Các chỉ tiêu về Chương trình chế biến và thương mại lâm sản Khối lượng củi khai thác Chỉ tiêu 3.3.3 Củi là sản phẩm phụ của ngành lâm nghiệp được sử dụng chủ yếu làm chất đốt, đun nấu,
Trang 1Chương 9 Các chỉ tiêu về Chương trình chế biến và thương mại lâm sản
Khối lượng củi khai thác
Chỉ tiêu 3.3.3
Củi là sản phẩm phụ của ngành lâm nghiệp được sử dụng chủ yếu làm chất đốt, đun nấu, sưởi ấm cho các hộ gia đình ở nông thôn, đặc biệt đối với các hộ thuộc địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa Số liệu củi khai thác hàng năm do Tổng cục Thống kê thu thập và cung cấp, được tính toán trên cơ sở điều tra mẫu suy rộng kết quả khai thác các sản phẩm phụ của ngành lâm nghiệp Số liệu về khối lượng củi khai thác được tính bằng đơn vị: Ste (1 ste tương đương 700 kg)
Theo số liệu của Tổng cục Thống
kê, năm 2005 cả nước khai thác 26.240,5
ngàn ste củi, trong đó các địa phương miền
Bắc khai thác 19.256,7 ngàn ste, chiếm
73,4% tổng sản lượng củi khai thác của cả
nước Sản lượng củi được khai thác nhiều
nhất tại các vùng miền núi Đông Bắc
chiếm 35,6% tổng sản lượng khai thác của
cả nước, tiếp đến là vùng Bắc Trung bộ
với 19,9%, vùng Tây Bắc 15,9%, vùng
Đồng bằng sông Cửu Long 11,7% Đáng
lưu ý là vùng Tây Nguyên thuộc địa bàn
miền núi, nhiều rừng nhưng sản lượng củi
khai thác chỉ chiếm 6,7% tổng sản lượng
củi khai thác của cả nước
Lượng gỗ củi khai thác khoảng
28 triệu m3/ năm được một nghiên cứu của UNDP1 coi là nhu cầu củi cho cả khu vực thành thị (5 triệu m3/ năm) và khu vực nông thôn (23 triệu m3/ năm) của Việt nam Tuy nhiên nhu cầu củi ở trên thế giới nói chung và Việt nam nói riêng đang giảm dần cả ở khu vực thành thị
và nông thôn do có nhiều loại nhiên liệu thay thế ( gas, điện ở thành thị và các sản phẩm nông nghiệp và vườn nhà Ngoài ra, giá củi cao và khả năng thu lượm củi ngày càng khó khăn cũng buộc người dân phải tiết kiệm tiêu dùng Số liệu khối lượng củi khai thác tính bình quân đầu người cho 83 triệu dân Việt nam (2005) là 0,3 ste / người và cho 60,77 triệu dân khu vực nông thôn là 0,43 ste / người là hợp lý Tuy nhiên số liệu của các vùng có sự khác biệt lớn từ 0,04 ste/ người / năm cho vùng Đồng bằng sông Hồng đến 1,89 ste/ người / năm cho vùng Tây Bắc Lượng gỗ củi trên đầu người ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc cao do thói quen sử
Bảng 42: Tình hình khai thác và sử dụng củi
(1000 Ste)
Củi đầu người NT (ste)
Đồng bằng sông Cửu Long 3.074,1 0,22
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 2Chương 9 Các chỉ tiêu về Chương trình chế biến và thương mại lâm sản
Giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến gỗ
Chỉ tiêu 3.3.4
Giá trị sản xuất của công nghiệp chế biên lâm sản là giá trị sản xuất được tính theo phương pháp công xưởng bao gồm: (i) doanh thu công nghiệp(doanh thu bán sản phẩm, dịch
vụ công nghiệp, bán phế liệu, phế phẩm và doanh thu cho thuê máy móc, thiết bị có kèm theo người điều khiển); (ii) chênh lệch cuối kỳ, đầu kỳ thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, sản phẩm dở dang
Bảng 43 dưới đây cho thấy tổng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến lâm sản của cả nước đã tăng từ 13.500 tỷ đồng năm 2000 lên 60.060 tỷ đồng năm 2005 theo giá thực tế và 7.529 tỷ đồng năm 2000 lên 21.532 tỷ đồng năm 2005 theo giá so sánh 1994
Bảng 43: Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến lâm sản năm 2000- 2005
Đơn vị: tỷ đồng
Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến lâm sản các năm Hoạt động
a) Sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản
- Giá thực tế 6059,3 8587,0 11.249,0 14.786,8 19.539,3
- Giá so sánh 1994 3598,0 4488,0 5485,4 6570,3 8120,4
b) Sản xuất giường, tủ,bàn ghế
- Giá thực tế 7435,5 12.971,6 20.719,7 30.356,7 40.519,9
- Giá so sánh 1994 3930,9 6057,3 7846,3 10179,0 13411,1
Tổng GTSX giá thực tế 13.494,8 21.558,6 31.968,7 45.143,5 60.059,2 Tổng GTSX giá so sánh
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006 của TCTK
Trang 3Biểu đồ 29: giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến gỗ năm 2000 – 2005
Đơn vị: tỷ đồng
-10.000
20.000
30.000
40.000
50.000
60.000
70.000
2000 2002 2003 2004 2005
Tổng GTSX giá thực tế
Tổng GTSX giá
so sánh 1994
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2006
Như vậy giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến gỗ đã tăng 4,5 lần trong thời kỳ 2000-2005 đạt giá trị gần 4 tỷ đô la Mỹ vào năm 2005 (giá thực tế) Đây là kết quả to lớn của ngành chế biến đồ gỗ Tuy nhiên, biến động về giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu lớn đã có ảnh hưởng tiêu cực đến việc xuất khẩu và ngành lâm nghiệp cần phải tập trung các nguồn lực để tăng tốc độ trồng rừng gỗ lớn và gỗ nhỏ cao sản phục vụ cho chiến lược xuất khẩu bền vững của ngành trong thập kỷ tới để đến 2020 có thể đáp ứng 80% nhu cầu gỗ cho xuất khẩu, sản xuất 12 triệu m3 gỗ lớn và 8 triệu m3 gỗ nhỏ chủ yếu từ rừng trồng và xuất khẩu 7 tỷ USD đồ
gỗ và 0,8 tỷ USD hàng từ LSNG (Chiến lược PTLNQG 2006-2020)
Tạo mặt ván ép tại một nhà máy chế biến gỗ ở Tây Nguyên
Trang 4Chương 9 Các chỉ tiêu về Chương trình chế biến và thương mại lâm sản
Giá trị xuất khẩu hàng hoá của ngành Lâm nghiệp
Chỉ tiêu 3.3.5
Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động xuất khẩu của ngành lâm nghiệp trong một thời gian nhất định Giá trị xuất khẩu hàng hóa của ngành lâm nghiệp bao gồm giá trị tất cả các mặt hàng, từ nguyên liệu đến thành phẩm có xuất xứ từ rừng được bán ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả phần giá trị hàng hóa lâm sản được sử dụng cho các khu công nghiệp, khu chế xuất có 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê Hải quan, năm 2005 tổng giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản của Việt Nam đạt gần 1,79 tỷ USD, trong
đó giá trị mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,56 tỷ USD, chiếm 87,4% tổng giá trị xuất khẩu, phần giá trị còn lại (230 triệu USD) thuộc về các mặt hàng làm từ mây, tre ( khoảng 10%), quế, hồi và các sản phẩm khác (khoảng 2,6%)
Giá trị xuất khẩu của ngành lâm
nghiệp tăng mạnh trong các năm gần đây
Nếu lấy năm 2005 so với năm 2003 thì tổng
giá trị xuất khẩu lâm sản nói chung và giá trị
xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đều tăng gần 3
lần Đáng chú ý là giá trị xuất khẩu của gỗ và
sản phẩm gỗ qua các năm đều chiếm một tỷ
trọng rất cao (bình quân trên 90%) trong tổng
giá trị xuất khẩu chung của ngành lâm
nghiệp trong những năm gần đây
Biểu đồ 30: Cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng
lâm sản
Gỗ và SP gỗ 88%
Sản phẩm từ
mây tre
2%
Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2005
Biểu đồ 31: Giá trị xuất khẩu lâm sản 2003-2005
633
1.207
1.787
567
1.139 1.563
2003 2004
2005
Giá trị XK
gỗ và SP gỗ (triệu USD)
Tổng giá trị
XK lâm sản (triệu USD)
Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2005
