Phân tích tình hình tài chính ở Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh và đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh . “Phân tích tài chính bao gồm việc đánh giá các điều kiện tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai” (Quản trị tài chính căn bản TS Nguyễn Quang Thu, NXB Thống kê 2005). Khái niệm này chưa chỉ ra được nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là gì, do đó cũng chưa cho thấy được mục tiêu của phân tích tài chính.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần chủ động về hoạtđộng sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng.Điều này đã đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đápứng kịp thời với những thay đổi của nền kinh tế và tận dụng những cơ hội
để phát triển doanh nghiệp Bởi vậy chủ doanh nghiệp phải có những đốisách thích hợp, nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả Nếu việc cung ứng sản xuất vàtiêu thụ được tiến hành bình thường, đúng tiến độ sẽ là tiền đề đảm bảocho hoạt động tài chính có hiệu quả và ngược lại việc tổ chức huy độngnguồn vốn kịp thời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp
lý sẽ tạo điều kiện tối đa cho hoạt động SXKD được tiến hành liên tục và
có lợi nhuận cao Do đó, để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiếnlược của mình các doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giátình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính Từ đó,phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của hoạt động tài chính củadoanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến cácmặt này và đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tàichính tạo tiền đề để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Như vậy phântích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhấtcho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có củadoanh nghiệp, xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh
mà còn thông qua đó xác định được xu hướng phát triển của doanhnghiệp, tìm ra những bước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương laigần Việc phân tích tài chính là một công cụ quan trọng cho công tác quản
lý của chủ doanh nghiệp nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nóichung
Sau một thời gian thực tập và đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động sảnxuất kinh doanh ở Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh cho thấy hiệu
Trang 2quả sử dụng vốn của công ty cần phải được nâng cao Do đó, phân tíchtình hình tài chính có một một ý nghĩa cực kỳ quan trọng qua đó có thểtìm ra những phương hướng và đề xuất biện pháp nhằm năng cao hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp góp phần làm cho doanh nghiệp đứng vữngtrong cơ chế thị trường
Xuất phát từ ý nghĩa cơ bản về lý luận và thực tiễn của việc phântích tài chính với mong muốn được kết hợp giữa kiến thức được từ việchọc tập, những kinh nghiệm bổ ích được tiếp thu qua đợt tim hiểu tạiCông ty TNHH Một thành viên Kim Anh cùng với sự hướng dẫn tận tình
của giáo viên hướng dẫn em đã lựa chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính ở Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh và đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh ”
làm đề tài cho Bài tập lớn nâng cao của mình
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.Khái niệm về phân tích tài chính và các yêu cầu về quản lý tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính
Phân tích tài chính doanh nghiệp được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuốithế kỷ XIX Từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích tài chính doanh nghiệp thực
sự được phát triển và được chú trọng hơn bao giờ hết bởi nhu cầu quản lý doanhnghiệp có hiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tàichính, sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rãicông nghệ thông tin Nghiên cứu, phân tích tài chính là một khâu rất quan trọngtrong quản lý doanh nghiệp Vậy phân tích tài chính là gì?
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phân tích tài chính doanh nghiệp:
“Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp” (Nghiệp vụ ngân hàng thương mại - TS Nguyễn Minh Kiều, NXB
Thống kê 2005) Khái niệm này mới chỉ cho thấy nguồn thông tin phục vụ chophân tích tài chính là các thông tin kế toán (bộ báo cáo tài chính của doanhnghệp) Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân tích tài chính có thể dựa vào cácnguồn thông tin khác phục vụ cho quản lý
“Phân tích tài chính bao gồm việc đánh giá các điều kiện tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai” (Quản trị tài chính căn bản -
TS Nguyễn Quang Thu, NXB Thống kê 2005) Khái niệm này chưa chỉ ra đượcnguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là gì, do đó cũng chưa chothấy được mục tiêu của phân tích tài chính
Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp được đề cập trong giáo trình
“Tài chính doanh nghiệp” (Chủ biên: TS Lưu Thị Hương - Khoa Ngân hàng tàichính trường Đại học kinh tế quốc dân) được coi là khái niệm đầy đủ nhất về
phân tích tài chính Theo đó, “phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các
Trang 4khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó”.
