Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch và giám sát ngành Số lao động trong các cơ sở hành chính, sự nghiệp Lâm nghiệp Chỉ tiêu 3.5.1 Chỉ số số lao động làm việc trong các c
Trang 1thành phố đều có Trung tâm Khuyến nông trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Số lượng cán bộ thuộc các Trung tâm khuyến nông cấp tỉnh vào thời điểm cuối năm
2005 đạt bình quân 22,4 người/trung tâm, với 67,4% cán bộ có trình độ đại học, 50 thạc sĩ, 3 tiến sĩ, số còn lại có trình độ cao đẳng, trung cấp và thấp hơn Số lượng cán bộ nữ chiếm 34,1%, cán bộ dân tộc ít người chiếm 5,4%
Bảng 54: Số lượng cán bộ khuyến nông làm việc tại cấp tỉnh, năm 2005
Đơn vị: người
Trình độ đào tạo
Cả nước, miền,
vùng
Tổng
số Tiến
sỹ
Thạc
sỹ
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp Khác
Phụ
nữ
Dân tộc
Đồng bằng sông
Duyên hải Nam
Đồng bằng sông Cửu
Nguồn: Trung tâm Khuyến nông quốc gia - Bộ NN&PTNT, 2006
Năm 2005, số lượng cán bộ ở các
Trạm khuyến nông cấp huyện có hơn 2.800
người làm việc tại 520 trạm, bình quân mỗi
trạm có 5,4 cán bộ khuyến nông Số huyện
có trạm khuyến nông chiếm 81% tổng số
huyện trong cả nước Nhiều tỉnh có 100% số
huyện có trạm khuyến nông, tuy nhiên vẫn
còn một số tỉnh chưa có trạm khuyến nông,
như: Cao Bằng, Ninh Bình, Đà Nẵng hoặc
chỉ có từ 1-3 trạm khuyến nông như: Hà
Nam, Cà Mau, Bạc Liêu Trình độ đào tạo
của cán bộ khuyến nông cấp huyện bao gồm
64,8% đại học, 3,6% cao đẳng, 24,2% trung
cấp và 6,7% sơ cấp
Trang 2Chương 10 Các chỉ tiêu về Chương trình Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm
Số cán bộ khuyến lâm hiện tại là rất ít Ở Trung Tâm Khuyến nông quốc gia có Phòng khuyến lâm với 4 cán bộ Tại các Trung Tâm khuyến nông tỉnh có nhiều rừng cũng chỉ có 1-2 cán bộ khuyến lâm và nhiều tỉnh không có cán bộ khuyến lâm Ở cấp huyện, nhiều trạm khuyến nông không có cán bộ khuyến lâm và ở các xã hoàn toàn không có cán bộ khuyến lâm Đây là một vấn đề cần có sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và PTNT và chính quyền các cấp, nếu muốn thực hiện mục tiêu có được 2,65 triệu ha rừng trồng vào năm 2010 và 4 triệu ha vào năm 2020 (2005 là 1,38 triệu ha) và cơ bản đáp ứng nhu cầu gỗ lớn và gỗ nhỏ cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước vào năm 2020
Bảng 55: Số lượng cán bộ khuyến nông làm việc tại cấp huyện, năm 2005
Đơn vị: người
Trình độ đào tạo
Cả nước, miền,
vùng Tổng số Tiến
sỹ Thạc sỹ học Đại đẳng Cao Trung cấp Khác
Phụ
nữ Dân tộc
Đồng bằng sông
Duyên hải Nam
Đồng bằng sông Cửu
Nguồn: Trung tâm Khuyến nông quốc gia - MARD
Trang 3Chương
Các chỉ tiêu về Chương trình Đổi mới thể chế, chính sách,
kế hoạch và giám sát
ngành Lâm nghiệp
Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 – 2020: Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động lâm nghiệp theo định hướng thị trường và hội nhập quốc tế,
có sự tham gia rộng rãi của khu vực hộ gia đình, cộng đồng và tư nhân; kiện toàn hệ thống
tổ chức đồng
Trang 4Chương 11 Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch và giám sát ngành
Số lao động trong các cơ sở hành chính, sự nghiệp Lâm nghiệp
Chỉ tiêu 3.5.1
