trọng, chưa có sự quan tâm đồng đều, thường xuyên trong các hoạt động, trong các mặt công tác của nhà trường, của các cấp bộ Đoàn, Hội, chưa coi trọng tổ chức các hoạt động riêng dành cho
nữ sinh viên Việc nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của nữ sinh viên chưa thật chủ động, thường xuyên; chưa quan tâm đúng mức tới công tác bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của nữ sinh viên Công tác định hướng nghề nghiệp nhằm phát huy lợi thế của nữ sinh viên ở những ngành, lĩnh vực phù hợp chưa thực hiện hiệu quả Hoạt động hỗ trợ nữ sinh viên, đặc biệt nữ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, nữ sinh viên dân tộc, nữ sinh viên sai phạm, lầm lỡ, nữ sinh viên có học lực yếu, biểu hiện tự ti, nhút nhát hầu như chưa thực hiện
Trang 4Công tác phối hợp tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, nhất là sức khoẻ sinh sản và tình dục trong nữ sinh viên chưa thường xuyên, thiếu hoạt động cụ thể
Nhằm giúp cho Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên có căn cứ khoa học và thực tiễn xác định các giải pháp cụ thể góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng thì cần thiết phải có công trình nghiên cứu khoa học một cách toàn diện và nghiêm túc Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu đề
tài “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường
Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên” sẽ góp phần tích cực
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chủ trương của Đoàn, Hội trong việc định hướng, hỗ trợ nữ sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt, phát triển toàn diện, góp phần xây dựng và tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao của đất nước
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất các giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong thời
gian tới
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1- Cơ sở lý luận về nghiên cứu giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
2- Thực trạng công tác nữ sinh viên của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên 3- Một số giải pháp của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên nhằm phát huy, khuyến khích, động viên, hỗ trợ, định hướng cho nữ sinh viên trong học tập, nghiên cứu khoa học, trong cuộc sống và tham gia các hoạt động Đoàn, Hội,
hoạt động xã hội
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
Trang 5- Đại diện Đảng ủy, Ban Giám hiệu, giáo viên một số trường Đại học, Cao đẳng khu vực Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ
- Đại diện một số cán bộ nữ tham gia tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1- Phương pháp luận: Tiếp cận nghiên cứu vấn đề theo quan điểm hệ
thống, khách quan, toàn diện và lịch sử
2- Phương pháp cụ thể:
2.1- Tổng hợp và phân tích các tài liệu, các báo cáo và kết quả nghiên cứu liên quan đến nữ sinh viên, công tác nữ sinh viên Các tài liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, như: các bài viết tham luận, hội thảo khoa học; các loại sách, báo, tạp chí có liên quan; thông tin từ Internet; các tư liệu báo cáo của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
2.1- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi về thực trạng, nhu cầu, nguyện vọng của nữ sinh viên và các giải pháp đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thái Nguyên
Trang 62.3- Tổ chức phỏng vấn sâu với nữ sinh viên, cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, Lãnh đạo, giáo viên một số trường Đại học, Cao đẳng, một số cán bộ nữ tham gia tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp : phỏng vấn sâu, tọa đàm (tương ứng với mỗi nhóm đối tượng)
2.4- Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi luôn chú trọng xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà chuyên môn có nhiều kinh nghiệm, hiểu biết sâu về các vấn đề liên quan đến tình hình nữ sinh viên, thực trạng công tác
nữ sinh viên trong các nhà trường Đã tiến hành tổ chức Hội thảo khoa học và lấy ý kiến chuyên gia
2.5- Báo cáo chuyên đề của các chuyên gia, cán bộ Đoàn, Hội chủ chốt một số đơn vị
VII NHỮNG NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI Chương I: Cơ sở lý luận nghiên cứu giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
I- Một số khái niệm:
1- Khái niệm “Nữ sinh viên”
2- Khái niệm “Công tác nữ sinh viên”
II- Quan điểm của Đảng, Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ
III- Vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác nữ sinh viên
IV- Một số định hướng, quan điểm của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác nữ sinh viên
Chương II: Thực trạng công tác nữ sinh viên của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
I- Tình hình nữ sinh viên
II- Tình hình công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng
Trang 7III- Thực trạng công tác nữ sinh viên của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
1- Các hoạt động chung có sự tham gia của nữ sinh viên
2- Các hoạt động dành riêng cho nữ sinh viên
3- Công tác cán bộ nữ sinh viên
Chương III: Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
1- Dự báo tình hình nữ sinh viên và những vấn đề đặt ra đối nữ sinh viên
và công tác nữ sinh viên
2- Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
2.1- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các nhà trường, các cấp bộ Đoàn, Hội đối với công tác nữ sinh viên
2.2- Tổ chức các hoạt động định hướng lý tưởng, niềm tin; giáo dục đạo đức, lối sống, tác phong cho nữ sinh viên
2.3- Tổ chức và phối hợp tổ chức các hoạt động góp phần hỗ trợ nữ sinh viên thi đua học tập, nghiên cứu khoa học
2.4- Tổ chức các hoạt động hỗ trợ đời sống (vật chất, tinh thần) cho nữ
Tài liệu tham khảo
VIII SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 81- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu một số giải pháp đẩy mạnh công tác nữ sinh viên của Đoàn, Hội Sinh viên trong các trường Cao đẳng, Đại học
2- Báo cáo tóm tắt
3- Kỷ yếu hội thảo
4- Bảng tổng hợp số liệu điều tra XHH: xử lý số liệu bằng SPSS 11.5
IX KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
STT Nội dung công việc Kết quả
đạt được
Thời gian thực hiện
Người, cơ quan thực hiện
Tháng 3/2010 Ban Thanh niên
trường học
3 Hội thảo về phương pháp
luận tiếp cận vấn đề nghiên
cứu, phương pháp điều tra
Thống nhất phương pháp nghiên cứu và bộ công cụ điều tra
Tháng 2-3/2010 Ban Thanh niên
trường học phối hợp với các cơ quan
4 Thu thập tài liệu, tư liệu liên
5 Điều tra khảo sát cơ sở và
xử lý kết quả điều tra phiếu
trưng cầu ý kiến, tọa đàm,
phỏng vấn
Đánh giá đúng thực trạng, phân tích tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp
Tháng 3-5/2010 Ban Thanh niên
trường học
6 Đặt viết báo cáo chuyên đề Chuyên sâu về
một số nội dung trọng tâm
Tháng 3-8/2010 Ban chủ nhiệm
và các chuyên gia
Trang 97 Hội thảo khoa học Xin ý kiến các
nhà nghiên cứu, chuyên gia
Tháng 10/2010 Ban Chủ nhiệm
và các cơ quan phối hợp
8 Viết báo cáo tổng kết, kết
quả nghiên cứu
Đánh giá đúng thực trạng, đề xuất giải pháp
Tháng 11 /2010 Ban Chủ nhiệm
9 Nghiệm thu cơ sở đề tài Được Hội đồng
nghiệm thu thông qua
Tháng 11/2010 Ban Thanh niên
Trường học
10 Nghiệm thu chính thức Được Hội đồng
nghiệm thu thông qua
Tháng 12/2010 Thường trực Hội
đồng khoa học
cơ quan TW Đoàn
11 Hoàn thiện nộp sản phẩm Đủ số sản phẩm Tháng 12/2010 Ban Thanh niên
Trường học
X KINH PHÍ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
100.000.000đ (Một trăm triệu đồng)
XI LỰC LƯỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU
1 Cơ quan chủ trì đề tài:
Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn
2 Đơn vị tham gia:
- Ban Tuyên giáo Tuyên giáo Trung ương Đoàn
- Thành Đoàn, Hội Sinh viên thành phố Hà Nội
- Thành Đoàn, Hội Sinh viên thành phố Hồ chí Minh
- Thành Đoàn, Hội Sinh viên thành phố Cần Thơ
- Thành Đoàn, Hội Sinh viên thành phố Đà Nẵng
Trang 10- Một số ban, ngành, cơ quan chức năng liên quan đến vấn đề nghiên cứu tình hình nữ sinh viên, thực trạng công tác nữ sinh viên trong các trường Cao đẳng, Đại học
3 Lực lượng nghiên cứu:
3.1 Đồng chí Vũ Thanh Mai, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
3.2 Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, Bí thư Thành Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên thành phố Hà Nội
3.3 Đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, Bí thư Thành Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên thành phố Đà Nẵng
3.4 Đồng chí Lê Quốc Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Phó Bí thư thành Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
3.5 Đồng chí Lê Hoàng Anh, Ủy viên Ban Chấp hành, Phó Trưởng Ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn
3.6 Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Phó Trưởng Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn
3.7 Đồng chí Lương Thị Lịch, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
3.8 Đồng chí Nguyễn Bình Minh, Chánh Văn phòng Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
4 Chủ nhiệm đề tài:
