1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt

28 354 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 13,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, với hoạt động này doanh nghiệp sẽ có những điều kiện tốt hơn trong đối phó với tính thời vụ của sản xuất đồ gỗ ngoài trời xuất khẩu Thương hiệu cho đồ gỗ Việt Nam Việt Nam đã

Trang 1

Những số liệu trên đã phản ánh đúng mức độ tăng trưởng vượt bậc của ngành chế biến

gỗ của Việt Nam trong 5 năm vừa qua

Bình luận về những thách thức trong quá trình phát triển:

Ngành chế biến và thương mại lâm sản thời kỳ 2005-2009 đã có những bước tiến vượt bậc, tạo nên vị thế quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế trong lĩnh vực này, đem lại rất nhiều việc làm, đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Tuy nhiên, ngành chế biến và thương mại lâm sản của Việt Nam đang đứng trước những thách thức rất lớn Đó là những thách thức từ nhu cầu giữ vững vị thế đã đạt được và tiếp tục mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường hiện có và phát triển những thị trường mới

Những thách thức chủ yếu bao gồm:

Nguyên liệu trong nước

Hiện nay ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu gỗ nhập khẩu Điều này đem lại nhiều bất lợi, như: làm tăng chi phí, giảm năng lực cạnh tranh, góp phần tăng nhập siêu của quốc gia, Nhà nước, các doanh nghiệp và các hiệp hội nên tập trung những nỗ lực để cải thiện chính sách, đầu tư tài chính, tổ chức và quản

lý, công nghệ và kỹ thuật phù hợp để sớm hình thành nguồn nguyên liệu trong nước đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng

Mặt khác, khoảng 80% doanh nghiệp chế biến gỗ phân bố ở miền Nam, 20% doanh nghiệp phân bố ở miền Bắc, trong khi miền Bắc chiếm trên 50% tổng diện tích rừng tự nhiên

và trên 60% diện tích rừng trồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp chế biến gỗ ở miền Bắc cũng có nghĩa là tạo động lực cho phát triển trồng rừng sản xuất trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu gỗ nhập khẩu, giảm chi phí sản xuất cho bản thân doanh nghiệp chế biến gỗ, tăng năng lực cạnh tranh

Đảm bảo tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu cho đồ gỗ xuất khẩu

Hoa Kỳ đã ban hành Luật Lacey cấm gỗ và sản phẩm gỗ bất hợp pháp nhập vào thị trường Hoa Kỳ EU đã ban hành Quy định về trách nhiệm giải trình sẽ có hiệu lực từ tháng 3 năm 2013, Nhật Bản và Úc cũng áp dụng chính sách ngăn chặn gỗ bất hợp pháp vào thị trường của họ Nếu không muốn mất các thị trường nói trên, Việt Nam buộc phải sản xuất đồ

gỗ từ nguồn gỗ hợp pháp Do vậy việc thiết lập và vận hành hệ thống đảm bảo đồ gỗ Việt Nam xuất đi các thị trường trên được sản xuất từ nguồn gỗ nguyên liệu hợp pháp là yêu cầu

Đánh giá chung

Trang 2

cấp bách hiện nay và Nhà nước cần phải có các hỗ trợ cho các doanh nghiệp và người trồng rừng giải quyết vấn đề này

Lao động trong ngành chế biến gỗ

Cơ cấu lao động trong các doanh nghiệp chế biến gỗ rất đáng lưu ý Qua khảo sát tại một số cơ sở, số lao động có trình độ đại học chỉ chiếm khoảng 3-5%, công nhân kỹ thuật khoảng 25-30%, lao động phổ thông gần 70-75% Như vậy việc sản xuất chủ yếu vẫn dựa trên lấy số đông lao động không có tay nghề thay thế cho lao động được đào tạo Thực tế này gây không ít trở ngại cho doanh nghiệp trong cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và không tạo ra những tiền đề cho sự phát triển về sau Mặt khác các doanh nghiệp chế biến gỗ hiện nay đang bị thiếu lao động trong mùa sản xuất hàng cao điểm

và tình trạng lao động bỏ việc hoặc thuyên chuyển diễn ra khá trầm trọng mà một nguyên nhân là do lương công nhân quá thấp Do đó cần có hệ thống đào tạo về kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, xây dựng, chế độ đãi ngộ xứng đáng và quản lý lao động trong ngành chế biến gỗ, nhằm ổn định và nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động của ngành

