1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội

134 549 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sư bất cập đó không những chỉ thể hiện trên các mặt hệ thống CSĐT và năng lực của hệ thống đó, đối tượng đào tạo, chương trình đào tạo chuẩn mực kiến thức, kỹ năng, phương pháp và hình t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN QUẢN Lí GIÁO DỤC -W0X -

Giải pháp triển khai

đào tạo cán bộ quản lý giáo dục

theo nhu cầu xã hội

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CễNG NGHỆ

MÃ SỐ: B 2007 29 - 27 TĐ

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS NGUYỄN PHÚC CHÂU

7917

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM NGHIÊN CỨU

1 TS Nguyễn Phúc Châu Trưởng Phòng Quản lý khoa học, giảng viên chính,

Học viện Quản lý giáo dục - Chủ nhiệm đề tài

2 PGS.TS Nguyễn Hữu Chí Vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo Trung

ương

3 PGS.TS Đặng Bá Lãm Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (Nguyên Viện

trưởng Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục)

4 ThS Tạ Hoàng Oanh Giảng viên, Trường Cán bộ quản lý Giáo duc và đào

tạo thành phố Hồ Chí Minh

5 ThS Cao Thị Thanh Xuân Phó trưởng Phòng Hành chính, Trường Cao đẳng

Sư phạm KonTum

6 TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến Nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

7 ThS Ngô Viết Sơn Giảng viên chính, Học viện Quản lý giáo dục - Thư ký đề tài

DANH SÁCH NHỮNG ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH

1 Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở

giáo dục Bộ GD&ĐT

Các văn bản pháp quy về đào tạo cán bộ quản

lý giáo dục của Bộ GD&ĐT

2 Vụ Đại học và sau đại học, Bộ GD&ĐT

Quy chế đào tạo, tuyển sinh đại học, sau đại học và nội dung chỉ đạo của Bộ GD&ĐT

3 Trung tâm đào tạo, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

4 Khoa Sư phạm, Đại học quốc gia Hà Nội Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

5 Phòng Sau đại học và Khoa Quản lý Trường ĐHSP Hà Nội Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

6 Phòng Quản lý sau đại học, Trường ĐHSP Hà Nội 2 Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

7 Khoa Sau đại học, Trường

Đại học Thái Nguyên

Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

8 Khoa Sau đại học, Trường

Đại học Vinh

Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

9 Khoa Tâm lý - Giáo dục,

Trường Đại học Sư phạm Huế

Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

10 Phòng QLKH, sau đại học và

đối ngoại Trường ĐHSP Đà Nẵng

Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

11 Phòng Quản lý sau đại học,

Trường Đại học Quy nhơn

Chương trình, thành quả và kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

Trang 3

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Tóm tắt kết quả nghiên cứu 3

Project result summary 4

Mở đầu 6

Những kết quả nghiên cứu đã đạt được 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC THEO NHU CẦU XÃ HỘI 13 1.1 Tiếp cận mệnh đề “giải pháp triển khai đào tạocán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội ” 13

1.1.1 Cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) 13

1.1.2 Đào tạo và đào tạo CBQLGD 16

1.1.3 Nhu cầu và nhu cầu xã hội (NCXH) 17

1.1.4 Nhu cầu xã hội về giáo dục và về đào tạo CBQLGD 20

1.1.5 Giải pháp và giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD 24

1.2 Các yếu tố tác động đến triển khai đào đào tạo CBQLGD theo NCXH 26

1.2.1 Yêu cầu mới về phát triển giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục (QLGD) 26 1.2.2 Luật pháp, chính sách và quy chế đào tạo 28

1.2.3 Chuẩn CBQLGD và dự báo NCXH về đào tạo CBQLGD 32

1.2.4 Chương trình, giáo trình, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo 34

1.2.5 Tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị kỹ thuật đào tạo 35

1.2.6 Đánh giá kết quả đào tạo và kiểm định chất lượng đào tạo 36

1.2.7 Hệ thống mạng lưới cơ sở đào tạo (CSĐT) và năng lực của các cơ sở đó 37 1.3 Nội dung và quy trình triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH 40

1.3.1 Xây dựng chiến lược quốc gia về đào tạo CBQLGD 40

1.3.2 Tổ chức triển khai quá trình đào tạo tại các CSĐT 42

1.3.3 Đánh giá thành quả triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH 44

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC THEO NHU CẦU XÃ HỘI 45 2.1 Khái quát thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD trên thế giới 45

2.1.1 Cơ cấu hệ thống QLGD của một số nước 45

2.1.2 Quan niệm về CBQLGD của một số nước 45

Trang 5

2.1.3 Chuẩn để được bổ nhiệm làm CBQLGD của một số nước 46

2.1.4 Chương trình đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD của một số nước 46

2.1.5 Xu thế đổi mới đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD trên thế giới 49

2.2 Khái quát kết quả khảo sát và phân tích NCXH về đào đào tạo CBQLGD của nước ta giai đoạn hiện nay 54

2.2.1 Mục tiêu, phương pháp và đối tượng khảo sát 54

2.2.2 Khái quát cơ cấu nhu cầu đào tạo chuyên ngành QLGD của người học 55 2.2.3 Khái quát cơ cấu nhu cầu đào tạo chuyên ngành QLGD của các cơ quan QLGD và của các CSGD (trường học) 62

2.3 Kết quả khảo sát và phân tích thực trạng triển khai đào tạo chuyên ngành QLGD của nước ta trong 5 năm gần đây 69

2.3.1 Mục tiêu, phương pháp và đối tượng khảo sát 69

2.3.2 Khái quát thành quả đào tạo chuyên ngành QLGD của các CSĐT 70

2.3.3 Thực trạng các yêu tố tác động đến kết quả triển khai đào tạo CBQLGD 74 2.3 Đánh giá chung thực trạng triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH 83

2.3.1 Những giá trị cần duy trì và phát huy 83

2.3.2 Những mâu thuẫn, khó khăn và bất cập 84

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO CBQLGD GIÁO DỤC THEO NCXH 86 3.1 Các giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH 86

3.1.1 Xây dựng chiến lược đào tạo CBQLGD 86

3.1.2 Sửa đổi một số quy định trong các luật, chính sách sử dụng nhân lực, quy chế đào tạo và quy chế tuyển sinh 92

3.1.3 Đổi mới chương trình, giáo trình đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội 95

3.1.4 Đổi mới hình thức tổ chức, phương thức đánh giá kết quả và tăng cường kiểm định chất lượng đào tạo 97

3.1.5 Nâng cao năng lực đào tạo và năng lực quản lý đào tạo cho các CSĐT 100 3.2 Những kết luận và kiến nghị sử dụng các kết quả nghiên cứu 106

3.2.1 Kết luận 106

2.2.2 Kiến nghị sử dụng các kết quả nghiên cứu 108

Tài liệu tham khảo 111

Các phụ lục 113

Trang 6

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Tên đề tài: Giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu

cầu xã hội

- Mã số: B2007 29 – 27 TĐ

- Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Phúc Châu

- Tel: 0913005528 E-mail: chaunp@niem.edu.vn;

- Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Quản lý giáo dục

- Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Các cơ sở giáo dục có chức năng đào

tạo chuyên ngành quản lý giáo dục

- Thời gian thực hiện: từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5 năm 2009

1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất được các giải pháp quản lý để triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội

2 Nội dung nghiên cứu

1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH 2) Nghiên cứu cơ cấu nhu cầu đào tạo CBQLGD và thực trạng đào tạo

- Cơ sở lý luận về triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH;

- Các yếu tố tác động đến đào tạo CBQLGD theo NCXH;

- Nội dung và quy trình triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

2) Thực trạng đào tạo CBQLGD theo NCXH, trong đó:

- Khái quát tình hình đào tạo CBQLGD trên thế giới;

- Cơ cấu NCXH về đào tạo CBQLGD của nước nhà;

- Thực trạng đào tạo CBQLGD của nước nhà giai đoạn hiện nay;

Trang 7

- Những vấn đề cần tháo gỡ từ thực trạng đào tạo CBQLGD

3) Đề xuất được các giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD của nước nhà trong giai đoạn hiện nay; trong đó tập trung vào các lĩnh vực:

- Xây dựng chiến lược đào tạo CBQLGD;

- Sửa đổi luật pháp, chính sách, quy chế đào tạo và quy chế tuyển sinh;

- Đổi mới nội dung chương trình và giáo trình đào tạo;

- Đổi mới hình thức tổ chức và phương thức đánh giá kết quả đào tạo;

- Tăng cường năng lực đào tạo và năng lực quản lý cho các CSĐT

PROJECT RESULT SUMMARY

- Project Title: Solution for conduction of education manager training along

with society needs

- Code number: B2007 29 – 27 TĐ

- Coordinator: Dr Nguyễn Phúc Châu

- Tel: 0913005528 E-mail: chaunp@niem.edu.vn;

- Implementing Institution: National Institute of Education Management

- Cooperating Institution(s): Educational Institutions whose functions are

Trang 8

3 Results obtained

1) Scientific researches and reports on theoretical basis of training education manager along with society needs

- Theoretical basis of training education manager along with society needs

- Factors affecting the training of education manager along with society needs

- Contents and procedures for conduction of education manager training along with society needs

2) Real sitution of training education manager training along with society needs

- Briefing the training of education managers in the world;

- Structure of social needs on training education managers of Vietnam education system;

- Real situation of education manager training at the current time;

- Problems in education manager training to solve ;

3) Proposal of solutions for education manager training along with society needs at the current time;

- Strategic planning of training education managers;

- Amendment of laws, policies, regulations training and recruitment;

- Curriculum and training program innovation;

- Innovation of organization form and evaluation method of training results;

- Innovation of financial investment and physical facilities

- Enhancing training capacities and enhancing manege nemt of training institutions;

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đổi mới giáo dục là một tất yếu khách quan trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của nước nhà, nhất là trong bối cảnh nước ta đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Quản lý giáo dục (QLGD) luôn luôn là khâu định hướng, triển khai, giám sát và đánh giá các hoạt động giáo dục và cũng là một trong những yếu tố namg tính tiền đề quyết định mức độ chất lượng

và hiệu quả giáo dục Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu

tố xã hội, trong đó có chất lượng nguồn nhân lực giáo dục mà trước hết là đội ngũ nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) Chất lượng đội ngũ CBQLGD phần nhiều có được từ hoạt động đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ

đó Như vậy, đổi mới giáo dục phải bắt đầu từ khâu đổi mới QLGD, mà một trong những mục tiêu là nâng cao chất lượng đội ngũ CBQLGD và giải pháp để đạt tới mục tiêu đó là triển khai đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ CBQLGD

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo” Những định hướng trên thể hiện rõ sự kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ Người đã chỉ rõ: “Cán bộ

là cái gốc của mọi công việc”, “Mọi thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”,“Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”

Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 về “Xây dưng, nâng cao chất lượng nhà giáo và đội ngũ CBQLGD” và Thủ tướng Chính phủ Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã có Quyết định số 09/TTg ngày 11/01/2005 phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005 - 2010” Hiện nay, ngành giáo dục đang nỗ lực triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW của Đảng và Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ bằng việc thực hiện đồng bộ

