Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, khâu đầu tiên và quan trọng nhất chính là việc xác định thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án đối với từng vụ việc. Sau khi xác định thẩm quyền theo vụ việc và theo cấp, còn cần xác định thẩm quyền theo lãnh thổ để biết được chính xác vụ việc dân sự sẽ được xử tại Tòa án huyện, tỉnh nào. Bên cạnh đó, đương sự cũng có quyền tự lựa chọn Tòa án sẽ thụ lý vụ việc của mình, trong một số trường hợp luật định. Đề tài tiến hành phân tích các qui định hiện hành, chỉ ra ưu điểm và hạn chế còn tồn tại của các qui định. Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các qui định của pháp luật về vấn đề này
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, khâu đầu tiên và quan trọng nhất chính là việc xác định thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án đối với từng vụ việc Sau khi xác định thẩm quyền theo vụ việc và theo cấp, còn cần xác định thẩm quyền theo lãnh thổ để biết được chính xác vụ việc dân sự sẽ được xử tại Tòa án huyện, tỉnh nào Bên cạnh đó, đương sự cũng có quyền tự lựa chọn Tòa án sẽ thụ lý vụ việc của mình, trong một số trường hợp luật định Để làm rõ hơn về vấn đề
này, nhóm số 2 tìm hiểu về “ Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự” trên cơ sở những kiến thức
đã học
NỘI DUNG
I Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ.
1 Khái niệm.
Thẩm quyền dân sự của tòa án được tiếp cận dưới ba góc độ là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của tòa án các cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ Để xác định một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của một tòa án cụ thể nào, đầu tiên phải xác định vụ việc đó có thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án theo loại việc hay không Việc thứ hai cần để xác định thẩm quyền giải quyết thuộc tòa án nào là phải xác định xem vụ việc đó thuộc thẩm quyền của tòa án cấp nào Thứ ba cần dựa trên cơ sở xây dựng thẩm quyền theo loại việc và thẩm quyền theo cấp để xác định trong số tòa án cùng cấp đó thì tòa án nào theo lãnh thổ có thẩm quyền giải quyết
Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ là quyền của một Tòa án cụ thể, trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dân sự và quyền hạn ra các quyết định khi lần đầu tiên giải quyết các vụ việc đó, được xác định dựa trên cơ sở nơi cư trú, nơi có trụ sở của một trong các bên đương sự, nơi có bất
Trang 2động sản hoặc nơi phát sinh sự kiện hoặc các dấu hiệu khác mà pháp luật quy định
2 Nguyên tắc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ
Theo qui định tại Điều 35 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi là BLTTDS), thì việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ gồm hai nguyên tắc là:
Thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, nơi làm việc, trụ sở của bị đơn, người bị yêu cầu.
Theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35 thì đối với các vụ việc dân sự khác không phải là tranh chấp, yêu cầu về bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi có bị đơn, người bị yêu cầu là cá nhân cư trú, làm việc hoặc Tòa án nơi bị đơn, người bị yêu cầu có trụ sở nếu họ là cơ quan tổ chức Đối với các vụ án dân sự này, các bên đương sự cũng có thể thỏa thuận với nhau về việc yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú làm việc, giải quyết theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 135 BLTTDS
Thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản.
Điểm c khoản 1 Điều 135 BLTTDS qui định đối với những tranh chấp, yêu cầu liên quan đến bất động sản sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản Đối với tranh chấp về bất động sản, các bên đương sự không có quyền thỏa thuận về việc yêu cầu Tòa án nơi không có bất động sản giải quyết
3 Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ theo quy định của BLTTDS năm 2004.