Đồng chí Vũ Thanh Mai, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Thanh niên Trường học Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch thường trực Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
5 Thành viên Ban chủ nhiệm đề tài:
5.1- Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Phó Bí thư tỉnh Đoàn Hải Dương
Trang 115.2- Đồng chí Lê Hoàng Anh, Ủy viên Ban Chấp hành, Phó Trưởng Ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn
5.3- Đồng chí Lương Thị Lịch, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC NỮ SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CỦA ĐOÀN THANH NIÊN, HỘI SINH VIÊN I- Một số khái niệm
1- Sinh viên: Theo từ điển Tiếng Việt thì Sinh viên (Sinh viên Việt Nam)
là công dân Việt Nam đang theo học tại các trường Đại học và Cao đẳng Họ là một nhóm dân số xã hội, với các đặc điểm được xác định rõ bởi vai trò, vị trí
của hệ thống tái sản xuất và phát triển xã hội Theo cuốn "Tâm lý học sư phạm
Đại học" của Phạm Minh Hạc, thuật ngữ "Sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La
tinh “students” có nghĩa là người làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu, khai thác tri thức Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội, đại đa số là thanh niên đang chuẩn bị những tri thức, phương pháp và kinh nghiệm cần thiết để có thể tham gia vào quá trình sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội sau khi tốt nghiệp
2- Nữ sinh viên (nữ sinh viên Việt Nam): Theo đại từ điển Tiếng Việt của
tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, do Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 2008 thì khái niệm Nữ sinh viên là công dân nữ Việt Nam
đang học bậc đại học, cao đẳng trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì nữ sinh viên là thanh niên Việt Nam đang học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng trong nước, có độ tuổi phần lớn từ 18 đến 25 tuổi
3- Công tác: Theo đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý chủ
biên, do Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008
thì khái niệm Công tác là việc thực hiện công việc của Nhà nước, của đoàn thể
của một cá nhân, nhóm cá nhân hay tổ chức
4- Công tác nữ sinh viên: Là việc thực hiện công việc của Nhà nước, của
đoàn thể đối với nữ sinh viên Việc thực hiện này có thể do tổ chức, cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nhằm tham gia giải quyết những vấn đề trong các mối quan hệ của nữ sinh viên, giúp cho nữ sinh viên ngày càng học tập tốt hơn, rèn luyện tốt hơn, thoải mái, dễ chịu hơn trong cuộc sống
5- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: là tổ chức chính trị - xã hội
của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Trang 13Minh sáng lập và rèn luyện Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam,
là lực lượng xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tuổi trẻ; là lực lượng nòng cốt chính trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh niên Việt Nam Nhiệm vụ của Đoàn là đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên, thực hiện tốt vai trò nòng cốt, định hướng chính trị trong việc xây dựng tổ chức hoạt động của Hội LHTN Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam… Giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho đoàn viên, thanh niên thông qua các phong trào hành động cách mạng Mảng hoạt động giáo dục là sợi chỉ
đỏ xuyên suốt quá trình hoạt động của Đoàn Tham gia xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, coi nhiệm vụ xây dựng Đảng là một tất yếu trong xây dựng tổ chức Đoàn, ngược lại Đoàn TNCS phải là đội quân trung thành, kế tục sự nghiệp của Đảng, mang ngọn cờ, lý tưởng của Đảng đến đích cuối cùng, đưa Nghị quyết và đường lối của Đảng vào trong cuộc sống Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là nguồn cung cấp bổ sung cho Đảng lực lượng trẻ, có tri thức, đạo đức, sức khoẻ để gánh vác công việc tạo sinh lực mới cho Đảng
6- Hội Sinh viên Việt Nam: là tổ chức chính trị - xã hội của sinh viên Việt
Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Hội là thành viên của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và Hội sinh viên quốc tế Chức năng, nhiệm vụ của Hội là tập hợp, đoàn kết, khuyến khích, giúp đỡ hội viên, sinh viên trong học tập và rèn luyện, hoàn thành nhiệm vụ của người sinh viên, góp phần xây dựng nhà trường vững mạnh Giáo dục lý tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống và ý thức pháp luật cho hội viên, sinh viên Phản ánh nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên; tham gia phản biện, đề xuất các chủ trương, chính sách liên quan đến sinh viên Tổ chức các hoạt động thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp, chính đáng của hội viên, sinh viên và tổ chức Hội Đoàn kết, phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các tổ chức sinh viên, thanh niên
Trang 14tiến bộ và nhân dân các nước trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội
7- Công tác nữ sinh viên của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng: là việc thực hiện nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao cho
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam trong việc phát huy, chăm
lo, hỗ trợ nữ sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt, xây dựng đội ngũ nữ trí thức trẻ trong tương lai có tri thức, sức khỏe, bản lĩnh, góp phần xây dựng nước Việt Nam hoà bình độc lập, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
II- Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác phụ nữ
1- Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác thanh niên
1.1- Về sự nghiệp giải phóng phụ nữ:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác phụ nữ, bình đẳng và tiến bộ của Phụ nữ, thể hiện trên một số luận điểm chủ yếu sau:
Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấy rõ và đề cao vai trò của Phụ nữ
trong sự nghiệp cách mạng Bác cho rằng, vai trò của phụ nữ trong xã hội rất to lớn, cả trong công cuộc chống giặc ngoại xâm cũng như trong quá trình phát
triển kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước: "Non sông gấm vóc Việt Nam do
phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ" 1
Hai là, Hồ Chí Minh xác định giải phóng phụ nữ là một trong những
mục tiêu quan trọng của sự nghiệp cách mạng Giải phóng phụ nữ luôn gắn chặt với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Và đó chính là con đường xóa bỏ áp bức, bóc lột, nghèo nàn, bất bình
đẳng Người khẳng định:“Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội Nếu không giải
phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng xã hội chỉ một nửa” 2 Theo Người, giải phóng phụ nữ là
“một cuộc cách mạng to và khó” và “không thể dùng vũ lực mà tranh đấu Vũ
1 Hồ Chi Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, t.6, tr 432
2 Hồ Chi Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, t.9, tr 523
Trang 15lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân Dù to và khó nhưng nhất định thành công” 3
Ba là, dưới chế độ ta - chế độ mọi người dân đều là chủ xã hội, nam nữ
bình đẳng về vị trí, bình đẳng về quyền lợi, thì phụ nữ phải có vị trí xứng đáng với vai trò của mình Người còn cho rằng, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy cũng là một thiếu sót của Đảng Người luôn kêu gọi Đảng và chính phủ quan tâm đến phụ nữ, tạo mọi điều kiện để phụ nữ được bình đẳng thực sự trong mọi lĩnh vực; có kế họach thiết thực giúp đỡ để ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia quản lý lãnh đạo Tháng 8 năm 1949, viết thư gửi đồng bào Nghệ An, Hồ Chí
Minh nhấn mạnh: "Tôi rất vui lòng rằng xã nào cũng có phụ nữ tham gia Hội
đồng nhân dân Phụ nữ phải tham gia chính quyền nhiều hơn và thiết thực hơn" 4 Di chúc thiêng liêng của Người ghi rõ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo ”
Bốn là, cần phải xoá bỏ tàn dư phong kiến trọng nam khinh nữ, coi
thường, xem nhẹ khả năng làm việc xã hội của phụ nữ đã tồn tại trong thời gian dài và là một trong những cản trở lớn trong thực hiện bình đẳng nam nữ Chỉ có như vậy mới thực sự giải phóng phụ nữ, làm cho cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo có ý nghĩa cách mạng đầy đủ, có tính nhân văn sâu sắc Người cũng động viên phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý mặc cảm, tự ti để tham gia
vào các lĩnh vực chứ không trông chờ, ỷ lại vào chính sách:“Phụ nữ phải nâng
cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập” 5
1.2- Về thanh niên và công tác thanh niên:
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại của mình, Bác Hồ luôn chăm
lo, ân cần, dành nhiều tâm sức cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, phát huy thanh niên và công tác thanh niên Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh
3 Hồ Chí Minh về giáo dục và tổ chức thanh niên, NXB Thanh niên, 2002
4 Hồ Chí Minh; toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, t.5,tr.673
5 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, t.11,tr.259