Đổi mới công nghệ thiết kế và công nghệ sản xuất sản phẩm nhằm đạt được giá trị gia tăng cao hơn

Những thành tựu của ngành chế biến xuất khẩu thời gian qua của Việt Nam nói chung

và đồ gỗ nói riêng chủ yếu dựa vào giá nhân công rẻ, số lượng sản xuất lớn Thực chất tỷ suất lợi nhuận và giá trị gia tăng trong đồ gỗ xuất khẩu chỉ đạt được ở mức thấp Khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thì cũng đồng nghĩa với việc lợi thế về nhân công giá

rẻ sẽ dần mất đi Nếu không chuyển sang sản xuất những mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao hơn, thì dễ bị rơi vào cái bẫy thu nhập trung bình thấp Vì vậy, ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam cần đi vào hướng đổi mới công nghệ thiết kế và công nghệ sản xuất sản phẩm nhằm đạt được giá trị gia tăng cao hơn

Hệ thống quản lý Nhà nước và hệ thống thông tin về chế biến và thương mại lâm sản

Hệ thống quản lý Nhà nước về chế biến và thương mại lâm sản hiện chưa là một hệ thống thống nhất hoạt động hữu hiệu từ trung ương xuống địa phương và cơ sở Hệ thống này chưa được quan tâm đúng mức về số lượng biên chế, năng lực cán bộ, chức năng nhiệm vụ, nguồn lực để làm việc Mặt khác, thông tin về chế biến và thương mại lâm sản rất phân tán, thiếu hệ thống nên không tạo ra bức tranh vừa tổng hợp vừa chi tiết để hỗ trợ đắc lực cho việc quản lý, điều hành Vì thế các nỗ lực để cải thiện tình hình này là rất cần thiết

Vật liệu phụ trợ

Hiện nay, bên cạnh việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ nước ngoài, Việt Nam phải chi ra hàng trăm triệu USD để nhập các vật liệu phụ trợ Thực tế này, nhìn từ góc độ phát triển kinh doanh, cũng là cơ hội phát triển ngành này ở Việt Nam, đồng thời giúp tiết kiệm chi phí và có thể rút ngắn thời hạn giao hàng của các doanh nghiệp chế biến lâm sản

Trang 3

Thị trường trong nước

Thị trường đồ gỗ trong nước, ước tính có dung lượng trên dưới 1 tỷ USD năm Nhưng hiện nay chưa có mấy doanh nghiệp chú ý đến thị trường này Kết quả là một mặt thị trường

bị các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh, mặt khác nhu cầu thị trường thường được thỏa mãn bởi đồ gỗ chất lượng chưa cao Các doanh nghiệp chế biến gỗ cần tham gia phát triển thị trường trong nước để góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của người Việt Nam cũng như thoát khỏi tình trạng gần như hoặc hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu Mặt khác, với hoạt động này doanh nghiệp sẽ có những điều kiện tốt hơn trong đối phó với tính thời vụ của sản xuất đồ gỗ ngoài trời xuất khẩu

Thương hiệu cho đồ gỗ Việt Nam

Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm lớn về chế biến và xuất khẩu đồ gỗ trên thế giới, có quan hệ kinh doanh sâu rộng, kể cả mua nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, với thị trường toàn cầu Sản phẩm đồ mộc ngoài trời do Việt Nam làm ra có chất lượng đảm bảo, hiện diện ở nhiều chuỗi cửa hàng trên khắp thế giới nhưng dưới những tên tuổi khác, thương hiệu khác là một thực tế đáng buồn Do vậy, Việt Nam cần coi việc xây dựng thương hiệu, làm cho sản phẩm do mình làm ra mang đúng tên mình khi xuất hiện trên thị trường thế giới là một trong những ưu tiên trong thời gian tới