Chỉ số số lao động làm việc trong các cơ sở kinh tế, hành chính và sự nghiệp lâm nghiệp trong cơ sở dữ liệu FOMIS là số liệu thống kê toàn bộ số lao động đang tham gia hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của ngành lâm nghiệp tại một thời điểm nhất định Tuy nhiên, nhiều số liệu chưa được thống kê đầy đủ, trong đó đang chú ý là số liệu về số lượng lao động hoạt động trong các cơ sở kinh tế và sự nghiệp (các viện nghiên cứu, trường, hệ thống khuyến lâm,…) của ngành
Bảng 56: Số lao động thuộc ngành kiểm lâm làm việc tại địa phương và các đơn vị trực thuộc Bộ, 2005
Đơn vị: Người
Trong đó: Biên chế
Chia ra:
Trong tổng số: Chia theo trình độ đào tạo Vùng, miền số lao Tổng
động Tổng số
Nam Nữ Trên Đại học học Đại Trung cấp
Số kiểm lâm địa bàn
Đồng bằng sông
Đồng bằng sông
Các đơn vị trực
Nguồn: Cục Kiểm Lâm và Cục Lâm nghiệp
Dựa trên số liệu thống kê hiện có, cơ sở dữ liệu FOMIS mới chỉ thu thập được số liệu
số cán bộ kiểm lâm đang làm việc tại các cơ quan Kiểm lâm địa phương và các đơn vị trực thuộc Trung ương do Cục Kiểm lâm cung cấp và số liệu lao động đang làm việc tại các Chi cục Lâm nghiệp tỉnh hoặc phòng Lâm nghiệp thuộc các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Cục Lâm nghiệp cung cấp
Tính đến năm 2005, số cán bộ kiểm lâm có gần 9500 người, trong đó trong biên chế 8.200 người, số còn lại là lao động hợp đồng; trong số lao động biên chế có 7.431 lao động là
Trang 5nam giới, chiếm trên 90% Nhìn chung lực lượng cán bộ kiểm lâm giữa các vùng được phân
bố tỷ lệ thuận với diện tích rừng hiện có Về trình độ đào tạo có đến 50% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, và 50% còn lại có trình độ trung hoặc sơ cấp Đáng chú ý là cán bộ kiểm lâm địa bàn xã chiếm gần 40% lực lượng cán bộ kiểm lâm của cả nước; Một số vùng có
tỷ lệ cán bộ kiểm lâm địa bàn cao như: Tây Bắc 56,9%, Đông Bắc 49,8%, Bắc Trung bộ 36,8%
Bảng 57: Số lao động làm việc tại các chi cục lâm nghiệp hoặc các phòng lâm nghiệp địa phương, 2005
Đơn vị: người
Vùng, miền Tổng số Tiến sĩ, Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung học Công nhân
Đồng bằng sông Cửu
Nguồn: Cục Lâm nghiệp
Theo số liệu thống kê của Cục Lâm nghiệp, đến năm 2005, số cán bộ thuộc các Chi cục Lâm nghiệp hoặc phòng Lâm nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nơi chưa thành lập chi cục) có 559 người, trong đó các tỉnh phía Bắc có 328 người, các tỉnh phía Nam có 231 người Như vậy hiện đang có sự mất cân đối nghiêm trọng giũa số lượng cán bộ Kiểm Lâm (gần 10.000 người) và số cán bộ lâm nghiệp (gần 600 người) trên địa bàn tỉnh, huyên và xã và việc Nhà nước giao Hạt Kiểm Lâm huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lâm nghiệp trên địa bàn huyện là một hướng đi đúng Cũng theo số liệu thống kê ở cấp chi cục và phòng thuộc các tỉnh và thành phố có rừng, trong tổng số 559 cán bộ, có 17 cán bộ có trình độ tiến sĩ hoặc thạc sĩ, 426 lao động có trình độ đại học và số còn lại có trình
độ cao đẳng, trung cấp hoặc công nhân kỹ thuật
Trang 6Chương 11 Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch và giám sát ngành
Số doanh nghiệp, số vốn, lỗ, lãi củ doanh nghiệp chế biến lâm sản
Chỉ tiêu 3.5.2