Trang 16niên là một hệ thống nhất quán về nhận thức, tư duy chính trị, quan điểm, lý luận trong nhiều lĩnh vực như nhìn nhận, đánh giá, về vai trò, vị trí, khả năng cách mạng của thanh niên, giáo dục đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp của dân tộc, của Đảng, tổ chức thanh niên thành lực lượng xung kích cách mạng, đội hậu bị tin cậy của Đảng, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN
- Thanh niên là lực lượng xung kích chủ yếu của cách mạng, “là người
chủ tương lai của nước nhà”6 Bác cho rằng, thanh niên có tiềm năng, vai trò,
vị trí to lớn trong đời sống xã hội, phải luôn tin tưởng ở thế hệ trẻ và mong muốn họ có đủ sức mạnh để gánh vác sự nghiệp cách mạng trong tương
lai:“Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh
niên”, “Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường cuốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” 7
- Ðảng, Nhà nước phải chăm lo bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên, giáo dục ý thức làm chủ và đào tạo họ thành người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề nghiệp
- Thanh niên phải tự vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân chủ lực của cách mạng Bác yêu cầu mọi thanh niên phải chống tâm lý tư lợi, ham hưởng thụ, ngại khó nhọc, chống thói quen xem thường lao động, nhất là lao động chân tay, chống lười biếng, giả dối, hình thức, khoe khoang Phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu tự hoàn thiện nhân cách của bản thân
Bác luôn chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền phải thực sự thấm nhuần
và quan tâm đến thanh niên:
Thứ nhất, phải quan tâm đào tạo, giáo dục cho thanh thiếu niên “Vì lợi
ích trăm năm phải trồng người” Luận điểm “trồng người” của Bác cho ta thấy
tính chất lâu dài, gian khổ của công việc để có được những con người có hiểu biết, có đạo đức và năng lực - nhân tố then chốt quyết định sự thành công của cách mạng, sự tiến bộ xã hội và tiền đồ dân tộc “Trồng người” là quan điểm
6 Hồ Chí Minh, “Về giáo dục thanh niên”, NXB Thanh niên, 1980, tr.84
7 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, t.4, tr.33
Trang 17giáo dục toàn diện của Hồ Chủ tịch, bao gồm cả thể chất, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức…
Thứ hai, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết Đảng, Nhà nước phải chăm lo giáo dục lý tưởng và đạo đức
cách mạng cho thanh niên nhằm hình thành “những người kế thừa xây dựng Xã
hội chủ nghĩa vừa hồng, vừa chuyên” (Di chúc Hồ Chí Minh)
Thứ ba, cần đưa thanh niên vào các tổ chức chính trị, xã hội do Ðảng lãnh đạo để vừa giác ngộ lý tưởng cách mạng cho họ, vừa đưa họ vào hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng của toàn dân tộc Đây vừa là tổ chức, vừa là môi trường cho người thanh niên rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao bản lĩnh chính trị và cống hiến cho đất nước Điều này thể hiện phần nào qua công lao to lớn của Bác trong việc sáng lập và rèn luyện tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
2- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phụ nữ, công tác phụ nữ; nữ thanh niên và nữ sinh viên
Trong suốt quá trình cách mạng, Ðảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công
tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới
Ngay từ khi mới thành lập, tại Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930, Đảng đã có Nghị quyết đầu tiên về công tác vận động phụ nữ Trong đó, khẳng định vai trò và khả năng to lớn của Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp Cách mạng; coi công tác phụ nữ là một nội dung trong công tác Đảng, đồng thời chỉ
ra rằng nhất thiết phải có một tổ chức, một đoàn thể đại diện cho quyền lợi hợp
pháp của phụ nữ và giải phóng phụ nữ: “Công tác trong quần chúng phụ nữ là
một nhiệm vụ lớn và rất trọng yếu… Đảng cần phải tổ chức ra các đoàn thể phụ nữ, phụ nữ hiệp hội mục đích là mưu cầu quyền cho phụ nữ, làm cho phụ
Trang 18nữ triệt để giải phóng”8 Có thể nói Việt Nam là quốc gia sớm hình thành những quan điểm, chính sách giáo dục, đào tạo bình đẳng giữa nam và nữ Đảng và Nhà nước đã có đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách nhất quán về giáo dục đào tạo trong đó thừa nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ Nữ học sinh, sinh viên không phải chịu bất cứ hình thức phân biệt, đối xử nào trong thi tuyển, các điều kiện học tập và thi tốt nghiệp
- Ngày 6 tháng 12 năm 1957, Đảng ra Nghị quyết 25/NQ/TƯ về một số vấn đề công tác vận động phụ nữ, đã nhấn mạnh việc cần thiết phải nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, các cấp, các ngành về vai trò của phụ nữ trong
xã hội
- Nghị quyết số 152 của Ban Bí thư TW Đảng ngày 10/1/1967 về “một số
vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận” và Nghị quyết số 153 về “công tác phụ nữ” xác định, công tác phụ vận không chỉ quan tâm đến việc tăng cường
bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em; chăm lo đời sống, giải quyết quyền lợi cho nữ công nhân, viên chức; tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho phụ nữ… mà còn bao gồm cả công tác cán bộ nữ Cần đấu tranh kiên quyết chống
tư tưởng phong kiến, hẹp hòi trong việc sử dụng, đề bạt cán bộ nữ; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và mạnh dạn sử dụng, cất nhắc cán bộ nữ
- Chỉ thị 44-CT/TƯ ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư “về một số vấn đề cấp
bách trong công tác cán bộ nữ” đã nêu chủ trương:“Tiếp tục thực hiện nam nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong quản lý kinh tế, quản lý nhà nước
là một nội dung quan trọng để thực hiện phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động…” Chỉ thị đề cập đến yêu cầu tích cực đào tạo, bồi dưỡng,
tạo điều kiện cho cán bộ nữ hoàn thành nhiệm vụ, coi việc tăng cường công tác cán bộ nữ là biện pháp quan trọng để thực hiện bình đẳng nam nữ và là một bộ phận trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng
- Nghị quyết số 04/NQ-TƯ ngày 12/7/1993 của Bộ chính trị về “Đổi mới
và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” đã khẳng định
mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình đẳng; đồng thời nêu rõ: sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách
8 Văn kiện Đảng về công tác vận động phụ nữ NXB phụ nữ, Hà Nội, năm 1970, tr.10.
Trang 19nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình
- Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về “Một số vấn
đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” nhấn mạnh việc tăng cường cán bộ
nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý Trong đó nêu rõ, cần có quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ; nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, các ngành; xây dựng chính sách tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển; đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong phụ nữ
- Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị “Về công
tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” tiếp tục khẳng định quan
điểm của Đảng về công tác phụ nữ một cách sâu sắc với yêu cầu cao hơn Đó là: phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; công tác phụ nữ phải phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ; xây dựng, phát triển vững
chắc đội ngũ cán bộ nữ, đồng thời xác định công tác phụ nữ là “trách nhiệm
của hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của từng gia đình”
2.2- Quan điểm về thanh niên, nữ thanh niên, nữ sinh viên:
Thanh niên và công tác thanh niên là một trong những vấn đề cốt lõi của cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước Quan điểm lớn của Đảng thể hiện tập trung nhất trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VII) về “Về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới” và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) “Về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Đó là:
- Đánh giá vị trí, vai trò: Đảng đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, coi Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng dân tộc cũng như trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hội nhập và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thanh niên được đặt ở
Trang 20vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Bởi vậy, xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước
- Công tác thanh niên: Xác định việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh
niên thành lớp người “vừa hồng vừa chuyên” là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, trong đó Đảng lãnh đạo công tác thanh niên, Nhà nước quản lý thanh niên và công tác thanh niên Cần phải “xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam
giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vi cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp…Hình thành một lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc…” 9
- Với bản thân thanh niên, nữ thanh niên, nữ sinh viên, sự nỗ lực học tập,
tự rèn luyện đạo đức, lối sống, hoàn thiện nhân cách và phấn đấu không ngừng
là yếu tố quan trọng để xây dựng thế hệ thanh niên thời kỳ mới