Nguồn ảnh: GIZ Việt Nam

Trang 4

Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 –

2020

Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 – 2020: Nâng cao chất lượng và hiệu quả

của các hoạt động nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm nhằm phát triển nguồn nhân

lực có chất lượng cao cho ngành Lâm nghiệp Lấy khoa học công nghệ làm động lực cho

phát triển ngành, gắn nghiên cứu, đào tạo với sản xuất và thị trường nhằm nâng cao các

đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lâm nghiệp, bảo vệ môi trường và cải thiện mức sống cho

những người dân làm nghề rừng

Các chỉ tiêu đánh giá

 Chỉ số 3.4.1: Số người làm khoa học và công nghệ lâm nghiệp

 Chỉ số 3.4.2: Số lượng giống cây Lâm nghiệp được cấp chứng chỉ

 Chỉ số 3.4.3: Số đề tài khoa học được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng

 Chỉ số 3.4.4: Số cán bộ khuyến lâm/ nông lâm

 Chỉ số 3.4.5: Số học sinh, sinh viên Lâm nghiệp (các trường đại học, cao đẳng, trung

cấp và dạy nghề) đang học, tuyển mới và tốt nghiệp

 Chỉ số 3.4.6: Số cán bộ nhà nước về Lâm nghiệp được đào tạo lại (chỉ số tương lai)

 Chỉ số 3.4.7: Số hộ nông dân được tiếp cận và hưởng lợi từ các hoạt động khuyến lâm,

khuyến nông, khuyến công (chỉ số tương lai)

 Chỉ số 3.4.8: Số nông dân tham gia các tổ chức khuyến lâm tự nguyện (chỉ số tương

lai)

Chương

Tiến độ thực hiện

Chương trình nghiên cứu,

giáo dục đào tạo

Trang 5

Số người làm khoa học và công nghệ lâm nghiệp là số cán bộ khoa học các cấp có trình

độ từ kỹ sư hoặc tương đương trở lên của các viện, trường, doanh nghiệp đang có các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ hoặc quản lý khoa học công nghệ trong ngành lâm nghiệp tại thời điểm thống kê

Bảng 66: Số người làm khoa học công nghệ lâm nghiệp tại Viện KHLN, Viện ĐTQHR và Trường Đại học Lâm nghiệp

Năm Tổng GS-PGS Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học

và trung cấp lâm nghiệp )

Cán bộ trình độ cao có xu hướng giảm do về hưu nhiều, trong khi nguồn bổ sung chậm Tính riêng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, số người thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách sự nghiệp KHCN của Nhà nước tham gia nghiên cứu và các hoạt động khoa học công nghệ khác tăng từ 301 người năm 2005 lên 413 người (trong tổng số 527 người bao gồm cả lao động hợp đồng) năm 2010, trong đó chủ yếu tăng số Thạc sĩ (từ 76 lên

144 người) và đại học (từ 195 lên 241 người); trong khi số GS, PGS không thay đổi (5 người), thậm chí số tiến sĩ giảm từ 25 xuống 23 người Việc giảm số lượng giáo sư và tiến sĩ đồng nghĩa với việc giảm năng lực thực hiện các đề tài lớn có tính đột phá của ngành cũng như phối hợp liên ngành

Chỉ tiêu

3.4.1

Số người làm khoa học và công

nghệ lâm nghiệp

Trang 6

Số lượng giống được công nhận ngày càng tăng là kết quả của sự cố gắng liên tục từ nhiều năm trước của ngành Lâm nghiệp Trong sản xuất, các đơn vị lâm nghiệp và người dân

đã chú ý nhiều hơn đến chất lượng giống cho trồng rừng, nhất là trồng rừng kinh tế bằng các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước và đã góp phần tạo động lực cho nghiên cứu chọn tạo giống