Số doanh nghiệp chế biến lâm sản là chỉ tiêu thống kê số lượng các đơn vị tham gia hoạt động trong lĩnh vực chế biến lâm sản trong cả nước tại một thời điểm cụ thể cùng với một số thông tin cơ bản về qui mô lao động, vốn và kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của các doanh nghiệp theo địa bàn tỉnh/thành phố Chỉ tiêu được thu thập dựa trên kết quả báo cáo hành chính hàng năm của các cơ quan thống kê địa phương trực thuộc Tổng cục Thống kê
Bảng 58: Một số thông tin cơ bản về doanh nghiệp chế biến lâm sản, 2005
Vùng, miền
Số doanh nghiệp (D nghiệp) Đầu năm (Người) Cuối năm (Người)
Đầu năm (triệu đồng)
Cuối năm (triệu đồng)
Lợi nhuận trước thuế (triệu đồng)
Đồng bằng
Duyên hải Nam
Đồng bằng
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006
Doanh nghiệp thuộc đối tượng thống kê là các đơn vị thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân được thành lập theo các qui định của luật pháp hiện hành Hoạt động chế biến lâm sản được thống kê là những hoạt động của các doanh nghiệp chuyên
về chế biến lâm sản hoặc ngành sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp là chế biến lâm sản
Bảng 58 cho thấy số lượng doanh nghiệp ở miền Bắc nhiều hơn ở miền Nam, nhưng quy mô bình quân trên 1 doanh nghiệp về lao động, vốn và lợi nhuận trước thuế thì các doanh nghiệp ở phía Nam vượt trội so với các doanh nghiệp phía Bắc Cụ thể: Số lao động bình quân cả năm (số đầu năm cộng số cuối năm chia 2) của 1 doanh nghiệp miền Bắc chỉ có 40,7 lao động trong khi các doanh nghiệp miền Nam có 88,5 lao động, nhiều gấp 2,2 lần; tương tự
số vốn bình quân của 1 doanh nghiệp miền Bắc chỉ có 3.096,5 triệu đồng trong khi 1 doanh
Trang 7nghiệp ở miền Nam có số vốn 9.671,1 triệu đồng, gấp hơn 3,1 lần và kết quả kinh doanh được xác định bằng chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế, một doanh nghiệp miền Bắc chỉ đạt lợi nhuận bình quân trước thuế là 11,9 triệu đồng, trong khi bình quân 1 doanh nghiệp ở miền Nam đạt 317,9 triệu đồng, gấp 26,8 lần
Xét theo vùng về qui mô bình quân lao động, vốn sản xuất kinh doanh và lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp chế biến lâm sản trong năm 2005,các doanh nghiệp thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ đứng đầu trong 8 vùng về qui mô lao động với 106,4 người/doanh nghiệp, đứng thứ 3 về số vốn với 6.401,5 triệu đồng/doanh nghiệp và đứng đầu
về lợi nhuận trước thuế với 576,3 triệu đồng/doanh nghiệp; Các doanh nghiệp thuộc vùng Đông Nam bộ đứng vị trí thứ 2 so với các vùng về qui mô lao động, vốn và lợi nhuận trước thuế, tương ứng với 97,3 lao động/doanh nghiệp, 11.378,6 triệu đồng vốn/doanh nghiệp và 375,1 triệu đồng lợi nhuận/doanh nghiệp, còn các doanh nghiệp thuộc vùng Tây Nguyên đứng vị trí thứ 3 về qui mô lao động với bình quân 69,6 người/doanh nghiệp, thứ nhất về vốn với bình quân 12.857,6 triệu đồng/doanh nghiệp nhưng lại đứng thứ 7 về hiệu quả kinh doanh, thua lỗ bình quân 45,6 triệu đồng/doanh nghiệp
Một cơ sở chế biến gỗ ở Tây Nguyên
Trang 8Chương 11 Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch và giám sát ngành
Số lâm trường đã được chuyển sang công ty/ doanh nghiệp lâm nghiệp (theo nghị định 200) và diện tích quản lý
Chỉ tiêu 3.5.3
