1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khái quát về việc khai khẩn thời Pháp thuộc ở Nam kỳ 4 ppsx

6 283 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 121,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về việc khai khẩn thời Pháp thuộc ở Nam kỳ 4 Xin miễn đề cập đến việc tổ chức cho vay của nhà nước vì bấy giờ trong thực tế, người điền chủ bực trung không hưởng gì ráo.. Các

Trang 1

Khái quát về việc khai khẩn thời Pháp thuộc ở Nam kỳ

4

Xin miễn đề cập đến việc tổ chức cho vay của nhà nước vì bấy giờ trong thực tế,

người điền chủ bực trung không hưởng gì ráo Cũng như xin bỏ qua việc khuyến

nông, việc nghiên cứ về kỹ thuật trồng tỉa, cùng cách tổ chức quan sát khí tượng

mà trên báo cáo về mặt chính quyền thì rất “tiến bộ”, đầy đủ Vào năm 1930,

chừng 30 máy cày trong vòng thí nghiệm ở các điền của người Pháp Lưỡi cày,

vòng gặt, nọc cấy, cây bừa cào, cách thức trị định trâu bò nếu được cải tiến chút ít

so với thời Tự Đức thì hoàn toàn do người Việt bày ra mà thôi

Trong tổng số đất đai trồng tỉa ở Nam kỳ là 2.700.000 mẫu, người Việt đứng tên

làm chủ được chừng 2.400.000 mẫu, tức là 8/9 diện tích Trong đất đai trồng tỉa,

nên chia ra :

— Đất trồng cao su : 80.000 mẫu của người Pháp, người Việt chỉ có 5.300 mẫu

— Đất làm ruộng : người Pháp đứng bộ 243.000 mẫu tức là hơn 1/10 diện tích

tổng quất trồng lúa, con số này kể luôn đất của người Việt nhập Pháp tịch ; người

Pháp chánh gốc đứng bộ khoảng 150.000 mẫu

Trang 2

Các bảng thống kê nêu con số hơi khác nhau về chi tiết, nhưng đại để các tỉnh

Rạch Giá, Bạc Liêu, Cần Thơ là nơi tập trung đại điền chủ vì là đất mới

Vựa lúa miền Nam thành hình trong hoàn cảnh mới

Đời Gia Long, vùng sản xuất lúa gạo nhiều nhứt của đất Gia Định nói chung là

vùng Gò Công, thuộc trấn Định Tường

Khi người Pháp đến, trung tâm điểm của vựa lúa di chuyển lần hồi về miền Tây

Nam Muốn có lúa gạo thặng dư để xuất cảng, cần hai điều kiện :

— Diện tích canh tác rộng

— Dân số địa phương ít, mức tiêu thụ tại chỗ không cao

Sau đây là vài con số về diện tích canh tác của từng tỉnh Thời Pháp thuộc, việc

phân chia ranh giới các tỉnh không đồng đều, tỉnh thì quá lớn, tỉnh thì quá nhỏ Số

lượng đất đai chỉ là chỉ dẫn, vì đất tốt xấu khác nhau

Năm 1873 :

Trang 3

Chợ Lớn 37.340 mẫu (tỉnh Chợ Lớn gồm Cần Đước, Cần Giuộc là nơi sản xuất

lúa tốt và nhiều)

Mỹ Tho 34.238

Vĩnh Long 28.784

Gò Công 28.146 (Gò Công là tỉnh có diện tích tổng quát rất nhỏ nhưng đứng hạng

tư về đất canh tác, tức là vẫn còn giữ vị trí bực nhứt)

Năm 1900 :

Sóc Trăng 158.439 mẫu (đứng đầu Nam kỳ)

Cần Thơ 124.588

Trà Vinh 120.419

Mỹ Tho 91.748

Năm 1930 :

Rạch Giá 358.900 mẫu (đứng đầu Nam kỳ)