3- Luật pháp, chính sách của Nhà nước về phụ nữ, công tác phụ nữ, nữ thanh niên, nữ sinh viên
3.1- Đối với phụ nữ:
Có thể nói, nhà nước đã có hệ thống luật pháp, chính sách tương đối đảm bảo thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng về phụ nữ và công tác phụ nữ Hiến pháp nước Việt Nam ghi rõ quyền bình đẳng nam và nữ trong mọi lĩnh vực
Nhà nước ta đã đưa nội dung bình đẳng giới và những vấn đề liên quan đến phụ nữ vào các chính sách, chương trình hành động quốc gia như: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đến năm 2010, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2006-2010, chiến lược và hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010… Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và địa phương đã xây dựng kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ phù hợp với đặc điểm của từng ngành, từng địa phương
9 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, BCH Trung ương (Khóa X)
Trang 21Quyết định 163 của Hội đồng bộ trưởng (14/10/1988) nay được thay thế bằng Nghị định 19-2003/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 7/2/2003 quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc đảm bảo cho các cấp Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước là một văn bản pháp lý rất quan trọng trong việc tạo cơ chế để phụ nữ được tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ, trẻ em
Nhiều văn bản pháp luật có điều khoản quy định sự bình đẳng nam - nữ trong các lĩnh vực, đảm bảo quyền cho phụ nữ, như: Luật về hôn nhân và gia đình, Luật dân sự, hình sự, lao động, đất đai Luật giáo dục, Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật doanh nghiệp… Đặc biệt, sự ra đời của Luật Bình đẳng giới (11/2006) và Luật Phòng chống bạo lực gia đình (11/2007) đã thể hiện quan điểm kiên quyết trong bảo vệ quyền phụ nữ cũng như thể hiện tập trung, đầy đủ nhất nội dung về bình đẳng giới, khẳng định Nhà nước thống nhất quản
lý về vấn đề bình đẳng giới
3.2- Đối với thanh niên, nữ thanh niên và nữ sinh viên:
Cho đến nay, tuy chưa có văn bản nào quy định những vấn đề đặc thù riêng của đối tượng nữ thanh niên, nữ sinh viên, nhưng Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đặc biệt quan tâm đến thanh niên, sinh viên nói chung, trong đó thừa nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ Nữ thanh niên, sinh viên không phải chịu bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào trong học tập, lao động
và các hoạt động khác
Quan điểm của Nhà nước về vấn đề thanh niên thể hiện toàn diện nhất trong Luật Thanh niên, trong đó khẳng định trách nhiệm của Nhà nước đối với
thanh niên là “có chính sách tạo điều kiện cho thanh niên học tập, lao động,
giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc,
ý thức công dân, ý chí vươn lên…”, đồng thời nêu rõ nội dung, trách nhiệm
quản lý nhà nước về công tác thanh niên Ngày 29/4/2003, Chính phủ đã ra quyết định số 70/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển thanh niên đến năm 2010, trong đó nêu rõ 6 mục tiêu và 5 nhóm giải pháp cơ bản
Điểm nổi bật trong công tác thanh niên, sinh viên của Nhà nước là có nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên, sinh viên được học tập, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ học vấn, chuyên
Trang 22môn, nghề nghiệp… đúng như quan điểm của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Điều đó thể hiện rõ trong Luật Giáo dục; trong các văn bản quy định chế độ học bổng, trợ cấp xã hội, chế độ miễn, giảm học phí đối với học sinh, sinh viên, nhất là các chế độ ưu tiên, khuyến khích học tập với đối tượng là người dân tộc thiểu số (như: Thông tư liên tịch số 54/TTLT giữa Bộ Giáo dục
và Đào tạo với Bộ Tài chính ngày 31/8/1998; Quyết định số BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ra ngày 15/8/2007; Quyết định số 194/2001/QĐ-TTg ngày 21/12/2001 và Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ) Đặc biệt, Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng chính phủ về tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng, đã giúp nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn yên tâm đầu tư cho con cái, nhiều sinh viên nghèo vượt qua nguy cơ bỏ học, tập trung cho việc học hành
44/2007/QĐ-Bên cạnh đó, Nhà nước còn có chính sách đầu tư, xây dựng nhà ở nội trú cho sinh viên; hỗ trợ 30% trong chi trả bảo hiểm y tế, quy định rõ trong Luật bảo hiểm y tế; có các chính sách về phát hiện, bồi dưỡng và thu hút, sử dụng nhân tài; tạo điều kiện cho sinh viên ra nước ngoài học tập bằng Ngân sách Nhà nước, trong đó có không ít sinh viên nữ; đồng thời ban hành các chính sách tạo
đà cho thanh niên khởi nghiệp và lập nghiệp bền vững như Quyết định 770/1994/TTg của Thủ tướng về tổ chức và chính sách đối với thanh niên xung phong xây dựng kinh tế, Chỉ thị 145/1994/TTg, Chỉ thị 06/2005/TTg của Thủ tướng về phát huy vai trò thanh niên tham gia phát triển kinh tế, xã hội…
III- Vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác nữ sinh viên
Đoàn thanh niên, Hội Sinh viên trong trường Đại học, Cao đẳng đều có chung đối tượng tác động là sinh viên, trong đó có nữ sinh viên Nữ sinh viên đóng góp một tỉ lệ quan trọng về mặt số lượng, chất lượng trong các hoạt động của Đoàn- Hội, do đó chăm lo đến công tác nữ sinh viên là gián tiếp chăm lo, củng cố chất lượng hoạt động của Đoàn, Hội các trường Đại học, Cao đẳng Nữ sinh viên Việt Nam ngày càng năng động, sáng tạo, thể hiện nhiều điểm vượt trội trong học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động đoàn thể Ngày càng xuất hiện nhiều gương nữ sinh viên học tập tốt, tham gia tích cực trong công tác Đoàn- Hội Khảo sát tỉ lệ nữ sinh viên được tuyên dương qua các giải thưởng,
Trang 23các hoạt động cho Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên các cấp tổ chức khá cao Từ thực tế công tác nữ sinh viên trong thời gian vừa qua, có thể thấy Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên đóng một vai trò khá quan trọng Hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng đều xem nội dung này là một trong những hoạt động của Đoàn- Hội và tuỳ theo điều kiện cụ thể, quỹ thời gian, nguồn lực của Đoàn- Hội từng đơn vị để thiết kế nội dung hoạt động
Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, tùy từng vị trí, chức năng nhiệm vụ của mình phải xác định công tác nữ sinh viên là một nội dung không thể thiếu, cần hình thành những nhóm giải pháp mang tính đặc thù, hiệu quả cho đối tượng này Tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, thông qua những hoạt động của mình, phải đoàn kết, tập hợp được nữ sinh viên, là điểm đến tin cậy để nữ sinh viên chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm, cùng tham gia tư vấn, tháo gỡ, giúp nữ sinh viên có một đời sống tinh thần phong phú, có điều kiện bổ trợ để học tập tốt hơn, tham gia hoạt động Đoàn- Hội hiệu quả hơn Vai trò của Đoàn- Hội vừa là người bạn, là người đồng hành, định hướng cho nữ sinh viên trong quá trình đào tạo Nữ sinh viên cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, với yếu tố giới tính nữ, cũng sẽ phải đối mặt với những khó khăn nhiều hơn trong cuộc sống Những thông tin về tình trạng sống thử, về vấn đề tự bảo vệ và được bảo vệ khi bị xâm hại của nữ sinh, định hướng giá trị thẩm mỹ, giá trị, lối sống cho nữ sinh viên đang là những vấn đề đặt ra cho tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
Đánh giá vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác nữ sinh viên, có thể khái quát ở một số nhận định sau:
- Xây dựng phong trào, tạo môi trường tốt để hỗ trợ, giúp đỡ nữ sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt: Các cấp bộ Đoàn- Hội đã có sự chuyển biến khá
tích cực trong nhận thức khi xây dựng phong trào, chú ý đến đối tượng nữ sinh viên Biểu hiện cụ thể là số lượng các Câu lạc bộ, Đội, Nhóm dành riêng cho
nữ sinh như Câu lạc bộ Bạn gái, Câu lạc bộ Nữ sinh viên, Câu lạc bộ Nữ sinh 2 tốt, các câu lạc bộ gắn với sở thích đặc thù của nữ sinh như văn thể mỹ, nấu ăn… ngày càng tăng Điều đáng chú ý là bên cạnh các trường có số lượng nữ sinh đông, việc thành lập là một lợi thế, thì tại một số trường không có tỉ lệ nữ sinh cao như khối ngành kỹ thuật, tự nhiên, các câu lạc bộ dành riêng cho nữ sinh vẫn được thành lập và hoạt động khá hiệu quả Bên cạnh các Câu lạc bộ,
Trang 24Đội, Nhóm, các hoạt động dành riêng cho nữ sinh như các hội thi Nữ sinh thanh lịch, Duyên dáng sinh viên, Ngày hội chia sẻ với ½ thế giới, hội thi nấu
ăn, cắm hoa… cũng đã được nhiều đơn vị tổ chức, tạo sân chơi đặc thù, thu hút
khá đông nữ sinh tham gia
- Tổ chức các hoạt động chăm sóc, sức khỏe giới tính cho nữ sinh viên:
Các hoạt động tư vấn tâm lý bạn gái, tư vấn về các vấn đề tình yêu, giới tính, an toàn tình dục dành riêng cho nữ sinh viên được tổ chức thường xuyên hơn Số lượng học bổng dành cho nữ sinh viên tăng qua từng năm, nữ sinh viên là một
trong những đối tượng ưu tiên khi xem xét trao học bổng của Đoàn- Hội các cấp
- Thu hút nữ sinh viên tham gia các hoạt động Đoàn, Hội, rèn luyện kỹ năng, góp phần đào tạo nữ sinh viên trở thành những trí thức trẻ đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, xây dựng gia đình hạnh phúc, tạo nguồn cán