Trang 5Thị trường xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ năm 2005 của Việt Nam tập trung vào một số thị trường truyền thống, đứng đầu là Mỹ, tiếp đến là các nước Nhật Bản, Anh, Thị phần của 3 thị trường quan trọng nói trên (Mỹ, Nhật, Anh) thu hút gần 60% tổng giá trị xuất khẩu của nhóm mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam Tổng giá trị 10 nước đứng đầu về nhập khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam chiếm 84% tổng thị phần của mặt hàng này Đáng chú ý là thị trường Mỹ đang chiếm một thị phần rất lớn và có tốc độ tăng nhanh nhất, nếu như trong năm 2004 thị trường Mỹ chiếm 28% tổng thị phần mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam thì năm 2005 con số này đã lên tới 36,3%
Bảng 44: 10 thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chính của Việt Nam, 2005
Đơn vị: 1000 USD
Thị phần (%)
2004 2005
Tổng giá trị xuất khẩu 1.139.090 1.562.533 137,2 100 100
MỸ 318.856 566.968 177,8 28,0 36,3 NHẬT BẢN 180.016 240.873 133,8 15,8 15,4 ANH 107.319 114.929 107,1 9,4 7,4 CHLB ĐỨC 60.088 75.311 125,3 5,3 4,8 PHÁP 60.026 74.202 123,6 5,3 4,7 TRUNG QUỐC 35.077 60.341 172,0 3,1 3,9 HÀN QUỐC 32.005 49.678 155,2 2,8 3,2
HÀ LAN 35.019 45.443 129,8 3,1 2,9
Ô X TRÂY LIA 38.001 41.865 110,2 3,3 2,7 ĐÀI LOAN 56.631 40.627 71,7 5,0 2,6 Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2006
Các mặt hàng xuất khẩu làm từ mây, tre, tuy đem lại giá trị xuất khẩu không lớn so với các sản phẩm từ gỗ, nhưng đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, góp phần cải thiện đời sống đáng kể cho khu vực nông thôn, đặc biệt đối với địa bàn miền núi Năm 2005, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đạt hơn 180 triệu USD và các thị trường thu hút các sản phẩm này của Việt Nam cũng chủ yếu từ Mỹ (15,2%), Đức (15%), Nhật Bản (12,3%), Đài Loan (8,5%),
Sản phẩm mây, tre đan
Trang 6Chương 9 Các chỉ tiêu về Chương trình chế biến và thương mại lâm sản
Giá trị gỗ và nguyên liệu gỗ nhập khẩu
Chỉ tiêu 3.3.6
Giá trị gỗ và nguyên liệu gỗ nhập khẩu là chỉ tiêu thống kê quan trọng phán ánh mức
độ đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ và nguyên liệu gỗ cho sản xuất và tiêu dùng của xã hội trong bối cảnh rừng tự nhiên bị đóng cửa, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng chưa nhiều Gỗ và nguyên liệu gỗ nhập khẩu về Việt Nam rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã, hiện chưa cơ quan thống kê nào thống kê được đầy đủ, chi tiết về lượng Thống kê ngành Hải Quan cũng chỉ mới thu thập được số liệu về giá trị nhập khẩu theo các tháng trong năm và theo thị trường nhập khẩu chính
Bảng 45: 10 thị trường nhập khẩu gỗ và nguyên liệu chính của Việt Nam, 2005
Đơn vị: 1000 USD
Thị phần (%)
Tổng giá trị nhập
Malaysia 150.583 135.088 89,7 28,0 20,8 Lào 59.042 69.515 117,7 11,0 10,7 Campuchia 43.678 57.680 132,1 8,1 8,9 Trung quốc 24.989 54.808 219,3 4,6 8,4
Mỹ 30.765 39.339 127,9 5,7 6,0 Thái Lan 21.994 36.481 165,9 4,1 5,6 Đài Loan 29.089 31.069 106,8 5,4 4,8 Mianma 7.985 30.073 376,6 1,5 4,6 Niuzilân 19.035 27.157 142,7 3,5 4,2 Braxin 17.812 24.303 136,4 3,3 3,7 Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2006
Năm 2005, tổng giá trị gỗ và nguyên
liệu gỗ nhập nhập khẩu cả nước đạt hơn 650,7
triệu USD, tăng 20,8% so với tổng giá trị nhập
khẩu của năm trước Trong khối lượng gỗ và
nguyên liệu gỗ nhập khẩu một khối lượng
không nhỏ được chế biến thành các sản phẩm
thành phẩm và được xuất khẩu trở lại thị
trường thế giới Tuy nhiên, thị trường nhập
khẩu gỗ và nguyên liệu gỗ không giống với thị
trường xuất khẩu sản phẩm gỗ
Gỗ nhập khẩu
