Các triệu chứng bệnh do nhiễm độc tố nấm mốc và các biện pháp phòng, trị cũng được đề cập đến trong chương này.. Định nghĩa độc tố nấm mốc và bệnh độc tố nấm mốc Độc tố nấm mốc là sản p
Trang 1Trong ống tiêu hóa: khi bị nhiễm độc nên dùng dung dịch Magiờ oxyt để trung hũa Khụng được dùng hydrocacbonat hoặc các chế phẩm khác chứa cacbonat cho uống để trung hũa acid trong đường tiêu hóa Khi đó dưới tác dụng của axit, một lượng lớn CO2 sẽ được hỡnh thành Khớ CO2 này sẽ làm gián đoạn việc tẩy rửa cục bộ tại chỗ axit ở đường tiêu hóa Không được rửa dạ dày và gây nôn Để giảm đau có thể dùng morphin và các piopat khác Cho uống nhiều nước để pha loóng acid Đề phũng kế phỏt cỏc bệnh truyễn nhiễm, dùng các thuốc chống vi trùng Có thể dùng atropin giảm co thắt cơ trơn đường tiêu hóa do tác dụng của acid gây nên Chống toan huyết dùng dung dịch Natri hydrocarbonat 2 - 4% tiờm tĩnh mạch Tốt nhất dựng dung dịch glucoza 5 - 10% truyền tĩnh mạch
Trường hợp ngộ độc acid oxalic một mặt phải trung hũa acid, mặt khỏc phải bổ sung canxi để duy trỡ hàm lượng canxi huyết, bằng cách cho uồng hoặc tiêm các dung dịch có chứa các ion Canxi Đồng thời phải tiến hành điều trị triệu chứng
2.3 Thuốc hạ sốt, giảm đau và chống viêm
Với máu: gây dung huyết Liều cao gây methemoglobin giảm khả năng vận chuyển o
xy của tế bào hồng cầu Làm toan huyết Tổn thương gan nhất là nhóm anillin hay các thuốc
thuốc dẫn xuất của salicylat, pyrazolon Giảm bạch cầu các thuốc thuộc nhóm pyrazolon
- Hay gây quen thuốc, nghiện thuốc,
+ Không dùng kết hợp các ancaloid của nấm cựa gà (Ergot de seigle, Secale
cornutum, Claviceps purpurea) gồm: Ergotamin, Ergotoxin kết hợp với các thuốc gây co
mạch quản ngoại vi sẽ làm huỷ hoại tổ chức: hoại tử đầu các chi, đuôi, tai, mũi
câu hỏi ôn tập
1 Nguyên nhân, biện pháp đề phòng ngộ độc thuốc cho vật nuôi?
2 Cơ chế và các tác nhân gây dị ứng thuốc?
3 Nguyên nhân gây tác dụng phụ của thuốc?
4 Độc tính của các nhóm kháng sinh và thuốc hoá học trị liệu trong chăn nuôi thú y?