1.1.2 Các yêu cầu về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là 1 trong những nội dung rất coe bảncủa hoạt động kinh doanh nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinhtrong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được biểu hiện dướihình thái tiền tệ Hay nói cách khác , tài chính doanh nghiệp là những mối quan
hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức , huy động phân phối, quản lý và sửdụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để đạt đượcnhững mục tiêu cơ bản của phân tích báo cáo tài chính (PT BCTC) , nhiệm vụcủa PT BCTC được thể hiện ở những nội dung sau đây:
- Cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các nhà cho vay
và những người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có những quyếtđịnh đúng đắn khi ra các quyết định đầu tư và cho vay
- Cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quảcủa quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện và các tình huống làm biếnđổi các nguồn vốn và khoản nợ của doanh nghiệp
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời chính xác các thông tin tài chính cần thiết chochủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư, nhà cung cấp…
1.2 Mục đích và ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp
1.2.1 Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp
Mục đích cơ bản của việc PT BCTC là nhằm cung cấp những thông tin cầnthiết, giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khách quan về sức mạnh tàichính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuất kinhdoanh Bởi vậy PT BCTC là mối quan tâm của nhiều đối tượng sử dụng thôngtin khác nhau
Trang 51.2.2 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà đầu tư thấy rõ hơnbức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắnnguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính củadoanh -nghiệp
- Người lao động cũng quan tâm đến các thông tin về PT BCTC để đánhgiá triển vọng của nó trong tương lai
- Giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trìnhkinh doanh
1.3 Nội dung của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Nhằm phát huy vai trò và nhiệm vụ của phân tích báo cáo tài chính trongquản lý doanh nghiệp , Nội dung cơ bản của phân tích BCTC trong cac doanhnghiệp bao gồm:
1.3.1.Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian
Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường kết hợp chặt chẽ nhữngđánh giá về trạng thái động để đưa ra bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp Nếu như trạng thái tĩnh được thể hiện qua BCĐKT thì trạngthái động (sự dịch chuyển của các dòng tiền) được phản ánh qua bảng kê nguồnvốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ), qua BCKQKD Thông qua các báo cáo tàichính này, các nhà phân tích có thể đánh giá sự thay đổi về vốn lưu động ròng,nhu cầu vốn lưu động, từ đó, có thể đánh giá những thay đổi về ngân quỹ củadoanh nghiệp Như vậy, giữa các báo cáo tài chính có mối liên quan rất chặt chẽ:những thay đổi trên BCĐKT được lập đầu kỳ và cuối kỳ cùng với khả năng tựtài trợ được tính từ BCKQKD được thể hiện trên bảng tài trợ là liên quan mậtthiết tới ngân quỹ của doanh nghiệp
Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp nhất định, người tacòn chú trọng tới các chỉ tiêu quản lý trung gian nhằm đánh giá chi tiết hơn tìnhhình tài chíh và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp
Trang 6Những chỉ tiêu này là cơ sở xác lập nhiều hệ số (tỷ lệ) rất có ý nghĩa về hoạtđộng, cơ cấu vốn, v.v… của doanh nghiệp.
