Đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long:...34 2 + Để giữ vững và tăng cường mối quan hệ với khách hàng thì vào nh
Trang 1Luận văn
Đề tài: "TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI"
Trang 21 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại: 3
1.2 Quá trình ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương mại: 4
1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng Thương mại: 6
1.4 Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng Thương mại: 11
1.5 Khái niệm về huy động vốn: 11
1.6 Sự cần thiết của nghiệp vụ huy động vốn: 12
1.7 Các hình thức huy động vốn: 13
1.8 Nguyên tắc quản lý tiền gửi và biện pháp nâng cao nguồn vốn : 18
1.9 Ý nghĩa của việc huy động vốn: 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNGTÍN 21
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội tại Thành Phố Vĩnh Long: 21
2.2 Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín: 24
2.3 Đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long: 34
2 + Để giữ vững và tăng cường mối quan hệ với khách hàng thì vào những dịp như lễ, tết, hội nghị khách hàng, sinh nhật khách hàng thì Ngân hàng đều gửi thư chúc mừng.39 3 + Việc tăng cường và mở rộng quan hệ với khách hàng giao dịch ngoại tệ, vàng, , đã làm cho khoản chi về dịch vụ tăng lên Chính những nguyên nhân trên đã làm cho chi phí dịch vụ tăng lên 39
4 Chi phí khác : chủ yếu bao gồm chi hoạt động quản lý, chi dự phòng, bảo đảm tiền gửi khách hàng Khoản chi này tương đối, năm 2007 là 847 triệu đồng chiếm 4,03% tổng chi năm 2007 , năm 2008 là 959 triệu đồng tăng 13,22% so với năm 2007 tương ứng tăng 112 triệu đồng, năm 2009 là 1.443 triệu đồng tăng 50,47% tương ứng tăng 484 triệu đồng so với 2008 39
2.4 Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long: 41
2.5 Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn: 55
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HUY ĐỘNG VỐN 87
3.1 Phương hướng hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long: 87
3.2 Những thuận lợi khó khăn: 89
3.2.2 Khó khăn: 89
3.3 Biện pháp nâng cao huy động vốn: 90
3.4 Đề xuất kiến nghị: 92
3.5 So sánh lý thuyết và thực tế: 94
PHẦN KẾT LUẬN 96
Trang 31 CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại:
Trong nền kinh tế hàng hóa, có nhiều doanh nghiệp, nhiều đơn vị tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành, nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau Có ngành tạo ra sản phẩm hàng hóa cho xã hội như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, có ngành chỉ làm nhiệm vụ lưu thông phân phối, lại có ngành chỉ thuần túy cung cấp dịch vụ (vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng) Trong đó các Ngân hàng Thương mại hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Tất cả đều góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trong nhiều lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng được coi là một định chế tài chính đặc biệt của nền kinh tế thị trường
Ngân hàng Thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hành hóa Sự phát triển hệ thống Ngân hàng Thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó là kinh tế thị trường thì Ngân hàng Thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Luật tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12
năm 1997, định nghĩa: Ngân hàng Thương mại là một loại hình tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luật này còn có định nghĩa: Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Trang 4Ngân hàng Thương mại tồn tại dưới nhiều dạng sở hữu khác nhau:
- Ngân hàng Thương mại Quốc doanh
- Ngân hàng Thương mại tư nhân
- Ngân hàng Thương mại liên doanh
- Ngân hàng Thương mại cổ phần
- Ngân hàng Thương mại chi nhánh nước ngoài
- …
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Ngân hàng Thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này
mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế
1.2 Quá trình ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương mại:
Ngày nay, trong mỗi quốc gia, toàn bộ hệ thông Ngân hàng đã được
định hình thành hai cấp rõ rệt gồm Ngân hàng Trung ương (Central Bank)
hay còn gọi là Ngân hàng Nhà nước và hệ thống Ngân hàng Thương mại
từ thế kỷ thứ XVIII trở về trước chỉ tồn tại trong nền kinh tế một hệ thống
Ngân hàng duy nhất – Hệ thống Ngân hàng Trung gian (Intermediary
Cung cấp dịch vụ ngân hàng
Nhận tiền gửi Cho vay
- Công ty
- Xí nghiệp
- Hộ gia đình
- Các tổ chức
Trang 5từ đó qua nhiều thế kỷ, hệ thống Ngân hàng đã được định hình.
Các Ngân hàng ra đời ở Ý như: Istituto Bancario Sanpaolo di Torino (1563), Banco di Napoli (1591); ở Hà Lan (Amsterdam Bank) (1600); ở Đức (Nuremberg Bank) (1621); Ngân hàng Anh (Bank of England) (1694), Ngân hàng Anh là Ngân hàng cổ phần nhất thế giới lúc bấy giờ và trở thành Ngân hàng Trung ương của Anh quốc vào 1947 Từ cuối thế kỷ thứ
17 cho đến giữa thế kỷ thứ 18 hàng loạt các Ngân hàng cổ phần tư nhân được thành lập ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ, còn ở Châu Á thì các Ngân hàng ra đời khoảng thế kỷ 19 trở về sau (Trung Quốc 1896, Đông Dương thuộc địa 1875…)
Ở Việt Nam, thời phong kiến chưa có các tổ chức tín dụng, tuy nhiên
có tồn tại vài tổ chức cho vay nặng lãi, các nhà cầm đồ, nhưng nhìn chung, chưa hình thành hệ thống tín dụng như ở các nước Mãi đến năm 1875 mới thành lập Ngân hàng Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (Ngân hàng Đông Dương) Đây là Ngân hàng đầu tiên thành lập ở Việt Nam – để thực hiện việc phát hành tiền, đồng thời thực hiện hoạt động của một Ngân hàng Thương mại Năm 1954 Ngân hàng Đông Dương chấm dứt sự tồn tại và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, thì Nhà nước Việt Nam cũng từng bước xây dựng hệ thống Tài chính – Ngân hàng để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước Ngày 6 tháng 5 năm 1951 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
Trang 6(National Bank of Viet Nam) theo sắc lệnh số 15/LCT của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến 1961 đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (State Bank of Viet Nam – SBV) cho đến nay.
Từ ngày thành lập (6/5/1951) đến 26/3/1988, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoạt động theo mô hình Ngân hàng một cấp: Vừa thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương (Central Bank) vừa thực hiện các hoạt động của một Ngân hàng Thương mại (Commercial Bank)
Từ tháng 4 năm 1998 đến nay, hệ thống mô hình Ngân hàng một cấp chuyển đổi thành hệ thống Ngân hàng hai cấp, trong đó Ngân hàng cấp một
là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ thực hiện chức năng, nhiệm vụ vốn
có của Ngân hàng Trung ương, còn Ngân hàng cấp hai, bao gồm các Ngân hàng Thương mại, các tổ chức tín dụng khác, hoạt động trong lĩnh vực tiền
Ý nghĩa kinh tế của chức năng tạo tiền của các Ngân hàng Thương mại phản ánh trước hết nhu cầu bên trong của chính hệ thống và trong từng
Trang 7Ngân hàng Thương mại riêng lẻ Điều hiển nhiên ai cũng phải thừa nhận là
để có thể hoạt động và đặc biệt cho sự phát triển các hoạt động tín dụng và
đầu tư của các Ngân hàng Thương mại, yêu cầu bản thân các Ngân hàng Thương mại, bằng các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống phải tạo điều kiện cho việc tăng trưởng nguồn vốn, phù hợp với yêu cầu tăng trưởng kinh
tế Hơn thế nữa, năng lực của hệ thống Ngân hàng Thương mại trong việc tạo tiền không chỉ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân các Ngân hàng Thương mại mà còn mang ý nghĩa kinh tế to lớn: với một hệ thống tín dụng năng động có vai trò cực kỳ quan trọng như người mở đầu, người tham gia và có khi là người nâng đỡ và quyết định đối với mọi quá trình sản xuất Nếu tín dụng không tạo ra được tiền nhằm mở ra các quy trình sản xuất, và với các hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp không thể tiến hành trôi chảy các quá trình sản xuất và do đó không tạo được nguồn tích lũy cần thiết cho chính bản thân Ngân hàng Thương mại
và cho nền kinh tế Đặc biệt cần lưu ý rằng, trong mỗi một doanh nghiệp và mỗi một thành viên trong xã hội, quá trình tích lũy và sử dụng vốn luôn diễn ra không giống nhau, lúc tạm thời thừa và có lúc xuất hiện nhu cầu bổ sung vốn Góp phần khắc phục tình hình này, vai trò của các Ngân hàng Thương mại chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm sử dụng tốt nhất vốn tạm thời thừa của các doanh nghiệp và cá nhân và hơn nữa là của nền kinh
tế và cũng đồng thời bổ sung kịp thời nhu cầu vốn khi thiếu
Mặc khác, xét ở mức độ nền kinh tế, bao giờ và lúc nào cũng phải tôn trọng một quy tắc quan trọng là cung tiền tệ phải vừa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế dự kiến Nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh, tất yếu lạm phát sẽ xuất hiện và những hậu quả của nó đương nhiên nền kinh tế phải gánh chịu Trong ý nghĩa đó, các Ngân hàng Thương mại có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách này, trong mối quan hệ với hệ thống Ngân hàng Trung ương ở mỗi nước Tín dụng Ngân hàng trong trường hợp này thực hiện vai trò của nó như là một
Trang 8kênh dẫn để thông qua đó, tiền cung ứng được tăng lên hoặc giảm xuống phù hợp với chính sách tiền tệ quốc gia.