Chương VI Độc tố nấm mốc
Chương 6 trình bày những kiến thức về một số loài nấm mốc và độc tố nấm mốc gây bệnh cho gia súc, gia cầm Các triệu chứng bệnh do nhiễm độc tố nấm mốc và các biện pháp phòng, trị cũng được đề cập đến trong chương này
1 Một số loài nấm mốc gây độc cho gia súc, gia cầm
1.1 Nấm mốc ở đồng ruộng trước và trong thu hoạch
a Pithomyces chartarum
Chủ yếu là loài hoại sinh, gặp trên các đồng cỏ, các cây họ hoà thảo và các cây họ đậu
đã chết khô Loài nấm này hình thành những tảng màu đen, hình chấm, đường kính tới 0,5mm Sinh trưởng tốt nhất ở 240C, độ ẩm tương đối gần 100%
Nấm Pithomyces chartarum sản sinh ra 3 độc tố: sporidesmin, sporidesminB, sporidesminC
Trang 2b Stachybotrys alternans
Là một loài nấm hoại sinh và được coi như một trong những loài chủ yếu phá hoại xenluloza Thường phát triển trong đất, trên nhiều cơ chất, đặc biệt ưa rơm rạ Sinh trưởng tốt nhất ở 20-250C, nhưng có thể mọc được ở 20
C và 400C Tuỳ loại chủng sinh độc tố có tên là stachybotryotoxin
1.2 Nấm mốc trong quá trình bảo quản
Những loài nấm mốc này thường xuất hiện trong lương thực, thực phẩm đã được bảo quản Chúng có đặc điểm chung là phân huỷ xeluloza kém, ưa áp suất thẩm thấu cao, có khả năng chịu nhiệt cao và làm axit hoá cơ chất Có 2 loài hay xuất hiện nhất, sản sinh độc tố rất nguy hiểm cho người và vật nuôi: loài Penicillium và Aspergillus
2 độc tố nấm mốc và bệnh độc tố nấm mốc
2.1 Định nghĩa độc tố nấm mốc và bệnh độc tố nấm mốc
Độc tố nấm mốc là sản phẩm của sự chuyển hoá thứ cấp trong quá trình phát triển của
mỗi loài hoặc của mỗi chủng nấm mốc nhất định
Bệnh độc tố nấm mốc là bệnh của người và động vật có căn nguyên do độc tố nấm mốc ở bệnh này thường có một số đặc điểm chung như sau:
- Đây là một bệnh không lây Điều trị bằng hoá học trị liệu ít hoặc không có hiệu quả
- Bệnh thường bùng nổ theo mùa Sự bùng nổ của bệnh thường liên quan đến loại thức
ăn đặc biệt
- Mức độ nhiễm bệnh chịu ảnh hưởng của tuổi, giới tính và trạng thái dinh dưỡng của cơ thể
- Khi kiểm tra thức ăn, có dấu hiệu của nấm mốc
Nhưng theo Neuhold, 1982, trong thức ăn có thể không phát triển nấm mốc, vẫn chứa độc tố, và ngược lại có thể tìm thấy nấm mốc trong thức ăn mà không có độc tố
Trang 3Những độc tố nấm mốc chịu các biến đổi hoá học do ảnh hưởng qua lại giữa cây, vi sinh vật và không xác định được bằng những phương pháp phân tích bình thường được gọi là
độc tố nguỵ trang (masked mycotoxin) Trong qúa trình tiêu hoá những độc tố này dễ được
giải phóng và gây độc cho cơ thể
ở hàm lượng cao, độc tố nấm mốc gây bệnh cấp tính và gây chết, ở hàm lượng thấp
gây hàng loạt rối loạn chuyển hoá của cơ thể (không hoặc có kèm theo biến đổi bệnh lý)
Bảng 6.1: Một số rối loạn chuyển hoá do độc tố nấm mốc gây ra
1 Các hệ chuyển hoá
- Chuyển hoá Carbohydrat
- Chuyển hoá lipid
Aflatoxins, Dicoumarol Aflatoxins, Trichothecenes toxins Aflatoxins, OchratoxinA
Aflatoxins, Zearalenone, Ergot alcanoids Aflatoxins, OchratoxinA
Theo nhiều tác giả và Biro, 1985 hàm lượng thấp độc tố nấm mốc làm suy giảm miễn dịch, tạo tiền đề cho các bệnh nhiễm khuẩn
Bảng 6.2: Một số bệnh tăng nặng do cộng nhiễm độc tố Aflatoxin và T-2 toxin
Erysipelas, Salmonellosis Clostridial infection Fascioliasis
Intramammary infections
Trang 4Độc tố nấm mốc gây độc cho gia súc, gia cầm, làm ảnh hưởng đến năng suất chăn
nuôi và hiệu quả kinh tế Chúng còn gây độc trực tiếp cho người (ở thực phẩm bị nhiễm nấm
