SO SÁNH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NẠO VA DƯỚI NỘI SOI VỚI PHƯƠNG PHÁP NẠO VA KINH ĐIỂN TÓM TẮT Đặt Vấn Đề-Mục Tiêu: Nạo VA là phẫu thuật được thực hiện rất phổ biến trong tai mũi họng Nhi.. Đề t
Trang 1SO SÁNH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NẠO VA DƯỚI NỘI SOI VỚI
PHƯƠNG PHÁP NẠO VA KINH ĐIỂN
TÓM TẮT
Đặt Vấn Đề-Mục Tiêu: Nạo VA là phẫu thuật được thực hiện rất phổ biến trong tai mũi họng Nhi Tuy nhiên nạo VA theo phương pháp cổ điển còn nhiều hạn chế Ngày nay nạo VA nội soi đã được thực hiện trên thế giới cũng như tại Việt Nam Đề tài này với mục tiêu so sánh đánh giá kết quả nạo
VA dưới nội soi với phương pháp nạo VA king điển
Đối tượng-phương pháp nghiên cứu: tất cả bệnh nhi ở TP.HCM đến khám tại phòng khám Tai mũi họng- BV nhi Đồng 2 có chỉ định nạo VA
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu lâm sàng, so sánh ngẫu nhiên, mù đơn.Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS
Kết quả: Qua 50 trường hợp nạo VA dưới nội soi so sánh với 41 ca nạo VA kinh điển chúng tôi có kết quả như sau: Tỷ lệ giảm nghẹt mũi: 82% so với 53,7% (P = 0,004) Tỷ lệ giảm sổ mũi: 78% so với 51,2% (P = 0.007) Tỷ lệ hết ngủ ngáy là 78,9% so với 40% (P = 0,001) Tỷ lệ giảm hết mô VA trên x quang: 78% so với 31,7% (P = 0,001) Tỷ lệ hết sạch mô VA trên nội soi
Trang 2kiểm tra:76% so với 36,6% (P = 0.000) Tỷ lệ chảy máu sau nạo: 0% so với 4,9%(P=0,114)
Kết luận: Nạo VA dưới nội soi có kết quả tốt hơn hẳn so với phương pháp nạo VA kinh điển Nên nạo VA dưới nội soi thay thế cho phương pháp nạo
VA kinh điển
ABSTRACT
COMPARISON AND EVALUATION OF THE RESULT OF THE ENDOSCOPIC ADENOIDECTOMY AND THE CLASSICAL ADENOIDECTOMY
Quach Ngoc Minh, Vo Hieu Binh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 1 - 2009: 234 - 238
Background - Objectives: Adenoidectomy is a very common operation in pediatric ENT However, classical adenoidectomy still has many restrictions Nowadays, endoscopic adenoidectomy is performed worldwide and in Vietnam This study is performed to compare the results of classical adenoidectomy and endoscopic adenoidectomy
Method: All patients who present to the children No2 Hospital’s ENT clinic and have adenoidectomy indication We use prospective, randomized comparison, single blind study Statistical analysis with SPSS
Trang 3Results: In compare 50 cas with endoscopic adenoidectomy vs 41 ones with classical adenoidectomy The results are: percent rate reduction of nasal obstruction: 82% vs 53.7% (p = 0.004), percent rate reduction of rhinorrhea:78% vs 51.2% (p = 0.007), percent rate reduction of snoring sleep: 78.9% vs 40% (p = 0.001), percent rate reduction of adenoid tissue in x-ray: 78% vs 31.7% (p = 0.001), percent rate reduction of adenoid tissue in endoscopy: 76% vs 36.6% (p = 0.000), postoperation bleeding rate: 0 % vs 4.9% (p = 0.114)
Conclusion: Endoscopic adenoidectomy has better result than classical adenoidectomy so we should use the endoscopic adenoidectomy replace for the classical one
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý viêm và quá phát bít tắc của VA là một trong những bệnh lý rất hay gặp ở trẻ em, lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo từ 1 đến 6 tuổi Nạo VA là phẫu thuật được thực hiện rất phổ biến trong tai mũi họng nhi Nhưng nạo VA theo phương pháp cổ điển kết quả còn nhiều hạn chế Ngày nay nạoVA dưới nội soi đã được thực hiện trên thế giới(1,2,6), cũng như tại Việt Nam(4) đã có nhiều cơ sở nạo VA dưới nội soi Để có cơ sở cho việc lựa chọn cũng như đánh giá ưu khuyết điểm của phương pháp nạo VA dưới nội soi chúng tôi
Trang 4thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu nghiên cứu tổng quát là so sánh đánh giá kết quả nạo VA dưới nội soi với phương pháp nạo VA kinh điển và hai mục tiêu chuyên biệt là mô tả phương pháp nạo VA dưới nội soi bằng thìa nạo Moure và kìm Blakesley và theo dõi hậu phẫu và đánh giá so sánh kết quả sau nạo VA của hai phương pháp này: nạo còn sót mô VA, tổn thương vòi nhĩ, chảy máu sau nạo, cải thiện triệu chứng cơ năng, lâm sàng
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhi đến khám tại phòng khám tai mũi họng Bệnh Viện Nhi Đồng 2
Có chẩn đoán viêm VA và có chỉ định nạo VA
Tuổi từ 1 đến 15 tuổi
Giới: không phân biệt nam hay nữ
Địa chỉ: cư ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh
Cha mẹ đồng ý nạo VA cho con và cho con đi tái khám theo lịch hẹn và nội soi kiểm tra sau khi nạo VA
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiền cứu lâm sàng, so sánh ngẫu nhiên, mù đơn
Phương pháp chọn mẫu
- Chọn cỡ mẫu thuận tiện, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu (có tiêu chuẩn loại trừ)
Trang 5- Cỡ mẩu dự kiến 100 bệnh nhân.Khoảng 50 mẫu nạo VA bằng phương pháp kinh điển, 50 mẫu nạo VA bằng phương pháp nội soi 50 mẫu nạo dưới nội soi được đánh số lẻ (1, 3, 5,…ca đầu tiên được đánh số 1:số lẻ, ca thứ 2:
số chẳn), 50 mẫu nạo theo phương pháp kinh điển được đánh số chẳn (2, 4,
6, …)
- Mẫu nghiên cứu của chúng tôi thu thập được là 91 mẫu
- Các biến số được mã hóa để xử lý bằng phần mềm SPSS với test kiểm đinh Chi-quare
Các bước tiến hành
Nạo VA kinh điển (Nao VA gây tê):
Chúng tôi thực hiện nạo VA bằng thìa nạo Moure như sách Thực Hành Tai Mũi Họng của GS.VÕ TẤN hướng dẫn
Nạo VA nội soi
Chúng tôi thực hiện như sau:
- Gây mê đặt nội khí qua đường miệng
- Dùng banh miệng David để mở miệng bệnh nhân
- Dùng ống sond Nelaton luồn qua mũi và miệng để nâng khẩu cái mềm lên cho dễ quan sát khối VA và dễ thao tác nạo VA
- Đối với trẻ nhỏ, có hốc mũi nhỏ chúng tôi dùng ống soi cứng đường kính 4
mm, 30° hoặc 45° soi qua đường miệng quan sát khối VA Đối với trẻ lớn và
Trang 6hốc mũi rộng chúng tôi dùng ồng soi cứng đường kính 4 mm hoặc 2,7mm, 0°soi qua đường mũi để quan sát khối VA
- Dùng thìa nạo Moure không có rổ nạo khối VA chính ở giữa và VA vòi hai bên dưới màn hình nội soi, sau đó dùng gạc tẩm oxy già có pha adrenaline 1/10.000 ép vào vòm mũi họng cầm máu trong 3 đến 5 phút, sau đó lấy gạc
ra quan sát nếu còn sót mô VA thì dùng Blakesley 45° lấy mô VA còn sót và
mô VA ở mũi sau và tiếp tục ép gạc tẩm oxy già có pha adrenaline 1/10.000 lần nữa trong 3 đến 5 phút để cầm máu, sau đó lấy gạc ra quan sát nếu thấy còn chảy máu thì dùng forcep đông điện lưỡng cực khuỷu hoặc thẳng đốt cầm máu
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 08 – 2007 đến tháng 05 – 2008 chúng tôi thu thập được số liệu như sau:
Số mẫu: Tổng cộng: 91 mẫu Chia 2 lô
Lô 1: Nạo VA dưới nội soi: 50 mẫu
Lô 2: Nạo VA theo phương pháp kinh điển: 41 mẫu
Giới
Lô 1: 30 Nam (Tỷ lệ 60%), 20 Nữ (Tỷ lệ 40%) Lô 2: 26 Nam (Tỷ lệ 63%),
15 Nữ (Tỷ lệ 37%)
Trang 7Nhận xét: Trong cả 2 lô nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nam /nữ là: 3/2
và không có sự khác biệt về tỷ lệ nam /nữ giữa 2 lô nghiên cứu (P =0,739) Tuổi
Bảng 1: Phân bố tuổi theo số ca bệnh và phương pháp phẫu thuật