Trang 10

nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQLGD thông qua hoạt động đào tạo và bồi dưỡng Những kết quả triển khai thực hiện các Chỉ thị và Quyết định nêu trên đã bước đầu mang lại những kết quả nhất định Công tác đào tạo CBQLGD của nước ta chỉ mới được triển khai chưa được hai thập niên, cho nên còn có quá nhiều bất cập Sư bất cập đó không những chỉ thể hiện trên các mặt hệ thống CSĐT và năng lực của hệ thống đó, đối tượng đào tạo, chương trình đào tạo (chuẩn mực kiến thức, kỹ năng), phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo, cơ sở vật chất và thiết bị kỹ thuật (CSVC&TBKT) đào tạo, hoạt động đánh giá kết quả đào tạo và về chính sách trong sử dụng sau

đào tạo; mà còn thể hiện về số lượng, cơ cấu và chất lượng chưa đáp ứng được

yêu cầu mới của xã hội đối với phát triển giáo dục hiên nay

Như vậy, từ yêu cầu phát triển giáo dục của nước nhà, đã xuất hiện những

nhu cầu mới mang tính cấp thiết của xã hội về số lượng, cơ cấu, chất lượng của

đội ngũ CBQLGD thì việc triển khai đào tạo CBQLGD theo nhu cầu xã hội

(NCXH) là một yêu cầu đặt ra đối với ngành giáo dục

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã giao cho Học viện Quản lý giáo dục nghiên cứu

Các giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH (Thông báo số

1795/TB-BGDĐT, ngày 06/3/2007 về Kết luận của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân tại buổi thăm và làm việc với Học viện Quản lý giáo dục ngày 28/2/2007)

Gần đây, tại Quyết định số 2100/QĐ-BGDĐT ngày 27/2/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc phê duyệt Chương trình công tác năm 2009 của Bộ GD&ĐT, trong mục nhiệm vụ và giải pháp có đưa ra: “Triển khai mạnh mẽ yêu cầu tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học theo NCXH; xây dựng và triển khai

đề án đào tạo theo NCXH giai đoạn 2009 – 2015; tổ chức triển khai kết luận tại các hội thảo quốc gia về đào tạo theo NCXH phục vụ cho các ngành kinh tế trọng điểm” cho thấy đào tạo theo NCXH được xem là tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của Ngành giáo dục

Mặt khác, Học viện Quản lý giáo dục có chức năng nghiên cứu khoa học về QLGD, đào tạo và bồi dưỡng cho mọi đối tượng CBQLGD Hiện nay đội ngũ các nhà khoa học, giảng viên và nghiên cứu viên của Học viện cũng đang cần có

Trang 11

những luận cứ, luận chứng và luận giải khoa học về việc triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Giải pháp triển khai đào tạo

cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội” nhằm góp phần nâng cao chất

lượng đội ngũ CBQLGD và góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của nước nhà trong giai đoạn hiện nay

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề xuất được các giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội

3 CÁCH TIẾP CẬN, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1 Cách tiếp cận

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng tôi chọn cách tiếp cận hệ thống, lịch sử - lôgíc và tiếp

cận thị trường để nghiên cứu đề tài này theo quan điểm:

+ Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc nhiều vào chất lượng hoạt động QLGD Chất lượng QLGD lại phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQLGD Phẩm chất và năng lực CBQLGD phần nhiều phụ thuộc vào công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD

+ Phát triển giáo dục làm tiền đề cho phát triển KT-XH Ngược lại, để thực hiện chiến lược phát triển KT-XH, thì một trong những yêu cầu mang tính tất yếu để phát triển giáo dục là phải có đội ngũ CBQLGD được đào tạo phù hợp với NCXH

+ Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và triển khai đào tạo CBQLGD nói riêng có nhiều bất cập Một trong những bất cập

đó là đào tạo chưa thật sự theo NCXH Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, nhưng có các nguyên nhân về quản lý đào tạo ở cả cấp vĩ mô và vi mô Cụ thể là chưa giải quyết được những mâu thuẫn (hoặc khó khăn, bất cập và cố kết khó

giải) xuất hiện trong thực tiễn của mối quan hệ biện chứng giữa một bên là NCXH về đào tạo CBQLGD với một bên là phương thức triển khai đào tạo

CBQLGD để đáp ứng nhu cầu đó

Trang 12

+ Như vậy, nếu có được các giải pháp để giải quyết các mâu thuẫn, hoặc

tháo gỡ các khó khăn (cố kết khó giải), khắc phục những bất cập nảy sinh từ mối quan hệ giữa NCXH về đào tạo CBQLGD (nhu cầu của người học, nhu cầu của các tổ chức sử dụng người học) với thực trạng triển khai đào tạo (chiến lược đào tạo, chương trình và giáo trình, phương pháp và hình thức tổ chức, đánh giá và kiểm định chất lượng, năng lực đào tạo và năng lực quản lý đào tạo, các chính

sách và quy chế đào tạo); thì nhất thiết việc đào tạo CBQLGD nói chung và đào

tạo chuyên ngành QLGD nói riêng của nước nhà sẽ đáp ứng được NCXH

3.2 Các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu

1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về triển khai đào tạo CBQLGD theo nhu cầu xã hôi;

2) Nghiên cứu cơ cấu nhu cầu đào tạo CBQLGD và thực trạng triển khai đào tạo CBQLGD của nước nhà;

3) Đề xuất các giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH của nước nhà trong giai đoạn hiện nay

3.3 Các phương pháp nghiên cứu

1) Phương pháp nghiên cứu lý luận

Bằng việc nghiên cứu các quan điểm lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước, hồi cứu các công trình khoa học đã có, các quy chế đào tạo và một số tài liệu về đào tạo CBQLGD của nước ngoài, ; phương pháp này được sử dụng nhằm thống nhất các khái niệm, thuật ngữ; chỉ ra cơ sở lý luận về triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH; thực hiện các phán đoán và suy luận nhằm xác định các yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến kết quả đào tạo CBQLGD theo NCXH; đồng thời chỉ ra nội dung và quy trình triển khai đào tạo CBQLGD thao NCXH

2) Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Bằng việc điều tra, quan sát, xin ý kiến chuyên gia và tổng kết kinh nghiệm; nhóm phương pháp này được sử dụng với mục đích chỉ ra kinh nghiệm đào tạo CBQLGD của ngoài nước, cơ cấu NCXH về đào tạo CBQLGD và thực trạng triển khai đào tạo CBQLGD trong nước, để phối hợp với cơ sở lý luận đã có, mà đề xuất và kiểm chứng các giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

Trang 13

3) Các phương pháp hỗ trợ khác

Bằng việc sử dụng một số thuật toán, phương pháp này được sử dụng nhằm

xử lý kết quả khảo sát, minh chứng cho mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp quản lý đã đề xuất

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH hiện nay tại Việt Nam là một lĩnh vực rộng trên các phương diện như: cơ cấu nhu cầu, trình độ đào tạo, đối tượng đào tạo, chương trình đào tạo, chuyên ngành đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo và các phương thức đáp ứng NCXH Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung vào:

- Nghiên cứu dạng nhu cầu hiểu biết của người học và nhu cầu lao động

(của người học và của các tổ chức sử dụng người học); trong đó tổ chức sử dụng người học là các cơ quan QLGD địa phương (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT) và một số cơ sở giáo dục trong hệ thống các Trường Sư phạm và Trường Phổ thông;

- Đào tạo CBQLGD có nhiều dạng như đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, theo các trình độ của chuyên ngành QLGD và dạng đào tạo bổ sung, cập nhật kiến thức về QLGD (Việt Nam gọi là bồi dưỡng CBQLGD) Trong đề tài này,

chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các giải pháp triển khai đào tạo chuyên ngành QLGD với các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ

4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1) Cơ sở lý luận về đào tạo CBQLGD theo NCXH; trong đó tập trung vào:

- Nhận diện một số khái niệm trong mệnh đề “Giải pháp triển khai

đào tạo CBQLGD theo NCXH”

- Cơ cấu của NCXH về đào tạo CBQLGD nói chung và đào tạo chuyên ngành QLGD nói riêng

- Các yếu tố tác động đến triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

- Nội dung và quy trình triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH 2) Thực trạng triển khai đào tạo CBQLGD; trong đó tập trung vào:

- Đào tạo CBQLGD của một số nước trong khu vực và trên thế giới;

Trang 14

- Khảo sát và phân tích cơ cấu nhu cầu đào tạo chuyên ngành QLGD của Việt Nam giai đoạn hiện nay;

- Khảo sát và đánh giá thực trạng triển khai đào tạo CBQLGD nói chung và đào tạo chuyên ngành QLGD nói riêng;

- Tìm ra các mâu thuẫn (hoặc các khó khắn, bất cập) cần được giải quyết, tháo gỡ và khắc phục trong mối quan hệ giữa NCXH và phương thức đáp ứng NCXH về đào tạo CBQLGD

3) Đề xuất các giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH và bước đầu đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp; trong đó tập trung vào đề xuất một số giải pháp theo các lĩnh vực:

- Chiến lược đào tạo cán bộ quản lý giáo dục

- Luật pháp, chính sách sử dụng nhân lực, quy chế đào tạo và tuyển sinh

- Chương trình, giáo trình đào tạo

- Hình thức tổ chức đào tạo, phương thức đánh giá kết quả và kiểm định chất lượng đào tạo

- Năng lực đào tạo và năng lực quản lý đào tạo của các CSĐT

5 MỘT SỐ SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU

1) Các chuyên đề nghiên cứu khoa học

- Xu hướng và kinh nghiệm nước ngoài về đào tạo CBQLGD (của TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến, nguyên trợ lý Bộ trưởng Bộ GD&ĐT);

- Chiến lược đào tạo và bồi dưỡng CBQLGD (của PGS.TS Đặng Bá Lãm, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam);

- Mối quan hệ giữa phát triển giáo dục với đào tạo CBQLGD (của TS Nguyễn Phúc Châu, trưởng Phòng Quản lý khoa học, Học viện Quản lý giáo dục);

- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đào tạo CBQLGD (của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí, Vụ trưởng Vụ Giáo dục, ban Tuyên giáo Trung ương);

- Những căn cứ pháp lý về đào tạo CBQLGD (của ThS Ngô Mạnh Hải, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức – cán bộ, Bộ GD&ĐT)

- Đào tạo CBQLGD theo nhu cầu xã hội (của PGS.TS Đặng Quốc Bảo, nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý GD&ĐT)

Trang 15

2) Kỷ yếu Hội thảo khoa học

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu

xã hội: thực trạng và giải pháp”; dày 136 trang A4, đăng tải 16 bài tham luận có

chất lượng được chọn lọc trong nhiều bài tham luận gửi đến Hội thảo, được tổ chức tại Học viện Quản lý giáo dục vào ngày 12/3/2009 với gần 50 đại biểu là các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục trong toàn quốc đến dự Hội thảo

3) Các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành

- Phạm Đỗ Nhật Tiến (2009), “Đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội”; Tạp chí Giáo dục;

- Nguyễn Phúc Châu (2009), “Nhận diên cơ cấu nhu cầu xã hội về đào tạo cán bộ quản lý giáo dục”; Tạp chí Giáo dục;