mốc) hoặc gián tiếp (từ những độc tố tồn dư trong thực phẩm)
2.2 Cơ chế chính của sự hình thành độc tố nấm mốc
Chuyển hoá sơ cấp là các phản ứng tạo thành các chất cần thiết, đảm bảo cho sự sống và phát triển tế bào Còn chuyển hoá thứ cấp là các phản ứng, các quá trình tạo thành các chất mà vai trò sinh lý của chúng chưa được rõ, chưa thật cần thiết cho sự tồn tại của chính tế bào đó Sự chuyển hoá thứ cấp phụ thuộc khá chặt chẽ vào mỗi loài, chủng nấm
mốc nhất định và thường xảy ra ở cuối giai đoạn phát triển của tế bào nấm mốc (giai đoạn
cuối của tổng hợp protein trong tế bào) Các độc tố nấm mốc được tổng hợp từ nhiều
đường chuyển hoá khác nhau Ví dụ: dẫn chất của polyaceto acid gồm có Aflatoxin và một
số độc tố khác, khi kết hợp với acid amin có ochratoxin , còn trichothecen là dẫn chất của các terpen Dẫn chất của polyaceto acid là các độc tố thường gặp trong lương thực, thực phẩm và có độc lực rất cao
2.3 Một số độc tố nấm mốc gây bệnh ở vật nuôi (Mycotoxin) và bệnh độc tố nấm mốc (Mycotoxicosis)
Stachybotrytoxin B có màu vàng nâu, ít độc hơn, ít tan trong dung môi hữu cơ, công thức là C26H38O6, trọng lượng phân tử 446,3 Độc tố H thuộc nhóm sesquiterpen
Các độc tố này tồn tại lâu và khá bền vững trng thiên nhiên (trong thức ăn đến 30 năm), chịu nhiệt tốt, không bị dịch tiêu hoá phá huỷ, có phản ứng màu với resorsin Tia X và
UV cho bức xạ huỳnh quang
* Stachybotrytoxicosis
Độc tố nấm muội than gây chảy nước mắt, viêm kết mạc, vào đường hô hấp gây ho, ở
đường tiêu hoá gây viêm ruột nhẹ (rõ ở ngựa), bò nhẹ hơn Gây viêm rất rõ xung quanh miệng lợn con Khi chúng bú sữa, làm viêm quanh núm vú lợn mẹ
Sau khi hấp thu vào máu, độc tố được đưa đi khắp cơ thể, phá hoại các tế bào đang phân chia, nhất là ở tuỷ xương và niêm mạc, gây xuất huyết, tàn phá tuỷ xương như tác động của tia X và tia phóng xạ
Stachybotrytoxin làm giảm khả năng tạo kháng thể ở chuột Nó làm giảm hemaglutinin, cản trở thymus và túi fabricius Do đó, sức đề kháng của cơ thể bị giảm, con vật rất dễ mẫn cảm với các bệnh truyền nhiễm kế phát
Kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học cho thấy, hệ thống miễn dịch bị suy thoái,
số lượng bạch cầu giảm từ 6000 - 8000/mm3 còn 1000 - 2000/mm3 Số lượng tiểu cầu giảm
rõ, từ 300 - 400 nghìn/mm3 còn 100 - 200 nghìn/mm3, làm xuất huyết càng trầm trọng
Trang 5Do ảnh hưởng của độc tố, các vi khuẩn đặc biệt là bacterium pyosepticum phát triển mạnh, gây độc trực tiếp ở Việt nam, đã có trường hợp ngỗng nhập nội bị nhiễm độc tố này và
Khi phát hiện bệnh cần loại bỏ tất cả rơm rạ, đồ vật bị nhiễm nấm, không cho tiếp xúc với súc vật điều trị triệu chứng, nâng cao sức đề kháng Dùng liệu pháp kháng sinh để phòng bệnh kế phát
b Ochratoxin và Ochratoxicosis
* Ochratoxin
- Nguồn gốc: Ochratoxin là các độc tố được sản sinh bởi các chủng nấm Penicillium:
P cyclopium, P viridicatum, P commune, P variabile, P purpurescens, P palitans và các chủng nấm Aspergillus: A ochraceus, A sulfureus, A melleus, A sclerotiorum, A alliaceus,
A ostianus, A petrakil
- Tính chất lý hoá: Nhóm gồm 7 độc tố Ochratoxin A là sản phẩm của chủng nấm
Aspergillus ochraceus Độc tố có dạng tinh thể không màu, dưới ánh sáng của tia UV, bắt màu xanh huỳnh quang ở dạng muối dễ tan trong nước, dạng axit tan trong các dung môi hữu
cơ có phân cực (chloroform, methanol)
(Ochratoxin A ethyl ester)
Trang 64-Hydroxyochratoxin A H Cl OH