Theo Điều 34, 35 BLTTDS 2004, ta có thể xác định chủ thể có thẩm quyền xét xử sơ thẩm bao gồm: Tòa án nhân dân cấp Huyện, Tòa án nhân dân cấp Tỉnh Do đặc thù hệ thống Tòa án nước ta là số lượng Tòa án rất lớn Trên thực tế có rất nhiều vụ việc xảy ra mà rất nhiều Tòa án có thẩm quyền xét xử
Trang 3sơ thẩm Để xác định rõ Tòa án nào có thẩm quyền xét xử sơ thẩm với một vụ án nhất định thì ngoài những quy định tại Điều 33, 34 còn phải dựa vào quy định tại Điều 35 BLTTDS
3.1.Thẩm quyền s ơ thẩm dân sự của T òa án theo lãnh thổ đối với vụ án dân sự
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì: Toà án có thẩm quyền giải
quyết vụ án dân sự là Toà án nơi cư trú, làm việc của bị đơn, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, BLTTDS không qui định về nơi cư trú mà nơi cư trú được qui định ở Bộ luật
dân sự (BLDS) và Luật cư trú (LCT) hiện hành Điều 52 BLDS qui định: “Nơi
cư trú là nơi người đó thường xuyên sinh sống, nếu không xác định được nơi người đó thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú sẽ được xác định là nơi người
đó hiện sinh sống” “Thường xuyên sinh sống” hay “nơi hiện sinh sống” tại
Điều này không đòi hỏi việc phải có đăng ký hộ khẩu thường trú LCT qui
định cụ thể hơn, “nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống, nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú” Vậy nơi cư trú có thể là nơi thường trú hoặc tạm trú của bị đơn Mặt
khác, trong TTDS, bị đơn là người bị động, và thường có tâm lý không muốn hợp tác, nên bị đơn cần được tạo điều kiện thuận lợi nhất để tham gia tố tụng, để thực hiện quyền tự bảo vệ của mình trước Tòa án, đồng thời tạo điều kiện thi hành án sau này, từ đó cũng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn Từ những lý do nêu trên, Tòa án nơi bị đơn cư trú cần được hiểu là Tòa án
nơi có điều kiện thuận lợi nhất để bị đơn tham gia tố tụng Và “Việc xác định nơi cư trú, làm việc… qui định tại Điều 35 BLTTDS được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự” (khoản
5 Điều 8 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP) Qui định này đã góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả nguyên đơn và bị đơn Mặc dù vậy, qui định này còn qui định chung chung nơi cư trú, làm việc mà không có giải thích rõ ràng về ưu tiên Tòa án nơi cư trú hay nơi làm việc hơn Nếu bị đơn (hoặc
Trang 4nguyên đơn) cư trú ở một nơi, làm việc ở một nơi khác thì không có căn cứ pháp luật chắc chắn để giải quyết vấn đề về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ Do vậy, cần có qui định cụ thể hơn cho vấn đề này
Theo điểm b khoản 2 Điều 35 BLTTDS thì: Các đương sự cũng có thể thoả
thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức để giải quyết Qui định này thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự, áp dụng đối với các tranh chấp không liên quan tới bất động sản Theo đó, chỉ khi bị đơn đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn bằng văn bản về việc giải quyết vụ kiện tại Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc thì Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc mới có thẩm quyền giải quyết Đồng
thời, “việc thỏa thuận này không được trái với qui định tại Điều 33 và 34 BLTTDS” ( khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP).
Theo điểm c Khoản 1 Điều 35 khi có tranh chấp về bất động sản thì theo
nguyên tắc, Toà án nơi có bất động sản sẽ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Nếu trong một vụ án dân sự có nhiều Toà có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, thì Toà án nơi BĐS sẽ có thẩm quyền xét xử Quy định này dựa trên cơ sở ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cơ quan bảo vệ công lý trong việc chứng mình, thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể hơn về qui định này, theo đó, tại khoản 4
Điều 9: “Trong vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa kế tài sản,… mà có tranh chấp về bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo qui định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 của BLTTDS” Như vậy, so với Nghị
quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP đã tiến bộ hơn, có xem xét đến yếu tố nội dung tranh chấp chủ yếu trong vụ án dân sự Qui định mới này của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP đã cho phép đối với các vụ án dân sự có tranh chấp liên quan đến bất động sản, nhưng nội dung tranh chấp chủ yếu không phải là bất động sản, ví dụ nội dung tranh chấp chủ yếu lại về hôn nhân gia đình như quyền nuôi con, chế độ cấp dưỡng,… thì Tòa
Trang 5án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở chính (điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS); hoặc theo sự thỏa thuận của các bên đương sự (điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS)