- Nguyễn Phúc Châu (2009), “Những yếu tố tác động đến triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội”; Tạp chí Giáo dục;

- Nguyễn Phúc Châu (2009), “Bàn về một số giải pháp triển khai đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội”; Tạp chí Giáo dục

4) Phối hợp đào tạo thạc sĩ chuyên ngành QLGD

Chủ nhiệm đề tài đã hướng dẫn được một học viên cao học là Nguyễn

Phương Giang, chuyên ngành Quản lý giáo dục, Khoá 15 của ĐHSP Hà Nội - Học viện Quản lý giáo dục, với đề tài “Biện pháp quản lý nhằm hoàn thiện các

điều kiện thực hiện phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Thuỷ lợi”, bảo vệ cuối tháng 11 năm 2007, được xếp loại xuất sắc (10 điểm)

5) Báo cáo tổng kết đề tài

- Báo cáo tổng kết đề tài (bản chính chính thức và bản tóm tắt) để đưa

ra Hội đồng đánh giá, nghiệm thu; lưu tại Vụ Khoa học, công nghệ và môi trường của Bộ GD&ĐT; lưu tại Thư viện của Học viện Quản lý giáo dục

- Các bộ phiếu thu thập số liệu và các bộ phiếu hỏi (phục vụ cho hoạt động khảo sát cơ cấu NCXH về đào tạo CBQLGD và thực trạng đào tạo CBQLGD theo NCXH

Trang 16

NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

- Ở phương Tây, khi giao tiếp và đọc các tài liệu khoa học viết bằng tiếng

Anh, chưa thấy các nhà khoa học dùng cụm từ cán bộ lãnh đạo (CBLĐ) và cán

bộ quản lý (CBQL); mà chỉ dùng các từ “Manager” hoặc “Administrator” để chỉ người quản lý, nhà quản lý và dùng “Leader” để chỉ người lãnh đạo, nhà lãnh đạo Tuy nhiên, khi dịch sang tiếng Việt thì phải hiểu là CBQL và CBLĐ, hoặc

với ngữ cảnh số nhiều thì được dịch là đội ngũ CBQL và đội ngũ CBLĐ

- Ở phương Đông, Trung quốc có dùng cụm từ CBQL ( ) và CBLĐ ( ) Ở Việt Nam, cụm từ “cán bộ quản lý” và “cán bộ lãnh đạo” được

nhiều người sử dụng thường xuyên trong các văn bản và cả trong nhiều công trình khoa học, nhưng nhiều năm về trước, chưa có sự lý giải tường minh về nội hàm của các cụm từ đó Cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng

Cộng sản Việt Nam (2001), cụm từ “cán bộ quản lý” và “cán bộ lãnh đạo” được

coi là những khái niệm trong văn kiện của Đảng và các khái niệm đó được trình

bày trong cuốn “Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện đại hội IX của Đảng”

do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2001[21] Cụ thể:

+ “Cán bộ lãnh đạo là chỉ những người đứng đầu, phụ trách một tổ

chức, đơn vị, phòng trào nào đó do bầu cử hoặc chỉ định”[21; tr 74]

+ “Cán bộ quản lý là người mà hoạt động nghề nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện chức năng về quản lý; là người điều hành,

hướng dẫn, và tổ chức thực hiện những quyết định của cán bộ lãnh đạo”[21; tr 76]

Trang 17

+ “Trong nhiều trường hợp, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo

và cán bộ quản lý trùng lặp nhau”[21; tr 74]; “Trên thực tế, ở một số lĩnh vực và phạm vi quy mô tổ chức nhỏ, cán bộ lãnh đạo cũng đồng thời là cán bộ quản lý

và ngược lại Khi đó chức năng, nhiệm vụ trùng hợp, họ vừa ra quyết định, vừa tổ

chức thực hiện quyết định Ở những cấp quản lý cao, sự phân chia giữa cán bộ

lãnh đạo và cán bộ quản lý trở nên rõ ràng hơn, đặc biệt ở cấp vĩ mô” [21, tr 77]

Từ việc đưa ra nội hàm khái niệm CBQL nhằm hiểu được thấu đáo nội dung văn kiện quan trọng của Đảng nêu trên; cho thấy đặc trưng để nhận diện

CBQL là hoạt động nghề nghiệp của người đó hoàn toàn hay chủ yếu gắn với

chức năng quản lý

Từ các luận cứ trên, chúng tôi nhận thấy:

- Cán bộ quản lý là khái niệm dùng để chỉ những người mà hoạt động nghề

nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện chức năng quản lý

trong một tổ chức; nhằm điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện những quyết định của cán bộ lãnh đạo tổ chức đó

- Người đứng đầu, phụ trách một tổ chức, đơn vị, phòng trào nào đó thì đương nhiên là cán bộ lãnh đạo của tổ chức, đơn vị đó; nhưng xét trong hệ thống lớn hơn (chứa đựng các tổ chức, đơn vị đang xem xét) thì họ chỉ là người quản

lý Nhìn chung, nhiều cán bộ quản lý không phải là cán bộ lãnh đạo

- Hai từ nghề nghiệp ở nội hàm khái niệm cán bộ quản lý nêu trên gợi ra và cũng là sự khẳng định rằng: ai làm cán bộ quản lý thì việc thực hiện chức năng quản lý là hoạt động nghề nghiệp của họ Như vậy, những ai làm cán bộ quản lý thì họ hoàn toàn hay chủ yếu phải đảm đương một nghề nghiệp trong xã hội, cho

nên phải đạo tạo nghề nghiệp đó cho họ là một yêu cầu tất yếu của xã hội và từ đây thấy “quản lý là một nghề” là quan điểm đúng đắn

2) Cán bộ quản lý giáo dục

Có thể hiểu CBQLGD là CBQL làm việc trong một cơ quan QLGD hoặc

trong một CSGD, nhằm điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện những quyết định của CBLĐGD của cơ quan hoặc cơ sở đó

Ngày nay, với sự phát triển đa dạng của giáo dục, CBQLGD không chỉ là

Trang 18

những công chức, viên chức nhà nước có chức năng liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động QLGD, mà còn bao gồm những người có chức trách quản lý trong hệ thống các trường hoc ngoài công lập và trường học của các tổ chức nước ngoài hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế, mà Việt Nam là thành viên ký kết những điều ước đó

Trong đề tài này, về cơ bản, chúng tôi chia CBQLGD một cách tương đối

thành bốn loại theo vị trí và chức năng công tác của họ Đó là:

- CBQLGD có chức năng lãnh đạo giáo dục là chủ yếu: đó là những người

đứng đầu, phụ trách một cơ quan chuyên môn về giáo dục trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) các cấp (như Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp) Đó là Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT (gọi chung là các cơ quan QLGD)

- CBQLGD có chức năng quản lý cơ sở giáo dục là chủ yếu: đó là những

người có chức trách quản lý cao nhất (kể cả người giúp việc cho người đó – cấp phó) của một trường học, viện nghiên cứu, trung tâm giáo dục, (gọi chung là

cơ sở giáo dục - CSGD), hoặc là những người có chức trách quản lý cao nhất (kể

cả người giúp việc cho người đó – cấp phó) trong một đơn vị của một CSGD (như khoa, tổ bộ môn, trung tâm, phòng, ban, )

- CBQLGD có chức năng tham mưu và giám sát hoạt động giáo dục là chủ

yếu: đó là những người làm việc trong các cơ quan QLHCNN, cơ quan QLGD

hoặc CSGD mà chức năng của họ chủ yếu là tham mưu cho CBLĐGD và CBQLGD cấp cao hơn về xây dựng các công cụ cho hoạt động QLGD (luật pháp, chính sách, điều lệ, quy chế, ); hoặc thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám

sát và tổ chức chỉ đạo các hoạt động giáo dục theo luật pháp, chính sách, điều lệ,

quy chế giáo dục Những người này thường có chức danh chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính và chuyên viên trong các cơ quan hoặc cơ sở nêu trên

- CBQLGD có sứ mệnh chính khách là chủ yếu: đó là một số ít người lãnh đạo giáo dục “xuất sắc, có mức ảnh hưởng lớn, có tiếng nói, uy tín cao”[1, tr 75]

trong việc quyết định những vấn đề trọng đại về giáo dục của đất nước (như phê duyệt và ban hành luật pháp, chính sách, chiến lựơc phát triển giáo dục; ban hành các nghị quyết, nghị định, quyết định, điều lệ, quy chế, ) trên phương diện lãnh đạo và quản lý giáo dục cấp vĩ mô

Trang 19

1.1.2 Đào tạo và đào tạo cán bộ quản lý giáo dục

1) Đào tạo

Đào tạo được hiểu là “quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó những thích nghị với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lạo động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển

xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [23; tập 1, tr 735]

Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt dạng đào tạo chuyên môn và dạng đào tạo nghề nghiệp, trong đó có đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, ; đồng thời tổ chức quá trình đào tạo với các hình thức khác nhau như chính quy, không chính quy, tại chức, chuyên tu, tập trung và từ xa, Các dạng và hình thức đào tạo đó gắn bó và hỗ trợ cho nhau để đáp ứng nhu cầu của cá nhân, của tập thể, của tổ chức và nói rộng ra là đáp ứng NCXH về đào tạo nguồn nhân lực

xã hội trong từng giai đoạn hoặc trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể

2) Đào tạo cán bộ quản lý giáo dục

Về mặt lý luận, đã nói đến đào tạo là nói đến mục tiêu và chương trình đào

tạo, mà trong đó chương trình đào tạo phải gắn với một chuyên ngành đào tạo Xét trong giới hạn nghiên cứu của đề tài này, cụm từ “đào tạo cán bộ quản lý

giáo dục”, trong hoàn cảnh thực tiễn về công tác tổ chức và cán bộ của Việt Nam,

được hiểu theo 2 khía cạnh về đối tượng và chương trình đào tạo dưới đây:

+ Đào tạo những người chưa từng làm CBQLGD theo mục tiêu của một chương trình đào tạo chuyên ngành QLGD, để sau này họ có thể trở thành

CBQLGD làm việc trong các cơ quan QLGD hoặc trong những CSGD

+ Đào tạo nâng cao trình độ cho những CBQLGD đương chức theo

mục tiêu của một chương trình đào tạo chuyên ngành QLGD để họ thực hiện tốt hơn trọng trách quản lý của mình, hoặc tiếp tục đảm nhận trọng trách quản lý

cao hơn tại các cơ quan QLGD và các CSGD Đào tạo hiểu theo khía cạnh này

có hình thức đào tạo bổ sung và cập nhật kiến thức màViệt Nam thường gọi là

bồi dưỡng (dạng đào tạo này không thuộc phạm vi nghiên cứu chính của đề tài)

Trang 20

Từ 2 khía cạnh trên, cho thấy đào tạo CBQLGD với mục tiêu làm cho người học có được trình độ nhất định về lý luận và thực tiễn QLGD, nhằm tạo

tiềm năng làm CBQLGD (đối với những người chưa từng là CBQLGD) hoặc

nhằm tạo tiềm năng đảm nhận tốt hơn trọng trách quản lý hiện có, hoặc đảm nhận trọng trách quản lý cao hơn (đối với những người đang là CBQLGD)