Các Ochratoxin rất ưa ẩm độ, thường có trong cơ chất với độ ẩm > 16% Độc tố được sản sinh nhiều nhất ở nhiệt độ từ 20 - 250C, nhưng quá trình này có thể bắt đầu từ nhiệt độ thấp hơn nhiều, khoảng - 20C
- Hấp thu, chuyển hoá, thải trừ: Ochratoxin A được hấp thu chủ yếu trong dạ dày
Trong ruột phát hiện thấy Ochratoxin, sản phẩm của phản ứng thuỷ phân của hệ vi sinh vật đường ruột Sau khi hấp thu vào cơ thể, độc tố được phân bố nhiều nhất trong thận, sau đó là gan, cơ và các tổ chức mỡ Ngoài ra, Ochratoxin A cũng được gắn với albumin huyết thanh
Ochratoxin xuất hiện trong nước tiểu và phân chuột được tiêm Ochratoxin A vào xoang bụng Bằng phương pháp đánh dấu phóng xạ đã xác định độc tố được thải chủ yếu qua nước tiểu, thải ít qua phân
ở lợn, hàm lượng độc tố tồn dư trong thận nhiều nhất, ít hơn một chút trong gan, rồi đến
cơ và tổ chức mỡ ở gà, cũng quan sát thấy sự tồn dư tương tự, không tìm thấy độc tố trong trứng
* Ochratoxicosis
Cơ quan tác dụng đích của độc tố Ochratoxin là thận Có hiện tượng thoái hoá, viêm
xơ tế bào ống thận Xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học thấy hàm lượng glycogen gan giảm
nhưng lại tăng trong tim Hoạt tính men gan (phosphorylase) tăng Ochratoxin không gây biến
dị, ung thư ở người và động vật
- Ochratoxicosis ở súc vật nhai lại: Dạ cỏ là nơi Ochratoxin được thuỷ phân thành Ochratoxin alpha, một chất ít độc hơn nhiều Vì vậy, trâu bò đã trưởng thành ít mẫn cảm với
độc tố hơn so với bê nghé (chức năng dạ cỏ chưa hình thành đầy đủ) Ochratoxin tiêm tĩnh
mạch, hàm lượng độc tố tìm thấy trong nước tiểu nhiều hơn 20 - 30 lần nếu cho uống cùng liều
độc tố
- Ochratoxicosis ở lợn:Triệu chứng chủ yếu nhiễm độc Ochratoxin mãn tính là bệnh về
thận Nếu ngộ độc cấp tính, ngoài những tổn thương ở thận còn thấy hiện tượng phù quanh thận, được biểu hiện bằng các triệu chứng như: tích nước dưới da, mất điều hoà, đầu ngật về phía sau, giảm trương lực cơ bụng và tỷ lệ chết từ 40 - 90% Xét nghiệm vi thể cho thấy, thoái hoá tế bào
dẫn đến teo biểu mô ống thận, có hiện tượng xơ hoá vỏ thận và hyaliniza một số cầu thận
- Ochratoxicosis ở gia cầm: Tổn thương chủ yếu khi gia cầm bị ngộ độc Ochratoxin
được tìm thấy ở gan và thận Gà con bị nhiễm độc bị viêm ruột cata, mất nước, gầy rộc đi đẫn đến giảm tăng trọng Số lượng các thành phần máu hữu hình và hàm lượng hemoglobin đều giảm Protein tổng số và lipid giảm Độ thanh thải thận cũng giảm ở gà đẻ, sản lượng trứng giảm, trọng lượng cơ thể cũng bị giảm và tăng tiêu tốn thức ăn
c Trichothecene và Trichothecene toxicosis
* Trichothecene
- Nguồn gốc: Hiện nay, đã phát hiện hơn 60 độc tố trichothecene từ môi trường nuôi
cấy các chủng nấm trichothecene
- Tính chất lý hoá: Các độc tố trichothecene tan trong các dung môi hữu cơ như
acetone, chloroform, acetonitrile, ethanol và methanol, không tan trong nước và petrol
Trang 7* Trichothecene toxicosis
Tất cả các trichothecene toxin đều gây độc trên da, đặc trưng bởi những nốt đỏ ở da bị thương và phản ứng viêm ở các tổ chức bị nhiễm độc Liều tối thiểu có tác dụng dao động từ 5 g
(T-2 toxin, verucarin) đến 40 g (deoxynivalenol)
Nôn là một triệu chứng điển hình của trichothecene toxicosis ở người và động vật
Liều độc tố tối thiểu (mg/kg, tiêm dưới da) gây nôn như sau: T - 2 toxin - 0,1 (mèo), diacetoxyscirpenol - 0,2 (ngỗng) và 2,4 (người i.v.), nivalenol - 1,0 (ngỗng), deoxynivalenol - 13,5 (ngỗng), 0,05 (lợn i.p.) và 0,1 (chó i.v.)
- Trichothecene toxicosis ở súc vật nhai lại
Hầu hết các trichothecene đều kích thích, làm tấy đỏ da Viêm mũi, mồm thường kèm theo các vết loét và tiết nhiều nước bọt Nếu độc tố vào đường tiêu hoá cũng gây viêm, loét
Một vụ ngộ độc xảy ra ở New Zealand do trâu bò ăn phải ngô nhiễm nấm Fusarium culmorum Súc vật bị bệnh thường bỏ ăn, ỉa chảy, mất điều hoà và giảm sản lượng sữa
Triệu chứng nặng hơn là xuất huyết lan tràn dưới da, cơ và niêm mạc Nguyên nhân có thể do độc tố ức chế quá trình tổng hợp vitamin K của vi sinh vật dạ cỏ Có trường hợp con vật không chịu ăn, có lẽ do vị đắng của trichothecin
T-2 toxin đặc biệt độc với bê, gây ngừng nhu động dạ cỏ
- Trichothecene toxicosis ở lợn
Hai biểu hiện đặc trưng của nhiễm độc trichothecene ở lợn là không chịu ăn và hội chứng nôn, dẫn đến chậm lớn, giảm tăng trọng Nguyên nhân có thể do một chất chuyển hoá trong ngô nhiễm nấm F roseum
- Trichothecene toxicosis ở gia cầm - T-2 toxin gây rối loạn thần kinh
Hình 6.1: Cấu trúc hoá học của một số độc tố trichothecene
Trang 8Gà con 1 ngày tuổi ăn thức ăn chứa 4 - 16 mg/kg T-2 toxin sẽ thấy những biểu hiện
như rũ cánh, yếu chân, lảo đảo Ngỗng nhiễm độc tố, đầu, cánh run, lông xù, chậm chạp và chuyển động khó khăn
Trichothecene do nấm Stachybotrys alternan sản sinh là nguyên nhân gây bệnh stachybotrytoxicosis ở lợn và gia cầm
d Zearalenon và tác hại của zearalenon đối với vật nuôi
* Zearalenon
- Nguồn gốc: Zearalenon là độc tố do một số chủng nấm Fusaria tổng hợp
- Tính chất lý hoá: Độc tố này không tan trong nước tan trong nước kiềm và các dung
môi hữu cơ như benzen, chloroform, methylene chloride, ethyl acetate, acetonitrile và cồn
Hình 6.2: Cấu trúc hoá học chính của một số độc tố Zearalenone
* Tác hại của zearalenon ở vật nuôi
- Trâu bò: dịch chiết của nấm F graminearum làm giảm khả năng sinh sản ở trâu bò
được thụ tinh nhân tạo Zearalenone gây sưng, phù các cơ quan sinh sản
- Lợn: Zearalenone thường gây hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn Triệu chứng thể hiện
là viêm âm hộ, âm đạo, tiếp theo là viêm tử cung, sưng phù cổ, sừng tử cung
e Aflatoxin và Aflatoxicosis
*Aflatoxin
- Nguồn gốc:Aflatoxin là nhóm độc tố do nấm Aspergillus flavus và Aspergillus
parasiticus sản sinh ra trong những điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp
- Cấu trúc hoá học
Trang 9Hình 6.3: Cấu trúc hoá học của Aflatoxin
Trang 10Trong cấu trúc hoá học của Aflatoxins có một khung hoá học giống các dẫn chất của