Chất lượng giống trong trồng rừng ngày càng được cải thiện Tỷ lệ sử dụng giống tốt tăng trong trồng rừng đã góp phần đưa năng suất rừng trồng lên 10-15m3/ ha/ năm, cá biệt lên tới 20-30 m3/ ha/ năm Công nghệ sản xuất giống bằng nuôi cấy mô kết hợp giâm hom đã phổ cập rộng rãi trong sản xuất

Bảng 67: Số giống và cây giống được công nhận và cấp giấy chứng nhận

Năm Số cây giống được chứng nhận Số giống được công nhận

8 ha, 6 vườn giống hữu tính cho các loài keo lá liềm, bạch đàn tere, bạch đàn uro và bạch đàn pellita với tổng diện tích 15 ha

So với năm 2005, tổng diện tích các loại nguồn giống đã tăng từ 5.966,95 ha lên 6.700,95 ha (tăng 11,2 %), chủ yếu là tăng các lâm phần tuyển chọn và rừng giống

Chỉ tiêu

3.4.2

Số lượng giống cây lâm nghiệp

được cấp chứng chỉ

Trang 7

Bảng 68: So sánh cơ cấu nguồn giống năm 2005 và 2010

Loại nguồn giống

Năm 2005 Diện tích xây dựng

mới giai đoạn 2006-2010 (ha)

Năm 2010 Diện tích (ha) Tỷ lệ

(%)

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Lâm phần tuyển chọn 813,7 13,6 533 1346,7 20,0 Rừng giống chuyển

Nguồn ảnh: Trương Lê Hiếu

Trang 8

Trong 4 năm (2006-2009) tổng số đề tài đã được nghiệm thu và chuyển giao kết quả cho sản xuất là 106, trong đó về lâm sinh là 55 đề tài chiếm 51%, công nghiệp rừng 42 đề tài chiếm 39,6% và về kinh tế, chính sách lâm nghiệp 10 đề tài, chiếm 9,4% Trong giai đoạn 2006-2010 mới có số liệu đến năm 2009 vì các đề tài kết thúc trong năm 2010 phải đến 2011 mới nghiệm thu đánh giá Số đề tài kết thúc năm 2010 khá lớn vì là năm cuối chu kỳ kế hoạch Tương tự như vậy, số đề tài trong năm 2005 cao hơn các năm 2006 đến 2009

Bảng 69: Số đề tài khoa học được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng

Năm Tổng Lâm sinh CNR KT-CS

Các đề tài giai đoạn 2006-2010 có quy mô lớn hơn và được đầu tư tập trung hơn Năm

2005, trung bình 1 đề tài trọng điểm cấp Bộ chỉ được cấp 288,65 triệu đồng/ năm Trong giai đoạn 2006 – 2010, con số này tăng liên tục từ 737,8 triệu đồng/ đề tài/ năm (năm 2006) lên 1.159 triệu đồng/ đề tài/ năm (năm 2007), 1.149 triệu đồng/ đề tài/ năm (năm 2008) và 1.306 triệu đồng/ đề tài/ năm (năm 2009) Việc đầu tư có trọng điểm kết hợp với cơ chế đấu thầu rộng rãi đã tạo điều kiện cho các đề tài giải quyết được các vấn đề lớn về kỹ thuật một cách đồng bộ và hoàn chỉnh hơn

Trang 9

Lực lượng cán bộ khuyến nông nói chung, bao gồm các lĩnh vực: Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công và khuyến ngư trên cả nước tính đến hết tháng 6/2010 cả nước có 33.577 người, tăng 34,1% so với thời điểm năm 2005 Phần lớn lực lượng cán bộ khuyến nông hiện nay tập trung tại địa bàn các tỉnh miền Bắc, chiếm đến 80,1% trong tổng số Trên địa bàn miền Bắc, số cán bộ khuyến nông của vùng Trung du và miền núi chiếm gần 50% tổng số, vùng Bắc Trung Bộ chiếm 38%, số còn lại (khoảng 12%) làm việc tại các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng Qua số liệu trên chúng ta có thể thấy rằng lực lượng cán bộ khuyến nông hiện nay được ưu tiên bố trí tập trung tại các địa bàn có điều kiện sản xuất khó khăn Biểu đồ 45: Lực lượng cán bộ khuyến nông tại các cấp năm 2005 và 2009