Từ giới hạn và phạm vi nghiên cứu (đã nêu tại phần mở đầu), đề tài này chỉ

tập trung nghiên cứu về đào tạo các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ chuyên

ngành QLGD với các đối tượng chưa là CBQLGD và những người đang là

CBQLGD chưa được đào tạo chuyên ngành QLGD (không bàn về bồi dưỡng

cho CBQLGD); cho nên từ đây, trong báo cáo này, cụm từ “đào tạo cán bộ quản lý giáo dục” được hiểu là “đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục” theo

các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ

Cũng cần nhấn mạnh rằng:

- Đào tạo chuyên ngành QLGD được hiểu là quá trình tác động đến một cá nhân nhằm mục tiêu trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ, có trong một chương trình đào tạo của chuyên ngành QLGD một cách có hệ thống; để chuẩn

bị cho người đó sau tốt nghiệp có đủ trình độ, năng lực đảm đương được trọng trách của một CBQLGD (đối với những người chưa từng làm CBQLGD) và làm tốt hơn trọng trách quản lý đang có hoặc đảm nhận được trọng trách quản lý cao hơn (đối với các CBQLGD đương chức)

- Đào tạo chuyên ngành QLGD là dạng phối hợp về đào tạo chuyên môn và nghề nghiệp, cũng là dạng đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu được thực hiện theo nhiều phương thức tổ chức khác nhau như: chính quy, tại chức, chuyên tu, tập trung và từ xa, tuỳ thuộc nhu cầu hiểu biết và nhu cầu lao động của người học, vào nhu cầu sử dụng lao động của các tổ chức sử dụng nhân lực giáo dục; đồng thời cũng tuỳ thuộc vào năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo (CSĐT)

1.1.3 Nhu cầu và nhu cầu xã hội

1) Nhu cầu

Nhu cầu được hiểu là “sự phản ánh khách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần và xã hội của đời sống con người phù hợp với trình độ phát triển KT-

Trang 21

XH trong từng thời kỳ”[23; tập 3, tr 267] Cũng có thể hiểu, nhu cầu là cái cần

có, cái mong đợi và cái cần tìm cho được để đáp ứng những đòi hỏi của con người về vật chất, tinh thần và sự phát triển xã hội [14; tr 330, 239 và 741]

Có nhiều dạng nhu cầu dưới đây:

+ Xét về mặt chủ thể: có nhu cầu của cá nhân, nhu cầu của tập thể (một nhóm người), nhu cầu của tổ chức (một đơn vị hoặc một cơ quan) và nhu

cầu xã hội (tích hợp và tổng hoà các nhu cầu cá nhân, tập thể và tổ chức)

+ Xét về mặt hoạt động: có nhu cầu hiểu biết, nhu cầu lao động (được lao động, lao động được, sử dụng lao động), nhu cầu trao đổi và nhu cầu giải trí

+ Xét về mặt đối tượng: có nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và một

số nhu cầu khác

+ Xét về mặt chức năng có: nhu cầu chính yếu và nhu cầu phụ

+ Xét về mặt đạo lý: có nhu cầu hợp lý và nhu cầu không hợp lý

+ Xét về mặt mức độ: có nhu cầu cấp thiết (phải đáp ứng ngay) và

nhu cầu chưa cấp thiết (chỉ là dạng nguyện vọng cần xem xét để đáp ứng)

+ Xét về mặt thời gian: có nhu cầu trước mắt và nhu cầu lâu dài + Xét về mặt không gian: có nhu cầu riêng lẻ (chỉ thấy trên bình diện

một cá nhân, một tổ chức, một địa phương, một vùng miền hoặc một quốc gia

nào đó) và nhu cầu phổ biến (thấy có đối với mọi cá nhân, tổ chức, địa phương,

vùng miền, quốc gia và cả quốc tế)

- Nhu cầu hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển xã hội Xác định nhu cầu là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách phát triển KT-XH và trong quản lý

xã hội trước bối cảnh luôn luôn thay đổi

Trang 22

- Xét về phương diện quốc gia, mức độ nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu nói chung, về cơ bản, phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội mà trong

đó mấu chốt là trình độ quản lý các lĩnh vực hoạt động xã hội Quản lý có tác dụng điều tiết các nhu cầu, đề xuất các phương thức và thực hiện các giải pháp

để đáp ứng nhu cầu Trong quản lý một lĩnh vực xã hội nào đó, người quản lý phải xem xét tổng hoà các nhu cầu để xây dựng chiến lược hành động, nhằm điều tiết (hạn chế hoặc kích cầu) và nhìn chung là để tìm ra phương thức tối ưu

để đáp ứng nhu cầu một cách phù hợp với khả năng bản mình, của tổ chức mình

và phù hợp với điều kiện KT-XH Không nên vạch ra chiến lược hành động thoát ly các nhu cầu, càng không nên có chiến lược hành động vượt quá khả năng đáp ứng và không chỉ ra được các phương thức thoả mãn nhu cầu

2) Nhu cầu xã hội (NCXH)

NCXH về một lĩnh vực hoạt động xã hội nào đó được hiểu là sự phản ánh

khách quan các đòi hỏi chung mang tính đại diện xã hội về mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức và đặc biệt là kết quả của lĩnh vực hoạt động đó một cách phù hợp với trình độ phát triển KT-XH trong từng thời kỳ cụ thể

Tính chất xã hội của nhu cầu thể hiện chủ yếu ở tính riêng lẻ hay phổ biến,

tính cục bộ hay tính tổng thể, tính trước mắt hay lâu dài, tính phù hợp hay không phù hợp với trình độ phát triển KT-XH và tính khả thi hay không khả thi (có khả năng hoặc không có khả năng đáp ứng nhu cầu),

NCXH gắn với yêu cầu xã hội Về phương diện xã hội, đến một lúc nào đó

NCXH sẽ trở thành yêu cầu của xã hội Ví dụ: nhu cầu về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển KT-XH trong một giai đoạn nào đó sẽ

đặt ra cho các CSĐT những yêu cầu cụ thể về số lượng, cơ cấu và mẫu hình

nhân cách của nguồn nhân lực mà các CSĐT phải thực hiện

3) Cơ cấu hình thành nhu cầu xã hội

NCXH tuy có chủ thể là xã hội, nhưng nó lại là sự tích hợp và tổng hoà các chủ thể nhu cầu cá nhân, tập thể và tổ chức (một tổ chức hoặc cả hệ thống các tổ chức xã hội) Nói cách khác, NCXH được hình thành từ nguyện vọng của các thành phần cấu thành xã hội (cá nhân, tổ chức, cộng đồng, địa phương, quốc gia,

Trang 23

khu vực và toàn cầu) về hiểu biết, giao tiếp, trao đổi, giải trí và lao động, Mặt khác, nó còn hình thành từ các yêu cầu phát triển một lĩnh vực hoặc của mọi lĩnh vực hoạt động xã hội (như chính trị, kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục và KH&CN,

) để xã hội được duy trì và phát triển Lúc này cơ cấu nhu cầu hình thành từ

nguyện vọng của giai cấp, các tầng lớp cư dân, tôn giáo, truyền thống và bản sắc văn hoá, vùng lãnh thổ và từ đặc điểm về yêu cầu phát triển KT-XH trong từng thời kỳ cụ thể

Mỗi dạng NCXH lại có cơ cấu riêng của nó Ví dụ, NCXH về đào tạo nguồn nhân lực (dạng nhu cầu tích hợp và tổng hoà từ nhu cầu hiểu biết và nhu

cầu lao động trong xã hội) được hình thành không những từ đòi hỏi của các tổ chức sử dụng nhân lực; mà còn là đòi hỏi của đối tượng đào tạo (người học) về nguyên vọng lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng trên cơ sở chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức và các điều kiện tổ chức đào tạo; để họ đạt tới

điều đòi hỏi như mục tiêu đào tạo đã đề ra Lúc này cơ cấu của nhu cầu hình

thành không những từ các đòi hỏi của người học, mà còn từ các đòi hỏi của các

tổ chức sử dụng lao động về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá kết quả trong đào tạo nguồn nhân lực ở các bình diện quốc tế, quốc gia, địa phương và đặc biệt là CSĐT

1.1.4.1 Nhu cầu xã hội đối với giáo dục

NCXH về giáo dục được hiểu là sự phản ánh khách quan các đòi hỏi chung mang tính đại diện xã hội về triển khai hoạt động giáo dục và về kết quả giáo dục (chất lượng và hiệu quả) phù hợp với trình độ phát triển KT-XH của quốc gia và của thời đại trong mỗi giai đoạn và trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể

Nhìn chung NCXH trong lĩnh vực giáo dục bao hàm cả nhu cầu nội sinh

của ngành giáo dục về những vấn đề chủ yếu dưới đây:

- Các định chế giáo dục (luật pháp, chính sách, điều lệ, quy chế, ) phù hợp với lý luận và sát với thực tiễn phát triển giáo dục của quốc gia và quốc tế,

để điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục

Trang 24

- Hệ thống giáo dục quốc dân hợp lý để đảm bảo cho hoạt động quản lý và hoạt động giáo dục theo đúng nguyên lý và phương châm giáo dục của Đảng, nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục

- Có được sự huy động hợp lý và đầu tư tối ưu về tài chính, cơ sở vât chất, phương tiện thông tin và truyền thông cho các hoạt động giáo dục, để đáp ứng được các yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, góp phần phát triển KT-XH

- Môi trường giáo dục thuận lợi, cả nước là một xã hội học tập, trong đó có

sự tham gia tích cực của mọi thành phần xã hội có hưởng lợi từ giáo dục vào các hoạt động giáo dục

- Bộ máy quản lý giáo dục mạnh và có được đội ngũ nhân lực giáo dục (nhà giáo và CBQLGD) luôn luôn được nâng cao về trình độ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và nghiệp vụ để họ luôn luôn thích ứng với yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục

- Chất lượng và hiệu quả giáo dục mỗi ngày một cải thiện hơn; nghĩa là kết quả của hoạt động giáo dục (nhân cách lực lượng lao động xã hội - sản phẩm chủ yếu của giáo dục) phù hợp với mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH và sự phát huy tác dụng của các kết quả đó mỗi ngày một cao hơn

- Một vấn đề quan trọng có tính thời sự về NCXH đối với giáo dục trong

giai đoạn hiện nay là đào tạo theo NCXH, trong đó đặc biệt là đào tạo nhà giáo

và đào tạo CBQLGD theo NCXH (vấn đề đặt ra để nghiên cứu của đề tài này)

1.1.4.2 Cơ cấu nhu cầu xã hội về đào tạo cán bộ quản lý giáo dục

NCXH về đào tạo CBQLGD được hiểu là sự phản ánh khách quan các đòi

hỏi mang tính xã hội về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức triển khai đào tạo, các chính sách đào tạo và sử dụng người qua đào tạo một cách phù hợp với những yêu cầu nhân lực của sư nghiệp phát triển giáo dục và phù hợp với trình độ phát triển KT-XH trong từng thời kỳ cụ thể

Nhu cầu đào tạo CBQLGD là dạng nhu cầu có sự tích hợp và tổng hoà của

dạng nhu cầu hiểu biết với nhu cầu lao động Chủ thể của dạng nhu cầu hiểu

biết ở đây là người học; nhìn chung họ có đòi hỏi chính đáng được nâng cao

trình độ (hiểu biết hệ thống tri thức, củng cố và rèn luyện kỹ năng và hình thành

Trang 25

những thái độ đúng đắn) về giáo dục và về QLGD; để họ có những tiềm năng đảm nhận một chức trách về QLGD (đối với những người chưa làm CBQLGD)

và có những tiềm năng đảm nhận tốt hơn chức trách đang có hoặc một chức

trách cao hơn (đối với những người đang là CBQLGD) Chủ thể của nhu cầu lao

động ở đây trước hết là của cá nhân người học (họ cần có kiến thức, kỹ năng để

đảm nhận một chức trách QLGD) Tiếp đó, đáng chú ý hơn, chủ thể của nhu cầu

lao động còn là các cơ quan QLGD (cơ quan chuyên môn của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước) và các CSGD Những tổ chức này có nhu cầu đội ngũ nhân lực đạt chuẩn về trình độ đào tạo chuyên ngành QLGD, luôn đủ về số lượng và phù hợp về cơ cấu, nhằm đáp ứng thực tiễn đổi mới và phát triển giáo dục trong bối cảnh KT-XH luôn luôn thay đổi

Cơ cấu của NCXH về đào tạo CBQLGD được hình thành từ sự tích hợp và

tổng hoà giữa nhu cầu của từng cá nhân người học với nhu cầu của tổ chức sử dụng lao động Nói cách khác, khi xác định nhu cầu đào tạo CBQLGD, phải nhận biết được sự tích hợp và tổng hoà giao thoa giữa nhu cầu của người học với nhu cầu lao động của các tổ chức sử dụng nhận lực giáo dục có trình độ đào tạo về chuyên ngành QLGD

Phương thức đáp ứng NCXH về đào tạo CBQLGD là phải dựa trên cơ sở

quan điểm và đường lối lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về quản lý nguồn nhân lực và công tác tổ chức cán bộ; nhằm tìm ra các giải pháp triển khai đào tạo một cách khả thi, để phối hợp được tối đa năng lực của các CSĐT, năng lực của mỗi cá nhân người học, với sự tham gia của các tổ chức sử dụng CBQLGD

Qua phân tích trên, có thể nhận biết cơ cấu NCXH về đào tạo chuyên

ngành QLGD bao gồm các thành tố chủ yếu:

1) Nhu cầu hiểu biết của người học

Nhu cầu hiểu biết của người học theo các trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ

chuyên ngành QLGD có cơ cấu:

- Nhu cầu được học

Nhu cầu được học phản ánh những đòi hỏi của người học được tiếp cận và

được lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng về giáo dục, QLGD nói chung và quản lý

Trang 26

một CSGD (nhà trường) nói riêng; để họ có có tiềm lực hành động và thái độ tốt nhất trước yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực QLGD nước nhà Nói cụ thể hơn,

ở đây là những mong muốn của người học về chuẩn đầu vào, về tổ chức triển khai quá trình đào tạo ở các CSĐT, có phù hợp với trình độ và năng lực hiện

có và phù hợp với hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh công tác của họ hay không

- Nhu cầu học được

Nhu cầu học được phản ánh những đòi hỏi về hiểu biết (hiểu theo nghĩa

“học để biết”) của người học về lý luận giáo dục và lý luận QLGD, thực tiễn

giáo dục và thực tiễn QLGD, các kỹ năng tác nghiệp cần được hình thành và cần phải rèn luyện để thích ứng được với nhu cầu nguồn nhân lực QLGD của xã hội Nói cụ thể hơn, ở đây là những đòi hỏi của người học ở mục tiêu, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo, cơ sở vật chất và thiết bị kỹ thuật đào tạo (CSVC&TBKT đào tạo), phương thức đánh giá kết quả và kiểm định chất lượng đào tạo, các chính sách sử dụng họ khi họ đã tốt nghiệp một trình độ đào

tạo Nhu cầu học được của người học cũng chứa đựng nhu cầu lao động của họ (hiểu theo nghĩa “học để làm”)

Việc phân định hai dạng nhu cầu được học và học được của người học nêu

trên chỉ là tương đối, vì trong thực tiễn hai dạng nhu cầu đó luôn luôn đan xen, lồng ghép vào nhau một cách chặt chẽ

2) Nhu cầu lao động của các tổ chức sử dụng nhân lực đã qua đào tạo các trình độ của chuyên ngành QLGD

Nhu cầu lao động của các tổ chức sử dụng nhân lực có cơ cấu:

- Nhu cầu số lượng nhân lực được đào tạo chuyên ngành QLGD là sự

phản ánh những đòi hỏi khách quan về số lượng người đã được đào tạo chuyên

ngành QLGD mà các tổ chức sử dụng nhân lực giáo dục cần phải có

- Nhu cầu cơ cấu nhân lực được đào tạo chuyên ngành QLGD là sự

phản ánh những đòi hỏi khách quan về cơ cấu tuổi, giới và trình độ những người

đã đào tạo chuyên ngành QLGD mà tổ chức sử dụng nhân lực cần phải có

- Nhu cầu chất lượng nhân lực được đào tạo chuyên ngành QLGD là sự

phản ánh những đòi hỏi khách quan về phẩm chất và năng lực của từng người đã

Trang 27

đào tạo chuyên ngành QLGD tướng ứng với từng học vị chuyên ngành QLGD của họ trong tổ chức Nhưng phẩm chất và năng lực của những người đó được

đối chiếu với chuẩn CBQLGD, cho nên nó còn là sự phản ánh những đòi hỏi của

các tổ chức sử dụng nhân lực giáo dục về mục tiêu, nội dung, chương tình, hình thức, CSVC&TBKT đào tạo, phương thức đánh giá kết quả và kiểm định chất lượng đào tạo của các CSĐT và những chính sách sử dụng đội ngũ này

Chú ý: Nhu cầu hiểu biết của người học và nhu cầu lao động của các tổ

chức sử dụng nhân lực và chuẩn CBQLGD nêu trên là cơ sở cho các cơ quan

QLGD các cấp, các CSGD và các CSĐT thiết lập quy hoạch và kế hoạch đào tạo CBQLGD nói chung và đào tạo chuyên ngành QLGD nói riêng trên cơ sở giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa nhu cầu hiểu biết của cá nhân người học với nhu cầu sử dụng lao động và năng lực của các CSĐT

Triển khai một hoạt động xã hội được hiểu là mở rộng hoạt động đó theo

một lộ trình, trên một phạm vi, với một quy mô phù hợp với cơ sở lý luận và thực tiễn của sự vận động phát triển xã hội

Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh,

năm 1999, tại trang 610 có dẫn luận tới 11 nghĩa về “giải”, trong đó: “giải được hiểu là phân tách cho rõ lẽ, rõ sự (ví dụ: tường giải có nghĩa là giải nghĩa tường tận, điều giải có nghĩa là phân tách ra từng điều, đưa ra ý kiến để người khác hiểu rõ được căn nguyên vấn đề gọi là kiến giải, đề xuất với người khác cách tháo gỡ một khó khăn là khuyến giải, khuyên người khác làm đúng một điều gì

đó gọi là khuyên giải); cởi ra, tháo gỡ ra cũng là giải (ví dụ: cố kết bất giải là

quấn chặt không cởi ra được, không tháo gỡ được) Cũng theo Tự điển đã dẫn,

“pháp” được hiểu là cách làm, cũng có thể hiểu là phép hay thuật

Nhìn chung, theo Tự điển này, giải pháp được hiểu là cách thức tháo gỡ

những cố kết (khó khăn) một cách rõ lẽ, rõ sự

Theo triết học Mác-Lênin thì mâu thuẫn, khó khăn và bất cập là đặc thù mang tính quy luật tất yếu của sự vận động phát triển xã hội; phương pháp luận để

Trang 28

tạo ra động lực cho sự phát triển xã hội là giải quyết mâu thuẫn, tháo gỡ những khó khăn (cố kết), khắc phục những bất cập nảy sinh trong sự vận động đó

Như vậy, có thể hiểu giải pháp là cách thức tháo gỡ các mâu thuẫn, hoặc

tháo gỡ các khó khăn, khắc phục các bật cập

Cần phân biệt hai thuật ngữ “giải pháp” và “biện pháp” Cũng trong Tự điển nói trên, tại trang 669, có giải thích: biện là phân tách đúng hoặc sai một sự vật, hiện tượng; nghĩa là xem xét các sự vật, hiện tượng rồi chia rành rẽ ra đúng,

sai, xấu, tốt hay phải chăng; không biết sự đúng hay sai, tốt hay xấu của một sự

vật, hiện tượng là không có biện; tranh luận bằng lời nói, bằng văn chương để hiểu rõ cái hay, cái dở của một sự vật, hiện tượng cũng là biện (ví dụ tranh biện, biện bác, phản biện) Như vậy, “biện pháp” thực hiện một hoạt động nào đó

được hiểu như việc xem xét cụ thể các mặt đúng hoặc sai, tốt hoặc xấu của hoạt động đó ra sao, để từ đó chỉ ra làm theo cách nào sẽ tốt hơn, đúng hơn Ví dụ:

nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại một CSGD nào đó thì phải

xem xét người quản lý CSGD đó đã làm cái gì, làm như thế nào và làm như vậy thì đúng, sai, tốt, xấu ra sao; từ đó đi đến kết luận là phải làm như thế nào thì đúng

hơn và tốt hơn Giải pháp có khác biệt một cách tương đối với biện pháp ở chỗ: một bên (giải pháp) là phải tìm ra được cách giải quyết những mâu thuẫn, tháo

gỡ những cố kết (khó khăn), khắc phục các bất cập để tạo ra động lực cho sự phát

triển; còn bên kia (biện pháp) là việc tổng hợp (tổng kết) các cách làm đã có và

đánh giá cách làm nào đúng và tốt, cách làm nào là sai và xấu Nói cách khác khi

đề xuất giải pháp là phải chỉ ra được mẫu thuẫn hoặc những khó khăn, bất cập;

đồng thời chỉ ra cách giải quyết mâu thuẫn, tháo gỡ những khó khăn, khắc phục

những bất cập, để tạo ra động lực cho sự phát triển; còn khi đề xuất biện pháp là

tổng hợp các cách làm đã có và chọn lấy cách làm đúng, làm tốt và loại bỏ những cách làm sai, làm xấu; đồng thời bổ sung cách cách làm mới Trong thực tiễn, khi

nghiên cứu để đề xuất giải pháp quản lý hoặc biện pháp quản lý nhiều tác giả vẫn

lồng ghép những nội hàm của hai cụm thuật ngữ này với nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu và ngữ cảnh sử dụng chúng

Chính vì các lý lẽ trên, có thể hiểu:

Trang 29

- Giải pháp triển khai một hoạt động xã hội là cách thức giải quyết các

mâu thuẫn, hoặc tháo gỡ các khó khăn, khắc phục các bật cập nảy sinh từ việc

mở rộng hoạt động đó theo một lộ trình, trên một phạm vi, với một quy mô phù hợp cơ sở lý luận và thực tiễn của sự vận động xã hội

- Giải pháp triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH là cách thức giải

quyết các mâu thuẫn, hoặc tháo gỡ các khó khăn, khắc phục các bật cập nảy sinh

từ việc mở rộng hoạt động đào tạo đó theo một lộ trình, trên một phạm vi, với một quy mô phù hợp cơ sở lý luận và thực tiễn NCXH về đào tạo CBQLGD

Nói cách khác là tường giải một cách rõ lẽ, rõ sự cách thức giải quyết những

mâu thuẫn, tháo gỡ những khó khăn (cố kết), khắc phục những bất cập trong mối

quan hệ biện chứng giữa thực trạng triển khai đào tạo CBQLGD với NCXH về

đào tạo CBQLGD trước yêu cầu phát triển giáo dục và phát triển KT-XH

1.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TRIỂN KHAI ĐÀO ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUẢN

LÝ GIÁO DỤC THEO NHU CẦU XÃ HỘI

1.2.1 YÊU CẦU MỚI VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Yêu cầu mới về phát triển giáo dục và đổi mới QLGD là yếu tố định hướng cho nhận thức về sự tất yếu phải triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

Giáo dục vốn có một vai trò xuyên suốt lịch sử là cơ chế giữ gìn và phát triển văn hoá thông qua truyền thụ và lĩnh hội tri thức nhân loại Tuy nhiên, sự phát triển thần kỳ về KT-XH của Nhật Bản, tiếp đến việc ra đời của các “con rồng Đông Á” và sự tăng trưởng ngoạn mục về KT-XH của Trung Quốc trong

những thập kỷ qua đã cho thấy một vai trò mới của giáo dục là động lực phát

triển kinh tế thông qua phát triển vốn con người [26]

Tư duy phát triển của đông đảo các quốc gia trong vài thập kỷ cuối của thế

kỷ 20 là cách tiếp cận kinh tế đối với giáo dục, trong đó con người được nhìn nhận chủ yếu là phương tiện để tăng trưởng kinh tế Do tác động tiêu cực của cách tiếp cận này đối với tiến bộ và công bằng xã hội, nên vào đầu những năm

Trang 30

1990 đã có bước chuyển trong tư duy phát triển KT-XH của các quốc gia Mô hình phát triển kinh tế thuần tuý được thay thế bởi mô hình phát triển con người

Đó là sự phát triển mà trong đó con người không chỉ là phương tiện mà chủ yếu

và trước hết là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế Trong khi đó giáo dục không chỉ tạo ra vốn con người mà còn tạo ra vốn xã hội Như vậy, giáo dục có thêm

vai trò mới là thành phần của sự phát triển con người và là chìa khoá để giải

quyết các vấn đề xã hội

Đến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, tư duy phát triển kinh tế lại có bước tiến quan trọng hơn Đó là sự vận động của các hầu hết các quốc gia đã hướng về

kinh tế tri thức Nền kinh tế này được xây dựng và vận hành trên cơ sở 4 “cột đỡ”:

thể chế kinh tế, giáo dục – đào tạo, sáng tao – canh tân và hạ tầng công nghệ

Chính vì vậy, giáo dục có vai trò vừa là động lực cho việc vận hành nền kinh tế

tri thức, vừa là hạ tầng xã hội cho việc hình thành một xã hội tri thức [26]

2) Yêu cầu mới về phát triển giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục

Sự xuất hiện các tác động mới mang tính toàn cầu có khả năng chi phối xu thế vận động và phát triển của giáo dục của các quốc gia trên thế giới chính là

quá trình toàn cầu hoá Điều đó đặt ra cho giáo dục nhiệm vụ chuyển trọng tâm

đào tạo từ chiều sâu sang diện rộng để người học không phải học chỉ để biết, để

hành, để làm người mà còn học để chung sống và đủ sức đương đầu với cạnh tranh và hợp tác Cùng với đặc điểm trên, nền kinh tế sản sinh, phổ biến và sử dụng tri thức để thúc đẩy tăng trưởng và sức cạnh tranh hiên nay đã trở thành động lực của phát triển xã hội Nhưng do sự “sinh sôi” và cùng với nó là sự

“chết đi” của tri thức diễn ra hết sức nhanh trong thời đại ngày nay, nên cách học một lần để dùng cả đời không còn nữa Điều đó đặt ra cho giáo dục phải

chuyển từ phương thức giáo dục học đường mang tính truyền thống sang phương thức giáo dục suốt đời trong một xã hội học tập

Gắn liền với quá trình toàn cầu hoá và hình thành kinh tế tri thức là cuộc

cách mạng về công nghệ thông tin và truyền thông Cuộc cách mạng này càng

ngày càng làm cho mọi mặt của đời sống KT-XH được phát triển và phụ thuộc

nhiều vào nó Điều đó, buộc giáo dục phải tư duy lại những quan niệm truyền

Trang 31

thống về nhà trường, CBQLGD, nhà giáo, người học để nắm bắt, cập nhật, khai

thác những lợi thế do tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông đem lại Trong bối cảnh thế giới ngày nay, giáo dục toàn cầu có sự thống nhất về xu thế vận động và phát triển Đó là các xu thế: phổ cập hoá giáo dục phổ thông; đại chúng hoá giáo dục đại học; xây dựng xã hội học tập; đa dạng hoá, dân chủ hoá, quốc tế hoá giáo dục; và vấn đề mẫu chốt nhất là nâng cao chất lượng giáo

dục Chính những xu thế trên đã xuất hiện triết lý quản lý sự thay đổi và từ triết

lý này đã đẫn đến những nhu cầu nhận thức mới của các CBQLGD về kiến thức,

kỹ năng so với những gì họ đã được chuẩn bị trước đây [26]

Những yêu cầu mới về phát triển giáo dục và đổi mới QLGD toàn cầu (trong đó có Việt Nam) chính là xuất phát điểm của việc nảy sinh nhu cầu đào

tạo CBQLGD giai đoạn hiện nay; bởi lẽ từ yêu cầu mới về phát triển giáo dục

dẫn đến yêu cầu mới về mẫu hình nhân cách của CBQLGD, tiếp đó dẫn đến NCXH (bao hàm cả nhu cầu hiểu biết và nhu cầu lao động) về đào tạo CBQLGD Cá nhân có nhu cầu được đào tạo cơ bản hoặc đào tạo nâng cao là do yêu cầu của công việc mà họ phải đảm nhận trước vai trò mới của giáo dục và yêu cầu mới về phát triển giáo dục Các cơ quan QLGD và các CSGD có nhu cầu về cử cán bộ, nhân viên đi đào tạo xuất phát từ yêu cầu cần vận hành hiệu quả hệ thống giáo dục trước yêu cầu mới về vai trò giáo dục và yêu cầu mới về phát triển giáo dục

Như vậy, yêu cầu mới về phát triển giáo dục và đổi mới QLGD là yếu tố định

hướng cho nhận thức về sự tất yếu phải triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

1.2.2 LUẬT PHÁP, CHÍNH SÁCH VÀ CÁC QUY CHẾ ĐÀO TẠO

Luật pháp, chính sách, quy chế đào tạo và quy chế tuyển sinh là yếu tố tiên quyết, có tác dụng điều chỉnh và kích cầu triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH Thời đại ngày nay, mọi nhà nước pháp quyền trên thế giới đều quản lý mọi hoạt động xã hội bằng luật pháp Trên cơ sở quy định của luật pháp, các đảng cầm quyền, các chính phủ đưa ra các quan điểm, các chủ trương lãnh đạo; thiết lập các chính sách quốc gia, chính sách địa phương để quản lý các hoạt động xã

Trang 32

hội; đồng thời đưa ra các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, các giải pháp và các quyết định quản lý nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chính yếu của xã hội

Bối cảnh phát triển KT-XH và các yêu cầu phát triển giáo dục toàn cầu nêu trên tạo nên các nhu cầu cấp thiết về nhân lực lao động xã hội nói chung và nhân lực QLGD nói riêng Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đổi mới lãnh đạo và quản

lý giáo dục bằng luật pháp, bằng chủ trương, đường lối, chính sách phát triển KT-XH và phát triển giáo dục Trong đó chú trọng vào đào tạo nguồn nhân lực giáo dục (đội ngũ nhà giáo và CBQLGD) theo nhu cầu mới của xã hội

Luật pháp, quan điểm, chủ chương, chính sách phát triển KT-XH vừa có tính định hướng chỉ đạo phát triển và đổi mới QLGD, vừa có tính điều chỉnh để mọi hoạt động giáo dục mang lại hiệu quả cao Tính định hướng, tính chỉ đạo để triển khai công tác đào tạo CBQLGD theo NCXH ở nước ta đã thể hiện rõ trong Luật Cán bộ - công chức, Luật Giáo dục, trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng

và Nhà nước ta Cụ thể:

- Luật Giáo dục 2005 (Luật số 38/ 2005, QH XI của Quốc hội Nước cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI) quy định: “CBQLGD giữ vai trò quan

trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục CBQLGD phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQLGD, bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục”[Điều 16]

- Luật Cán bộ - công chức (Luật số số 22/2008/QH XII của Quốc hội Nước

cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) quy định “cán bộ, công chức được đào tạo,

bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ” [Khoản 4, điều 11]; Luật này còn quy định rõ chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức, nội dung, chương trình, hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng; trách nhiệm của cơ quan,

tổ chức, đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công chức; kinh phí; trách nhiệm và quyền lợi của công chức trong đào tạo, bồi dưỡng

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công

Trang 33

nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã đề cập đến đổi mới công tác QLGD, đến đào tạo và bồi dưỡng CBQLGD [tr 27, 30-32] Cho đến nay, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X, cũng nhắc lại và nhấn mạnh việc kiểm điểm thực hiện Nghị quyết TW 2 khoá VIII về phát triển GD&ĐT, trong đó có việc đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nhiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có ghi rõ “xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại cán bộ” và chỉ ra việc “kiện toàn hệ thống bộ máy, nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”[tr 97-81]

- Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về “xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD” đã ghi rõ: Củng cố nâng cao chất lượng hệ thống các trường sư phạm, các trường CBQLGD; Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, CBQLGD để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, CBQLGD; Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và CBQLGD; Xây dựng và hoàn thiện một số chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà giáo và CBQLGD; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD

- Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính

phủ về việc phê duyệt Đề án “xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” đã nêu rõ mục tiêu tổng quát,

các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp và nguồn vốn thực hiện Đề án

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã khẳng định

“Bước tiến của công cuộc đổi mới và phát triển KT-XH phụ thuộc một phần rất quan trọng vào ý chí và năng lực tổ chức thực hiện, trong đó, nhân tố con người – cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống công quyền

và của doanh nghiệp - có vai trò quyết định [18; tr 182] Một trong 8 nhiệm vụ chủ yếu về phát triển KT-XH đến năm 2010 đã ghi trong Nghị quyết Đại hội đại

Trang 34

biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta là: “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức” [18; tr 187]

- Quyết định số 770/QĐ-TTg ngày 23/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước giai đoạn 2008-2010 là một quyết định chỉ đạo trực tiếp công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính nhà nước