Thực hiện Nghị định số 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư hướng dẫn các địa phương, đơn vị xây dựng và triển khai đề án sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh
Trong năm 2005, đã có 27 địa phương và 6 tổng công ty trực thuộc Bộ hoàn thành đề
án gửi Bộ trong tổng số 53 tỉnh, 10 tổng công ty cần phải xây dựng đề án Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức thẩm định các đề án của 24 tỉnh và 1 tổng công ty có quản lý các lâm trường
Số lâm trường và đất đai được sắp xếp lại của 25 đơn vị đã qua thẩm định như sau:
149 lâm trường đã được chuyển đổi thành 79 công ty lâm nghiệp, 56 ban quản lý rừng phòng hộ và 9 lâm trường bị giải thể Tổng diện tích đất thu hồi giao lại cho địa phương
là 225.685 ha Tổng diện tích đất do các công ty hiện đang quản lý là gần 1,5 triệu ha đất các loại
Lý do một số địa phương và tổng
công ty chưa có đề án hoặc chậm làm đề
án là:
Một doanh nghiệp chế biến gỗ ở Gia Lai
1) Một số địa phương, tổng công ty
có lâm trường đã chuyển đổi thành
công ty trước khi có Nghị định nên
cho rằng không cần triển khai;
2) Một số địa phương đã đưa phương
án sắp xếp đổi mới lâm trường vào
đề án sắp xếp, đổi mới doanh
nghiệp và đã có quyết định phê
duyệt, các đơn vị này được đề nghị
không thuộc diện thực hiện Nghị
định;
3) Một số lâm trường đã thực hiện cổ
phần hoá cho rằng họ không thuộc
đối tượng thực hiện Nghị định 200
Trang 9Chủ trương của Bộ là tất cả các lâm trường đều thuộc đối tượng sắp xếp, đổi mới theo Nghị định 200, kể cả các lâm trường đã cổ phần hóa hoặc đã thành lập công ty, các lâm trường đã được phê duyệt trong đề án đổi mới doanh nghiệp
Cơ sở dữ liệu FOMIS sẽ tiếp tục cập nhật, bổ sung thông tin quá trình chuyển đổi của các lâm trường trong các năm tới
Bảng 59: Số lâm trường đã được chuyển đổi theo nghị định 200 và diện tích đất quản lý năm
Sau đổi mới STT Tên địa phương, TCT Trước đổi
mới Công ty quản Ban
lý
Giải thể
Diện tích đất giao trả địa phương (ha)
Diện tích đất các đơn vị đang quản
lý (ha)
Nguồn: Ban Đổi mới và quản lý doanh nghiệp nông nghiệp - Bộ NN&PTNT, 2005
Trang 10Chương 11 Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch và giám sát ngành
Giá trị tài sản cố định của các doanh nghiệp lâm nghiệp
Chỉ tiêu 3.5.4
Giá trị tài sản cố định của một doanh nghiệp lâm nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp có mức giá tối thiểu theo qui định hiện hành và có thời hạn sử dụng từ 1 năm trở lên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất tại doanh nghiệp
Giá trị tài sản cố định được tính vào thời điểm đầu năm và cuối năm, chênh lệch về giá trị giữa đầu năm và cuối năm thể hiện phần giá trị tài sản cố định tăng thêm trong năm sau khi đã trừ giá trị hao mòn hoặc thanh lý các tài sản cố định đang sử dụng
Thông qua số liệu giá trị tài sản cố định có thể tính toán một số chỉ tiêu liên quan như: Hệ số trang bị tài sản cố định cho một lao động, mức sản xuất sản phẩm tính cho một đơn vị tài sản cố định hay mức tài sản cố định cần thiết để sản xuất một đơn vị giá trị tổng sản lượng,… của doanh nghiệp
Tổng giá trị tài sản và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp lâm nghiệp cuối năm