coumarin (dimethoxy - 5 - 7 coumarin, dimethoxy - 5 - 7 - cyclopenten coumarin và Sterigmatocystin)
Vì vậy, người ta coi Sterigmatocystin là tiền thân của Aflatoxin Đến nay, đã phát hiện được 12 loại Aflatoxin Các Aflatoxin được gọi tên là B1, B2, G1, G2 dựa vào màu huỳnh quang của chúng:
B (blue) - vết huỳnh quang màu xanh da trời; G (green) - vết huỳnh quang màu lục
Aflatoxin B2 và G2 có cấu trúc gần giống như Aflatoxin B1 và G1, chỉ khác ở chỗ nối đôi cách trong nhân hydrofuran tận cùng của B1 và G1 bị khử
Aflatoxin M1, M2 (M = milk) là sản phẩm oxy hoá của Aflatoxin B1 và B2, được thải qua sữa và có khả năng gây ra ở vịt con những rối loạn tương tự những rối loạn do Aflatoxin
Khi phân tích nước tiểu của khỉ ăn Aflatoxin B, Dalezios, Wogan và Weinreb, 1971 đã phát hiện được Aflatoxin P1, dẫn xuất phenolic của Aflatoxin B1 Đây là một sản phẩm trao đổi chất, là kết qủa sự khử metyl của Aflatoxin B1
- Chuyển hoá, trao đổi chất và bài tiết
Sự chuyển hoá và đào thải Aflatoxin trong cơ thể động vật ăn phải chúng là một vấn
đề rất quan trọng Sự hiểu biêt về vấn đề này sẽ giúp cho chúng ta có biện pháp phòng, chống, góp phần bảo vệ sức khoẻ người và gia súc
Theo thông báo của Allcroft và Carnaghan (1962 - 1963) trong sữa của bò ăn bột khô
lạc có Aflatoxin B1, chứa một chất độc gây chết vịt tương tự như Aflatoxin B1 Chất này chỉ
có trong phần casein kết tủa
Aflatoxin B1 đi qua sữa chuyển hoá thành Aflatoxin M có độ độc tương tự Aflatoxin
B1 Khi cho chuột uống và tiêm vào phúc mạc Aflatoxin B1 cũng phát hiện trong gan chuột có
14,80 69,80 3,30 7,70
ở trường hợp I, sự chuyển hoá thoái biến Aflatoxin B1 là mất nhóm metyl, phần bị mất metyl sẽ hoàn toàn bị oxy hoá thành CO2 Trong trường hợp II, rất ít carbon gắn trong các vòng bị chuyển hoá thành CO2 Tốc độ bài xuất Aflatoxin B1 đánh dấu bằng 14
C ở carbon
trong các vòng qua đường ruột là quan trọng nhất (xuất phát chủ yếu từ sự bài xuất qua mật,
thứ nhì là qua đường nước tiểu) Sản phẩm chuyển hoá Aflatoxin M1 có thể được khử hoạt bằng liên hợp với taurocholic và glucuronic acids dẫn đến thải trừ qua mật hoặc nước tiểu Hai dạng chuyển hoá khác như Aflatoxin P1 và Q1 cũng được khử hoạt theo hướng này
Sự chuyển hoá Aflatoxin B1 ở trong gan thành Aflatoxicol, Aflatoxicol H1 và Aflatoxin
Q1 khác với sự chuyển hoá sinh học được xúc tác bởi các enzymes microsome gan là có sự tham gia của NADH - dependent dehydrogenase bào tương Sự hình thành Aflatoxicol có thể
bị ức chế bởi 17 - Ketosteroid hormon