Trang 7Cũng theo số liệu thống kê năm 2005, thị trường nhập khẩu gỗ và nguyên liệu gỗ chính vào Việt Nam đứng đầu là Malaysia với 20,8% tổng thị phần, tiếp theo là thị trường Lào cung cấp gần 11% tổng nhu cầu nhập khẩu gỗ của Việt Nam, sau Lào là Campuchia, Trung Quốc, Mỹ,…
Thị trường Thái Lan chỉ đứng vị trí thứ 6, nhưng thị phần tăng đáng kể so với năm trước từ 4,1% lên 5,6% Cũng trong năm 2005, theo nguồn số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, ngoài các thị trường chính kể trên, một khối lượng lớn gỗ cây được nhập khẩu trực tiếp
từ Myanma vào Việt Nam với tổng giá trị lên tới 28,5 triệu USD, tăng gần 4 lần so với năm trước Số gỗ này chủ yếu được sử dụng cho các nhu cầu xây dựng dân dụng
Trồng rừng và khai thác gỗ hiệu quả sẽ góp phần giảm lượng gỗ nhập khẩu
Trang 8Chương 9 Các chỉ tiêu về Chương trình chế biến và thương mại lâm sản
Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chế biến lâm sản chính
Chỉ tiêu 3.3.7
Ngoài các hoạt động lâm sinh (trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng), khai thác (gỗ và lâm sản ngoài gỗ), công nghiệp chế biến lâm sản cũng góp phần quan trọng làm tăng giá trị các sản phẩm của ngành Sản phẩm chế biến trong lâm nghiệp rất đa dạng bao gồm nhiều chủng loại, từ chế biến thô như: xẻ gỗ, gỗ ván sàn, gỗ dán, ván ép,… đến chế biến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng trực tiếp như: giường, tủ, bàn ghế, salong, sập gụ, tủ chè,…hoặc lâm sản ngoài gỗ qua tinh chế, như các loại dầu (quế, hồi,…) Tổng cục Thống kê thông qua hệ thống báo cáo hành chính của ngành hiện mới chỉ thống kê được sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chế biến chính phân theo thành phần kinh tế là nhà nước và tư nhân
Bảng 46: Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chế biến lâm sản chính năm 2005
Trong đó Loại sản phẩm Đơn vị tính Sản lượng
Nhà nước Tư nhân
Gỗ xẻ các loại 1000 m3 3.111 85,5 3.025,0
Gỗ ván sàn m2 85.905 1.765 84.140
Ván ép m2 286.745 72.135 214.610 Bàn làm việc, học tập bằng gỗ 1000 cái 6.140 275,3 5.864,5
Sa lông gỗ có khảm Bộ 35.420 0 35.420 Gường bằng gỗ các loại 1000 cái 1.387 58,2 1.328,6
Tủ đựng tài liệu bằng gỗ các loại 1000 cái 9.918 8,4 9.909,9
Tủ đựng đồ đạc bằng gỗ các loại 1000 cái 580 0,0 580,1 Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006
Trong năm 2005, cả nước đã chế biến được hơn 3,1 triệu m3 gỗ xẻ các loại, bao gồm
cả gỗ khai thác trong nước và gỗ nhập khẩu; gần 86 triệu m2 gỗ ván sàn; 42,6 triệu m2 gỗ dán, 286,7 triệu m2 ván ép và hàng triệu bàn làm việc, giường, tủ; hàng chục triệu bộ salong, sập gụ, tủ chè phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội và xuất khẩu
Theo số liệu thống kê thì phần lớn các hoạt động chế biến lâm sản hiện nay ở nước ta
do thành phần kinh tế tư nhân thực hiện Khu vực tư nhân đã sản xuất 100% khối lượng các mặt hàng gia dụng từ gỗ như: Salong gỗ có khảm, sập gụ, tủ chè, các loại tủ đựng tài liệu và
tủ đựng đồ đạc Ngoài ra, đối với các sản phẩm, như: gỗ xẻ, gỗ ván sàn, gỗ dán và ván ép, khối tư nhân chiếm tỷ lệ từ 75-98% khối lượng sản xuất, trong khi thành phần kinh tế nhà nước chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, như: ván ép là sản phẩm có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ chiếm 25,2%, tiếp đến là gỗ dán chỉ 18,1% trong tổng sản lượng sản phẩm chế biến