2005 là 1731 tỷ đồng, trong đó giá trị tài sản cố định bình quân của 304 doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp của cả nước trong năm 2005 đạt 718, 5 tỷ đồng Giá trị tài sản cố định bình quân 1 doanh nghiệp đạt 2,36 tỷ đồng, trong đó các doanh nghiệp thuộc địa bàn miền Bắc đạt 1,76 tỷ đồng, các doanh nghiệp thuộc địa bàn miền Nam đạt 2,8 tỷ đồng Giá trị tài sản cố định bình quân
1 doanh nghiệp lâm nghiệp thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt mức cao nhất với 6,16 tỷ đồng, tiếp theo là các doanh nghiệp thuộc địa bàn Duyên Hải Nam Trung bộ với 5,33 tỷ đồng, xếp thứ 3 là các doanh nghiệp thuộc địa bàn Bắc Trung bộ với 2,59 tỷ đồng
Đáng chú ý là các doanh nghiệp thuộc địa bàn miền núi, gồm các vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên có giá trị tài sản cố định bình quân thấp nhất so với các vùng khác với các mức tương ứng là 1,2 tỷ
đồng, 1,3 tỷ đồng và 1,6 tỷ
đồng trên 1 doanh nghiệp
Bảng 60: Giá trị tài sản cố định của các doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp, 2005
Giá trị tài sản cố định (Triệu đồng) Miền, vùng Tổng số
DN năm Đầu Cuối năm BQ cả năm BQ 1 DN
Đồng bằng SH 6 13.317 13.360 13.339 2.223,1 Đông Bắc 60 66.596 78.304 72.450 1.207,5 Tây Bắc 16 19.139 22.298 20.719 1.294,9 Bắc Trung Bộ 46 118.857 119.925 119.391 2.595,5
Duyên Hải TB 27 152.864 135.153 144.009 5.333,6 Tây Nguyên 93 139.204 150.615 144.910 1.558,2 Đông Nam Bộ 33 73.803 50.096 61.950 1.877,3
ĐB sông CL 23 134.983 148.632 141.808 6.165,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006
Tại thời điểm năm
2005, số lượng các doanh
nghiệp sản xuất lâm nghiệp
trong cả nước không nhiều,
qui mô bình quân giá trị tài
sản cố định của các doanh
nghiệp còn nhỏ, giá trị tài sản
cố định ở thời điểm cuối năm
ở nhiều vùng thấp hơn giá trị
đầu năm cho thấy mức đầu tư
mua sắm tài sản cố định giảm
Trang 11Chương 11 Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch và giám sát ngành
Số hộ kinh tế cá thể lâm nghiệp và diện tích quản lý
Chỉ tiêu 3.5.5
Trong các cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản (gọi tắt là tổng điều tra nông nghiệp) do Tổng cục Thống kê tiến hành 5 năm 1 lần để thu thập các thông tin cơ bản về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, trong đó có số liệu thống kê về số hộ lâm nghiệp và diện tích đất lâm nghiệp giao cho các hộ quản lý, sử dụng Theo qui định của cuộc tổng điều tra, hộ lâm nghiệp là hộ có nguồn thu nhập chủ yếu từ các hoạt động thuộc lĩnh vực lâm nghiệp và từ diện tích đất hộ được giao quản lý, sử dụng bao gồm diện tích đất các loại, trong đó có đất lâm nghiệp
Bảng 61: Số hộ lâm nghiệp và diện tích đất quản lý
Đơn vị: ha
Diện tích đất quản lý Bình quân 1 hộ Vùng, miền Số hộ lâm nghiệp Tổng diện tích đất
quản lý
Trg đó đất LN Đất Q.lý Đất LN
Đồng bằng sông Cửu
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006?
Theo số liệu tổng điều tra nông nghiệp chu kỳ 2001-2005, cả nước có 26.606 hộ lâm nghiệp, số hộ này đang quản lý 115,5 nghìn ha đất, trong đó có 108,5 nghìn ha đất lâm nghiệp, chiếm gần 94% tổng diện tích đất được giao quản lý Tính bình quân trên cả nước mỗi hộ được giao quản lý 4,3 ha đất, trong đó có 4,1 ha đất lâm nghiệp Các địa phương phía Bắc bình quân mỗi hộ được giao quản lý 5,1 ha đất, trong đó có 4,8 ha đất lâm nghiệp và các