bộ nữ trí thức trong tương lai: Tỷ lệ nữ sinh viên tham gia các hoạt động do
Đoàn - Hội tổ chức khá cao Ngay cả các hoạt động dành riêng cho nam sinh viên hay chung cho cả hai giới, tỉ lệ nữ sinh viên tham gia trực tiếp, tham gia dự khán, cổ vũ chiếm một tỉ lệ khá cao Theo khảo sát từ 60 Hội Sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ nữ sinh viên tham gia các hoạt động đạt trên 60% tổng số nữ sinh viên của đơn vị Nữ sinh viên tham gia các hoạt động Đoàn - Hội với tính tích cực khá cao, là một trong những nhân tố góp phần thành công cho hoạt động
Tỉ lệ nữ sinh viên tham gia Ban chấp hành Đoàn Thanh niên- Hội Sinh viên các cấp có sự gia tăng Hầu hết các đơn vị khi xây dựng đề án nhân sự đều xác định tỉ lệ nữ tối thiểu 30% và thực thi khá hiệu quả tỉ lệ này Chỉ tính riêng tại Tp Hồ Chí Minh, hơn 37% nữ sinh viên đang giữ các nhiệm vụ chủ chốt chủ tịch, phó chủ tịch Hội sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng Điều này cho thấy
nữ sinh viên ngày càng nhận được nhiều sự tín nhiệm từ sinh viên, ngày càng thể hiện hình ảnh năng động, sáng tạo trong cộng đồng sinh viên Việt Nam
Nhiều tỉnh thành đã chú trọng hơn đến công tác nữ sinh viên thông qua việc thành lập Ban vì sự tiến bộ nữ thanh niên tỉnh, thành, trong đó có chú ý đến đối tượng nữ sinh viên Với việc hình thành Ban vì sự tiến bộ nữ thanh niên, công tác nữ thanh niên nói chung, nữ sinh viên nói riêng đã có nét khởi sắc, được đánh giá khá tốt
Trang 25CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NỮ SINH VIÊN CỦA ĐOÀN THANH NIÊN, HỘI SINH VIÊN
I- Tình hình nữ sinh viên
1- Số lượng các trường Đại học, Cao đẳng
Năm 1987, cả nước có 101 trường đại học, cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), đến tháng 9/2009 có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4 lần và 226 trường cao đẳng, chiếm 60%, gấp 6 lần)
Cả nước có 35/63 tỉnh, thành thành lập trường đại học mới, trong đó: 23 tỉnh có thêm 01 trường; 10 tỉnh có thêm 2-3 trường; riêng thành phố Hồ Chí Minh có thêm 18 trường đại học và Hà Nội có thêm 23 trường, chiếm 43% số trường đại học mới và nâng cấp
Số lượng trường đại học, cao đẳng ở vùng cao, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn đã tăng lên: Tây Bắc (01 trường đại học, 08 trường cao đẳng); Tây Nguyên (03 trường đại học, 10 trường cao đẳng); đồng bằng Sông Cửu Long (11 trường đại học, 27 trường cao đẳng)
Như vậy, quy mô các trường đại học, cao đẳng tăng, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân có cơ hội tiếp cận với giáo dục đại học, nhất là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nữ sinh viên khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
2- Số liệu cơ bản về nữ sinh viên
Số lượng nữ sinh viên:
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số lượng nữ sinh viên biến đổi rõ rệt theo từng năm học
Năm học 2007-2008, số lượng nữ sinh viên trong các trường cao đẳng, đại học là 870.692 người, chiếm 56,8% tổng số sinh viên cả nước Năm học 2008-2009, số lượng nữ sinh viên giảm xuống còn 846.876 người, chiếm
Trang 2649,2% tổng số sinh viên cả nước Đến năm học 2009-2010, số lượng nữ sinh
viên lại tăng cao 965.733 người, chiếm 49,4% tổng số sinh viên cả nước10
Có thể thấy, số lượng nữ sinh viên có xu hướng tăng lên, tuy nhiên tỷ lệ
nữ sinh viên trong tổng số sinh viên của cả nước lại có xu hướng giảm qua các
năm học Điều này cho thấy nữ giới tham gia học ở bậc cao đẳng, đại học ngày
càng nhiều hơn nhưng so với nam giới thì tỷ lệ nữ tham gia các bậc học này lại
giảm đi Số lượng nữ sinh viên theo các ngành nghề đào tạo có sự khác nhau,
nữ sinh viên chiếm tỷ lệ cao trong các trường khối ngành sư phạm, xã hội, kinh
tế Các ngành kỹ thuật tỷ lệ nữ sinh viên nhìn chung còn thấp (Trường Đại học
Bách khoa Hà Nội tỷ lệ nữ sinh viên chưa đến 20%, trong khi tỷ lệ này ở
trường Đại học Ngoại thương khoảng gần 80%; trường Đại học Kinh tế - Đại
học Quốc gia Hà Nội, tỷ lệ nữ chiếm từ 70-80%; Khoa kinh tế Đại học Lương
Thế Vinh, tỷ lệ nữ chiếm 80%; Khoa Kinh tế - Trường Đại học Hàng hải, tỷ lệ
nữ chiếm từ 90-95%; trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, tỷ lệ nữ chiếm
khoảng 15%; trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, tỷ lệ nữ khoảng 73%; trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, tỷ lệ nữ chiếm 83%) Tuy nhiên, trong các trường
khối kỹ thuật hiện nay, nữ sinh viên trong một số ngành kỹ thuật công nghệ cao,
như: tin học, điện tử, sinh học… đang có xu hướng tăng lên
Nữ sinh viên trong cơ cấu đào tạo:
Nhìn chung, nữ sinh viên chủ yếu tập trung ở hệ đào tạo Đại học, tuy
nhiên, nữ sinh viên hệ Cao đẳng đang có xu hướng tăng dần lên qua các năm
Bảng 1 Số lượng nữ sinh viên chia theo hệ đào tạo 11
10 Bộ Giáo dục và đào tạo “Thống kê giáo dục và đào tạo qua các năm học 2007- 2008 đến 2009 - 2010”
11 Bộ Giáo dục và đào tạo “Thống kê giáo dục và đào tạo qua các năm học 2007- 2008 đến 2009 - 2010”
Trang 273- Tình hình nữ sinh viên trong các trường cao đẳng, đại học:
3.1- Tình hình tư tưởng, thái độ chính trị của nữ sinh viên:
Sự quan tâm của nữ sinh viên đối với các sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong nước
Trước các sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hiện nay, nữ sinh viên quan tâm nhiều nhất tới các vấn đề xã hội nổi bật Các vấn đề kinh tế, chính trị trong và ngoài nước hay các sự kiện văn hóa, thể dục thể thao ít được
nữ sinh viên quan tâm hơn Cụ thể, nữ sinh viên quan tâm nhất tới các vấn đề xếp theo thứ tự ưu tiên như sau12:
- Tình hình tăng học phí ở các cấp học, bậc học: 81.3%
- Vấn đề nghề nghiệp, việc làm của thanh niên: 76.2%
- Tình hình tăng giá điện, xăng dầu, các mặt hàng thiết yếu: 73.8%
- Tình hình biến đổi khí hậu (thiên tai, dịch bệnh, ): 72.7%
- Vấn đề ô nhiễm môi trường: 59.0%
- Vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm: 55.5%
Vấn đề kinh tế, chính trị được nữ sinh viên quan tâm ít hơn, trong đó chủ yếu là cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (44.9%); chính sách kích cầu kinh tế của Chính phủ chống suy giảm kinh tế (42.2%); tình hình bất ổn chính trị ở các quốc gia trong khu vực (39.5%)
Các sự kiện văn hóa, thể dục thể thao được nữ sinh viên quan tâm ít hơn
cả, trong đó chủ yếu là các cuộc thi tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ (36.7%); các lễ hội quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam (32.8%); sự kiện thể thao nổi bật trong nước và quốc tế (World Cup, ) (27.0%)
Có thể thấy, nữ sinh viên quan tâm nhiều nhất tới những vấn đề gắn liền với thực tiễn cuộc sống của bản thân (học phí; giá điện, xăng dầu; nghề nghiệp, việc làm,…) Trong khi đó, những vấn đề kinh tế, chính trị hay những sự kiện văn hóa ít có tác động trực tiếp đến đời sống hàng ngày nên không thu hút nhiều sự quan tâm của nữ sinh viên
12 Viện nghiên cứu thanh niên, Khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
Trang 28Tâm trạng, thái độ của nữ sinh viên trước các sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong nước
y Nhìn chung, nữ sinh viên có tâm trạng tự hào, phấn khởi đối với các sự kiện lớn của đất nước trong năm 2010 như các hoạt động hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội (78.5%); sự kiện GS Ngô Bảo Châu đạt giải thưởng Fields về toán học (72.7%); Việt Nam đảm nhận cương vị Chủ tịch luân phiên của ASEAN (64.1%) hay các sự kiện văn hóa, thể thao nổi bật (các di sản văn hóa mới được công nhận; các lễ hội quảng bá đất nước, con người Việt Nam; thành tích thể thao quốc gia, ) (62.9%) Đồng thời nữ sinh viên cũng tin tưởng các sự kiện chính trị lớn như Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (75.0%) và cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (70.7%) sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn cho sự phát triển của đất nước13
y Mặc dù đại đa số nữ sinh viên có thái độ lạc quan, phấn khởi đối với sự phát triển của đất nước song bối cảnh kinh tế, xã hội đang diễn ra trong nước hiện nay cũng khiến tâm trạng của nhiều nữ sinh viên xen kẽ cả những băn khoăn, lo lắng Khảo sát cho thấy, 84.0% nữ sinh viên cho rằng mình lạc quan, phấn khởi đối với sự phát triển của đất nước, trong đó 17.6% hoàn toàn lạc quan, phấn khởi, 66.4% lạc quan, phấn khởi nhưng còn nhiều băn khoăn, lo lắng 96.5% nữ sinh viên tin tưởng vào thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó 25.5% rất tin tưởng, 71.0% tin tưởng nhưng vẫn còn băn khoăn14
Thái độ băn khoăn, lo lắng của nữ sinh viên thể hiện khá rõ nét đối với một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng, Chính phủ cũng như các vấn đề xã hội bức xúc, nổi cộm đang diễn ra hiện nay Khảo sát cho thấy, có trên 1/2 nữ sinh viên tham gia khảo sát (50.4%) cảm thấy băn khoăn với chính sách kích cầu kinh tế của Chính phủ chống suy giảm kinh tế; 76.2% bi quan và lo lắng với chủ trương tăng giá điện, xăng dầu, các mặt hàng thiết yếu; 74.6% lo lắng với chủ trương tăng học phí ở các cấp học, bậc học Cùng với đó, những vấn đề xã hội nổi cộm khiến nữ sinh viên lo lắng nhiều nhất là: vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm (84.8%); vấn đề vệ sinh, an toàn thực