Lãi gộp = Doanh thu - Giá vốn hàng bán
Thu nhập trước khấu hao và lãi (EBT) = Lãi gộp - Chi phí bán hàng, chiphí quản lý
Thu nhập trước khấu
hao và lãi (EBT) = Lãi gộp -
Chi phí bán hàng,chi phí quản lý
Thu nhập trước thuế và lãi (EBIT) = EBT - Khấu hao
Thu nhập trước thuế (EAT) = EBT - Lãi vay
Thu nhập sau thuế = EAT - Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trên cơ sở đó, nhà phân tích có thể xác định mức tăng tuyệt đối và mứctăng tương đối của các chỉ tiêu qua các thời kỳ để nhận biết tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp Đồng thời, nhà phân tích cũng cần so sánh chúng với các chỉtiêu cùng loại của các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá vị thế của doanhnghiệp
1.3.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là việc xem xét sự thay đổicủa các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp trong mộtthời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập BCĐKT Việc phân tích này bao gồmnhững nội dung sau:
Xem xét sự thay đổi về tổng tài sản và tổng nguồn vốn qua các chu kỳkinh doanh
Sự thay đổi này phản ánh sự thay đổi về quy mô tài chính của doanh nghiệp.Tuy nhiên, đó chỉ đơn thuần là sự thay đổi về số lượng mà chưa giải thích gì vềhiệu quả, chất lượng tài chính Đánh giá tổng tài sản tăng lên chủ yếu ở hạngmục nào và được hình thành từ nguồn nào (tăng nợ hay tăng vốn chủ sở hữu)
Trang 7 Phân tích kết cấu tài sản (tỷ suất đầu tư) và nguồn vốn
Tỷ suất đầu tư là tỷ lệ giữa giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn so vớitổng tài sản
Tỷ lệ này phản ánh đặc điểm khác nhau giữa các ngành nghề kinh doanh.Chính sách kinh doanh của doanh nghiệp (có doanh nghiệp đầu tư tài sản, códoanh nghiệp không đầu tư mà đi thuê…) Tỷ lệ này thường cao ở ngành khaithác, chế biến dầu khí (đến 90%); ngành công nghiệp nặng (đến 70%) và thấphơn ở các ngành thương mại, dịch vụ (20%)
Ngoài ra, tỷ lệ này cũng phản ánh mức độ ổn định sản xuất kinh doanh lâudài Tỷ lệ này tăng lên, phản ánh doanh nghiệp đang nỗ lực đầu tư cho một chiếnlược dài hơi nhằm tìm kiếm lợi nhuận ổn định lâu dài trong tương lai
Về nguồn vốn, việc phân tích tập trung vào cơ cấu và tính ổn định củanguồn vốn: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, vốn vay cổ đông, v.v…Vốnchủ sở hữu chiếm tỷ trọng càng lớn sẽ đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp
Tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Để xem xét tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, người ta phântích chỉ tiêu vốn lưu động ròng Chỉ tiêu này cho ta thấy khái quát về tính chắcchắn ổn định của tài chính doanh nghiệp
Vốn lưu động ròng = Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn - Nợ ngắn hạn Yêu cầu của chỉ tiêu này là phải dương và càng cao càng tốt
Chỉ tiêu này dương (>0) biểu hiện tài sản có định được tài trợ vững chắcbằng nguồn vốn ổn định Không xảy ra tình trạng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn
để đầu tư tài sản cố định Đồng thời, doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợngắn hạn
Ngược lại, khi chỉ tiêu này có giá trị âm (<0), đơn vị đã sử dụng nguồn vốnngắn hạn để đầu tư tài sản cố định Tài sản cố định không được tài trợ đủ bằngnguồn vốn ổn định làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp không đảmbảo
Tình hình nguồn cung ứng vốn và và việc sử dụng các nguồn đó
Trang 8Một trong những công cụ hữu hiệu của quản lý tài chính là biểu kê nguồnvốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ) Nó giúp nhà quản lý xác định rõ các nguồncung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn đó.
Để lập được biểu này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trênBCĐKT từ đầu kỳ đến cuối kỳ Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai cột: sửdụng vốn và tạo nguồn theo nguyên tắc:
- Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hay các khoản mục bên nguồn vốngiảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn
- Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hay các khoản mục bên nguồn vốntăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn
1.3.3 Phân tích tình hình tài sản và biến động của tài sản
Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, phần tài sản phản ánh số kết
dư giá trị tài sản tại một thời điểm Các thông tin về tài sản cho biết quy mô,chất lượng tài sản, khả năng quản lý của khách hàng Hơn nữa, đối với những tàisản của khách hàng dùng để đảm bảo cho khoản vay, sẽ quyết định đến quy môtài trợ cũng như khả năng thu hồi nợ của ngân hàng trong trường hợp xảy ra rủi