Bạc Liêu 330.030

Sóc Trăng 212.909

Cần Thơ 205.000

Long Xuyên 186.049 (đa số lúa sạ, gạo xấu)

Trang 4

Mỹ Tho 154.662 (dân đông đúc, một phần lúa sạ phía Đồng Tháp)

Trà Vinh 152.000

Theo P Bernard, mấy tỉnh Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh là

vựa lúa thật sự của Nam kỳ để xuất cảng Năm tỉnh nói trên gồm 966.000 mẫu

ruộng, những năm bình thường cung cấp hơn phân nửa tổng số lúa xuất cảng của

Đông Dương Các tỉnh ấy xuất cảng 986.000 tấn Dân số trong hiện tại (ở các tỉnh

vừa kể, khoảng năm 1930) phỏng chừng 1.130.000 người, tính đổ đồng mỗi mẫu

ruộng là 1,15 người và mỗi mẫu ruộng xuất cảng được một tấn

Theo bác sĩ Trần Như Lân thì buổi bình thường trước khi xảy ra kinh tế khủng

hoảng, Nam kỳ và Cao Miên mỗi năm xuất cảng 1.300.000 tấn gạo; trong số này

có 200.000 tấn gạo của vùng Battambang (Cao Miên) và 900.000 tấn của miền

Hậu giang

Nhiều tài liệu đề cập đến việc đào kinh xem là yếu tố quan trọng để vựa lúa thành

hình với các chi tiết kỹ thuật Xin ghi lại vài nét chánh :

— Vùng Cần Thơ đào từ 1890 đến 1900 : kinh Trà ết, kinh Xà No, kinh Long Mỹ,

Bassac (gọi nôm na là kinh Lái Hiếu); từ 1900 — 1920 : kinh Thốt Nốt qua Giồng

Trang 5

Riềng, kinh Thới Lai, Ô Môn, Xuân Hòa, Phong Điền, Cái Răng, Trà Lồng, kinh

Cái Vồn

— Vùng Sóc Trăng : đào từ 1890 — 1900 : kinh Bocquillon, kinh Saintenoy ; từ

1900 — 1920 : kinh Phụng Hiệp, Sóc Trăng (1905), kinh Maspéro (1911), kinh

Cái Trầu (1914—1917), kinh Quan lộ, Nhu Gia (1925), kinh Cái Trầu qua Chàng

Ré (1917), kinh Nàng Rền (1911), kinh Tiếp Nhựt (1911)

Một phần lớn kinh do xáng đào từng chặn, sửa chữa nới rộng và vét tới vét lui

nhiều lần; một số kinh thì đào tay, bắt dân làm xâu Tỉnh Rạch Giá được ảnh

hưởng tốt nhờ mấy con kinh đào từ Cần Thơ và Sóc Trăng ăn qua

Để nhiên cứu vựa lúa Hậu giang cũng là vựa lúa quan trọng của Nam kỳ và Việt

Nam, chúng tôi chọn ba tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu và Cần Thơ

Rạch Giá và Bạc Liêu là hai tỉnh rất mới mà việc khai khẩn vẫn chưa hoàn tất mãi

đến khi người Pháp rời xứ Nam kỳ Nghiên cứu hai tỉnh này, ta thấy rõ việc làm

của người Pháp và những nét đặc biệt của vùng đất rộng người thưa mà vùng Tiền

giang không có

Tỉnh Cần Thơ điển hình cho sự sung túc của Hậu giang, nơi gọi là thủ đô miền

Tây, với nhiều đồn điền của Pháp Một phần đất của Cần Thơ đã được khai khẩn

Trang 6

từ thời Minh Mạng, Tự Đức Cần Thơ là nơi người Việt chiếm đa số, phong tục

thuần tục, nước ngọt, đất tốt, đường giao thông thuận lợi về Sài Gòn, với vùng

Ngả Bảy (Phụng Hiệp), một quận thành hình nhờ việc đào kinh thời Pháp thuộc

Ngày đăng: 31/07/2014, 09:21

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w