1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vài nét về nhà Trần (1225 - 1400) - 1 potx

7 480 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 121,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Cảnh 1218-1277 lên làm vua lấy hiệu là Trần Thái Tông, cha là Trần Thừa làm Thượng hoàng, chú là Trần Thủ Độ làm Quốc Thượng phủ.. Từ đó, vì Trần Thái Tông còn nhỏ, Trần Thủ Độ đã c

Trang 1

Vài nét về nhà Trần (1225 - 1400)

1

Các vua triều Trần

rần Thái Tông: 1225-1258

Trần Thánh Tông: 1258-1278

Trần Nhân Tông: 1279-1293

Trần Anh Tông: 1293-1314

Trần Minh Tông: 1314-1329

Trần Hiển Tông: 1329-1341

Trần Dụ Tông: 1341-1369

Trần Nghệ Tông: 1370-1372

Trần Duệ Tông: 1372-1377

Trần Phế Đế: 1377-1388

Trần Thuận Tông: 1388-1398

Trần Thiếu Đế: 1398-1400

I Giai đoạn hưng thịnh của nhà Trần

Trang 2

Trần Cảnh (1218-1277) lên làm vua lấy hiệu là Trần Thái Tông, cha là Trần Thừa

làm Thượng hoàng, chú là Trần Thủ Độ làm Quốc Thượng phủ Từ đó, vì Trần

Thái Tông còn nhỏ, Trần Thủ Độ đã chi phối rất nhiều đến công việc chính trị như

việc bức tử Thượng hoàng Lý Huệ Tông (1226), việc xây dựng lại thành Thăng

Long (1230), việc thảm sát tập thể tôn thất nhà Lý (1232)

Khi lớn lên, Trần Thái Tông tỏ rõ ra có bản lĩnh, đưa được xã hội đã bị rối loạn

cuối triều Lý trở lại ổn định Để sửa lại kỷ cương đã quá lỏng lẻo cuối triều Lý,

nhà vua định ra pháp luật khá nghiêm khắc Những người phạm tội trộm cắp đều

phải chặt chân, chặt tay, thậm chí bị voi giày

Khác với các vua nhà Lý, các vua Trần có lệ nhường ngôi sớm cho con để lên làm

Thái Thượng hoàng Thái Thượng hoàng cùng vua trông nom việc nước Thực

chất đây là giai đoạn thực tập thuật trị nước cho vị vua mới

Hệ thống quan lại cũng được định chế lại dưới triều vua Trần Thái Tông Cao hơn

hết là Tam Công, Tam Thiếu, Thái úy, Tư Mã, Tư Đồ, Tư Không ở dưới là các

quan văn võ chia làm hai chức: nội chức (quan tại triều ở các bộ) và ngoại chức

(quan địa phương) Cứ 10 năm thì các quan được thăng thêm một hàm và 15 năm

thì lên một chức Ai có quan tước thì con được thừa ấm làm quan, còn những

Trang 3

người khác bất kể giàu nghèo đều phải đi lính Tuy thế, những người có học vẫn

có thể tham chính qua con đường thi cử

Các vua Trần rất chú ý đến việc chiêu hiền đãi sĩ Từ năm 1232 vua Trần Thái

Tông đã mở khoa thi Thái học sinh, đến năm 1247 lại đặt ra Tam khôi: Trạng

nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Chính trong kỳ thi này đã xuất hiện nhiều kỳ tài

như Trạng nguyên 13 tuổi Nguyễn Hiền, Bảng nhãn và về sau là sử gia Lê Văn

Hưu

Triều Trần phân ra hai loại ruộng công: ruộng quốc khố và ruộng thác điền Ruộng

thác điền là ruộng thưởng công cho các quan, đóng thuế rất ít Thuế thân thì căn

cứ vào số ruộng có được mà đóng bằng tiền còn thuế ruộng thì đóng bằng thóc

Trong nước có một số thay đổi về hành chính Năm 1242, Trần Thái Tông chia

nước ra làm 12 lộ, mỗi lộ có An Phủ sứ chánh và phó cai trị và có sổ dân tịch

riêng Dưới lộ là phủ, châu huyện do các Đại Tư xã hay Tiểu Tư xã trông coi, Đơn

vị sau cùng là làng xã Xã quan do dân bầu, được gọi là chánh sử giám

Người trong nước được phân ra từng hạng: con trai vào 18 tuổi thì gọi là tiểu

hoàng nam, từ 20 tuổi là đại hoàng nam, 60 tuổi trở lên là lão hạng

Trang 4

Dưới triều vua Trần Thái Tông, vào năm 1258, quân Mông Cổ sang xâm lược Đại

Việt Nhà vua lãnh đạo toàn dân, đẩy lui được cuộc xâm lăng này Sau chiến

thắng, vua nhường ngôi cho Thái tử Hoảng và lên làm Thái Thượng hoàng Ngài

về quê Tức Mặc, lập cung Trùng Quang để ở, dành thì giờ đi ngao du sơn thủy và

nghiên cứu Thiền học Ngài trước tác một số tác phẩm quan trọng như "Kiến trung

thường lệ" (năm quyển), "Quốc triều thông chế", một số thi văn và quan trọng nhất

là cuốn cảo luận triết học 'Khóa hư lục" Ngài làm Thái Thượng hoàng 19 năm thì

mất (1277)