ro Vì vậy, các thông tin về tài sản của khách hàng khá quan trọng đối với quyếtđịnh cho vay của ngân hàng
Tiền: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
và tiền đang chuyển hiện có tại thời điểm báo cáo của doanh nghiệp Nếu tiềncủa doanh nghiệp để quá nhiều thì sẽ đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợngắn hạn và nợ đến hạn nhưng lại gây ra hiện tượng ứ đọng vốn
Các khoản phải thu: cần được phân tích một cách cẩn thận bởi vì đây là
tài sản có tính thanh khoản cao, có tính chất gần giống với ngân quỹ và có thể lànguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp chi trả các khoản vay ngắn hạn và đếnhạn CBTD khi phân tích cần quan tâm đến các thông tin về quy mô, thời gian,khả năng thu hồi các khoản phải thu của doanh nghiệp
Trang 9 Hàng tồn kho: Là một khoản mục khá quan trọng trong phân tích tài
chính của khách hàng Rất nhiều khoản vay ngắn hạn nhằm mục đích tăng dựtrữ hàng hoá phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nghiên cứu hàng tồnkho của doanh nghiệp sẽ cho phép CBTD đánh giá được tình trạng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Phân tích hàng tồn kho phải gắn với việc kiểm tra sổsách, kho bãi của doanh nghiệp để xác định liệu hàng tồn kho có đúng như khaibáo, đánh giá phẩm chất, quy cách của hàng tồn kho, phát hiện hàng giả, hayhàng nhận gửi
Tài sản cố định: Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì giá trị TSCĐ
chiếm tỷ trọng lớn, nó sẽ liên quan đến mức độ đầu tư của doanh nghiệp cho sảnxuất, khả năng đảm bảo cho những khoản vay của doanh nghiệp Thông thườngngân hàng không quan tâm đến việc bán TSCĐ như một nguồn trả nợ Tầmquan trọng chủ yếu của TSCĐ trong phân tích tín dụng là vai trò sinh lãi của nó
Khi thẩm định TSCĐ, phải chú ý TSCĐ phải được định giá trên cơ sởnguyên giá trừ đi khấu hao Giá trị thị trường là mức giá mà tài sản có thể bánđược ngay trên thị trường Việc định giá tài sản trên cơ sở nguyên giá trừ đikhấu hao là hoàn toàn hợp lý Song CBTD phải nhận thấy việc đó có thể khôngphản ánh đúng giá trị thực hoặc giá trị thì trường của tài sản
1.4 Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạt động tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Về mặt lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệpnhư: phương pháp so sánh, phương pháp chỉ tiêu, phương pháp tỷ lệ, phươngpháp loại trừ, phương pháp liên hệ, phương pháp tương quan và hồi quy bội,
Trang 10phương pháp phân tích tài chính Dupont,…Việc lựa chọn phương pháp phântích nào là tùy thuộc vào chủ thể phân tích và các thông tin thu thập được.Chuyên đề này chỉ tập trung vào những phương pháp cơ bản, được các ngânhàng vận dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp để phục vụ công tác chovay khách hàng
1.4.1 Phương pháp tỷ số tài chính
Phân tích đánh giá TCDN là việc xác định những điểm mạnh, điểm yếucủa doanh nghiệp qua việc tính toán, phân tích những tỷ số khác nhau, sử dụng
số liệu từ các báo cáo tài chính CBTD cần phải tìm ra được mối liên hệ giữa các
tỷ số tính toán được để có thể đưa ra những kết luận chính xác về doanh nghiệp.Trong phân tích tài chính, các tỷ số tài chính chủ yếu thường được phân thành 4nhóm chính: tỷ số về khả năng thanh toán, tỷ số về khả năng cân đối vốn, tỷ số
về khả năng hoạt động và tỷ số về khả năng sinh lãi
Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành =
TSLĐ
Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành đo lường khả năng mà các tài sảnngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn Ýnghĩa của tỷ số này nói lên mức độ, khả năng trang trải của TSLĐ đối với khoản
nợ ngắn hạn mà không cần tới bất kỳ một khoản vay thêm nào Tóm lại, cho tabiết tại một thời điểm nhất định ứng với một đồng nợ ngắn hạn thì doanh nghiệp
có khả năng huy động bao nhiêu từ TSLĐ để trả nợ
Khả năng thanh toán nhanh
Trang 11Khả năng thanh
toán nhanh =
Tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn
+ Các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp nhưng với góc độ chính xác và thận trọng hơn Hệ số nàykhác với hệ số thanh toán hiện hành ở chỗ nó đã loại trừ hàng tồn kho ra khỏicông thức tính, bởi hàng tồn kho là tài sản khó chuyển hoá thành tiền nhất trongTSLĐ và dễ bị giảm giá trị khi bán gấp Do vậy, tỷ số khả năng thanh toánnhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp màkhông phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ
Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán
Nhiều chủ nợ cho rằng nhìn chung hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạnnên ở mức bằng 2, hệ số khả năng thanh toán nhanh (tương đối) nên ở mức bằng
1, hệ số khả năng thanh toán tức thì nên ở mức 0.5 là hợp lý Tuy nhiên, trongthực tế các hệ số này được chấp nhận là cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào đặcđiểm, tính chất kinh doanh, mặt hàng kinh doanh của mỗi ngành kinh doanh, cơcấu, chất lượng của tài sản ngắn hạn trong mỗi loại hình doanh nghiệp Do vậy,cách xem xét tốt nhất là so sánh các hệ số khả năng thanh toán trung bình củangành để có thể đưa ra nhận xét đúng đắn về khả năng thanh toán của doanhnghiệp
Trang 12 Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn và cơ cấu vốn
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (hệ số nợ)
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (hệ số nợ) =
Nợ phải trả Tổng tài sản
Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải
vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanhnghiệp bị phá sản Nếu hệ số nợ quá cao, tinh trạng mất khả năng thanh toán củadoanh nghiệp là hoàn toàn có khả năng xảy ra, bởi vậy xác định hệ số nợ hợp lý
là công việc phân tích dành cho phía ngân hàng khi xem xét cấp tín dụng chokhách hàng Một tỷ số nợ có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 0.5 được coi là lý tưởng
vì nó cho thấy có ít nhất phân nửa tài sản của doanh nghiệp được hình thànhbằng vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ
Tỷ suất tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tự tài trợ có tác dụng phân tích như chỉ tiêu tỷ số nợ trên tổng tàisản Tỷ số này cho biết tổng số vốn doanh nghiệp chiếm tỷ trọng bao nhiêutrong tổng số vốn mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất kinh doanh Tỷ số nàycàng lớn càng có sự đảm bảo cao cho các khoản nợ vay
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu =
Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu
Tỷ số này cho thấy cứ một đồng vốn do chủ sở hữu đóng góp thì có baonhiêu đồng vốn do vay mượn mà có Thông thường các chủ nợ mong muốn tỷ
số này càng thấp càng tốt Tỷ số này càng thấp thì tương ứng với mức độ tự chủ
về tài chính của doanh nghiệp càng cao, giảm bớt rủi ro đối với các chủ nợ
Tỷ số nợ dài hạn trên tổng nguồn vốn dài hạn
Trang 13Tỷ số nợ dài hạn trên
tổng nguồn vốn dài hạn =
Nợ dài hạn Tổng nguồn vốn dài hạn
Tỷ số này cho thấy tầm quan trọng của nguồn vốn vay dài hạn trong mốiquan hệ với tổng nguồn vốn dài hạn (bao gồm nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu)
Tỷ số nợ dài hạn trên tổng vốn dài hạn thấp chứng tỏ doanh nghiệp trong dài hạnhoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn tự có, ít phụ thuộc vào nguồn vốn vay
Khả năng thanh toán lãi vay (số lần có thể trả lãi)
Khả năng thanh toán lãi vay =
LNTT + Lãi vay Lãi vay
Tỷ số này nói lên trong kỳ doanh nghiệp đã tạo ra lợi nhuận gấp baonhiêu lần lãi phải trả về tiền vay, chỉ ra mức độ của lợi nhuận đảm bảo khả năngtrả lãi vay Tỷ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng chi trả lãi tiền vay càngthấp và ngược lại Thông thường tỷ số này được các chủ nợ chấp nhận ở mứchợp lý khi nó lớn hơn hoặc bằng 2 Nếu chỉ tiêu này không lớn hơn 1, nó chỉ rarằng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không đủ để bù đắpchi phí trả lãi, và nếu tình hình tài chính không được tốt, việc không thể hoàn trảlãi vay đến hạn đe doạ trực tiếp đến tình trạng phá sản của doanh nghiệp
Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động
Nhóm chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản củadoanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp được dùng để tài trợ cho các loại tài sảnkhác nhau như TSCĐ, TSLĐ Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tớiviệc đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng tới hiệu quả sửdụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụnghàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào Hệ số này cao hay thấp còn phụ
Trang 14thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng nói chung nếuvòng quay hàng tồn kho cao thì việc kinh doanh thường được đánh giá là tốt.Nếu hệ số này thấp, có nghĩa là hàng tồn kho luân chuyển chậm, vốn ứ đọngnhiều hơn kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng Nguyên nhân có thể làchất lượng hàng hoá thấp, giá thành cao, mẫu mã không phù hợp với thị hiếungười tiêu dùng.