Nguồn: BỔ SUNG NGUỒN

Số liệu chi tiết của lực lượng cán bộ khuyến nông hiện nay phân theo cấp quản lý cho chúng ta thấy lực lượng này chủ yếu được bố trí ở địa bàn cấp thôn, xã chiếm trên 80% tổng lực lượng, trong đó cấp xã chiếm 27,4%, cấp thôn, bản chiếm trên 55% trong tổng số Riêng lực lượng cán bộ khuyến nông cấp thôn, bản ở các tỉnh miền Bắc chiếm tới 91,3% tổng lực lượng cán bộ khuyến nông cấp thôn, bản của cả nước và chỉ bố trí ở 2 vùng khó khăn là Trung du - miền núi và Bắc Trung Bộ Ở các tỉnh miền Nam, lực lượng này bố trí tập trung chủ yếu ở vùng Tây Nguyên, chiếm 85,7% tổng số

Hệ thống khuyến nông cấp tỉnh/Thành phố: Hiện nay ở tất cả 63 tỉnh/ thành phố

trong cả nước đều đã thành lập Trung tâm Khuyến nông với tổng số 2.065 cán bộ khuyến nông, bình quân mỗi trung tâm khuyến nông tỉnh/ thành phố có 32,8 cán bộ viên chức Trong tổng số cán bộ khuyến nông làm việc ở các Trung tâm khuyến nông cấp tỉnh có 1.435 người

có trình độ đại học trở lên, chiếm 69,5%, 267 cán bộ trình độ trung cấp, chiếm 12,7% và 244 cán bộ có trình độ sơ cấp, chiếm 11,8%

Chỉ tiêu

Trang 10

Hệ thống khuyến nông cấp huyện: Hiện nay, có 585/ 648 huyện trên cả nước có Trạm khuyến nông huyện, chiếm 90,3% tổng số huyện Các trạm khuyến nông huyện trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh hoặc UBND huyện với tổng số 3.741 người, bình quân mỗi huyện có 6,4 người, trong đó số người có trình độ từ đại học trở lên là 2.656 người, chiếm

71%, trình độ trung cấp là 892 người và sơ cấp là 193 người

Hệ thống khuyến nông cấp xã: Hiện nay, có 9.025 xã có nhân viên khuyến nông, chiếm 96,6% tổng số xã Số cán bộ có trình độ từ trung cấp trở lên chiếm 41%, dân tộc thiểu

số chiếm khoảng 20% Các địa phương miền Bắc chiếm 74,1% số lượng cán bộ khuyến nông cấp xã, tại một số tỉnh, như: Hà Giang, Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Giang Cán bộ khuyến nông đã được hưởng lương theo ngạch chuyên môn đào tạo, còn ở các tỉnh khác mới chỉ được hưởng phụ cấp từ 100.000 - 300.000 đồng/ tháng tuỳ theo điều kiện kinh tế của tỉnh

Hệ thống khuyến nông cấp thôn, bản: Hiện cả nước chỉ có 15 tỉnh có khuyến nông viên thôn bản với tổng số 18.466 người Một số tỉnh có lực lượng khuyến nông viên thôn, bản tương đối đầy đủ như: Nghệ An, Hà Giang, Cao Bằng, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Tây, Đắc Lắc, Đắc Nông, Hậu Giang

Về trình độ đào tạo, tính đến thời điểm tháng 6/2010, trên cả nước cán bộ khuyến nông

có trình độ trên đại học bao gồm tiến sĩ và thạc sĩ có 151 người, chiếm 0,4% trên tổng số; cán

bộ trình độ đại học có 5.532 người, chiếm 16,5%; số cán bộ có trình độ cao đẳng là 4.149 người, chiếm 12,4%; số cán bộ có trình độ trung cấp là 2.515 người chiếm 7,5%; số còn lại là cán bộ có trình độ sơ cấp hoặc chưa qua trường lớp nào có 21.230 người, chiếm 63,2% Biểu đồ 46: Cơ cấu lược lượng cán bộ khuyến nông theo bằng cấp đào tạo