1.3.2 Thanh toán:
Bên cạnh chức năng tạo tiền, các Ngân hàng Thương mại còn thực hiện một chức năng quan trọng khác là đưa ra các cơ chế thanh toán và thực hiện trong thực tế chức năng đó Ở các nước phát triển và các nước đang phát triển, phần lớn công tác thanh toán được thực hiện thông qua séc
và phần lớn séc ở trong nước được thực hiện bằng phương pháp bù trừ, thông qua hệ thống Ngân hàng Thương mại Nếu việc phát hành séc để rút tiền từ tài khoản tiền gửi và trong cùng một Ngân hàng thì chỉ là một động tác làm chuyển dịch vốn từ tài khoản này sang một tài khoản khác và chỉ nếu 2 Ngân hàng trong cùng một địa bàn, buộc phải được thực hiện thông qua thanh toán bù trừ Đương nhiên, quá trình này sẽ trở nên phức tạp, tốn thời gian và chi phí giao dịch, khi việc thanh toán bù trừ lại diễn ra giữa các Ngân hàng thuộc các địa bàn khác nhau trong nước Một công việc phức tạp như vậy chỉ có thể được tiến hành thông qua các Ngân hàng đại lý của
họ hoặc bằng phương pháp thanh toán bù trừ qua Ngân hàng Nhà nước tại
đó, về phương pháp thanh toán cũng giống như thông qua các Ngân hàng đại lý Thực ra, khi mà hệ thống Ngân hàng đại lý phát triển, khối lượng thanh toán bù trừ thông qua Ngân hàng Nhà nước sẽ giảm đi một cách tương ứng Ở Mỹ, trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển của các Ngân hàng đại lý, việc bù trừ thông qua hệ thống dự trữ liên bang khu vực chỉ chiếm không đầy một nửa trong hệ thống thanh toán
Trong quá trình hiện đại hóa các phương pháp công nghệ, các Ngân hàng Thương mại từng bước trang bị đầy đủ các máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật khác Do đó sẽ từng bước làm cho quá trình thanh toán bù trừ được thực hiện nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao Trong các công nghiệp hóa, hiện tại có những đổi mới quan trọng và được đưa ra ứng dụng, theo hướng hoạt động Ngân hàng không dùng séc hoặc
Trang 9mở rộng hơn, nền kinh tế không dùng séc, nghĩa là họ sử dụng hình thức chuyển tiền bằng điện tử và chính điều này đưa đến việc không sử dụng séc
Ngân hàng, vốn đã từng được sử dụng rộng rãi và trên cơ sở đó loại khỏi các công việc có liên quan trong việc phát hành sử dụng séc Các nước nói trên đã đưa vào thực nghiệm một hệ thống sử dụng thẻ, giống như thẻ tín dụng đang được dùng trong các cửa hàng bán lẻ Từ đó họ có thể tiến hành nối mạng các máy tính của các Ngân hàng Thương mại trong nước nhằm thực hiện việc chuyển vốn từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán một cách dễ dàng và nhanh chóng Nét thuận lợi cơ bản của hệ thống này là với một hệ thống vi tình đặt trong các Ngân hàng, thẻ tín dụng có thể được dùng để rút tiền từ một tài khoản nhất định, thực hiện việc ký thác, thanh toán công nợ và chuyển giữa tài khoản tiết kiệm và tài khoản séc của cùng một chủ tài khoản
1.3.3 Huy động tiết kiệm:
Trong số các dịch vụ của Ngân hàng Thương mại, dịch vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối với tất cả dân cư trong nước thuộc các khu vực của nền kinh tế là bằng cách đáp ứng những điều kiện và các công cụ thuận lợi cho việc chuyển và rút tiền tiết kiệm một cách dễ dàng, nhằm thực hiện các mục đích có tính chất xã hội rộng lớn Vì thế mà huy động tiết kiệm đã trở thành một chức năng quan trọng của Ngân hàng Thương mại nhằm tạo điều kiện cho người gửi tiền có được các khoản thu nhập danh nghĩa thông qua lãi suất với mức độ an toàn và hình thức thanh khoản cao Với số vốn huy động được, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và
cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất và vào các mục đích cá nhân khác Phần lớn tiền gửi tiết kiệm đều được thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng Thương mại
1.3.4 Mở rộng tín dụng:
Chức năng chủ yếu và quan trọng bậc nhất của Ngân hàng Thương mại là mở rộng tín dụng, đương nhiên với các điều kiện và nguyên tắc tín
Trang 10dụng, với các khách hàng đáng tin cậy Chức năng tín dụng của các Ngân hàng Thương mại được hình thành từ rất sớm, ngay từ khi hình thành các
Ngân hàng Thương mại Trong thời kỳ này, những người tổ chức các Ngân hàng Thương mại đã luôn tìm kiếm các cơ hội để tiến hành cho vay, coi đó như là một nhu cầu chủ yếu trong việc duy trì và mở rộng hoạt động của mình
Thông qua công tác tín dụng, các Ngân hàng Thương mại đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Các nhà kinh tế thường cho rằng, việc cung ứng vốn tín dụng được coi như là việc thực hiện một trong số sản phẩm của các Ngân hàng Thương mại cùng với các sản phẩm khác Tuy nhiên xét trên ý nghĩa thực
sự của sản phẩm, chúng ta có thể coi đó như là một “sản phẩm đường vòng” hoặc “sản phẩm gián tiếp”, khi đem so sánh với những sản phẩm trực tiếp mà ở đó, sản phẩm đưa ra tiêu dùng được tạo ra bắt nguồn từ việc
sử dụng trực tiếp lao động, đất đai và tài nguyên thiên nhiên Khác với sản phẩm trực tiếp, việc cung ứng vốn tín dụng Ngân hàng cũng tạo ra khả năng hình thành sản phẩm có thể tính toán được, giống như công nghiệp thức ăn phải qua thu hoạch và chế biến Với ý nghĩa của việc so sánh như thế, người ta cho tín dụng Ngân hàng cung ứng cho người dùng cần vốn để mua, chế biến, tổng hợp và cất trữ sản phẩm để sau đó bán trực tiếp cho người tiêu dùng Trong quá trình sản xuất nói trên, từ người sản xuất đến người buôn bán, đến người bán lẻ cuối cùng, đến người tiêu dùng, tín dụng ngân hàng đã tạo ra khả năng thực hiện toàn bộ quá trình kinh tế, cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng: người nông dân nhờ có điều kiện được vay vốn họ có thể mua hạt giống, thức ăn, phân bón và các nhu cầu cần thiết khác cho việc thu hoạch và trồng trọt, tín dụng ngân hàng còn tạo
ra cho họ khả năng mua sắm vật tư, thiết bị, máy móc và thuê mướn lao
Trang 11động Các cửa hàng bán buôn và bán lẻ có khả năng dự trữ và vận chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng không thể không có yếu tố vốn tín dụng
được các Ngân hàng Thương mại cung ứng cho chính các xí nghiệp sản xuất và ngay cả đối với các xí nghiệp vận tải Cuối cùng bên cạnh các hoạt động nhằm tài trợ cho nông nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp, Ngân hàng Thương mại tạo điều kiện cho người tiêu dùng thông qua quỹ tín dụng tiêu dùng Quá trình này được thực hiện bằng việc Ngân hàng Thương mại mở rộng tín dụng tiêu dùng cho việc mua nhà, xe cộ và các trang thiết bị khác
Bên cạnh tín dụng ngắn hạn, Ngân hàng Thương mại còn thực hiện tín dụng đầu tư nhằm mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, cho chính phủ vay trong trường hợp ngân sách bị thiếu hụt, thông qua việc mua các chứng khoán tài chánh công cộng
1.4 Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng Thương mại:
- Nghiệp vụ cho vay.