Trang 9NạoVA kinh điển
Trang 10NHẬN XÉT: Tuổi nhỏ nhất 2 tuổi, lớn nhất 7 tuổi Độ tuổi trong 2 lô gần giống nhau và tập trung trong độ tuổi từ 3 tuổi đến 6 tuổi, chiếm tỷ lệ 92% (P = 0,301)
Độ phì đại VA trên X quang “(3)”
Bảng 2 Bảng phân độ VA trên X quang sọ nghiêng
Trang 115
10%
24
48%
Trang 13Phân độ VA dưới nội soi “(5)”
Bảng 3 phân độ VA dưới nội soi
Độ
Độ I
Trang 15Tỷ lệ
Số ca
Tỷ lệ nội soi
Trang 167
14%
50
100% kinh điển
Trang 17Tỷ lệ hết sạch mô VA trên x-quang là 39/50 ca, tỷ lệ 78%,còn sót mô VA trên x-quang là 11/50 ca, tỷ lệ 22% Tỷ lệ hết sạch mô VA trên nội soi là 38/50 ca, tỷ lệ 76%, còn sót là 12/50 ca, tỷ lệ 24% Không ca nào chảy máu sau nạo VA và cũng không có ca nào tổn thương vòi nhĩ hay tổn thương
Trang 18khác Với 41 ca nạo VA kinh điển tuổi từ 2 tuổi đến 6 tuổi, trung bình 4,59 tuổi, trong đó có 26 nam và 15 nữ, với dụng cụ là thìa nạo Moure chúng tôi
có kết quả giảm nghẹt mũi là 22 /41 ca, tỷ lệ 53,7% Giảm sổ mũi là 21/41
ca, tỷ lệ 51,2% Hết ngủ ngáy là 14/35 ca, tỷ lệ 40% Tỷ lệ hết mô VA trên x-quang là 13/41, tỷ lệ 31,7%, còn sót là 28/41 ca, tỷ lệ
Bảng 4 Kết quả sau nạo va của 2 phương pháp
Phương pháp nạo VA
sổ mũi
nghẹt mũi
ngủ ngáy
x-quang kiểm tra
nội soi kiểm tra
chảy máu sau nạo
giảm
Trang 20không nội soi
Trang 2176%
24%
0%
100% kinh điển
Trang 23từ 20 đến 55 phút, lượng máu mất từ 30 đến 80 ml, không có ca nào nhiễm khuẩn hay chảy máu sau nạo Tất cả bệnh nhân đều được nội soi và chup x-
Trang 24quang sọ nghiêng sau nạo VA 3 tháng và không thấy có biến chứng gì Một nghiên cứu của YM Wan, KC Wong, KH Ma(6), Nạo VA dưới hướng dẫn nội soi với dụng cụ là curette nạo VA kinh điển trong 3 năm từ tháng 3-
2001 đến tháng 4-2004,với 13 ca trong đó có 12 trẻ em tuổi từ 4 đến 11 tuổi
và một người lớn là nữ,38 tuổi Kết quả là không có ca nào có biến chứng và tất cả đều hết ngáy khi ngủ và chất lượng giấc ngủ đều được cải thiện rất tốt Một nghiên cứu của PGS.TS Nhan Trừng Sơn(4), nạo 61 ca VA qua nội soi tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1 từ 01-07-2000 đến 31-01-2001, ở trẻ em từ 18 tháng đến 15 tuổi với kết quả như sau: thời gian phẫu thuật từ 3 phút đến 10 phút,trong đó có 90,2% nạo trong vòng từ 3 phút đến 5 phút Biến chứng sau nạo chảy máu 2 ca (tỷ lệ 3,3%), sốt 1 ca (1,6%), biến chứng khác 3 ca (4,9%) Kết quả giảm sổ mũi 46 ca (77%), giảm nghẹt mũi 53 ca (86,9%), triệu chứng khác 4 ca (6,6%) Kiểm tra bằng X quang sau nạo: giảm hẳn 53
ca (86,9%), trạng thái bình thường 6 ca (9,8%), không thay đổi 2 ca (3,3%) Qua 50 trường hợp nạo VA dưới nội soi so sánh với 41 ca nạo VA kinh điển chúng tôi có kết quả như sau: Tỷ lệ giảm nghẹt mũi: 82% so với 53,7% (P = 0,004) Tỷ lệ giảm sổ mũi: 78% so với 51,2% (P = 0.007) Tỷ lệ hết ngủ ngáy là 78,9% so với 40% (P = 0,001) Tỷ lệ giảm hết mô VA trên X quang: 78% so với 31,7% (P = 0,001) Tỷ lệ hết sạch mô VA trên nội soi: 76% so với 36,6% (P = 0.000) Tỷ lệ chảy máu sau nạo: 0% so với 4,9% (P=0,114)
Trang 25Tất cả các chỉ số đều có ý nghĩa thống kê với P < 0.001 Chỉ trừ chảy máu sau nạo là p > 0,01, tuy nhiên nạo VA dưới nội soi không có trường hợp nào chảy máu sau nạo, còn nạo VA theo phương pháp kinh điển thì lại có Vì vậy phương pháp nạo VA dưới nội soi giải quyết được những vấn đề mà việc nạo VA kinh điển không giải quyết được
3 Tránh giảm được biến chứng chảy máu sau nạo VA
4 Nên nạo VA dưới nội soi thay thế cho phương pháp nạo VA kinh điển