Trang 9Khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong các trong hoạt động chế biến lâm sản và được thể hiện khá rõ trong cơ cấu tỷ lệ % sản lượng sản phẩm công nghiệp chế biến các mặt hàng lâm sản chính năm 2005 và xu hướng này còn tiếp tục phát triển trong thời gian tới Do các sản phẩm chế biến lâm sản rất đa dạng bao gồm rất nhiều chủng loại, nên việc thống kê chi tiết theo từng chủng loại sản phẩm được sản xuất là rất cần thiết để làm cơ sở xác định giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm của ngành một cách đầy đủ và khoa học hơn
Trang 10Chương 10 Các chỉ tiêu về Chương trình Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm
10
Chương
Các chỉ tiêu Chương trình Nghiên cứu, giáo dục đào tạo
và khuyến lâm
Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 – 2020: Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho ngành Lâm nghiệp Lấy khoa học công nghệ làm động lực cho phát triển ngành, gắn nghiên cứu, đào tạo với sản xuất và thị
trường nhằm nâng cao các đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lâm nghiệp, bảo vệ môi
trường và cải thiện mức sống cho những người dân làm nghề rừng
Trang 11Chương 10 Các chỉ tiêu về Chương trình Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm
Số người làm khoa học và công nghệ lâm nghiệp
Chỉ tiêu 3.4.1
Số người làm khoa học và công nghệ lâm nghiệp là số cán bộ khoa học các cấp có trình độ từ kỹ sư hoặc tương đương trở lên của các viện, trường, doanh nghiệp đang có các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ hoặc quản lý KHCN trong ngành lâm nghiệp tại thời điểm thống kê Hiện nay đã có một mạng lưới các đơn vị nghiên cứu khoa học lâm nghiệp bao gồm các Viện nghiên cứu, các trường đào tạo về lâm nghiệp, các cơ sở sản xuất, các đơn vị ở địa phương và các tổ chức phi chính phủ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
là Viện nghiên cứu duy nhất của ngành lâm nghiệp được thành lập từ năm 1961 với chức năng và nhiệm vụ chính là nghiên cứu tất cả các lĩnh vực của lâm nghiệp phục vụ cho phát triển của ngành Hiện nay, Viện có 6 phòng nghiên cứu về các lĩnh vực: lâm sinh, kinh tế lâm nghiệp, chế biến lâm sản, bảo quản lâm sản, tài nguyên thực vật rừng, bảo vệ rừng; 4 trung tâm nghiên cứu chuyên đề về Giống cây rừng, sinh thái và môi trường rừng, lâm đặc sản và công nghệ sinh học lâm nghiệp; 8 Trung tâm vùng đóng tại các tỉnh: Sơn La, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Trị, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Nai,
Cà Mau và 1 phân viện đóng tại TP Hồ Chí Minh
Trường đại học Lâm nghiệp Xuân Mai là đơn vị
thực hiện chức năng đào tạo và nghiên cứu về lâm
nghiệp, được thành lập từ năm 1964 Hiện nay,
với đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu đông
đảo, trường Đại học Lâm nghiệp cũng là một đơn
vị nghiên cứu khoa học lớn của ngành Ngoài ra,
các trường có đào tạo về lâm nghiệp khác như:
Đại học Nông lâm Thủ Đức, Đại học Tây
Nguyên, Đại học Nông lâm Thái Nguyên và Đại
học Nông Lâm Huế, Trường Trung học Lâm
nghiệp Quảng Ninh cũng là những đơn vị tham gia nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực lâm nghiệp Nhiều đơn vị sản xuất cũng thành lập các trung tâm nghiên hoặc tham gia nghiên cứu như Công ty Giống lâm nghiệp Trung ương, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam; các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, Các Trung tâm bảo vệ rừng do Cục Kiểm lâm quản lý,…cũng tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu về giống và xây dựng các vườn giống, rừng giống, sản xuất và cung cấp giống cho các địa phương; nghiên cứu các loài cây cung cấp nguyên liệu giấy, nghiên cứu bảo tồn nguồn gien
Tập huấn trồng rừng ngập mặn