- Nghiệp vụ cho thuê tài chính
- Nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu
- Nghiệp vụ bảo lãnh
- Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ thanh toán và ủy thác
- …
1.5 Khái niệm về huy động vốn:
Huy động vốn là lượng tiền huy động từ các hoạt động tín dụng như nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng từ có giá, vay của các ngân hàng khác, vay của ngân hàng Trung ương
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý
Trang 12và sử dụng nhưng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu.
1.6 Sự cần thiết của nghiệp vụ huy động vốn:
Trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng Thương mại đóng vai trò “cầu nối” giữa đơn vị thừa vốn và đơn vị thiếu vốn Ngân hàng thực
hiện chuyển vốn từ người thừa vốn đến người thiếu vốn để tài trợ dự án đầu tư sản xuất, kích thích quá trình luân chuyển vốn để tái sản xuất mở rộng
Ngân hàng là môi giới giữa người gửi tiền và người vay tiền, thúc đẩy kinh tế phát triển Việc huy động vốn vừa để cho vay vừa điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán tránh áp lực lạm phát
Huy động vốn là họat động chủ yếu và thường xuyên của Ngân hàng thương mại, vì họat động kinh doanh Ngân hàng không thể dựa vào nguồn vốn của mình mà phải dựa vào nguồn vốn huy động trên thị trường Khi Ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ huy động vốn để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư tức là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, cung ứng các dịch vụ cần thiết cho nền kinh tế
Tuy nghiệp vụ huy động vốn không trực tiếp mang lại lợi nhuận nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng Không có nghiệp vụ huy động vốn xem như không có họat động của Ngân hàng Thương mại Như chúng ta đã biết, một Ngân hàng Thương mại khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như: trụ sở, máy móc thiết bị…chứ không đủ để Ngân hàng thực hiện cấp tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng khác Để có vốn phục vụ cho các họat động này Ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng Do đó, nghiệp
vụ huy động vốn rất quan trọng đối với Ngân hàng cũng như đối với khách hàng
1.6.1 Đối với Ngân hàng thương mại:
Trang 13Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác Không có nghiệp vụ huy động vốn, Ngân hàng thương mại sẽ không có đủ nguồn vốn tài trợ cho họat động của mình Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, Ngân hàng thương mại có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với Ngân hàng Từ đó, Ngân hàng Thương mại có các biện pháp
không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng Có thể nói nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” của Ngân hàng
1.6.2 Đối với khách hàng:
Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối dới Ngân hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng Đối với khách hàng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm
và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn nhàn rỗi Cuối cùng, nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận các dịch vụ của Ngân hàng như dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng, dịch vụ tín dụng cần vốn để sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng
1.7 Các hình thức huy động vốn:
1.7.1 Vốn tiền gửi:
1.7.1.1 Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế:
Là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế gửi tại Ngân hàng Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời nhàn rỗi được giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho những mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định
Trang 14Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào Ngân hàng dưới các hình thức sau:
a.Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán):
Là loại tiền gửi mà khi gửi vào khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất
1.7.1.2 Tiền gửi của dân cư:
Là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư tại Ngân hàng Tiền gửi của dân cư bao gồm:
a.Tiền gửi tiết kiệm:
Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Thẻ tiết kiệm được xem như là một chứng từ bảo đảm tiền gửi Vì vậy, người gửi tiền có thể tiết kiệm cũng có thể mang thẻ này đến ngân hàng để cầm cố hay xin chiết khấu để vay tiền
b Tài khoản tiển gửi cá nhân:
Ngày nay, khi đời sống vật chất của mọi người được nâng lên thì ngày càng có nhiều cá nhân mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và thực hiện các giao dịch, thanh toán qua ngân hàng Vì vậy, tài khoản tiền gửi cá nhân cũng góp phần tăng cường nguồn vốn cho các Ngân hàng Thương mại
c Tiền gửi khác:
Trang 15Ngoài hai loại tiền gửi trên, tại các Ngân hàng Thương mại còn có các khoản tiền gửi như sau: tiền gửi vốn chuyên dùng, tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi của kho bạc Nhà nước…
1.7.2 Vốn huy động thông qua phát hành các chứng từ có giá:
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua
1.7.2.1 Giấy tờ có giá ngắn hạn:
Là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
1.7.2.2 Giấy tờ có giá dài hạn:
Là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên kể từ khi phát hành cho đến khi hết hạn bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ dài hạn khác
1.7.3 Nguồn vốn đi vay từ các Ngân hàng khác:
Nguồn vốn đi vay của các Ngân hàng hàng khác là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước Nguồn vốn đi vay bao gồm:
1.7.3.1 Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng khác:
Trong quá trình kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lúc phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn và ngược lại cũng phát sinh tình trạng tạm thời thiếu vốn Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng không tránh khỏi tình trạng đó Đối với Ngân hàng, cũng có lúc Ngân hàng tập trung huy động được vốn nhưng lại không cho vay hết, trong khi đó vẫn phải trả lãi tiền gửi Tương tự, có thời điểm nhu cầu cho vay vốn lớn, nhưng khả năng nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được lại không đáp ứng đủ Vì vậy, trong những trường hợp đó Ngân hàng cũng có thể tiếp tục
Trang 16gửi vốn tạm thời chưa sử dụng vào Ngân hàng khác để lấy lãi, hoặc đi vay
ở các Ngân hàng khác có phát sinh tình trạng thừa vốn để nhằm khôi phục khả năng thanh toán của Ngân hàng
Do Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp thực hiện hạch toán ngành, vì vậy khi phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn các chi nhánh của Ngân hàng thường phải điều chuyển vốn thừa về Ngân hàng cấp trên, để tiếp tục điều chuyển cho các Ngân hàng thiếu vốn Khi điều chuyển vốn về Ngân hàng cấp trên, các Ngân hàng chi nhánh cũng được hưởng lãi theo lãi
suất nội bộ của Ngân hàng Tương tự, khi thiếu vốn thì các Ngân hàng cũng được cấp trên cho vay Việc vay vốn của các Ngân hàng khác ngoài
hệ thống hoặc vay trực tiếp của Ngân hàng Trung ương hầu như chỉ được thực hiện ở Ngân hàng cấp trên (Hội sở chính của Ngân hàng )
Nói chung, khi vay vốn của Ngân hàng Trung ương hoặc của các tổ chức tín dụng khác, các Ngân hàng Thương mại thường phải chịu chi phí lớn, do Ngân hàng Trung ương cho vay theo lãi suất chiết khấu, các tổ chức tín dụng khác cho vay theo lãi suất thị trường Vì vậy, hiệu quả kinh tế mang lại từ việc sử dụng nguồn vốn này đối với các Ngân hàng Thương mại không cao Trong thực tế, nguồn vốn này cũng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại
1.7.3.2 Nguồn vốn vay của Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Trung ương đóng vai trò là Ngân hàng của các Ngân hàng, là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế Vì vậy, khi có nhu cầu, các Ngân hàng Thương mại sẽ được Ngân hàng Trung ương cho vay vốn
Việc cho vay vốn của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng Thương mại thông qua hình thức tái cấp vốn Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo của Ngân hàng Trung ương nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và các phương tiện thanh toán cho các Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Trung ương thực hiện tái cấp vốn cho các Ngân hàng Thương mại thông qua các hình thức sau:
Trang 17a Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng:
Là hình thức tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các Ngân hàng Thương mại đã cho vay đối với khách hàng
b Chiết khấu các chứng từ có giá trị ngắn hạn
c Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố các chứng từ có giá
Ngoài việc cho vay tái cấp vốn đối với các Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Trung ương còn thực hiện cho vay bổ sung thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng Thương mại Trong trường hợp đặc biệt, khi được
chính phủ chấp thuận, Ngân hàng Trung ương còn cho vay đối với các tổ chức tín dụng tạm thời mất khả năng thanh toán Khoản vay này sẽ được
ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức tín dụng
1.7.3.3 Nguồn vốn trong thanh toán:
Nguồn vốn trong thanh toán được hình thành trong quá trình Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán trong nền kinh tế
Trong quá trình thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt giữa các khách hàng, Ngân hàng Thương mại huy động được vốn tiền tệ nhàn rỗi dưới các hình thức sau:
Do chênh lệch giữa thời điểm trích tài khoản của người phải trả và thời điểm ghi có cho người thụ hưởng
Trong quá trình thanh toán, có một số hình thức thanh toán phải lưu
ký tiền vào tài khoản riêng Ví dụ: séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo chi trả, thư tín dụng, thẻ thanh toán ký quỹ… khi chưa đến hạn thanh toán, Ngân hàng Thương mại có thể huy động để cho vay
1.7.3.4 Các nguồn vốn khác:
Các nguồn vốn này được hình thành khi Ngân hàng Thương mại thực hiện các dịch vụ ngân hàng Cụ thể: vốn uỷ thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc của nước ngoài để đầu tư cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Trong thời gian từ khi Ngân hàng nhận vốn
uỷ thác đầu tư, tài trợ, đến khi nguồn vốn này được giải ngân hết là thời
Trang 18gian vốn nhàn rỗi, Ngân hàng Thương mại có thể huy động làm nguồn vốn
để kinh doanh
1.8 Nguyên tắc quản lý tiền gửi và biện pháp nâng cao nguồn vốn :
1.8.1 Nguyên tắc quản lý tiền gửi:
Để đảm bảo cho Ngân hàng huy động được nhiều vốn thông qua hình thức nhận tiền gửi, nâng cao được uy tín của mình đối với người gửi tiền, đồng thời để đảm bảo sự an toàn cho hệ thống Ngân hàng tránh sự đổ
vỡ hàng loạt Ngân hàng do phản ứng dây chuyền gây ra
Điều 17 Luật Các tổ chức tín dụng quy định như sau:
- Tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi; mức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi do Chính phủ quy định;
- Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền theo yêu cầu; đảm bảo trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi mọi khoản tiền gửi;
- Đảm bảo bí mật số dư tiền gửi của khách hàng; từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tiền mà không có sự đồng ý của khách hàng, trừ trường hợp có quy định khác;
- Thông báo công khai mức lãi suất tiền gửi
1.8.2 Biện pháp nâng cao huy động vốn:
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất lớn trong các Ngân hàng Nếu Ngân hàng phát huy tốt công tác huy động vốn không những mở rộng công tác cho vay, tăng cường vốn cho nền kinh tế mà còn mang đến cho Ngân hàng nhiều lợi nhuận
Muốn mở rộng khả năng huy động vốn, Ngân hàng cần chú ý một số biện pháp:
- Sử dụng lãi suất huy động hợp lý: Ngân hàng phải có chính xác lãi suất huy động thích hợp từng thể thức huy động đáp ứng được tâm lý của từng loại khách hàng, lãi suất huy động phải đảm bảo thực dương tức là lãi
Trang 19suất huy động phải cao hơn tỷ lệ lạm phát, như vậy mới đảm bảo thu hút được tiền gửi.
- An toàn: phải tạo cho khách hàng tin tưởng vào Ngân hàng, tạo cho khách hàng cảm thấy an tâm và chắc chắn khi gửi tiền vào Ngân hàng so với việc để tiền tại nhà
- Thủ tục giấy tờ đơn giản nhưng vẫn đảm bảo an toàn khi khách hàng đến giao dịch
- Chất lượng dịch vụ: Ngân hàng phải tạo nhiều tiện ích phục vụ và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, ứng dụng các thành tựu kỹ thuật tiên tiến để thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn
- Thái độ phục vụ tốt của nhân viên và tinh thần trách nhiệm của họ đối với khách hàng
- Mở rộng mạng lưới chi nhánh một cách thích hợp
- Nâng cao uy tín của Ngân hàng (công khai tài chính, chia cổ tức…)
- Trang thiết bị hiện đại, môi trường đặt trụ sở Ngân hàng
- Tuyên truyền, quảng cáo, khuyến khích khách hàng gửi tiền bằng nhiều hình thức: tặng quà, xổ số trúng thưởng…
- Đội ngũ cán bộ phải thành thạo công việc, am hiểu các thể thức huy động, thể thức thanh toán, tin học,…; ngoài chuyên môn giỏi cán bộ làm công tác huy động vốn phải có phong cách giao dịch lịch sự, là những người bạn của khách hàng, tư vấn góp ý kiến về những thuận lợi của từng thể thức huy động vốn; giải thích cho khách hàng về lợi ích và an toàn trong việc gửi tiền vào Ngân hàng
1.9 Ý nghĩa của việc huy động vốn:
1.9.1 Đối với nền kinh tế:
Ở nước ta, tiền nhàn rỗi còn nằm trong dân cư là rất lớn chủ yếu nằm
ở dạng vàng bạc, đá quý và tiền mặt Để phát triển tối đa mọi nguồn lực của đất nước, ta có thể huy động từ nhiều nguồn nhưng có ý nghĩa là nguồn
Trang 20vốn trong nước, nguồn từ tiết kiệm của dân cư vì nó là nguồn tại chỗ, có giá trị lớn thể hiện được sức mạnh và ý chí tự lực, tự cường một quốc gia.
Ngân hàng đóng vai trò trung gian huy động vốn và sử dụng vốn huy động để cho vay kết hợp với trung tâm thanh toán Ngân hàng cũng đã làm được công việc hết sức quan trọng là thúc đẩy nhanh vòng quay tiền tệ, vòng quay vốn của các doanh nghiệp, cá nhân làm giảm lượng tiền mặt trong nền kinh tế, tiết kiệm các khoản chi phí cũng như trung gian cho doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu thanh toán qua ngân hàng
1.9.2 Đối với Ngân hàng:
Tiền gửi tạo thành nguồn vốn để Ngân hàng cung cấp cho các nhu cầu, nghiệp vụ sinh lời như cung cấp tín dụng, đồng thời giúp ngân hàng hoạt động liên tục
1.9.3 Đối với người gửi tiền:
Các doanh nghiệp khi gửi tiền vào Ngân hàng sẽ thuận tiện trong thanh toán chi trả hàng hoá dịch vụ, đồng thời khách hàng gửi tiền an toàn hơn giảm bớt chi phí vận chuyển, kiểm tra tiền mặt
Đối với cá nhân gửi tiền tiết kiệm sẽ được trả lãi, làm tăng thu nhập của khách hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng Thương mại là một định chế tài chính trung gian thông qua nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng
Trang 21Thương mại Nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội được huy động tạo lập ra nguồn vốn tín dụng để cho vay và phát triển kinh tế Việc sử dụng nguồn vốn này rất quan trọng, nếu Ngân hàng Thương mại mở rộng tín dụng và phát triển đúng hướng không những góp phần cho nền kinh tế tăng trưởng
và phát triển mà còn đem lại lợi nhuận cho chính bản thân Ngân hàng.