Vòng quay khoản phải thu
Vòng quay khoản phải thu =
Doanh thu Các khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân số vòng quay khoản phải thu trong kỳkinh doanh của doanh nghiệp Số vòng quay khoản phải thu cao cho thấy vốncủa doanh nghiệp được quay vòng nhiều (khoản thu được từ những khoản phảithu sẽ tạo vốn đi vào quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó tạo ra hàng hoá vàhàng bán được sẽ tạo ra những khoản phải thu mới ), hoặc cho thấy tương quanlớn giữa doanh thu của doanh nghiệp so với các khoản phải thu, cho thấy tìnhhình thu tiền bán hàng của doanh nghiệp là tốt, từ đó doanh nghiệp có khả năngtái đầu tư hoặc khả năng thanh toán các khoản đến hạn cao
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu * 360
Doanh thu
Kỳ thu tiền bình quân được xác định bằng cách lấy số ngày bình quân củachu lỳ kinh doanh chia cho số vòng quay khoản phải thu Chỉ tiêu đó phản ánh
số ngày bình quân để thu hồi khoản phải thu của doanh nghiệp và được sử dụng
để phân tích bổ sung hoặc để tính những chỉ tiêu tổng hợp khác
Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu củacông ty Nếu kỳ thu tiền bình quân thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bịchiếm dụng nhiều Nhưng nếu kỳ thu tiền bình quân quá cao thì sẽ giảm sứccạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu
Trang 15 Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Hiệu suất
sử dụng TSCĐ =
Doanh thu TSCĐ bình quân
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định nói lên cứ một đồng tài sản cố định đưavào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thutrong một năm TSCĐ ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm lậpbáo cáo Tỷ lệ này thấp thể hiện hoạt động của doanh nghiệp chưa hết khả năng,
tỷ lệ này nếu quá cao có thể do doanh nghiệp đầu tư quá ít cho TSCĐ
Nhóm tỷ số về khả năng sinh lãi
Các tỷ số này phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh vàhiệu năng quản lý doanh nghiệp
Lợi nhuận thuần trên doanh thu
Lợi nhuận thuần trên doanh thu =
Lợi nhuận thuần Doanh thu
Tỷ số này cho thấy lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được thông qua việcbán hàng hoá sau khi đã trừ đi giá vốn hàng bán Tỷ số này đo lường hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp hay đánh giá chất lượng của quá trình sản xuất củadoanh nghiệp Tỷ số này càng cao càng tốt
Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu (một đồngvốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận) và được các nhà đầu tư đặc biệtquan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Đối với ngân hàngthì đây cũng là một yếu tố quan trọng để có thể đánh giá hiệu quả hoạt độngdoanh nghiệp một cách khá toàn diện Việc tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu
là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính của doanh
Trang 16nghiệp, và nó cũng phản ánh được sự gia tăng tổng hợp về các mặt trong hoạtđộng của doanh nghiệp.
Doanh lợi tài sản (ROA)
Nhóm tỷ số về khả năng tăng trưởng
Tổng tài sản năm sau trên năm trước =
Tổng tài sản năm n+1 Tổng tài sản năm n
Lợi nhuận năm sau trên năm trước =
Trang 17lệ tăng trưởng cao và ổn định thể hiện hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp.Tuy nhiên các tỷ số này không được sử dụng để so sánh các doanh nghiệp khôngcùng quy mô, bởi vì tỷ số này của một doanh nghiệp cao có thể do quy mô tàisản, doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp nhỏ hơn các doanh nghiệp khác
Hiện nay, phương pháp phân tích các tỷ số tài chính được sử dụng rất phổ
biến trong phân tích tài chính Phương pháp này được coi là công cụ hữu hiệugiúp các chủ thế phân tích thấy được “bức tranh” về tình hình tài chính của
doanh nghiệp
1.4.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng
cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Tiêuchuẩn để so sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hìnhthực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùngngành
Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tốkhông gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tínhtoán Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tươngđối So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳphân tích và chỉ tiêu cơ sở So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phântích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênhlệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng
Thông thường trong khi phân tích báo cáo tài chính, chúng ta nên kết hợp
cả hai hình thức so sánh tương đối và tuyệt đối Sự kết hợp này sẽ bổ trợ chonhau giúp chúng ta vừa có được những chỉ tiêu cụ thể về khối lượng và giá trịhoạt động của doanh nghiệp vừa thấy được tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệptrong kỳ phân tích Điều này sẽ giúp rất nhiều trong việc so sánh hoạt động củacác doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành
Trang 18Một chỉ tiêu tài chính đơn thuần chưa thể hiện đầy đủ mức độ đạt được củadoanh nghiệp như thế nào, chỉ thông qua so sánh ta mới thấy sự tăng trưởng pháttriển hay suy thoái của chỉ tiêu đó Nội dung so sánh gồm:
- So sánh số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy được xuhướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp
- So sánh số hiện thực với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của doanhnghiệp
- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, và với
số liệu của doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
là tốt hay xấu
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổngthể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về sốtuyệt đối và số tương đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liêntiếp
1.4.3 Phân tích bằng phương pháp Dupont
Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánhmức sinh lời của doanh nghiệp như LNST / Tài sản (ROA), LNST / VCSH(ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau, chophép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số tới tỷ số tổng hợp
Cụ thể có thể tách ROE như sau:
ROE = ROA * Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính = Tổng tài sản bình quân
Vốn chủ sở hữu bình quânTrong đó:
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Trang 19Vậy phương trình Dupont được viết lại là:
ROE = LNST
VCSHTác dụng của phương trình:
Cho thấy mối quan hệ và tác động của các nhân tố là các chỉ tiêu hiệu quả
sử dụng tài sản (vốn), đó là: khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí,quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính
Cho phép phân tích lượng hoá những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suấtsinh lời của vốn chủ sở hữu bằng phương pháp loại trừ
Đề xuất các quyết sách phù hợp và hiệu quả căn cứ trên mức độ tác độngkhác nhau của từng nhân tố khác nhau để làm tăng tỷ suất sinh lời
Chương II :
2.1 Giới thiệu một vài nét về Công ty TNHH Vinh Quang
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Vinh Quang
Tên công ty : Công ty trách nhiệm hữu hạn Vinh Quang, được thành lậpngày 1/6/2001 do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp giấy phép số0702000948- C.T TNHH
Tên giao dịch : Kim Anh limited liability company
Tên viết tắt là : Kim Anh CO.,LTD
Trụ sở công ty : Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Tel : 03503860573
Mã số thuế : 0600338464
Người đại diện : Bà Vũ Thị Nhị- chức vụ: Giám đốc
Tiền thân của công ty là Công ty Vinh Quang được thành lập năm 1996với số vốn ban đầu la 5 tỷ đồng chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơbản Sau 5 năm phát triển để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị
Trang 20trường, năm 2001 công ty đã chính thức đổi tên thành: Công ty TNHH Mộtthành viên Kim Anh, đồng thời mở rộng lĩnh vực hoạt động kinh doanh với sốvốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng.
Trong những năm qua công ty đã không ngừng lớn mạnh và phát triển vữngchắc về mọi mặt, thường xuyên xây dựng kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực chỉhuy điều hành, quản lý, đổi mới trang thiết bị, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹthuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng địa bàn hoạt động…vì vậy đã thicông hàng trăm công trình với nhiều quy mô thuộc nhiều ngành nghề, ở nhiều địađiểm với yêu cầu phức tạp nhưng đảm bảo tốt kiến trúc thẩm mỹ chất lượng và tiếnđộ
Hơn 8 năm Công ty TNHH Vinh Quang ngày càng khẳng định chỗ đứngvững chắc của mình trong ngành xây dựng
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của công ty TNHH Một thành viên Kim Anh
_ Xây dựng và cải tạo:
Xây dựng nhà dân dụng và công nghiệp
Xây dựng cầu đường cấp 3 nông thôn
Xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình, trang trí nội thất
Xây dựng hạ tầng
Nâng cao tầng nhà, mở rộng kho xưởng
Cải tạo hệ thống cấp thoát nước, điện
Xây dựng vườn hoa, hồ bơi, sân thể thao các loại
Chống dột, chống thấm
Kinh doanh địa ốc
Trang 21 Kinh doanh nhà ở
Xây dựng cơ sở hạ tầng
Mua bán hàng may mặc thời trang
Nhà hàng ăn uống
2.1.3.Mô hình tổ chức quản lý của công ty
a/ Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
b/ Đặc điểm bộ máy quản lý
GIÁM ĐỐC CÔNG TY
PHÒNG KINH DOANH
PHÓ GIÁM ĐỐC
KỸ THUẬT
PHÓ GIÁM ĐỐC KINH DOANH
PHÒNG QUẢN LÝ XÂY LẮP
PHÒNG
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
PHÒNG
THIẾT KẾ DỰ
TOÁN
CÁC ĐỘI THI CÔNG
ĐỘI THI
CÔNG SÔ 1
ĐỘI THI CÔNG SÔ 2
ĐỘI THI CÔNG SÔ 3 ĐỘI
CHÔNG THẤM
Sơ đồ 1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty
Trang 22Hiện nay ở Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh bộ máy quản lý được
tổ chức như sau:
- Ban giám đốc: Giám đốc là người có thẩm quyền cao nhất, có trách
nhiệm quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.Giúp việc cho giám đốc là 2 phó giám đốc: phó giám đốc kỹ thuật thi công, phógiám đốc kinh doanh
- Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật thi công: là người chịu trách nhiệm
trước giám đốc về kỹ thuật thi công của các công trình, chỉ đạo các đội, các côngtrình, các bộ phận kỹ thuật, thiết kế biện pháp thi công theo biện pháp kỹ thuật
an toàn cho các máy móc, thiết bị, bộ phận công trình, xét duyệt cho phép thicông theo các biện phép đó và yêu cầu thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp đãđược phê duyệt
- Phó giám đốc kinh doanh: là người được giám đốc công ty giao trách nhiệm
về kế hoạch đã xây dựng của công ty, sắp xếp xây dựng tổ chức các kế hoạch kinhdoanh và là người thay mặt giám đốc phụ trách công tác kỹ thuật và an toàn laođộng
* Các bộ phận chức năng:
- Phòng kế toán tài chính: có nhiệm vụ tham mưu về tài chính cho giám đốc,
triển khai thực hiện công tác tài chính kế toán, thống kê và hạch toán cho cáccông trình và toàn công ty, kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính theo pháp luậtnhằm phục vụ sản xuất kinh doanh kịp thời có hiệu quả
Chức năng của phòng là tổ chức công tác kế toán phù hợp với đặc điểm sảnxuất kinh doanh của công ty, hướng dẫn các đơn vị trong toàn công ty mở sổsách, ghi chép số liệu ban đầu một cách chính xác, kịp thời đúng với chế độ kếtoán hiện hành, tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
Trong những năm qua công ty liên tục bổ sung thêm vốn lưu động từnguồn lợi nhuận của công ty và xin vay vốn tín dụng đầu tư Luôn năng động
Trang 23tìm các nguồn vốn đầu tư cho công ty nhằm tăng tiến độ thi công sản xuất côngtrình.
- Phòng kinh doanh:
a) Chức năng:
+ Tìm kiếm bạn hàng, nghiên cứu và bám sát nhu cầu của thịtrường để từ đó có chính sách và chiến lược cụ thể và thiết thực trong từng lĩnhvực kinh doanh của công ty
+ Tìm kiếm các đối tác nước ngoài để từ đó nâng cao chất lượngsản xuất kinh doanh của toàn công ty, đặc biệt chú trọng đến thế mạnh của công
ty trong lĩnh vực truyền thông
b) Nhiệm vụ:
+ Sản xuất và kinh doanh các loại vật tư, thiết bị xây dựng
+ Xuất khẩu, nhập khẩu vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị xâydựng, trang trí nội ngoại thất và các vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị khác phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
2.1.4 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty
a/ Đặc điểm sản phẩm
Công ty TNHH Vinh Quang là một công ty chuyên về lĩnh vực xây dựng
Vì vậy, sản phẩm của công ty có những đặc điểm khác biệt so với các lĩnh vựckinh doanh thông thường, là các công trình xây dựng với các đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây dựng thường mang tính đơn chiếc, thường được sản xuấttheo đơn đặt hàng của chủ đầu tư
- Sản phẩm xây dựng rất đa dạng, có kết cấu phức tạp, khó chế tạo, khósửa chữa, yêu cầu chất lượng cao
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước, quy mô lớn, chi phí nhiều,thời gian tạo ra sản phẩm dài và thời gian khai thác sử dụng cũng kéo dài