- Quyết định số 2100/QĐ-BGD&ĐT ngày 27/02/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc phê duyệt Chương trình công tác năm 2009 của Bộ GD&ĐT có ghi: “Triển khai mạnh mẽ yêu cầu tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học theo NCXH; Xây dựng và triển khai đề án đào tạo theo NCXH giai đoạn 2009 – 2015;

Tổ chức triển khai kết luận tại các hội thảo quốc gia về đào tạo theo NCXH phục

vụ cho các ngành kinh tế trong điểm”

- Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều quy chế để quy định cụ thể để điều chỉnh hoạt động đào tạo trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Cụ thể, trong 10 năm trở lại đây có một số văn bản:

+ Quyết định số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy”; Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về ban hành “Quy

chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”

+ Quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT, ngày 8/6/2000 về ban hành Quy chế đào tạo sau đại học; Quyết định số 02/QĐ/2001/BGD&ĐT, ngày 29/01/2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về ban hành Quy chế tuyển sinh sau đại học; Quyết định số 19/2002/QĐ-BGD&ĐT, ngày 09/4/2002 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về sửa đổi, bổ sung Quy chế tuyển sinh sau đại học; Quyết định số 16/2003/QĐ-BGD&ĐT, ngày 09/4/2003 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về sửa đổi bổ sung quy chế tuyển sinh sau đại học; Quyết định số 11/2004/QĐ- BGD&ĐT ngày 21/4/2004 về sửa đổi bổ sung một số điều trong quy chế tuyển sinh sau đại học

+ Riêng trong năm 2008 và đầu năm 2009, Bộ GD&ĐT đã ban hành

Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ (kèm quyết định số 4/2008/QĐ-BGDĐT ngày

Trang 35

05/8/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) và Thông tư số 08/2009/TT-BGDĐT, ngày 21/4/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy

chế đào tạo trình độ thạc sĩ ban hành kèm theo quyết định số 45/QĐ-BGDĐT nói

trên; “Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ”(kèm Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT,

ngày 07/5/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)

- Chính sách sử dụng nhân lực sau đào tạo là yếu tố kích cầu trong triển

khai đào tạo CBQLGD theo NCXH Đây là một vấn đề mang ý nghĩa chính sách

xã hội và ý nghĩa về mặt tạo động lực cho cá nhân người học cũng như cho CSĐT Việc được bố trí công việc và cương vị đúng với năng lực thực chất của người được đào tạo cũng chứa đựng sự đáp ứng nhu cầu được đào tạo của họ và

cũng là phương thức kích cầu trong đào tạo CBQLGD Với trình độ cử nhân,

người học được các cơ quan QLGD và CSGD sử dụng (hoặc tuyển dụng đối với những người chưa từng làm việc) là một phương thức đáp ứng nhu cầu lao động của người học và kích cầu đào tạo trong xã hội Đối với những người đang là CBQLGD, khi họ có học vị cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ mà được bổ nhiệm nhận những cương vị quản lý mới phù hợp hơn sẽ thể hiện rõ mức độ đáp ứng nhu cầu người học, nhu cầu lao động của người học và của các cơ quan QLGD hoặc

CSGD; đồng thời cũng là một trong những việc mang tính kích cầu đào tạo

CBQLGD Ngoài việc sử dụng và bổ nhiệm CBQLGD nêu trên, các chính sách

hỗ trợ thời gian và kinh phí cho người học trong thời gian đi học, chế độ lượng

và phụ cấp lương đối với CBQLGD khi họ tốt nghiệp một trình độ đào tạo mới

sẽ là yếu tố kích cầu và cũng mang ý nghĩa đáp ứng nhu cầu người học; đồng thời cũng là động lực thúc đẩy họ làm việc tốt hơn

Như vậy, luật pháp, chính sách, quy chế đào tạo là yếu tố tiên quyết, có tác

dụng điều chỉnh và kích cầu đối với triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

1.2.3 CHUẨN CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ DỰ BÁO NHU CẦU XÃ HỘI

VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuẩn CBQLGD và dự báo NCXH về đào tạo CBQLGD là yếu tố cơ sở để xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và lộ trình triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

Trang 36

Chuẩn CBQLGD là các quy định về phẩm chất và năng lực cần phải có của CBQLGD để họ đảm đương được các công việc được giao khi họ đảm đương trách nhiệm về QLGD trong các cơ quan QLGD hoặc các CSGD Những phẩm chất và năng lực cần thiết của CBQLGD phần nhiều do đào tạo, bồi dưỡng Mặt khác nó còn do quá trình tích luỹ từ thực tiễn công tác của họ

Xây dựng chương trình đào tạo theo từng trình độ của chuyên ngành QLGD như thế nào, để sau khi tốt nghiệp, những CBQLGD đương chức hoặc những người sẽ làm CBQLGD trong tương lai có được các phẩm chất và năng lực theo đúng chuẩn từng loại CBQLGD là vấn đề đặt ra cho các CSĐT, cho các tổ chức

sử dụng CBQLGD và cho cả người học Cả ba thành phần trên phải cùng phối hợp để xác định mục tiêu, xây dưng chương trình, lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo để sản phẩm đào tạo đạt các chuẩn CBQLGD

Ở mọi quốc gia, việc trang bị những tri thức, kỹ năng, thái độ một cách có

hệ thống nhằm chuẩn bị cho nguồn nhân lực xã hội thích nghi được với cuộc sống và có năng lực đảm nhận một sự phân công lạo động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người là một tất yếu khác quan trong quản lý xã hôi Như vậy, đào tạo nguồn

nhân lực đất nước nói chung và đào tạo CBQLGD theo NCXH là được xem là

một triết lý Nói cách khác những đòi hỏi của xã hội về số lượng, cơ cấu và nhân

cách (chuẩn) nguồn nhân lực đã đặt ra cho công tác đào tạo phải xác định mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức và lộ trình triển khai như thế nào để đáp ứng với sự phản ánh khách quan các đòi hỏi của xã hội một cách phù hợp với trình độ phát triển KT-XH trong từng thời kỳ lịch sử

Để nắm bắt chính xác NCXH về đào tạo CBQLGD, trước hết cần phải có

những nghiên cứu dự báo về sử dụng CBQLGD Trên cơ sở của kết quả dự báo

NCXH về số lượng, cơ cấu, trình độ đội ngũ nhân lực giáo dục có trình độ đào tạo theo chuyên ngành QLGD; Bộ GD&ĐT xác đinh và giao chỉ tiêu, các CSĐT xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức và thiết lập lộ trình triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH trong từng thời kỳ cụ thể

Trang 37

Như vậy, chuẩn CBQLGD và dự báo NCXH về đào tạo CBQLGD là yếu tố

cơ sở để xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và lộ trình triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

1.2.4 CHƯƠNG TRÌNH, GIÁO TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

- Chương trình, giáo trình, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo là yếu tố quyết định chất lượng quá trình triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH Trong quá trình đào tạo, khi đã có mục tiêu đào tạo thì chương trình và giáo trình đào tạo là phương tiện để đạt tới mục tiêu đó Chương trình và giáo trình đào tạo CBQLGD nói chung và đào tạo chuyên ngành QLGD nói riêng phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu:

+ Mục tiêu đào tạo phải thể hiện rõ các chuẩn về kiến thức, yêu cầu kỹ năng và thái độ phải có của người học Những kiến thức, kỹ năng và thái độ quy định trong mục tiêu đó phải xuất phát từ NCXH, tức là phù hợp với những đòi hỏi khách quan của xã hội về chuẩn phẩm chất và năng lực của CBQLGD Nói cách khác là mục tiêu đào tạo phải thể hiện sự gắn kết hài hoà với NCXH

+ Chương trình đào tạo phải chỉ rõ đối tượng đào tạo mà xã hội đang

có nhu cầu sử dụng, nghĩa là phải phù hợp với NCXH các loại CBQLGD nào

mà xã hội đang có nhu cầu sử dụng

+ Để đảm bảo chất lượng đào tạo (đầu ra), một trong những yêu cầu đào tạo là sự thống nhất về chương trình và nội dung đào tạo trong các CSĐT

+ Chương trình và nội dung đào tạo CBQLGD phải thể hiện rõ được yêu cầu tích cực và tự giác của quá trình tự đào tạo (tự học) của người học, vì kết quả và trình độ đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tự tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất và sự tích luỹ kinh nghiệm của người đó quyết định; chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì hoạt động đào tạo mới có hiệu quả cao

- Phương pháp đào tạo luôn quyết định chất lượng và hiệu quả đào tạo là một chân lý Khác với đào tạo các loại hình nhân lực khác, đào tạo CBQLGD có

Trang 38

đối tượng chủ yếu và phần nhiều là người đang làm việc và đang có chức trách nhất định trong ngành giáo dục Họ đã có phần nào những trải nghiệm thực tiễn

về QLGD (nhất là đối tượng của đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ) Phương pháp đào tạo mà phù hợp với tâm lý và sinh lý người lớn, được đổi mới sẽ giúp cho người học không những nắm vững các kiến thức, có được các kỹ năng và thái độ tốt; mà còn trang bị cho họ các phương pháp tự học và học suốt đời, phương pháp tư duy để giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn công tác QLGD của họ ở mọi môi trường luôn luôn thay đổi

- Hình thức tổ chức đào tạo CBQLGD phù hợp với hoàn cảnh người học sẽ vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu nâng cao trình độ của người học, vừa giúp giải quyết được những khó khăn về bố trí lực lượng lao động cho các CSGD và cho các cơ quan QLGD Đào tạo với hình thức chính quy hay không chính quy, liên thông, tập trung, tại chức hoặc từ xa, đào tạo ở trong nước hay ở ngoài nước, theo niên chế hay hệ thống theo tín chỉ, cũng có tác động không nhỏ tới chất lượng và hiệu quả đào tạo; đồng thời cũng là phương thức khả thi hay không khả thi trong việc đáp ứng NCXH

Như vậy, chương trình, giáo trình, phương pháp và hình thức tổ chức đào

tạo là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo CBQLGD theo NCXH

1.2.5 TÀI CHÍNH, CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ THIẾT BỊ KỸ THUẬT ĐÀO TẠO

Đầu tư tài chính, CSVC&TBKT đào tạo là yếu tố mang tính điều kiện tất

yếu, có tác dụng kích cầu và góp phần tạo nên năng lực đào tạo

Theo nghĩa tổng quát, CSVC&TBKT đào tạo được hiểu là những phương tiện vật chất, kỹ thuật và sản phẩm KH&CN được các CBQL, người dạy và người học trong CSĐT huy động và sử dụng để thực hiện chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu của hoạt động đào tạo Nói cụ thể, kinh phí, đất đại và cơ sở hạ tầng, thư viện, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin, cơ sở thực hành, các thiết bị và phương tiện kỹ thuật dạy học khác, là yếu tố mang tính điều kiện tất yếu và tạo nên năng lực triển khai đào tạo CBQLGD

Trang 39

Ngoài đầu tư nhân lực khoa học, thì đầu tư CSVC&TBĐT của Nhà nước cho công tác đào tạo là một phương thức đầu tư chủ yếu để thoả mãn NCXH đối với đào tạo CBQLGD Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu của nhu cầu đào tạo CBQLGD trong bối cảnh đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, thì việc đầu tư kinh phí của cá nhân người học, của các cơ quan QLGD và của các CSGD một cách hợp

lý cũng là một trong những phương thức nhằm góp phần thoả mãn NCXH về đào tạo CBQLGD