- -CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
và từ 104o 41' 25" đến 106o 17' 00" kinh độ Đông Vị trí giáp giới như sau :
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp Tỉnh Tiền Giang và Bến Tre
- Phía Tây và Tây Nam giáp Tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng
- Phía Đông và Đông Nam giáp Tỉnh Trà Vinh
- Phía Tây Bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp
Trang 22Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là thành phố Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế - khoa học
- kỹ thuật - văn hóa - quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó liên quan chặt chẽ đến việc quản lý, phân bố sử dụng đất đai Đặc biệt là khả năng chi phối của trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ của thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, khu công nghiệp Trà Nóc) và trung tâm cây ăn trái miền Nam (Tiền Giang) là một trong những lợi thế đặt biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai
Vị trí địa lý như trên trong tương lai Vĩnh Long là nơi hôi tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ (đường cao tốc, các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được nâng cấp mở rộng, có các trục đường thủy nội địa sông Mang Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu trong trục đường thủy quan trọng từ thành phố Hồ Chí minh xuống các vùng Tây Nam sông Hậu), cửa ngõ trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của thành phố Hố Chí Minh các khu công nghiệp miền Đông và là trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên thành phố Hồ Chí Minh và hàng công nghiệp tiêu dùng từ thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh miền Tây Mặt khác, đây là vùng có tiềm năng phát triển du lịch với sinh cảnh sông nước, nhà vườn Đồng thời, với hệ thống giao thông thủy bộ phát triển ngày càng
hoàn thiện, Vĩng Long với vị trí địa lý có nhiều mặt lợi thế như đã nêu trên
sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội theo các hướng trục giao thông thủy bộ đã được huy hoạch của tỉnh
2.1.1.2 Địa hình:
Trang 23Địa hình tỉnh Vĩnh Long tương đối bằng phẳng, thấp từ Bắc xuống Nam và cao dần ven hai bên bờ sông tiền, sông Hậu Vĩnh Long được bao bọc bởi 3 con sông lớn từ 3 phía: sông Hậu ở phía Tây Nam, sông Cổ Chiên ở phía Đông Bắc và sông Mang Thít nối từ sông Cổ Chiên sang sông Hậu, cùng với mạng lưới kinh rạch chằng chịt.
2.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên:
Vĩnh Long có diện tích đất phèn lớn, tỷ lệ phèn ít, song đất có chất lượng cao, màu mỡ bật nhất so với các tỉnh trong vùng
Đặt biệt tỉnh có hàng vạn ha đất phù sa ngọt ven sông Tiền sông Hậu, đất tốt phì nhiêu trồng được hai vụ lúa trở lên, cho năng suất cao điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tề nông nghiệp của vùng
Vĩnh Long còn có lượng cát sông dồi dào và đất sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào, đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch, ngói, gốm, được tập trung chủ yếu dọc theo sông Tiền và rải rác ở các huyện, thị trong tỉnh
Tổng trữ lượng đất sét các loại có thể khai thác được toàn tỉnh đạt 92 triệu
m 2Nếu so sánh với toàn quốc và vùng đồng bằng sông Cửu Long thì Vĩnh Long có tỷ lệ đất nông nghiệp so với tổng diện tích tự nhiên cao hơn mức trung bình của vùng và gấp 4 lần mức trung bình cả nước, đất chưa sử dụng chỉ chiếm một tỷ lệ thấp
2.1.2 Tình hình kinh tế :
Tỉnh Vĩnh Long còn được biết đến với nhiều làn nghề truyền thống nổi tiếng như: gạch ngói, gốm sứ, chầm nón, thêu đan, dệch chiếu … và sản phẩm đã có mặt nhiều nơi trên thế giới
Nguồn tài nguyên thiên nhiên không nhiều nhưng đa dạng, nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: đất sét, cát tạo diều kiện để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng và gốm sứ Nhiều ngành nghề truyền thống là cơ sở để phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và tham gia xuất khẩu
Trang 24Được bao bọc bởi hai con sông nên Vĩnh Long được phù sa bồi đắp tương đối màu mỡ và phì nhiêu thích hợp cho việc trồng trọt.
Vĩnh Long là tỉnh trồng lúa và cây ăn quả, theo mô hình chung trong khu vực Toàn tỉnh có 119.000 hectare đất nông nghiệp, sản lượng lương thực hàng năm ổn định khoảng 950.000 tấn Khoảng 90% hộ gia đình trong tỉnh làm nghề nông GĐP/người: 300 USD (tương đương 4.262.000 đồng)
2.2 Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín:
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại
cổ phần Sài Gòn Thương Tín:
- Tên Ngân hàng:
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
- Tên giao dịch quốc tế:
SAIGON THUONG TIN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
- Tên viết tắt: SACOMBANK
- Hội sở: 266 - 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP.Hồ Chí
Trang 25- Giấy phép hoạt động: Số 0006/GP-NH Ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Giấy CNĐKKD: Số 059002 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP.HCM cấp
- Tài khoản: 453100804 tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM
- Mã số thuế: 0301103908
Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) thành lập ngày 21-12-1991 với vốn điều lệ ban đầu 3 tỷ đồng và 100 cán bộ nhân viên Trải qua hơn 18 năm không ngừng nỗ lực, đến nay vốn điều lệ của Sacombank đã đạt 6.700 tỷ đồng, tổng tài sản đạt 98.447 tỷ đồng và mạng lưới hoạt động gồm 320 điểm giao dịch tại 45/63 tỉnh-thành Việt Nam và mở rộng hoạt động ra ngoài nước với một Văn phòng đại diện tại Trung Quốc, một Chi nhánh tại Lào và một Chi nhánh tại Campuchia Bên cạnh đó, Sacombank cũng đã xây dựng hệ thống 6.180 đại lý của 289 ngân hàng tại 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; đội ngũ nhân sự trên 7.200 cán bộ nhân viên cùng số lượng nhà đầu tư hiện hữu hơn 80.000 tổ chức và cá nhân
Một trong những giá trị cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh cho Sacombank trên thị trường tài chính - tiền tệ Việt Nam chính là tính tiên phong Điều đó được thể hiện trước hết khi Sacombank là ngân hàng Việt Nam đầu tiên nhận được vốn góp và hỗ trợ kỹ thuật từ International Finance Corporation (IFC) trực thuộc Ngân hàng thế giới (World Bank) Tiếp đến, vào ngày 12-7-2006, Sacombank trở thành ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam và mã cổ phiếu STB của Sacombank trong suốt các năm qua luôn có tính thanh khoản hàng đầu và giữ vai trò dẫn dắt trên thị trường
Sacombank cũng đã tiên phong trong việc hình thành mô hình tập đoàn tư nhân đầu tiên tại Việt Nam với hệ thống các công ty trực thuộc, liên doanh và liên kết hoạt động nhiều lĩnh vực như: tài chính – ngân hàng,
Trang 26chứng khoán, cho thuê tài chính, cho thuê kho bãi, kiều hối, quản lý quỹ, địa ốc, xây dựng, xuất nhập khẩu…Bên cạnh đó, Sacombank còn hướng đến các nhóm khách hàng đặc trưng thông qua việc nhân rộng mô hình Ngân hàng dành riêng cho phụ nữ, Ngân hàng dành riêng cho cộng đồng Hoa ngữ, tạo cầu nối cho hoạt động giao thương tại khu vực thông qua mạng lưới tại Trung Quốc và bán đảo Đông Dương
Chính nền tảng này giúp Sacombank tập trung phát huy cao nhất các lợi thế về mạng lưới – về các loại hình tổ chức đặc thù – về các sản phẩm dịch vụ khác biệt và đặc trưng, đặc biệt là việc đẩy mạnh các dịch vụ đang
có, phát triển dịch vụ mới, nhất là các dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thẻ, dịch vụ tư vấn, dịch vụ thanh toán dưới nhiều phương thức khác nhau, trong đó có phương thức bán chéo sản phẩm nhằm cung cấp dịch vụ tài chính trọn gói bởi Sacombank và các Công ty thành viên Tập đoàn Sacombank tại nhiều điểm giao dịch trải dài khu vực Đông Dương.Việc tiên phong có mặt tại các nước cận biên Campuchia – Lào – Trung Quốc là điều kiện để Sacombank thực thi tốt nhất chức năng trung gian tài chính,
góp phần thực hiện hiệu quả các Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và các nước trong khu vực
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN (SACOMBANK)
1 Ngày 21-12-1991, Sacombank khai trương hoạt động trên cơ sở hợp
nhất từ Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp và 3 Hợp tác xã Tín dụng Tân Bình - Thành Công - Lữ Gia với vốn điều lệ ban đầu 3 tỷ đồng
2 Năm 1996, Sacombank tiên phong phát hành cổ phiếu đại chúng với
mệnh giá 200.000 đồng và đạt vốn điều lệ 74 tỷ đồng vào năm 1997, vượt mức quy định của Ngân hàng Nhà nước để tiếp tục tồn tại và phát triển
Trang 273 Ngày 3-5-1999, Sacombank khánh thành Hội sở mới khang trang đầu