13 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
14 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả điều tra tình hình tư tưởng của sinh viên năm 2010
Trang 29phẩm (77.3%); tình hình biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh (76.2%); vấn đề
ô nhiễm môi trường (75.8%); tình trạng tham nhũng (71.1%); tình hình vi phạm pháp luật gia tăng (66.4%)15
Có thể thấy, những băn khoăn, lo lắng của nữ sinh viên chủ yếu liên quan đến những vấn đề thực tiễn cuộc sống của họ Điều này, một mặt cho thấy, sự không ổn định và tính bất ổn của một số vấn đề xã hội đang tác động đến tư tưởng của nữ sinh viên Đồng thời mặt khác, cũng phản ánh sự quan tâm của thanh niên đến các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội
Ý thức, trách nhiệm của nữ sinh viên đối với sự phát triển của đất nước
Đại đa số nữ sinh viên hiện nay (92.9%) hiểu rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước, trong đó 63.1% ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng tham gia vào mọi lĩnh vực phát triển đất nước, 29.8% hiểu rõ trách nhiệm nhưng chưa tin tưởng vào vai trò của bản thân16 Có thể thấy, nữ sinh viên có thái độ khá tích cực trong việc đóng góp sức mình tham gia vào công cuộc phát triển đất nước
Nguyện vọng, mong muốn phấn đấu vào Đảng của nữ sinh viên
Phần đông nữ sinh viên được khảo sát (86.6%) có mong muốn phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam với những mục đích khá tích cực như: được đứng trong hàng ngũ của Đảng để có điều kiện rèn luyện, cống hiến (75.8%), vào Đảng là niềm vinh dự và tự hào cho bản thân và gia đình (56.5%) Bên cạnh
đó cũng đáng lưu ý một bộ phận nữ sinh viên có mục đích, động cơ vào Đảng còn tính toán đến quyền lợi cá nhân như: vào Đảng là điều kiện "để dễ tìm kiếm công
ăn việc làm" (30.2%); vào Đảng “để có cơ hội thăng tiến" (22.9%)
13.4% nữ sinh viên không muốn phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam chủ yếu là vì: sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên (60.4%); sự giảm sút uy tín của tổ chức Đảng ở một số nơi (55.2%) Điều này cho thấy vai trò gương mẫu của đảng viên cũng như uy tín của tổ chức Đảng cơ sở có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng chính trị của nữ sinh viên Bên cạnh đó, một bộ phận nữ sinh viên không muốn trở thành đảng viên vì chỉ muốn là một công dân bình thường (33.3%);
15 Viện nghiên cứu thanh niên, Khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
16 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả điều tra tình hình tư tưởng của sinh viên năm 2010
Trang 30chưa hiểu rõ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng (30.2%); trở thành đảng viên phải gương mẫu, gánh vác nhiều trách nhiệm (4.2%) Điều này xuất phát từ ý thức chính trị thiếu tích cực của chính bản thân nữ sinh viên Ngoài ra, một số lý do khác như tiêu chuẩn phấn đấu trở thành đảng viên trong trường cao đẳng, đại học quá khó (26.0%), có nhiều sinh viên khác không muốn vào Đảng (5.2%) cũng tác động tới ý thức chính trị của một số nữ sinh viên17
Sự tham gia của nữ sinh viên vào các hoạt động xã hội
Nữ sinh viên rất tích cực khi tham gia các hoạt động Đoàn thể, xã hội Ngày càng nhiều nữ sinh viên muốn gắn bó với Đoàn và Đảng Hầu hết các bạn đều có nhận thức nghiêm túc về tương lai, có khát vọng sự nghiệp lâu dài; năng động và tích cực hòa nhập cộng đồng, có tinh thần học hỏi, vượt khó để vươn lên Điều này còn thể hiện ở thái độ quan tâm sâu sắc của các bạn tới những sự kiện, hoạt động liên quan tới chuyên môn hoặc quyền lợi của mình: trong một
cuộc điều tra về nhu cầu sinh viên năm 2009 của Trung tâm hỗ trợ sinh viên -
Đại học Đà Lạt, số lượng nữ sinh viên tham gia khảo sát cao hơn nam sinh viên
chiếm 70.5% với 1264 phiếu và nam sinh viên là 29.5% với 529 phiếu
Trên thực tế, bản thân các hoạt động ngoại khóa được các trường Đại học
tổ chức khá thường xuyên, trung bình 01 tháng/lần với nhiều hình thức hoạt động khác nhau Tuy nhiên, theo nhận xét của nữ sinh viên thì chất lượng các hoạt động chỉ dừng ở mức độ bình thường Không có nhiều hoạt động thực sự chất lượng, cuốn hút và lôi kéo nhiều đoàn viên – sinh viên tham gia, đặc biệt là
sinh viên nội trú “Có nhiều hoạt động phải gọi loa đến từng phòng trong Ký
túc xá và yêu cầu thì Sinh viên mới đến tham gia đủ; nhưng những chương trình đặc sắc do trường tổ chức thì lúc nào cũng đông nghịt sinh viên, đặc biệt
là Sinh viên nội trú.” (Phỏng vấn sâu cán bộ Đoàn trường - Học viện Báo chí
Tuyên truyền) Trong các khối học, khối khoa học tự nhiên có lượng sinh viên thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội nhiều nhất, sau đó đến khối Sư phạm và Khoa học xã hội và nhân văn
Sự quan tâm của nữ sinh viên đối với các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày
17 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả điều tra tình hình tư tưởng của sinh viên năm 2010
Trang 31Về cơ bản, nữ sinh viên hiện nay cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, tuy nhiên sự hài lòng thể hiện ở các mức độ khác nhau Khảo sát cho thấy, chỉ một số ít nữ sinh viên (14.9%) cho rằng họ rất hài lòng với cuộc sống hiện tại, trong khi phần đông (78.0%) cho rằng họ hài lòng với cuộc sống nhưng bên cạnh đó có đôi chút lo lắng
Vấn đề mà nữ sinh viên quan tâm nhất trong quá trình học tập đó là việc làm sau khi tốt nghiệp (73.0%), tiếp đến là vấn đề học tập (54.8%) Các vấn đề khác như tình hình đời sống hàng ngày (24.5%) và cơ hội tham gia các hoạt động xã hội (28.0%) để tự khẳng định mình và trưởng thành cũng được một bộ phận không nhỏ nữ sinh viên quan tâm18 Điều này cho thấy, việc làm luôn là nhu cầu và sự quan tâm bức thiết nhất của tuổi trẻ, trong đó có nữ sinh viên Nó
có ảnh hưởng lớn đến tâm trạng và tư tưởng của nữ sinh viên hiện nay
3.2- Định hướng giá trị, lối sống của nữ sinh viên
Định hướng giá trị của nữ sinh viên:
Việc xác định mục đích sống của nữ sinh viên hiện nay hướng về vai trò
và vị trí cá nhân trong cuộc sống “Thành đạt trong nghề nghiệp” được phần nhiều nữ sinh viên (47,2%)19 đề cao và xem là mục đích cơ bản của cuộc sống Điều này nói lên nhu cầu tự khẳng định, cũng như uy tín và vị thế xã hội của cá nhân được phát triển mạnh ở nữ sinh viên Mục đích sống ”làm giàu” (theo nghĩa là làm giàu cho cá nhân, cho gia đình cũng là làm giàu cho xã hội) đứng
ở vị trí thứ ba trong sự lựa chọn của nữ sinh viên và đang trở thành xu hướng chung của nữ sinh viên hiện nay Có sự khác biệt trong việc lựa chọn mục đích sống giữa nữ sinh viên các khối ngành Ngoài mục đích ”Thành đạt trong nghề nghiệp” là mục đích lựa chọn hàng đầu của nữ sinh viên ở tất cả các khối ngành thì nữ sinh viên ngành kỹ thuật và thương mại lựa chọn mục đích sống tiếp theo
là làm giàu, trong khi nữ sinh viên ngành xã hội nhân văn và y dược lại chọn mục đích sống tiếp theo là phục vụ, cống hiến cho xã hội Điều này thể rõ tính chất đặc thù của nữ sinh viên được đào tạo theo từng khối ngành nghề: nữ sinh viên khối thương mại, kỹ thuật thiên về việc đạt được lợi ích hơn, trong khi nữ sinh viên khối xã hội nhân văn và y dược thiên về cống hiến cho sự phát triển
18 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
19 Tổng quan tình hình công tác Hội và phong trào sinh viên nhiệm kỳ VII (2003-2008)
Trang 32chung của cộng đồng
Nhìn chung, nữ sinh viên không đồng tình với những quan điểm đi ngược lại các giá trị đạo đức, các chuẩn mực văn hóa vốn được coi trọng trong môi trường học đường như: truyền thống tôn sư trọng đạo, quy tắc ứng xử phù hợp, đúng mực với vai trò, vị thế trong giao tiếp ứng xử, trong học tập thi cử, trong quan hệ xã hội và trong thói quen hàng ngày
95.5% nữ sinh viên không đồng tình với quan niệm “Nói trống không với
người lớn tuổi hơn là điều bình thường không nên đánh giá về mặt đạo đức”;
83.9% không đồng tình với hiện tượng “Khi có người chế nhạo, vô lễ với thầy
cô giáo, nhiều người tỏ ra vui thích” 77.3% phản đối quan niệm “Tích cực học tập rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là biết cách “chạy điểm”; 70.6%
phản đối quan điểm“Điểm danh, làm bài tập, kiểm tra, thi hộ được học sinh,
sinh viên cho là hiện tượng bình thường” 20 Điều này phản ánh trong ý thức của
đại đa số nữ sinh viên, những giá trị nhân văn cốt lõi mang một ý nghĩa lớn, có ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi trên thực tế của họ
Văn hóa, lối sống của nữ sinh viên:
y Nhìn chung, nữ sinh viên hiện nay được đánh giá là năng động (82.6%), tự tin (57.4%) và sáng tạo (49.4%)21 Những thay đổi về cách sống của họ đã và đang hình thành một thế hệ nữ sinh hiện đại, năng động, cá tính
y Nữ sinh viên hiện nay luôn đề cao các giá trị sống đẹp, sống có ích, sống vì cộng đồng; coi trọng các giá trị, chuẩn mực xã hội, giá trị văn hóa dân tộc Điều này thể hiện ở xu hướng tham gia ở mức độ khác nhau các hoạt động
vì cuộc sống cộng đồng như: hoạt động tình nguyện hè (93.3%), hiến máu nhân đạo (88.5%), bảo vệ môi trường (86.2%), giữ gìn trật tự an toàn giao thông (80.3%)