3.2.Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ đối với việc dân sự
Căn cứ vào dấu hiệu về nơi cư trú của đương sự, đồng thời đảm bảo thuận lợi cho Tòa án trong việc giải quyết chính xác vụ việc và thuận lợi cho
người bị yêu cầu trong việc tham gia tố tụng, Khoản 2 Điều 35 BLTTDS qui
định thẩm quyền Tòa án giải quyết việc dân sự theo lãnh thổ được xác định trên cơ sở Tòa án nơi cư trú của người bị yêu cầu Cụ thể như sau:
- Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó; Yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết thì sẽ do Tòa án nơi người bị yêu cầu cư trú giải quyết
- Đối với yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết thì sẽ do Tòa án đã ra tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết giải quyết;
- Đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành ở Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài thì sẽ do Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài giải quyết;
- Đối với yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam thì sẽ do Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm
Trang 6việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết;
- Đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài thì sẽ do Toà án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài giải quyết
- Đối với các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp thì việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh
thổ được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Tại Điều 7 Luật TTTM 2010: “Các bên có thể thoả thuận với nhau Toà án có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu các bên không có thoả thuận lúc đó sẽ dựa vào quy định của pháp luật để xác định Toà án có thẩm quyền Toà án nơi
cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của bị đơn vẫn được ưu tiên”.
Các trường hợp đặc biệt của việc dân sự khi xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm:
Thông thường trong việc dân sự sẽ có người bị yêu cầu, nhưng trong những trường hợp sau, việc dân sự sẽ không xuất hiện người bị yêu cầu Lý do đó là yêu cầu của người yêu cầu không hướng tới một người khác mà là sự yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý:
- Khác với những quy định ở trên, người gửi đơn yêu cầu có thể tự mình lựa chọn Toà án nơi mình cư trú, làm việc hoặc có trụ sở không công nhận bảo án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài không có yêu cầu thì hành tại Việt Nam
- Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn hay yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi
Trang 7con sau khi ly hôn thì sẽ do Tòa án nơi một trong các bên cư trú thoả thuận, làm việc giải quyết;
- Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì sẽ do Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết
- Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thì sẽ do Tòa án nơi cha, mẹ hoặc con cư trú, làm việc giải quyết
- Tòa án nơi phòng công chứng, văn phòng công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Tòa án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật
Như vậy, pháp luật đã qui định riêng cho từng trường hợp xác định thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ, đáp ứng nhu cầu giải quyết đa dạng các quan hệ pháp luật dân sự, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho Tòa án giải quyết chính xác vụ việc và thuận lợi cho đương sự trong việc tham gia tố tụng
3.3 Thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ trong trường hợp đương sự nộp đơn tại nhiều Tòa án khác nhau
Vấn đề này được qui định cụ thể tại khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP
Theo đó, Trong trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự (ví dụ: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 của BLTTDS), thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu
Trang 8cầu, Tòa án phải giải thích cho họ biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được Điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự để họ lựa chọn Cho nên người khởi kiện, người yêu cầu phải cam kết trong đơn khởi kiện hoặc trong đơn yêu cầu là không khởi kiện hoặc không yêu cầu tại các Tòa án khác
Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, nộp đơn yêu cầu tại nhiều Tòa án khác nhau được Điều luật quy định, thì Tòa án đã thụ lý đầu tiên theo thời gian có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Các Tòa án khác, nếu chưa thụ lý thì căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 168 của BLTTDS trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; nếu đã thụ lý thì căn cứ vào điểm
đ khoản 1 Điều 168 và điểm i khoản 1 Điều 192 của BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, xoá tên vụ việc dân sự đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự
4 Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ
Việc xây dựng các quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ được dựa trên hai yêu cầu cơ bản là: Tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án trong việc giải quyết nhanh chóng và chính xác vụ việc dân sự đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự trong việc tham gia tố tụng Việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là việc phân định thẩm quyền sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau Từ khái niệm và đặc điểm thì ta có ý nghĩa của các quy định về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Toà án theo lãnh thổ như sau:
Thứ nhất: đối với đương sự Các quy định về thẩm quyền của Tòa án
theo lãnh thổ là cơ sở pháp lý để nguyên đơn chủ động trong việc xác định được Tòa án mà mình có thể gửi đơn kiện hoặc lựa chọn Tòa án thuận lợi nhất cho mình trong việc tham gia tố tụng Ngoài ra các quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ sẽ giúp đương sự nhanh chóng thực hiện được quyền
Trang 9khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh được việc gửi đơn kiện ra tòa án không có thẩm quyền gây mất thời gian và chi phí Như vậy các quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là một đảm bảo cho việc thực hiện quyền tiếp cận công lý của công dân
Thứ hai: Đối với Tòa án Các quy định về thẩm quyền của Tòa án theo
lãnh thổ là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xác định một vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không, tránh được việc áp dụng không thống nhất trong thực tiễn gây kéo dài thời gian giải quyết cho vụ việc phải chuyển đi chuyển lại giữa các Tòa án, thậm chí bản án, quyết định bị hủy để xét xử lại do vi phạm về thẩm quyền Đồng thời các quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ còn tránh được sự chồng chéo trong việc giải quyết các vụ việc dân sự giữa các Tòa án Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án dân sự, đảm bảo sự phối hợp giữa Tòa án và cơ quan thi hành án trong việc chuyển giao bản án, quyết định, giải thích bản án, quyết định
Ngoài các quy tắc về phân định thẩm quyền theo lãnh thổ được nhà lập pháp xây dựng là cơ sở pháp lý để tránh việc đương sự lạm dụng quyền khởi kiện để cùng một lúc khởi kiện vụ việc ở nhiều Tòa án khác nhau gây ra tình trạng có nhiều Tòa án cùng giải quyết một vụ việc và ra những phán quyết trái ngược nhau, gây mất niềm tin vào cơ quan bảo vệ pháp luật và khó khăn cho công tác thi hành án dân sự sau này
II Quyền lựa chọn Toà án của đương sự
Những trường hợp nguyên đơn được quyền lựa chọn Toà án để giải quyết vụ kiện đều nhằm mục đích đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của công
dân trong quan hệ pháp luật dân sự Các nhà làm luật đã dựa trên căn cứ “tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự dựa vào pháp luật thực hiện quyền tố tụng”
Trang 101 Các đương sự có thể thoả thuận với nhau.
Như đã phân tích ở trên thì quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 35 BLTTDS cũng được coi là một trong các trường hợp thể hiện quyền lựa chọn
Tòa án của đương sự Các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau để chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức để giải quyết vụ án dân sự Việc thoả thuận phải lập thành văn bản trong đó xác định rõ Toà án có thẩm quyền giải quyết; Toà án này phải nằm trong các Toà án có thẩm quyền giải
quyết theo quy định của pháp luật Quy định này phù hợp với nguyên tắc Quyền
tự định đoạt của đương sự, quyền lợi của bị đơn – người bị động trong vụ án dân
sự cũng được bảo đảm
Quy định này đã tạo nhiều thuận lợi cho nguyên đơn, người có yêu cầu trong việc tham giá tố tụng; giúp nguyên đơn, người yêu cầu có lựa chọn được Tòa án phù hợp nhất với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của mình
2 Các đương sự không có thoả thuận với nhau.
Những trường hợp nguyên đơn được quyền lựa chọn Toà án để giải
quyết vụ kiện đều nhằm mục đích đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của công
dân trong quan hệ pháp luật dân sự Các nhà làm luật đã dựa trên căn cứ “tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự dựa vào pháp luật thực hiện quyền tố tụng”.
Các trường hợp nguyên đơn hay người yêu cầu có thể lựa chọn Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được qui định tại Điều 36 BLTTDS Theo đó, nguyên đơn hay người yêu cầu chỉ có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết khi điều kiện qui định tại Điều này xảy ra, trừ những trường hợp Điều này không qui định bất cứ điều kiện nào, ví dụ điểm d khoản 1 Điều 36 BLTTDS, thì Tòa án chấp nhận yêu cầu đó (khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP)
2.1.Vụ án dân sự mà đương sự có quyền lựa chọn toà án.
Các trường hợp nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án được qui định tại khoản 1 Điều 36 BLTTDS