CSVC&TBKT đào tạo nếu được trạng bị đầy đủ, hiện đại, sử dụng có hiệu quả trong các CSĐT cũng góp phần tạo nên năng lực đào tạo của các CSĐT đó

Như vậy, đầu tư tài chính, CSVC&TBKT đào tạo hợp lý là yếu tố mang

tính điều kiện, có tác dụng kích cầu và góp phần tạo nên năng lực đào tạo trong triển khai đào tạo CBQLGD theo yêu cầu xã hội

1.2.6 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Đánh giá kết quả và kiểm định chất lượng đào tạo là yếu tố vừa tạo nên thương hiệu cho CSĐT, vừa đảm bảo chất lượng đào tạo CBQLGD theo NCXH Đánh giá kết quả đào tạo là một trong những thành tố cấu trúc của quá trình đào tạo Kết quả chân thực của việc đánh giá có tác dụng thúc đẩy và điều chỉnh các chủ thể đào tạo (người dạy và người học) nhận biết rõ mức độ lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng của người học; để từ đó tìm kiếm nội dung, đổi mới phương pháp, lựa chọn các hình thức để đạt tới mục tiêu đào tạo một cách có hiệu quả nhất

Đối với mỗi trình độ đào tạo (nói trong đề tài này: cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ) tuy các phương thức và tiêu chí đánh giá có khác nhau, nhưng cái mẫu chốt của hoạt động này là cần so sánh chính xác mức độ lĩnh hội tri thức, mức độ hình thành và làm quen với các kỹ năng, sự hình thành những thái độ cần thiết

có được ở người học với các chuẩn trong mục tiêu đào tạo đã có

Yêu cầu của phương thức, các chuẩn và những tiêu chí để đánh giá kết quả đào tạo phải định trước ngay trong chương trình đào tạo; đồng thời khi định ra chúng, phải nghiên cứu kỹ lưỡng để các chuẩn và tiêu chí thực chất là những đòi hỏi (nhu cầu) của xã hội về nhân cách của từng trình độ và từng loại CBQLGD

Trang 40

Kết quả kiểm định chất lượng đào tạo dựa trên các chuẩn của mục tiêu đào tạo, các cam kết của CSĐT về đảm bảo chất lượng đào tạo được thiết lập trên cơ

sở những đòi hỏi chung của xã hội về nhân cách từng đối tượng đào tạo là yếu tố

có tác động đến chất lượng và hiệu quả đào tạo CBQLGD theo NCXH Mặt khác, mức độ thực hiện các cam kết về đảm bảo chất lượng đào tạo của CSĐT

sẽ tạo nên thương hiệu cho CSĐT đó

Như vậy, đánh giá kết quả đào tạo và kiểm định chất lượng đào tạo là yếu

tố vừa tạo nên thương hiệu cho CSĐT, vừa đảm bảo chất lượng đào tạo CBQLGD theo NCXH

1.2.7 HỆ THỐNG MẠNG LƯỚI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO VÀ NĂNG LỰC CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÓ

Hệ thống mạng lưới các CSĐT và năng lực của các cơ sở đó là yếu tố tiềm lực chủ quan trong triển khai đào tạo CBQLGD theo NCXH

Nhu cầu đào tạo CBQLGD vừa được xuất phát từ nhu cầu hiểu biết (được học và học được) của cá nhân người học, vừa xuất phát từ nhu cầu lao động (sử dụng nhân lực) của các cơ quan QLGD và của các CSGD theo địa danh hành chính, theo vùng miền và lãnh thổ Đối tượng đào tạo chủ yếu là những người đang là công chức, viên chức của ngành giáo dục, cho nên nhu cầu hiểu biết của người học phải phối hợp hài hoà với nhu cầu lao động (việc bố trí người đi học

và bố trí nhân lực công tác của các đơn vị cử người đi học) để phù hợp với điều kiện thời gian và phù hợp với chi phí đi lại của người học Chính vì vậy, một mạng lưới các CSĐT phù hợp với các vùng miền, lãnh thổ sẽ tạo điều kiện cho nảy sinh nhu cầu và cho việc thoả mãn nhu cầu đào tạo CBQLGD

Tư cách pháp nhân của các CSĐT cũng là một trong những yếu tố tác động đến nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu đào tạo CBQLGD theo NCXH Nhìn chung, tư cách pháp nhân về đào tạo CBQLGD thường ấn định trong chức năng và nhiệm vụ của các CSĐT và thể hiện trong quyết định thành lập CSĐT

đó Tư cách pháp nhân đó thường gắn liền với thương hiệu của các CSĐT, thương hiệu đó được hình thành từ năng lực và uy tín thực sự về đảm bảo chất

Ngày đăng: 31/07/2014, 23:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2008), Nhu cầu nhân lực cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam: Một số tiếp cận và giải pháp. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH:thực trạng và giải pháp”; Học viện Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu nhân lực cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam: Một số tiếp cận và giải pháp". Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2008
2. Đặng Quốc Bảo (2008), Đào tạo CBQLGD có trình độ thạc sĩ QLGD: vấn đề và giải pháp; Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH: thực trạng và giải pháp”; Học viện Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo CBQLGD có trình độ thạc sĩ QLGD: vấn đề và giải pháp"; Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2008
3. Lý Bằng và Viên Hạ Huy, Tinh hoa quản lý (Người dịch và biên soạn: Nguyễn Cảnh Chất), NXB lao động - xã hội (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa quản lý (
Nhà XB: NXB lao động - xã hội (2003)
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Quyết định số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT ban hành kèm: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT ban hành kèm: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT bàn hành kèm: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” theo quyết định số 43, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT bàn hành kèm: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT bàn hành kèm: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” theo quyết định số 43, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT bàn hành kèm: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 4/2008/QĐ-BGDĐT ngày 05/8/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về ban hành Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Thông tư số 08/2009/TT-BGDĐT, ngày 21/4/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ ban hành kèm theo quyết định số 45/QĐ-BGDĐT ngày 5/8/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Quyết định số 2100/QĐ-BGDĐT ngày 27/02/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc phê duyệt Chương trình công tác năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2100/QĐ-BGDĐT ngày 27/02/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc "phê duyệt
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ (Ban hành kèm thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT, ngày 07/5/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
11. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2003), Điều lệ Trường Đại học (Ban hành theo Quyết định số 153/ 2003/ QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Trường Đại học
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2003
12. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2004), Quyết định số 09/TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2004)
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2004
13. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2005), Quyết định số 73/2005/QĐ - TTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37/ 2004/ QH khoá XI kỳ họp thứ 6 của Quốc hội về Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 73/2005/QĐ - TTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc "ban hành
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội
Năm: 1997
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội
Năm: 2001
18. Đảng Công sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Công sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội
Năm: 2006
19. Ngô Mạnh Hải (2008), Hệ thống các cơ sở pháp lý về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH: thực trạng và giải pháp”; Học viện Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các cơ sở pháp lý về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; "Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Ngô Mạnh Hải
Năm: 2008
20. Đặng Bá Lãm (2008), Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH: thực trạng và giải pháp”; Học viện Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường." Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo CBQLGD theo NCXH: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Năm: 2008
21. Vũ Hữu Ngoạn (chủ biên), (2001), Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện đại hội IX của Đảng; NXB Chính trị quốc gia – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện đại hội IX của Đảng
Tác giả: Vũ Hữu Ngoạn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Hà Nội
Năm: 2001
22. Lê Đức Ngọc (2004), Giáo dục đại học (Quan điểm và giải pháp), NXB Đại học Quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học (Quan điểm và giải pháp
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia - Hà Nội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Trả lời của 300 sinh viên về nhu cầu học được - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.3. Trả lời của 300 sinh viên về nhu cầu học được (Trang 61)
Bảng 2.4. Trả lời của 150 học viên cao học về nhu cầu học được - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.4. Trả lời của 150 học viên cao học về nhu cầu học được (Trang 63)
Bảng 2.7. Ước tính nhu cầu đào tạo thêm  (ngoài hiện có và đang được đào tạo)   về chuyên ngành QLGD của các Sở GD&ĐT đến năm 2015 - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.7. Ước tính nhu cầu đào tạo thêm (ngoài hiện có và đang được đào tạo) về chuyên ngành QLGD của các Sở GD&ĐT đến năm 2015 (Trang 65)
Bảng 2.5. Số lượng CBQLGD của các Sở GD&ĐT - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.5. Số lượng CBQLGD của các Sở GD&ĐT (Trang 65)
Bảng 2.9. Số lượng CBQLGD của Phòng GD&ĐT - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.9. Số lượng CBQLGD của Phòng GD&ĐT (Trang 66)
Bảng 2.8. Số lượng CBQLGD của các Phòng GD&ĐT - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.8. Số lượng CBQLGD của các Phòng GD&ĐT (Trang 66)
Bảng 2.11. Số lượng CBQLGD và giảng viên của các Trường Sư phạm - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.11. Số lượng CBQLGD và giảng viên của các Trường Sư phạm (Trang 67)
Bảng 2.12. Số lượng CBQLGD và giảng viên của các Trường Sư phạm   đã hoặc đang được đào tạo chuyên ngành QLGD  – tính đến hết năm 2008 - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.12. Số lượng CBQLGD và giảng viên của các Trường Sư phạm đã hoặc đang được đào tạo chuyên ngành QLGD – tính đến hết năm 2008 (Trang 67)
Bảng 2.15. Số lượng CBQLGD của các trường Phổ thông - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.15. Số lượng CBQLGD của các trường Phổ thông (Trang 68)
Bảng 2.16. Ước tính nhu cầu đào tạo thêm  (ngoài hiện có và đang được đào tạo)   về chuyên ngành QLGD của các trường Phổ thông đến năm 2015 - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.16. Ước tính nhu cầu đào tạo thêm (ngoài hiện có và đang được đào tạo) về chuyên ngành QLGD của các trường Phổ thông đến năm 2015 (Trang 68)
Bảng 2.18. Ước tính trung bình năm về nhu cầu đào tạo thêm - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.18. Ước tính trung bình năm về nhu cầu đào tạo thêm (Trang 69)
Bảng 2.17. Số lượng CBQLGD đã có bằng hoặc đang được   đào tạo chuyên ngành QLGD đang làm việc tại các Sở GD&ĐT, - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.17. Số lượng CBQLGD đã có bằng hoặc đang được đào tạo chuyên ngành QLGD đang làm việc tại các Sở GD&ĐT, (Trang 69)
Bảng 2.19. Nguyện vọng của các cơ quan QLGD và các CSGD - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.19. Nguyện vọng của các cơ quan QLGD và các CSGD (Trang 70)
Bảng 2.19. Số lượng sinh viên (SV) đã tốt nghiệp cử nhân (CN) - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.19. Số lượng sinh viên (SV) đã tốt nghiệp cử nhân (CN) (Trang 73)
Bảng 2.21. Số lượng học viên (HV) cao học đã tốt nghiệp thạc sĩ (ThS) - giải pháp triển khai đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội
Bảng 2.21. Số lượng học viên (HV) cao học đã tốt nghiệp thạc sĩ (ThS) (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w