tiên tại 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, TPHCM, thể hiện cam kết gắn bó lâu dài với các cộng đồng địa phương nơi Sacombank hoạt động
4 Ngày 22-2-2000, Sacombank vinh dự đón tiếp Chủ tịch Ngân hàng Thế
giới (World Bank) đến thăm và làm việc, đặt nền tảng cho quá trình mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và tiếp nhận vốn nước ngoài Sacombank cũng vinh dự đón tiếp Thống đốc và Đoàn cán bộ cấp cao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng quốc gia Campuchia và Ngân hàng Nhà nước Lào đến thăm và làm việc trong các năm qua
5 Từ năm 2001, Sacombank chính thức mở rộng quan hệ hợp tác quốc
tế, tiếp nhận vốn và hỗ trợ kỹ thuật từ các định chế tài chính uy tín trên thế giới như International Financial Corporation (IFC) trực thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Đầu tư Anh Quốc - Dragon Financial Holdings và Ngân hàng ANZ
6 Từ năm 2002, Sacombank lần lượt khai trương các công ty trực thuộc
và liên doanh nhằm đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tài chính trọn gói: Sacombank–SBA: Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (25-12-2002); VietFund Management: Công ty Quản lý Quỹ Việt Nam (7-2003); Sacombank–SBR: Công ty Kiều hối (24-1-2006); Sacombank–SBL: Công
ty Cho thuê Tài chính (7-10-2006); Sacombank–SBS: Công ty Chứng khoán (20-10-2006); Sacombank–SBJ: Công ty Vàng bạc Đá quý (28-11-2008)
7 Từ năm 2005, Sacombank triển khai các mô hình kinh doanh đặc thù:
Ngân hàng dành cho Phụ nữ - Sacombank Chi nhánh 8 Tháng 3 TPHCM
và Sacombank Chi nhánh 8 Tháng 3 Hà Nội; Ngân hàng dành cho cộng đồng Hoa ngữ - Sacombank Chi nhánh Hoa Việt cùng các dòng sản phẩm đặc trưng hướng về từng đối tượng khách hàng chuyên biệt
8 Ngày 12-7-2006, Sacombank trở thành ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 289 Từ năm 2006, Sacombank đã được các tổ chức tài chính quốc tế như
IFC, FMO, ADB, Proparco ủy thác các nguồn vốn có giá thành hợp lý để
hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
10 Ngày 12-10-2007, Sacombank công bố phủ kín mạng lưới hoạt động
tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tiếp đó là tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam bộ vào ngày 9-1-2008
11 Năm 2008, Sacombank là Ngân hàng Việt Nam đầu tiên khai trương
Văn phòng đại diện tại Nam Ninh - Trung Quốc, tiếp đó là khai trương Chi nhánh
Lào vào ngày 12-12-2008 mở đầu cho chiến lược mở rộng mạng lưới tại các nước cận biên và khu vực Đông Dương
12 Ngày 15-3-2008, Sacombank khai trương hoạt động Trung tâm Dữ
liệu theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm hoạt động xuyên suốt, an toàn và hiệu quả
13 Thương hiệu và uy tín Sacombank đã được cộng đồng quốc tế ghi
nhận thông qua các giải thưởng uy tín như “Ngân hàng bán lẻ của năm tại Việt Nam 2007 và 2008” do Asian Banking and Finance bình chọn, “Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam 2008” do The Asset, Global Finance và Finance Asia bình chọn Riêng trong năm 2009, Sacombank được Global
Finance tiếp tục bình chọn là “Ngân hàng có hoạt động kinh doanh ngoại hối tốt nhất Việt Nam”
14 Với những cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển
Sacombank trở thành Ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam cùng những đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà, ông Đặng Văn Thành - Chủ tịch HĐQT Sacombank đã vinh dự nhận các danh hiệu: Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2008; Doanh nhân Sài Gòn tiêu biểu năm 2007, 2009
và Bằng Giáo sư danh dự Trường Đại học Southern California (Mỹ) Ông cũng được bầu làm Ủy viên của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2009 – 2014
Trang 2915 Ngày 16-5-2008, Sacombank với vai trò hạt nhân đã kết hợp cùng các
công ty trực thuộc và các công ty hợp tác chiến lược công bố hình thành tập đoàn
16 Năm 2009, Sacombank hoàn thành chiến lược hiện đại hóa ngân hàng
giai đoạn 2006 - 2010 bằng việc nâng cấp và chuyển đổi thành công hệ thống ngân hàng lõi từ Smartbank thành T24 - phiên bản R8 trên toàn hệ thống; nâng cấp Trung tâm Dữ liệu và khai trương Trung tâm Dịch vụ khách hàng
17 Năm 2009, Sacombank vinh dự được đón nhận Cờ thi đua của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ với những thành tích trong hoạt động và phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam
18 Ngày 23-6-2009, Sacombank khai trương Chi nhánh Phnôm Pênh tại
Campuchia, đánh dấu bước ngoặt hoàn thành chiến lược mở rộng mạng lưới tại khu vực Đông Dương
2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại
cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long:
2.2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng:
Tổ tín dụng Vĩnh Long được hình thành và đi vào hoạt động vào năm 2003 dưới sự quản lý của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn
Thương Tín chi nhánh Cần Thơ, với chức năng chính là cung cấp vốn cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Vĩnh Long thì ngày 14/06/2006 Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long chính thức đi vào hoạt động trên cơ sở nâng cấp từ Tổ tín dụng Vĩnh Long Với đội ngủ cán bộ, công nhân viên tuổi đời còn rất trẻ, năng động, nhiệt quyết với công việc, đoàn kết học hỏi, trao dồi kiến thức, nghiệp vụ đảm bảo hoàn thành mọi công việc được giao
Do chi nhánh chỉ có hai điểm giao dịch tại TP.Vĩnh Long và TT Cái vồn – huyện Bình Minh nên chi nhánh chỉ thực hiện nghiệp vụ huy động
Trang 30GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
PHÓ GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
Bộ phận thanh toán quốc tế
Bộ phận kế toán
Bộ phận xử lý giao dịch
Bộ phận quỹ
vốn chủ yếu là các nguồn tiền gửi, rồi tập trung cho vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng, thúc đẩy lưu thông hàng hóa phát triển Tỉnh nhà
2.2.2.2 Chức năng hoạt động của Ngân hàng:
Thực hiện nghiệp vụ về tiền gửi, tiền vay và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng phù hợp theo quy định của NHNN và quy định về phạm vi hoạt động được phép của chi nhánh, các quy định, quy chế của ngân hàng liên quan đến từng nghiệp vụ
- Thực hiện công tác tiếp thị, phát triển thị phần; xây dựng và bảo vệ thương hiệu; nghiên cứu, đề xuất các nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của địa bàn hoạt động
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh của chi nhánh theo định hướng phát triển chung tại khu vực và của toàn ngân hàng trong từng thời kỳ
- Tổ chức công tác hành chính quản trị, nhân sự phục vụ cho hoạt động của đơn vị thực hiện theo công tác hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, tạo môi trường làm việc nhằm phát huy tối đa năng lực, hiệu quả phục vụ của toàn
bộ nhân viên toàn chi nhánh một cách tốt nhất
2.2.2.3 Cơ cấu tổ chức:
Trang 31(Nguồn: Phòng tín dụng)
a Giám đốc:
- Trực tiếp điều hành và thực hiện nhiệm vụ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long theo quy định của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Hội sở
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp, uỷ quyền của Tổng Giám Đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Tổng Giám Đốc Ngân hàng Thương mại
cổ phần Sài Gòn Thương Tín về các quyết định của mình
- Thực hiện cơ chế lãi suất, tỷ lệ hoa hồng, tỷ lệ phí và tiền thưởng, tiền phạt áp dụng từng thời kỳ cho khách hàng do Ngân hàng Thương mại
cổ phần Sài Gòn Thương Tín hướng dẫn thực hiện trên địa bàn
- Đề nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức cán bộ, đào tạo và nghiệp
vụ kinh doanh lên Tổng Giám Đốc xem xét và quyết định theo phân cấp uỷ quyền của Tổng Giám Đốc
- Tổ chức việc hạch toán kinh tế, phân phối tiền lương, thưởng và phúc lợi khác đến người lao động theo kết quả kinh doanh phù hợp với chế
độ khoán tài chính và quy định khác của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Hội sở
- Chấp hành chế độ giao ban thường xuyên tại chi nhánh và trên địa bàn hoạt động, báo cáo định kỳ, đột xuất các hoạt động của chi nhánh lên Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Hội sở
- Phân công Phó Giám Đốc tham dự các cuộc họp trong ngoài ngành liên quan trực tiếp đến hoạt động của chi nhánh khi Giám Đốc đi vắng trong một ngày nhất thiết phải uỷ quyền bằng văn bản cho Phó Giám Đốc chỉ đạo, điều hành công việc chung
b Phó giám đốc:
Trang 32- Được thay mặt Giám Đốc điều hành một số công việc khi Giám Đốc vắng mặt và báo cáo lại kết quả công việc khi Giám Đốc có mặt tại đơn vị.
- Giúp Giám Đốc chỉ đạo, điều hành một số nghiệp vụ do Giám Đốc phân công phụ trách và chịu trách nhiệm trước Giám Đốc về các quyết định của mình
- Bàn bạc và tham gia ý kiến với Giám Đốc trong việc thực hiện các nghiệp vụ của Ngân hàng theo nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng
- Phụ trách kế hoạch kinh doanh, trực tiếp và thừa lệnh Giám Đốc ký duyệt cho vay những dự án trong mức cho phép theo quy định của Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương Tín Hội sở
c Phòng dịch vụ khách hàng:
- Đây là nơi có ảnh hưởng quyết định đến sự thành công của hoạt động tín dụng Nó được chia thành hai phòng, được thiết kế theo mô hình văn phong mặt băng mở, bao gồm phòng tín dụng cá nhân và phòng tín dụng doanh nghiệp Cả hai cùng thực hiện nghiệp vụ tín dụng nhưng khác đối tượng khách hàng mà nó cho vay
- Giao dịch trực tiếp với khách hàng có nhu cầu vay vốn, phân công cán bộ thẩm định theo từng đối tượng khách hàng, hướng dẫn khách hàng thiết lập dự án, phương án và làm các thủ tục hồ sơ cần thiết để xin vay vốn
- Kiểm soát lựa chọn đánh giá các phương án, dự án hiệu quả để đề xuất những dự án kinh doanh, dự án tín dụng cho cấp trên xem xét và giải quyết
- Trực tiếp điều tra theo dõi các khoản nợ trong suốt thời gian cho vay kể từ khi phát sinh cho đến khi kết thúc hợp đồng
d Phòng hỗ trợ:
Trang 33- Thực hiện công tác quản lý tín dụng, thanh toán quốc tế và xử lý các giao dịch.
- Tổng theo dõi các chỉ tiêu, kế hoạch kinh doanh do giám đốc phê duyệt và có trách nhiệm thông báo cho các phòng ban nghiệp vụ có liên quan
- Tổng hợp phân tích thông tin kinh tế, quản lý doanh mục khách hàng, trực tiếp xử lý các rủi ro phát sinh theo các văn bản, chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước và những quy định chung của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Hội sở
- Giúp Giám Đốc chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng trên địa bàn
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ban Giám Đốc giao
- Quản lý, sử dụng các thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp
vụ kinh doanh theo quy dịnh
- Chấp hành chế độ báo cáo và kiểm tra chuyên đề
- Thực hiện các nghiệp vụ khác do Giám Đốc giao
f Phòng hành chánh:
- Thực hiện chức năng quản lý lực lượng cán bộ công nhân viên biên chế cũng như hợp đồng, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho toàn thể nhân viên trong Ngân hàng
Trang 34- Lập các thủ tục cần thiết lên Ban Giám Đốc ra quyết định nâng bậc lương hay thi hành kỷ luật.
- Có trách nhiệm bảo quản tài sản đơn vị, giám sát trong ngoài
- Tiếp nhận các thông tin liên quan báo cáo lên Ban Giám Đốc
- Thực hiện các chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ của nhà nước, quy chế sử dụng quỹ
Nhận xét:
Hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động Đây luôn là vấn đề trọng tâm của các Ngân hàng Thương mại, vì qua đó giúp cơ cấu tổ chức phù hợp với khách hàng, hướng tới khách hàng, đồng thời cũng là cách thức để tiết giảm chi phí tăng hiệu quả kinh doanh Chính vì thế, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại chi nhánh Vĩnh Long tương đối gọn gàng, phân công công việc rõ ràng từ Ban Giám Đốc đến các phòng ban Ban Giám Đốc có thể truyền thông tin trực tiếp đến các phòng ban, đến các nhân viên Thông tin được gắn kết và luôn thông suốt từ Ban Giám Đốc đến các phòng ban, mỗi nhân viên trong Ngân hàng và ngược lại Cơ cấu phân chia nhiệm vụ rất rõ ràng thích hợp với từng nhân viên Các nhân viên có thể dễ dàng được đào tạo trên kiến thức và kinh nghiệm của các người còn lại trong cùng phòng ban Đối đầu với công việc, các vấn đề quen thuộc và có
sự đào tạo tương tự cho viêc giải quyết vấn đề, nghiệp vụ tương tự Với cơ cấu tổ chức này, công việc dễ giải thích và phần lớn các nhân viên trong ngân hàng có thể hiểu được công việc, vai trò của từng phòng ban
2.3 Đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long:
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm
Đơn vị tính: Triệu đồng
Trang 36Biểu đồ 1: Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
2.3.1 Tổng thu nhập:
Nhìn chung tổng thu nhập có xu hướng tăng lên qua 3 năm Cụ thể năm 2008 tổng thu đạt 56.764 triệu đồng tăng 111,69% so với 2007 tương ứng tăng 29.949 triệu đồng Đến năm 2009 tăng 11.977 triệu đồng tương ứng tăng 121,10% so với 2008 Trong quá trình hoạt động của mình thì khoản thu chủ yếu nhất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long vẫn là thu từ hoạt động tín dụng mà cụ thể là thu từ lãi cho vay
Thu từ lãi cho vay: Năm 2007 đạt 25.975 triệu đồng chiếm 96,87% tổng thu năm 2007 Vì Sacombank là một trong những Ngân hàng Thương mại uy tín và hàng đầu của Việt Nam cho nên có nhiều khách đến vay vốn tại Sacombank chi nhánh Vĩnh Long với khối lượng lớn, lãi suất cho vay cạnh tranh, nghiệp vụ và qui trình cho vay nhanh chóng – tiện lợi – gọn gàng từ đó dẫn đến tổng thu từ lãi cho vay lớn Sang năm 2008 đạt 56.764
triệu đồng chiếm 95,96% tổng thu năm 2008, tăng 109,71% so với năm
2007 tương ứng tăng 28.948 triệu đồng Năm 2009 đạt 66.758 triệu đồng tăng 22,55% so với năm 2008 tương ứng tăng 12.258 triệu đồng Điều này chứng tỏ kết quả hoạt động của chi nhánh phụ thuộc nhiều vào hoạt động tín dụng Nếu các khoản cho vay mang lại hiệu quả thì họat động của chi nhánh sẽ mang lại hiệu quả và ngược lại Vì vậy cần đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ trong những năm sau để vừa tạo ra nguồn thu ổn định vừa có thể chia sẽ rủi ro
Thu từ dịch vụ: Qua các năm ta thấy, thu từ dịch vụ đều tăng lên chiếm một phần tương đối trong tổng thu đứng thứ hai sau thu từ lãi vay
Cụ thể năm 2007 là 840 triệu đồng chiếm 3,13% tổng thu năm 2007, năm
2008 là 1.345 triệu đồng tăng 60,12% so với 2007 tương ứng tăng 505 triệu
Trang 37đồng, năm 2009 đạt 1.983 triệu đồng tăng 47,43% so với 2008 tương ứng tăng 638 triệu đồng Điều này chứng tỏ hoạt động dịch vụ của chi nhánh hoạt động tương đối ổn định Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn thấp Vì vậy Ban lãnh đạo cần tăng các hoạt động dịch vụ trong những năm tiếp theo.