Trần Thánh Tông là một ông vua nhân từ Dưới triều của nhà vua, trong nước bình

yên không có nội loạn hoặc ngoại xâm Nhà vua chú trọng đến nông nghiệp, bắt

các vương hầu công chúa chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn

đất hoang Điền trang của vương hầu bắt đầu có từ đấy

Năm 1278 vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Trần Khâm và

lên làm Thượng Hoàng

Thái Tử Trần Khâm lên làm vua, lấy hiệu là Trần Nhân Tông

Dưới thời Trần Nhân Tông, chữ Nôm bắt đầu được trọng dụng Nguyễn Thuyên,

quan Hình bộ Thượng thư đã làm thơ phú bằng chữ Nôm, về sau nhiều người làm

Trang 5

theo và gọi đó là Hàn luật

Một điểm son khác của thời này là công cuộc đánh đuổi quân Nguyên Đế quốc

Nguyên Mông bành trướng thế lực, diệt được nhà Tống, phát động hai lần xâm

lược Đại Việt từ 1284 đến 1288 Nhưng vua Trần Nhân Tông cùng các kiệt tướng

Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Bình

Trọng, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản đã oanh liệt đánh bại toán quân được

mệnh danh bách chiến bách thắng này

Năm 1293, khi việc nước đã ổn định, vua Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử

Trần Thuyên và lên làm Thái Thượng hoàng rồi đi tu ở núi Yên Tử lấy hiệu là

Trúc Lâm đầu đà Sau khi Thượng hoàng mất, các môn đệ tôn ông là Đệ nhất Tổ

phái Trúc Lâm

Thái tử Trần Thuyên lên ngôi, ấy là Trần Anh Tông Đây là một bậc minh quân

biết trọng đãi tôi trung, thưởng phạt phân minh và có một chính sách cai trị vững

vàng

Vua Anh Tông không kể gì đến thân hay sơ trong việc dùng người, nhà vua chỉ

căn cứ vào tài năng mà cho chấp chánh chứ không cứ phải là người họ Trần Vì

thế nhà vua được nhiều nhân tài giúp sức như Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu,

Trang 6

Phạm Ngũ Lão

Một nhân vật khá đặc biệt và tài ba là Mạc Đĩnh Chi, người học trò thi đỗ Trạng

Nguyên vào năm 1304, đã giúp vua tích cực trong việc ngoại giao với nhà

Nguyên Trong chuyến đi sứ vào năm 1308, với tài năng ứng đối linh động ông đã

thu phục được sự kính nể của vua Nguyên và được vua Nguyên phong danh hiệu

"Lưỡng quốc Trạng nguyên"

Đoàn Nhữ Hài là một người học trò có tài đã giúp vua ổn định được hai châu Ô và

Lý Trương Hán Siêu vốn là mạc khách của Trần Hưng Đạo, được Trần Hưng Đạo

tiến cử lên vua Vua trọng dụng ông, sai ông soạn nên những bộ sách quan trọng

về tổ chức chính quyền và về luật pháp như "Hoàng Triều Đại Điển", "Hình Luật

Thư"

Dưới thời Trần Anh Tông, Đại Việt có thêm được đất hai châu Ô và Lý (vùng đất

Bình Trị Thiên ngày nay) do cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân, em vua

với Chế Mân, vua Champa Để cưới được công chúa Huyền Trân, Chế Mân

(Shinhavarman III) lấy hai châu ấy làm lễ dẫn cưới Một năm sau khi gả Huyền

Trân, vào năm 1307, vua Anh Tông cho thu nhận hai Châu Ô và Lý, đổi tên lại là

Hóa Châu và Thuận Châu, sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị

Trang 7

Dưới thời Anh Tông, tục lệ Việt Nam có nhiều thay đổi như tục xâm mình của các

vua được bãi bỏ Từ thời Hùng Vương cho đến bấy giờ, các vua Việt có tục lệ lấy

chàm vẽ rồng vào đùi nhưng Anh Tông từ chối thực hiện tục lệ ấy Vì thế các vua

thời sau cũng không theo nữa Một hủ tục khác cũng được bỏ dần, đó là tục hôn

nhân cận huyết của họ Trần Dù chưa được chấm dứt hẳn nhưng hôn nhân trong

họ đã dần dần ít đi

Vua Trần Anh Tông làm vua đến năm 1314 thì nhường ngôi cho Thái tử Mạnh và

lên làm Thái Thượng Hoàng

Thái tử Mạnh (Minh Tông) lên làm vua, thừa hưởng được sự thịnh trị của các triều

vua trước Các quan đại thần tài năng trước như Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu

tiếp tục giúp vua cai trị đất nước Ngoài ra còn có các nhân vật khác nổi lên như

Mạc Đĩnh Chi, Chu An góp phần vào việc chấp chánh

Dưới thời vua Minh Tông, các quân sĩ không phải vẽ mình như trước nữa (1323)

và từ đấy nước ta bỏ lệ vẽ mình Để đề cao tình gia tộc, nhà vua ra lệnh cấm người

trong họ đi kiện nhau Danh nho Chu An đỗ Thái học sinh năm 1314, nhưng

không ra làm quan Mãi sau, nghe danh tiếng của ông, vua Minh Tông mời ông ra

bổ nhiệm làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám và dạy học cho Thái tử Trần Hạo

Ngày đăng: 31/07/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w