1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhà Nguyễn - lịch sử thăng trầm của một dòng họ - 3 pptx

5 241 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 128,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà Nguyễn - lịch sử thăng trầm của một dòng họ Kỳ 3: Trung tâm giao thương Năm 1553, tức năm năm trước khi Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ Thuận Hóa, tiến sĩ Dương Văn An viết trong Ô ch

Trang 1

Nhà Nguyễn - lịch sử thăng trầm của một dòng họ

Kỳ 3: Trung tâm giao thương

Năm 1553, tức năm năm trước khi Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ Thuận Hóa,

tiến sĩ Dương Văn An viết trong Ô châu cận lục (bản dịch của Bùi Lương): Thuận

Hóa “đất đai chật hẹp, phong tục quê mùa, nhân vật thì thưa thớt buồn tẻ, không ví

được với miền Hoan - Ái (tức Thanh - Nghệ - Tĩnh)”

Chiếc cầu này được các thương nhân người Nhật Bản xây dựng vào khoảng thế kỷ

17, nên người ta còn gọi là cầu Nhật Bản Năm 1653, người ta dựng thêm phần

chùa, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc

Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn với ý nghĩa là “bạn phương xa

đến”

Chỉ hơn 10 năm cầm quyền của chúa Nguyễn Hoàng sau đó, vùng đất Thuận Hóa

đã thay da đổi thịt Bảng nhãn Lê Quý Đôn ghi nhận trong Phủ biên tạp lục (bản

dịch của Viện Sử học): “Chợ không bán hai giá, người không ai trộm cắp, cửa

ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, đổi chác phải

giá (…), trong cõi đều an cư lạc nghiệp”

“Ngọn đũa thần” nào đã mang lại sự đổi thay đó?

Trang 2

Kiếm được rất nhiều mối lợi

So với Đàng Ngoài, Đàng Trong là vùng đất mới, tiềm năng thiên nhiên chưa

được khai thác, nhân lực tại chỗ vô cùng thiếu thốn Để đối phó với họ Trịnh ở

phía Bắc, Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đời sau phải tìm phương cách làm

cho Đàng Trong nhanh chóng giàu mạnh, đó là phát triển thương mại, mở rộng

ngoại thương

Trong luận án tiến sĩ “Xứ Đàng Trong - lịch sử xã hội và kinh tế Việt Nam thời

Nguyễn ở các thế kỷ 17-18”, Li Tana nhận định (bản dịch của Nguyễn Nghị):

“Đối với các nước khác ở Đông Nam châu Á, vấn đề ngoại thương có thể chỉ là

vấn đề làm giàu, nhưng đối với Đàng Trong vào buổi đầu, đây là vấn đề sống

còn”

Đây là một chính sách mới so với các triều đại trước và kể cả với vương triều

Nguyễn sau này, vì bao triều đại trước vẫn chủ trương “lấy nông nghiệp làm gốc”

(dĩ nông vi bản), không mặn mà lắm với việc buôn bán với nước ngoài, chỉ cho

phép thuyền buôn ngoại quốc cập bến tại một số cảng chứ không cho vào sâu

trong nội địa

Trang 3

Cristophoro Borri, một nhà truyền giáo người Ý sống ở Đàng Trong từ 1618-1622,

nhận xét (bản dịch của Hồng Nhuệ và Nguyễn Nghị): “Chúa Đàng Trong không

đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người

ngoại quốc (…) cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ” Các chúa Nguyễn

chủ động mời gọi các nước đến mua bán với Đàng Trong

Ngày nay chúng ta có thể tìm thấy trong sách Ngoại phiên thông thư của Kôndôh

Juuzôu nhiều công hàm của các chúa Nguyễn gửi cho chính quyền Nhật Bản từ

năm 1601-1694 Công hàm đầu tiên là của chúa Nguyễn Hoàng gửi tướng quân

Tokugawa Ieyasu bày tỏ lòng mong muốn thông thương Đàng Trong - Nhật Bản

Năm 1617-1618, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng gửi thư mời Công ty Đông Ấn

của Hà Lan sang buôn bán… Borri viết: “Chúa Nguyễn thu được lợi nhuận lớn

trong việc buôn bán (với nước ngoài) này bằng thuế hàng hóa và thuế hải khẩu đặt

ra và cả nước đều kiếm được rất nhiều mối lợi không thể tả hết”