Thu nhập khác: đây là các khoản thu cũng có xu hướng tăng qua các năm nhìn chung tương đối thấp Cụ thể năm 2007 đạt 760 triệu đồng chiếm 2,8% tổng thu năm 2007, năm 2008 đạt 826 triệu đồng tăng 8,68% so với
2007 tương ứng tăng 66 triệu đồng, năm 2009 đạt 1.341 triệu đồng Khoản thu này, tuy không phải là khoản thu chủ yếu nhưng cũng góp một phần trong sự tăng thu của Ngân hàng Qua các năm đều tăng đều này cho ta thấy được Ngân hàng đã có những chính sách phù hợp và chiến lược trong từng khoản thu dù là không lớn
Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Khoản thu này có xu hướng tăng lên là do Ban lãnh đạo Chi nhánh đã có chính sách giá thích hợp cho từng địa bàn hoạt động của chi nhánh, đặc biệt là các loại ngoại tệ mạnh: USD, AUD, CAD, EUR, GBP, Mặt khác, do chi nhánh không ngừng mở rộng quan hệ với khách hàng mới cũng như giữ vững mối quan hệ với
khách hàng cũ về giao dịch ngoại tệ, vàng, ,Chính những nguyên nhân trên
đã góp phần làm tăng lợi nhuận về kinh doanh ngoại tệ cũng như góp phần làm tăng thu nhập cho chi nhánh Cụ thể, năm 2008 đạt 120 triệu đồng Sang năm 2009 đạt 642 triệu đồng tăng 522 triệu đồng tương ứng tăng 435% so với 2008
2.3.2 Tổng chi phí:
Nếu muốn có thu nhập đầu tiên phải bỏ ra chi phí thì cùng với sự gia tăng của thu nhập thì các khoản chi phí của Ngân hàng cũng tăng tương ứng Cụ thể, năm 2007 tổng chi phí là 21.014 triệu đồng qua năm 2008 tổng chi phí là 49.889 triệu đồng, tăng 137,41% so với 2007 tương ứng tăng 28.875 triệu đồng Đến năm 2009, chi phí là 55.342 triệu đồng tăng 10.93% so với 2008 tương ứng tăng 5.453 triệu đồng
Trang 38Nguyên nhân của sự gia tăng chi phí là do Ngân hàng trả lãi tiền gửi cho khách hàng quá lớn có lẽ vì Ngân hàng nhằm thu hút khách hàng nên huy động vốn với lãi suất cao Thêm nữa, là sự cạnh tranh gay gắt với các Ngân hàng cùng địa bàn làm cho Ngân hàng tăng lãi suất huy động lên cao
để giải quyết tình trạng thiếu hụt tạm thời, đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng để mở rộng thị phần Từ đó làm cho chi phí tăng lên Nhưng chi phí tăng không phải là xấu mà đang có dấu hiệu tốt cho hoạt động của Ngân hàng Nhưng với Ngân hàng cũng phải đặc biệt lưu ý và chú trọng quản lý chi phí đừng để chi phí tăng mà không có hiệu quả Trong các khoản chi
đó, thì chi phí trả lãi tiền gửi là chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí và tăng đều qua các năm Bên cạnh đó, Ngân hàng còn có các khoản chi khác cũng tăng như: chi cho nhân viên, chi công vụ, các khoản chi khác… Khi
ta nhìn vào bảng số liệu thấy khoản chi phí tăng vọt như vậy là đáng chú ý nhưng thực tế Ngân hàng đã và đang phấn đấu hết mình phát huy mở rộng quy mô hoạt động của mình và mục tiêu đi đến chất lượng phục vụ vì khách hàng
Chi về huy động vốn: chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi năm 2007 là 14.440 triệu đồng chiếm 68,72% tổng chi năm 2007 đây là khoản chi trả lãi cho số vốn điều chuyển từ Hội Sở Sang năm 2008 tăng 26.941 triệu đồng tương ứng tăng 186,57% so với 2007 Năm 2009 chi phí trả lãi tiền gửi là 43.945 triệu đồng tăng 6,20% so với 2008 tương ứng tăng 2.564 triệu đồng Chi phí trả lãi tiền gửi được chi nhiều là do một số ngân hàng cổ phần mới thành lập trên địa bàn tăng lãi suất huy động buộc chi nhánh phải tăng lãi suất theo mới có thể giữ chân khách hàng cũ, thu hút khách hàng mới Nếu
có thể huy động được từ tiền gửi nhiều hơn thì chi phí này sẽ được giảm bớt, từ đó lợi nhuận gộp được tăng lên
Chi
cho hoạt động kinh doanh : đây là khoản chi phục vụ cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh như chi dịch vụ thanh toán, chi cước phí
Trang 39bưu điện, chi kinh doanh ngoại tệ Khoản chi này chỉ chiếm tỷ trọng thấp dưới 2% và có xu hướng tăng lên trong thời gian tới là do:
+ Trong quá trình mở cửa và ứng dụng công nghệ Ngân hàng hiện đại như hiện nay để tạo ra những tiện ích mới có chất lượng hơn, hiệu quả và chi phí hợp lý phục vụ cho dân cư thì chi nhánh đã quyết định lắp đặt thêm
hệ thống máy ATM, triển khai các sản phẩm thẻ đa dạng hơn
2 + Để giữ vững và tăng cường mối quan hệ với
khách hàng thì vào những dịp như lễ, tết, hội nghị khách hàng, sinh nhật khách hàng thì Ngân hàng đều gửi thư chúc mừng.
3 + Việc tăng cường và mở rộng quan hệ với khách hàng giao dịch ngoại tệ, vàng, , đã làm cho khoản chi về dịch vụ tăng lên Chính những nguyên nhân trên đã làm cho chi phí dịch vụ tăng lên.
lý, chi dự phòng, bảo đảm tiền gửi khách hàng
Khoản chi này tương đối, năm 2007 là 847 triệu
đồng chiếm 4,03% tổng chi năm 2007 , năm 2008 là
959 triệu đồng tăng 13,22% so với năm 2007 tương ứng tăng 112 triệu đồng, năm 2009 là 1.443 triệu
đồng tăng 50,47% tương ứng tăng 484 triệu đồng so với 2008.
Chi cho nhân viên: khoản chi này cũng tương đối cao trong tổng chi phí, với mục đích là chăm lo cho đời sống của nhân viên ngày một tốt hơn nên Ngân hàng cũng đã có những chính sách dành cho nhân viên Cụ thể năm 2007 chi 4.120 triệu đồng chiếm 19,61% tổng chi năm 2007, năm
2008 khoản chi là 5.640 triệu đồng tăng 36,89% so với 2007 tương ứng tăng 1.250 triệu đồng, năm 2009 chi 7.698 triệu đồng tăng 36,49% so với
2008 tương ứng tăng 2.058 triệu đồng Qua các năm khoản chi nay đều tăng đều nay cho ta thấy rằng Ngân hàng khuyến khích trong lương, tạo
Trang 40động lực thúc đẩy cán bộ nghiệp vụ hoàn thành vượt mức công việc được giao.
2.3.3 Tổng lợi nhuận:
Lợi nhuận là một phần đặc biệt quan trọng không ai muốn nhìn vào hoạt động kinh doanh của mình mà lợi nhuận lại là một con số nhỏ hơn hoặc bằng 0 Ở đây khi nhìn vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long ta thấy con
số lợi nhuận thu được sau khi lấy tổng thu nhập trừ đi tổng chi phí là một con số dương và tăng đáng kể qua 3 năm Cụ thể, năm 2007 lợi nhuận đạt 5.801 triệu đồng Đến năm 2008 lợi nhuận đạt 6.875 triệu đồng tăng 18,51% so với 2007 tương ứng tăng 1.074 triệu đồng Đến năm 2009, lợi nhuận đạt 13.399 triệu đồng, ta có thể tính được rằng lợi nhuận năm 2009 bằng 9,49 lần năm 2008 tức là tăng 94,89% tương ứng tăng 6.524 triệu đồng
Nhìn chung, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Vĩnh Long đang từng bước đi lên từng bước khẳng định mình
Từ thu nhập đến chi phí đến lợi nhuận đều tăng rất đáng kể Có thể nói rằng đây là một thành tích của Ngân hàng mới thành lập Tuy còn non trẻ nhưng Ngân hàng đã thu hút được số lượng khách hàng đông đúc và nhanh chóng lấy được lòng tin của khách hàng mình
Sau khi phân tích hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cho thấy Ngân hàng cần hoạt động thêm những dịch vụ tiện ích để phục vụ khách hàng thu hút khách hàng có uy tín để chiếm lĩnh thị phần Để làm được điều đó, Ngân hàng cần quản lý tốt chi phí, nâng cao cất lượng dịch vụ và đặc biệt là thái độ phong cách phục vụ khách hàng của nhân viên Phong cách phục vụ của nhân viên là cơ sở đầu tiên để thu hút khách hàng là người tạo nên chất lượng dịch vụ làm tăng sức hấp dẫn đối với khách hàng