Bên cạnh đó, xu hướng tham gia đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực trong môi trường học đường (76.7%) cũng như tuyên truyền, vận động người khác thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước (83.8%) thể hiện
20 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả điều tra về hành vi lệch chuẩn của học sinh, sinh viên trong môi trường học đường năm 2009
21Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho Bí thư Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên các trường
Trang 33sự năng động, tích cực của nữ sinh viên hướng tới lối sống phù hợp với quy định, chuẩn mực, giá trị chung của xã hội
Ý thức, tư tưởng về lối sống đẹp của nữ sinh viên thể hiện không chỉ trong quan hệ giữa cá nhân với tập thể, cộng đồng mà còn ở phạm vi rộng lớn hơn Việc tham gia gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc của nữ sinh viên (79.9%)22 thể hiện ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, đề cao giá trị hành động “hội nhập nhưng không hòa tan” trong bối cảnh hội nhập mọi mặt giữa các quốc gia trên phạm vi toàn cầu
y Nữ sinh viên hiện nay có xu hướng phấn đấu không ngừng để khẳng định và phát triển bản thân thông qua việc thường xuyên học tập nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn (71.1%)23 Thực tế cho thấy, nữ sinh viên ngày càng tham gia nhiều vào các chương trình bồi dưỡng tri thức, học thêm chuyên ngành ở bậc đại học, học tiếp chương trình sau đại học, học ngoại ngữ, tin học,… nhằm tích lũy khả năng thích ứng yêu cầu của nghề nghiệp
y Tăng cường tính độc lập, tự khẳng định giá trị, năng lực của bản thân trong việc giải quyết khó khăn của cuộc sống là nét nổi trội trong lối sống của phần đông nữ sinh viên hiện nay 66.9% nữ sinh viên cho rằng những khó khăn trong cuộc sống là phải tự mình giải quyết Sự hỗ trợ về mặt tinh thần từ phía người khác (44.1%), hay tìm đến sự giúp đỡ của nhà trường, tổ chức Đoàn, Hội (14.9%) cũng có ý nghĩa phần nào trong việc giải quyết khó khăn của bản thân
nữ sinh viên Cách thức phó mặc (0.8%), âm thầm chịu đựng (9.3%)24 không phải là sự lựa chọn của nữ sinh viên khi gặp khó khăn Có thể thấy, tính độc lập,
tự khẳng định mình như là một xu hướng hay sự thay đổi trong nguyên tắc sống của nữ sinh viên hiện nay
y Đời sống văn hóa tinh thần của nữ sinh viên hiện nay khá phong phú, thể hiện ở nhu cầu, mong muốn, sở thích, thị hiếu của họ trong các hoạt động văn hóa
- Nghe đài vừa là một trong những hình thức giải trí, vừa là một trong những cách thức thu thập thông tin rất hiệu quả của nữ sinh viên Các chương
22 Viện nghiên cứu thanh niên, Điều tra tình hình tư tưởng của sinh viên năm 2010
23 Viện nghiên cứu thanh niên, Khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
24 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
Trang 34trình của các đài phát thanh cũng rất đa dạng và phong phú với nhiều nội dung giải trí hấp dẫn như ca nhạc, kể chuyện đêm khuya, thời sự Nghiên cứu cho thấy trong số nữ sinh viên thì lượng nữ sinh viên nội trú hay nghe đài chiếm tỉ
lệ khá lớn Tuy nhiên, chủ yếu nữ sinh viên nội trú nghe đài vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ cuối tuần vì đó là thời gian phát thanh nhiều chương trình giải trí, thời sự hoặc các chuyên mục mà sinh viên yêu thích
Giải trí thông qua truyền hình hiện nay đang là một loại hình hết sức phổ biến, đặc biệt là với giới trẻ Đây cũng là hình thức giải trí rất được yêu thích của các nữ sinh viên Về các chương trình trên tivi, thời sự vẫn được nữ sinh viên lựa chọn xem nhiều nhất, tiếp đó đến ca nhạc và phim truyện Tuy nhiên, một điều rất dễ nhận thấy là tỉ lệ nữ sinh viên nội trú thường xuyên xem tivi là
ít hơn rất nhiều so với nữ sinh viên ngoại trú Lý do vì đa số các phòng trong các Ký túc xá đều không có tivi Sinh viên không thể có tiền để tự sắm cho mình một chiếc tivi, mặc dù rất muốn Với số tiền trung bình hàng tháng một sinh viên nội trú có là khoảng 700.000 đồng, nguồn kinh phí hàng tháng chủ yếu do gia đình trợ cấp, vì vậy, nếu gia đình của một hoặc vài thành viên trong phòng không trợ cấp kinh phí mua tivi (hoặc cho tivi) hay Ban quản lí Ký túc
xá không cho thêm tivi trong mỗi phòng ở Kí túc xá thì có lẽ, sinh viên khó có thể tự bỏ tiền ra mua tivi được
Nghe nhạc là một hình thức giải trí rất phổ biến trong sinh viên, đặc biệt là
nữ sinh viên Chính vì vậy, trong các loại hình giải trí mà các bạn nữ sinh viên thường xuyên tham gia thì nghe nhạc chiếm tỷ lệ cao nhất Đối với các bạn nữ sinh viên xa nhà, âm nhạc đã trở thành những người bạn chia sẻ với họ mọi vui buồn trong cuộc sống hàng ngày Nữ sinh viên ngày nay có xu hướng thích các loại hình nghệ thuật mang tính thực tế, sôi động, gắn với thực tế cuộc sống hiện tại Cụ thể, thể loại âm nhạc sôi động, tươi trẻ như nhạc trẻ (77.0%), nhạc nước ngoài (51.8%) được nữ sinh viên ưa thích nhiều nhất Sự quan tâm của nữ sinh viên đối với một số loại hình nghệ thuật truyền thống ở mức độ thấp, tỷ lệ yêu thích nhạc dân ca chỉ chiếm 13.3%, ca khúc cách mạng chiếm 10,3% Như vậy,
nữ sinh viên hiện nay ưa thích các loại nhạc trẻ trung, sôi động phù hợp với tâm
lý lứa tuổi, còn các hình thức nghệ thuật truyền thống không phù hợp với nhịp sống nhanh, sôi động của tuổi trẻ thì không được nhiều nữ sinh viên lựa chọn
Đối với thể loại phim truyện thì nữ sinh viên hiện nay quan tâm đến
Trang 35phim nước ngoài nhiều hơn phim Việt Nam, tỷ lệ nữ sinh viên thích phim nước ngoài (73.9%) cao gấp đôi tỷ lệ thích phim trong nước (34.5%)
Đáng lưu ý là với lối sống năng động, hiện đại của mình thì sở thích về trang phục của nữ sinh thiên về phong cách ăn mặc đúng mốt, hợp thời trang (55.4%) hơn là truyền thống, giản dị (41.9%) Rất ít nữ sinh thích được mặc áo dài đến trường (7.2%) Đặc biệt, một số nữ sinh (8.7%) thích ăn mặc giống với những ca sỹ, diễn viên nổi tiếng25
Có thể thấy, xu hướng tâm lý hướng ngoại, thích cá tính, sôi động khá phổ biến ở nữ sinh hiện nay
- Nữ sinh viên có xu hướng tham gia ở mức độ khác nhau vào các hoạt động văn hóa sôi nổi, phù hợp với lối sống của tuổi trẻ như: tham gia các buổi giao lưu văn hoá, văn nghệ (34.4% thường xuyên, 59.4% thỉnh thoảng); tham quan các khu di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng cách mạng (20.3% thường xuyên; 73.8% thỉnh thoảng); tham gia các hoạt động lễ hội (23.4% thường xuyên; 65.2% thỉnh thoảng); đọc sách tại các thư viện, các điểm bưu điện (30.9% thường xuyên; 65.6% thỉnh thoảng) Mặc dù sự tham gia các hoạt động văn hóa này chủ yếu ở mức thỉnh thoảng song nó cũng thể hiện đời sống văn hóa tinh thần của nữ sinh viên khá phong phú, đa dạng, đồng thời nó cũng phản ánh phần nào lối sống sinh hoạt cộng đồng lành mạnh của phần đông nữ sinh viên hiện nay 26
- Nhu cầu về đời sống tâm linh của nữ sinh viên là không lớn, thể hiện ở
tỷ lệ nữ sinh viên thường xuyên đi lễ chùa là không nhiều (18,0%) mà chủ yếu
ở mức độ thỉnh thoảng (69.1%) Nữ sinh viên đi lễ chủ yếu để cầu phúc và sức khỏe, tìm kiếm sự bình an về tâm hồn, hiểu thêm về giáo lý và đi cùng bạn bè cho vui Việc cầu may trước khi thi cử hay cầu duyên không phải là mục đích chính của nữ sinh viên mỗi khi đi lễ chùa Dù vậy vẫn có khoảng hơn 1/3 nữ sinh viên thỉnh thoảng đi lễ chùa vì các mục đích này (34.8% thỉnh thoảng đi lễ chùa cầu duyên; 46.1% thỉnh thoảng đi lễ chùa cầu may trước khi thi cử)27
- Các hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của nữ sinh viên khá phong
25 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
26 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
27 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
Trang 36phú và đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, tuy vậy các hình thức giải trí truyền thống vẫn được phần đông nữ sinh viên lựa chọn, cụ thể là nghe nhạc (77.3%), xem tivi (73.8%), gặp gỡ bạn bè (74.6%), nghe đài (41.0%) Một số hình thức giải trí khác cũng được nữ sinh viên quan tâm như đi mua sắm (46.9%); chơi thể thao (31.3%); đến các quán trà/cafe (27.3%) Việc tham gia vào các hoạt động xã hội cũng được nữ sinh viên quan tâm trong thời gian nhàn rỗi (36.7%)28
Bên cạnh sự phát triển của nhu cầu giải trí, việc học tập nâng cao tri thức
là công việc chính của nữ sinh viên Kết quả khảo sát cho thấy, 68.8% nữ sinh viên đọc sách, báo, tạp chí; 50.0% khai thác thông tin trên mạng; 46.5% học thêm để nâng cao trình độ, 41.8% học thêm ngoại ngữ, 23.0% học thêm tin học Đặc biệt, nhu cầu học tập kỹ năng mềm, kỹ năng sống nhằm đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và yêu cầu của cuộc sống được một bộ phận không nhỏ nữ sinh viên (25.4%) thực hiện trong thời gian rỗi29
Đáng lưu ý, sử dụng internet được nữ sinh viên sử dụng là công cụ bổ trợ cho học tập và nâng cao tri thức Qua khảo sát30 có tới 76.7% nữ sinh viên sử dụng internet thường xuyên và 22.5% sử dụng internet ở mức thỉnh thoảng Mục đích sử dụng internet của nữ sinh viên xếp theo thứ tự ưu tiên bao gồm:
1 Tìm kiếm, cập nhật thông tin (79.7%)
2 Phục vụ học tập (76.6%)
3 Giải trí (nghe nhạc, chơi game, chat, ) (60.7%)
4 Trao đổi thư điện tử (email) (52.4%)
5 Viết blog, trao đổi trên các diễn đàn (31.9%)
Có thể thấy, nữ sinh viên hiện nay khai thác và sử dụng internet theo hướng tích cực, phù hợp với nhu cầu và quỹ thời gian rỗi của mình, cụ thể họ truy cập internet chủ yếu là để thu thập thông tin cần thiết, phục vụ cho công việc, học tập và tham gia các hình thức giải trí bổ ích, lành mạnh như nghe
28 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
29 Viện nghiên cứu thanh niên, Kết quả khảo sát đánh giá tình hình thanh niên 2010
30 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
Trang 37nhạc, trao đổi giao dịch thư từ hoặc tham gia chia sẻ, đóng góp ý kiến trên các diễn đàn, các mạng xã hội
- Hoạt động đi chơi và mua sắm với bạn bè là hình thức được nữ sinh viên yêu thích nhất trong tất cả các hình thức giải trí vào các ngày nghỉ và ngoài giờ học Trong ngày nghỉ, nữ sinh viên không bị gò bó, phụ thuộc vào các công việc học tập và hoạt động Họ có thể tự dành cho mình thời gian cho hoạt động này Hơn nữa, việc đi chơi, mua sắm với bạn bè đòi hỏi cần nhiều thời gian nên chỉ ở những ngày nghỉ hoạt động này mới có điều kiện thực hiện
3.3- Tình hình học tập của nữ sinh viên
Mục đích, động cơ học tập của nữ sinh viên:
Mục đích, động cơ học tập của nữ sinh viên hiện nay khá tích cực, đúng đắn và mang tính thực tế khi có tới 71.1% nữ sinh viên quan niệm rằng việc học tập là để có kiến thức, đồng thời 78.9% cho rằng học tập là để có nghề nghiệp tốt và thu nhập cao31
Đáng chú ý, động cơ học tập của nữ sinh viên hiện nay không chỉ phục
vụ cho lợi ích chính đáng của bản thân mà còn mang ý nghĩa rộng lớn hơn hướng tới cái chung, đó là học để đóng góp và cống hiến cho xã hội (61.3%)32 Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận không nhỏ nữ sinh viên (43.8%)33 có quan niệm về học tập chưa đúng khi cho rằng học đơn thuần chỉ để có bằng cấp, địa vị xã hội mà thôi
Ý thức, thái độ học tập của nữ sinh viên
Mặc dù động cơ học tập của nữ sinh viên là đúng đắn nhưng thái độ học tập của họ còn hạn chế, thiếu tích cực Chỉ khoảng 1/2 nữ sinh viên tham gia khảo sát (51.8%) cho rằng thái độ trong học tập, kiểm tra và thi cử của số đông
nữ sinh viên hiện nay là nghiêm túc, 39.7% cho rằng nữ sinh viên tích cực thảo luận, đóng góp ý kiến trên lớp Đặc biệt, gần 1/3 số người tham gia trả lời (30.0%) cho rằng chỉ khi nào thi, kiểm tra thì nữ sinh viên mới tập trung học
31 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
32 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
33 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
Trang 38bài34
Như vậy, thái độ, ý thức học tập của nữ sinh viên hiện nay chưa phù hợp, chưa đúng đắn, biểu hiện ở các hình thức khác nhau như: lơ là, không chuyên cần, thiếu nghiêm túc, học tập mang tính đối phó trước mỗi lần kiểm tra, thi cử
Thực tế cho thấy, có không ít bạn sinh viên sau khi học xong Cao đẳng hay Đại học đã chọn giải pháp là học tiếp, học liên thông hay học văn bằng hai, học thêm các chuyên ngành khác như tiếng Anh, lập trình, nghiệp vụ thư ký, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ báo chí…
Phương pháp học tập của nữ sinh viên
Phương pháp học tập của nữ sinh viên thể hiện ở cách thức học bài trên lớp, thời gian dành cho học tập, địa điểm học của nữ sinh viên
Kết quả khảo sát cho thấy, 42.5% nữ sinh viên thường xuyên ghi chép nguyên văn lời giảng viên 32.3% nữ sinh viên không dám tranh luận với giảng viên về bài giảng khi không đồng tình Phần lớn họ ngồi im nghe giảng và chỉ phát biểu khi giảng viên yêu cầu Nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý ngại ngùng, sợ sai, sợ người khác đánh giá Đồng thời, 51.7% nữ sinh viên thường xuyên học bài một mình mà không học theo nhóm35
Nhìn chung, phương pháp học tập của nữ sinh viên hiện nay còn thụ động, thiếu sáng tạo và không mang tính khoa học, chủ yếu chỉ dựa vào bài giảng của giáo viên trên lớp mà ít có sự trao đổi hai chiều giữa giáo viên và sinh viên Điều này cho thấy “sức ỳ” của nữ sinh viên trong việc học trên lớp còn rất lớn, đồng thời phương pháp học không giúp họ hình thành được các kỹ năng xã hội cần thiết như kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình
Về thời gian và địa điểm học, nữ sinh viên hiện nay dành thời gian học tập chủ yếu tại nơi ở (73.8%), trong khi thời gian học trên giảng đường chiếm không nhiều (28.5%) Rất ít nữ sinh viên (11.8%) dành thời gian học tại thư viện36
34 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
35 Trung tâm hỗ trợ nghiên cứu, Đại học Quốc gia Hà Nội, Báo cáo đề tài khoa học “Tác động xã hội của internet đến lối sống của sinh viên”, Hà Nội 2005
36 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
Trang 39Về việc trang bị các kỹ năng xã hội cần thiết, nữ sinh viên hiện nay có xu hướng trang bị thêm cho bản thân các kỹ năng “cứng” nhiều hơn là kỹ năng
“mềm”, cụ thể tỷ lệ nữ sinh viên học thêm ngoại ngữ, tin học chiếm khá cao (78.6% và 51.4%); trong khi nhu cầu trang bị các kỹ năng “mềm” (như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, thuyết trình, ) chỉ chiếm 9.6%37 Như vậy, phương pháp học tập của nữ sinh viên hiện nay còn thiên lệch, mới chỉ tập trung bồi dưỡng về kiến thức mà chưa hướng tới phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết phục vụ cho việc học tập và quá trình nghề nghiệp sau này
Kết quả học tập của nữ sinh viên
Trong số hơn 130 thủ khoa tốt nghiệp năm 2009 tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội, có 60% thủ khoa là nữ Năm 2009, đã có 6 trong 30 em đoạt giải cao trong kỳ thi Olympic Quốc tế và khu vực các môn học Trong chương trình học bổng của Chính phủ Nhật Bản 2010, trong số 6 ứng viên trúng tuyển đại học tại Nhật Bản khối ngành xã hội, có 5 là sinh viên nữ (83%) Hàng năm, thông qua Đề án Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều nữ sinh đã được cử đi học đại học ở nước ngoài (Năm 2009, đã có 68/161 sinh viên nữ (42,2% ) được xét tuyển đi học đại học ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước) Tính trong 03 năm học (2007-2010), đã có 407 nữ sinh viên trong
671 (62%) gương mặt sinh viên tiêu biểu được vinh danh nhận Giải thưởng Sao Tháng giêng dành cho các cán bộ Đoàn, Hội xuất sắc của Trung ương Hội sinh viên Việt Nam Đây là những kết quả đáng ghi nhận về sự nỗ lực học tập, phấn đấu của nữ sinh viên Thống kê tại 109 trường ĐH, CĐ năm học 2007-2008, trong số gần 27.000 sinh viên được khen thưởng vì có thành tích trong học tập, nghiên cứu khoa học, số sinh viên nữ chiếm 52,5%
Kết quả học tập của nữ sinh viên phản ánh sự nỗ lực phấn đấu của họ trong quá trình học tập Nhìn chung, kết quả học tập của nữ sinh viên chủ yếu ở mức khá (59.7%) và trung bình (29.4%) Tỷ lệ nữ sinh có kết quả học tập giỏi
và xuất sắc chiếm rất ít (tỷ lệ tương ứng là 10.1% và 0.9%)38
Trang 40So sánh với kết quả học tập của nam sinh viên, nữ sinh viên tự nhận định rằng kết quả học tập của nữ sinh viên hiện nay ở mức tốt hơn (51.9% ý kiến đánh giá là tốt hơn; 43.4% ý kiến đánh giá là như nhau; chỉ 4.7% đánh giá ở mức kém hơn)39
Sự tham gia của nữ sinh viên vào các hình thức nâng cao kiến thức chuyên ngành tại trường (hoạt động nghiên cứu khoa học, câu lạc bộ học thuật, )
Mặc dù hoạt động nghiên cứu khoa học được xem là một phương pháp học bổ trợ cần thiết cho sinh viên trong quá trình học tập ở bậc đại học, cao đẳng nhưng thực tế hiện nay, sự tham gia của nữ sinh viên vào hoạt động này còn rất hạn chế Hầu hết các nữ sinh viên (91.9%) chưa từng đăng ký tham gia nghiên cứu khoa học Với những nữ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học thì
họ chỉ tham gia đề tài ở cấp khoa (8.1%); cấp trường (3.7%) và rất ít tham gia
đề tài khoa học cấp Bộ (0.4%) Tương tự như vậy, sự tham gia của nữ sinh viên vào các hình thức nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên ngành khác như các cuộc thi Olympic theo môn học (21.6%); câu lạc bộ học thuật tại trường (27.7%) còn hạn chế40
Có thể thấy thực tế là, một mặt đa số nữ sinh viên hiện nay chỉ chú ý tới việc học tập trên lớp, ít quan tâm đến các hoạt động nghiên cứu ngoại khóa, mặt khác, các hình thức khuyến khích sinh viên nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên ngành trong trường cao đẳng, đại học chưa thực sự hiệu quả và thu hút được sự tham gia của đông đảo nữ sinh viên Đây là vấn đề đáng quan tâm trong chương trình đào tạo bậc cao đẳng, đại học hiện nay
Điều kiện học tập của nữ sinh viên
Theo đánh giá của nữ sinh viên thì điều kiện và phương tiện học tập hiện tại chưa đáp ứng tốt cho quá trình học tập của họ Xu hướng chung, nữ sinh viên chưa hài lòng với điều kiện ăn ở, học tập, sinh hoạt hiện nay, thể hiện ở ý kiến đánh giá hài lòng về những vấn đề liên quan đến: chi phí ăn uống, sinh hoạt cá nhân; an ninh nhà trọ, ký túc xá, trường học; điều kiện sinh hoạt văn
39 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên
40 Kết quả khảo sát “Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác nữ sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng của Đoàn TN, Hội Sinh viên” năm 2010 theo mẫu dành cho nữ sinh viên