Đàng Trong đã sớm trở thành một trung tâm giao thương quốc tế Ngoài những

khách hàng quen thuộc đến từ Trung Hoa, Chân Lạp, Xiêm, Batavia (Indonesia),

Đàng Trong còn đón nhận thương nhân các nước Nhật Bản, Bồ Đào Nha (từ thuộc

địa Macao), Tây Ban Nha (từ thuộc địa Philippines), Hà Lan, Anh, Pháp…

Trang 4

Ngoại thương kích thích sự phát triển sản xuất của nhiều địa phương Các làng

nghề xuất hiện ngày càng nhiều để cung ứng cho hàng xuất khẩu Tính chất của

nền kinh tế từ đó thay đổi: từ sản xuất tự cấp tự túc chuyển sang sản xuất hàng

hóa Một số đô thị ra đời: Đà Nẵng, Tam Kỳ (Quảng Nam), Thanh Hà (Thừa

Thiên - Huế), Nước Mặn (Bình Định)…, nhưng thịnh vượng nhất là Hội An

Hải cảng đẹp nhất Đàng Trong

Borri mô tả Hội An là “hải cảng đẹp nhất Đàng Trong, nơi tất cả người ngoại quốc

đều tới”, là “một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành

phố, một của người Tàu, một của người Nhật” Một thương nhân Quảng Đông nói

với Lê Quý Đôn: “Thương nhân Trung Hoa từ Quảng Nam về thì các hàng hóa

không món gì không có Hàng hóa sản xuất ở các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn,

Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Khang và dinh Nha Trang, đường thủy đường bộ, đi

thuyền đi ngựa, đều hội tập ở phố Hội An, vì thế khách phương Bắc (tức Trung

Hoa) đều đến tụ tập ở đây để mua về nước Hàng hóa nhiều lắm, dù trăm chiếc

tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được”

Các chúa Nguyễn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thương nhân nước ngoài, nhất là

thương nhân Nhật Bản Đàng Trong trở thành bạn hàng số một của xứ Phù Tang

Trang 5

Năm 1619, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gả con gái cho thương nhân Nhật Bản

Araki Sutaru, ban cho Araki tên Hiển Hùng và cho mang họ chúa (Nguyễn Phúc)

Sau đó, Araki đưa vợ về thăm quê ở Nagasaki Tại đây, bà có tên Oukakutome

(Vương Gia Cửu Hộ Mại) và còn được gọi một cách thân mật là Anio Không

may, từ năm 1636, vì nhiều lý do, nhà cầm quyền Nhật ra lệnh tỏa quốc cấm

thương nhân Nhật ra nước ngoài buôn bán Vì vậy, hai vợ chồng Nhật - Việt

không còn dịp trở lại Đàng Trong nữa

Bà Anio qua đời ngày 7-11-1645, còn ông mất trước đó chín năm Mộ hai ông bà

Araki Sutaru hiện vẫn còn ở Nagasaki Hiện nay Bảo tàng nghệ thuật Nagasaki

vẫn còn lưu giữ một gương soi của bà Anio mang từ Đàng Trong qua Vì Quốc sử

quán của nhà Nguyễn hoàn toàn không nói tới cuộc hôn nhân Đàng Trong - Nhật

này nên đến nay chúng ta vẫn chưa tìm ra tên chính xác của bà

Công cuộc mở cửa của các chúa Nguyễn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn

làm phong phú đời sống văn hóa ở Đàng Trong Hội An với những di tích văn hóa

nổi bật tồn tại qua năm tháng đã được Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của

Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1999

Ngày đăng: 31/07/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm