Một số hương chức làng tự ý lập địa bộ, vẽ bản đồ chia ra từng sở đất, ghi tên chủ đất nhưng thường là ghi tên “ma”, ai đến xin khẩn thì bảo là hết đất, nếu muốn thì làng sẽ đứng làm tru
Trang 1Những rắc rối trong lịch sử Khai khẩn đất hoang
Việt Nam thời Pháp
1
Chủ tỉnh Rạch Giá báo cáo cho Thống đốc Nam kỳ ngày 17/3/1898 :
— Trên nguyên tắc, mỗi làng phải có địa bộ và điền bộ Nhưng ở Rạch Giá trước
năm 1891 không nơi nào có địa bộ Một số hương chức làng tự ý lập địa bộ, vẽ
bản đồ chia ra từng sở đất, ghi tên chủ đất nhưng thường là ghi tên “ma”, ai đến
xin khẩn thì bảo là hết đất, nếu muốn thì làng sẽ đứng làm trung gian mua lại giùm
cho Hương chức làng tự ý sửa chữa, sang tên các sở đất, hậu quả là địa bộ ở làng
trên nguyên tắc là bản phụ, lại không giống với địa bộ (bản chánh) nạp ở tỉnh
— Ai muốn sao lục địa bộ (có giá trị như bằng khoán đất) thì làng đòi ăn hối lộ rồi
mới chịu sao
— Chủ tỉnh nhắc lại nguyên tắc : mọi sửa đổi về ranh giới hoặc tên người chủ sở
đất đều phải được phép của chủ tỉnh (theo nghị định 6/3/1891, chủ tỉnh là người
quản thủ địa bộ)
Trang 2— Để cứu vãn tình thế, chủ tỉnh Rạch Giá yêu cầu Thống đốc cho thành lập một
ủy ban gồm một chủ tỉnh từ tỉnh khác đến làm chủ tịch, một viên kinh lý (họa đồ)
cũng là cai tổng và hương chức sở tại để tu chỉnh, lập địa bộ mới cho tỉnh
— Không làm được việc ấy thì dân ở tỉnh khác không xuống Rạch Giá đông đảo
như trước nữa Trong hiện tại, đa số người chiếm giữ đất để canh tác không có
bằng khoán hợp pháp, còn những người tranh chấp thì chẳng có giấy tờ gì để
chứng minh
— Không lập được địa bộ thì dân làng chỉ làm công cho thiểu số người có thế lực
hưởng huê lợi
Nhiều vụ tranh chấp xảy ra
Dân khẩn hoang thoạt tiên tin rằng nhà nước cho phép họ làm ruộng trước rồi sẽ
khai báo để hợp thức hóa về sau, với điều kiện khẩn không quá 10 mẫu (gọi là đất
công nghiệp) Làm sao người dân hiểu rành cách thức làm đơn và dám ra tỉnh lỵ
để hầu quan chủ tỉnh ? Đường xa, lắm khi hơn 70 cây số, ra chợ lại không biết
thưa bẩm với ai Vài người hiểu luật lệ đã chịu khó chạy chọt, tìm cách giựt đất
ở làng Vĩnh Hưng, năm 1904, một viên thông ngôn tòa án đang ăn lương lớn lại
xin nghỉ việc để tranh cử chức cai tổng, chưa đắc cử là cho vợ đứng đơn xin khẩn
Trang 3chồng lên mấy sở đất mà người khác đã ruồng phá thành khoảnh từ trước Vai trò
của cai tổng khá quan trọng khi lập địa bộ cấp đất, vì là một ủy viên Năm 1903
chủ tỉnh rất áy náy vì tình trạng chiếm đất, do thiểu số nhiều uy thế và rành luật lệ
ở làng Lộc Ninh, nhiều sở đất có rừng tràm tốt hoặc có người đang canh tác lại bị
kẻ lạ mặt làm đơn xin trưng khẩn Chủ tỉnh ra lịnh cho cai tổng Thanh Bình cứ ghi
tên những người thật sự đang canh tác và cho họ được ưu tiên vào bộ
Theo thủ tục bấy giờ, hễ vô đơn xin tạm khẩn thì mặc nhiên được cấp cho một
biên lai Với tấm biên lai có chữ ký của chủ tỉnh, bọn gian hùng cứ đến địa
phương mà tranh cản, tự nhận là sở hữu chủ, với diện tích rộng hơn Ai năn nỉ thì
họ bán tấm biên lai với giá cao, bảo đó là tờ bằng khoán chánh thức
Khi hay tin kinh xáng Xà No sắp đào nối liền qua Rạch Giá, nhiều ông hội đồng,
cai tổng, thân hào đã vội làm đơn xin khẩn, căn cứ vào bản đồ con kinh mà họ biết
trước Luôn luôn họ dành phía mặt tiền, giáp với bờ kinh Chủ tỉnh bác những đơn
ấy không phải vì thương dân, chẳng qua là muốn dành cho bạn bè, hoặc cho kẻ
nào dám dâng tiền bạc hối lộ
Có người vội cho rằng Pháp bày ra việc cử Hội đồng quản hạt, địa hạt, cai tổng chỉ
là để mua chuộc một số người Việt háo danh mà thôi Thật ra, những chức vụ ấy
Trang 4đem lại nhiều ưu thế trong việc khẩn đất Nhờ chức vụ mà giao thiệp dễ dàng nên
họ biết kế hoạch đào kinh qua phần đất nào, khi cho trưng khẩn thì họ vô đơn
trước Lại còn trường hợp nếu cho ai trưng khẩn với diện tích lớn thì họ được hỏi
ý kiến Chủ tỉnh sẵn sàng cho họ quyền ưu tiên trưng khẩn để bù lại việc họ làm
ngơ cho chủ tỉnh chi tiêu phí phạm ngân sách địa phương, hoặc tăng thuế, hoặc
xuất công qű tu bổ công sở Họ vận động với quan trên, lo lót tiền bạc để xin
phép sắm súng cho bằng được, nhằm mục đích uy hiếp tinh thần dân chúng khi
cần chiếm đất Khẩn đất cũng là cơ hội cho vài tên đầu cơ, mị dân, gây uy tín cá
nhân để ứng cử chức nghị viên Nam kỳ Vào năm 1912, ký giả thực dân hạng
nặng là J Adrien Marx đến quận Gò Quao để hướng dẫn kẻ bị mất đất làm đơn tố
cáo điền chủ và quan chủ quận về tội ăn hối lộ, lấn hiếp dân : 12 người Miên đã
khẩn được 108 mẫu từ năm 1907—1908, vô bộ ở làng rồi, thế mà điền chủ lại
mướn tay em chừng 70 người đến đánh đập, tịch thâu nông cụ lúc họ đang canh
tác Lại còn bọn kinh lý (họa đồ) Pháp thừa cơ hội và cậy quyền thế để giựt đất
một cách hợp pháp Năm 1913, ấp Thành Lợi (sau này trở thành làng Ninh Thạnh
Lợi, phần đất cũ của làng Lộc Ninh) được thành lập do 3 người xin khẩn nhưng ba
năm sau, một viên kinh lý người Pháp đến trưng khẩn bao trùm lên và bắt buộc 3
Trang 5người nọ phải làm tờ mướn đất như là tá điền Rốt cuộc theo sự phân xử của chủ
tỉnh, 3 người này thất kiện, mỗi người chỉ còn giữ được 10 mẫu đất công nghiệp,
còn bao nhiêu đất dư ra đã thành thuộc rồi thì phải giao cho viên kinh lý ở tỉnh lỵ
Rạch Giá, có người chuyên sống bằng nghề trung gian để lo hối lộ Năm 1916,
người nọ xin khẩn 2.000 mẫu ở làng Vĩnh Bình, nhờ kẻ trung gian đút lót trước
2000 đồng cho chủ tỉnh, xong việc sẽ đưa thêm tiền Chủ tỉnh trình việc ấy lên
Thống đốc Nam kỳ và bảo rằng phần đất ấy chắc chắn có người đang khai thác từ
lâu Chủ tỉnh tố cáo, vì số tiền lo hối lộ quá ít hay vì thanh liêm ?
Để làm điền chủ lớn, nhiều người dùng nhiều chiến thuật khác nhau :
— Họ làm đơn với chủ tỉnh, lo lót, ra mặt công khai chiếm đất Rồi khi tới địa
phương, họ chịu bồi thường chút ít cho người đã khai khẩn từ trước ; hoặc mua lại
với giả rẻ lúc người dân cô thế đang tuyệt vọng thấy mình chẳng bao giờ đủ khôn
lanh và đủ tiền bạc để kêu nài hoặc lo hối lộ
— Họ không bao giờ đứng tên khẩn đất trong đợt đầu, tránh mọi việc tranh chấp
vụn vặt có vẻ vũ phu và bất lương Họ đem tiền tới nơi (tiền này thường là tiền
vay) để mua đất trong những năm ruộng thất mùa Hoặc họ chuyên sống bằng
nghề cho vay nặng lời, hoặc chứa cờ bạc để lần hồi bắt con nợ phải bán đất cho họ
Trang 6mà trừ nợ Họ công khai đưa con nợ ra tòa, với giấy tờ hợp pháp về hình thức :
người dân quê dốt chữ khi túng thiếu vì đau ốm, vì thua cờ bạc đã ký tên, điểm chỉ
vào sau khi nghe đọc qua loa nội dung tờ giấy nợ chứa đựng nhiều cạm bẩy ngặt
nghèo