Nguồn: BỔ SUNG NGUỒN

Về cơ cấu cán bộ khuyến nông theo chuyên môn được đào tạo, tính chung trên cả nước,

số lượng cán bộ được đào tạo chuyên về lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật chiếm tỷ lệ cao nhất là 16% trong tổng số, tiếp đến là lĩnh vực chăn nuôi thú y chiếm 10,8%, lĩnh vực lâm

Trang 11

nghiệp chiếm 4,5%, lĩnh vực thủy sản chiếm 3,5% Tuy nhiên, cơ cấu lực lượng cán bộ khuyến nông tại miền Bắc và miền Nam có sự khác biệt, cơ cấu cán bộ khuyến nông các lĩnh vực trồng trọt, BVTV; chăn nuôi, thú y và khuyến ngư tại các tỉnh miền Nam có tỷ lệ cao hơn

ở các tỉnh miền Bắc, trong khi tỷ lệ cán bộ khuyến lâm tại các tỉnh miền Bắc có tỷ lệ cao hơn tại các tỉnh miền Nam

NN&PTNTSở NN&PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc TW là cơ quan quản lý trực tiếp đối với Trung tâm Khuyến nông và các hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, cơ quan quản lý các trạm khuyến nông huyện chưa tập trung vào một đầu mối, cụ thể hiện có 18 tỉnh các trạm khuyến nông huyện trực thuộc trung tâm khuyến nông tỉnh, 27 tỉnh

có trạm khuyến nông huyện trực thuộc UBND huyện và 8 tỉnh có trạm khuyến nông chịu sự quản lý của phòng NN&PTNT tại các huyện hay phòng Kinh tế tại các thị xã

Bảng 70: Cơ cấu lực lượng cán bộ khuyến nông theo ngành chuyên môn đào tạo tính đến hết tháng 6/2010

Thú y

Lâm nghiệp

Thuỷ sản Khác

Cả nước 33.577 5.356 3.626 1.523 1.179 21.893

Cơ cấu (%) 100,0 16,0 10,8 4,5 3,5 65,2 Miền Bắc 26.905 4.010 2.782 1.355 544 18.214

Cơ cấu (%) 100,0 14,9 10,3 5,0 2,0 67,7 Trung du - Miền núi 13.325 1.498 910 608 112 10.197 Đồng bằng sông Hồng 3.387 1.233 961 55 291 847 Bắc Trung bộ 10.193 1.279 911 692 141 7.170 Miền Nam 6.672 1.346 844 168 635 3.679

Cơ cấu (%) 100,0 20,2 12,6 2,5 9,5 55,1 Duyên hải Trung bộ 1.375 449 215 68 130 513 Tây Nguyên 2.215 263 138 64 6 1.744 Đông Nam bộ 772 189 125 25 45 388 Đồng bằng sông CL 2.310 445 366 11 454 1.034

Nguồn: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Lực lượng cán bộ khuyến nông trong thời gian qua phát triển nhanh về số lượng nhưng tập trung chủ yếu ở cấp thôn, bản Chất lượng cán bộ khuyến nông nói chung có nâng cao Tuy nhiên, do số lượng cán bộ khuyến nông cấp thôn, bản tăng nhiều nên trình độ đào tạo còn hạn chế, phần lớn cán bộ khuyến nông cấp thôn, bản chỉ có bằng sơ cấp hoặc chưa qua trường lớp nào Lực lượng cán bộ khuyến lâm còn mỏng chưa đáp ứng yêu cầu hỗ trợ phát triển sản xuất của ngành với đặc thù là địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp, chia cắt, dân cư thưa thớt

Trang 12

Các số liệu phân tích dưới đây chỉ tính số học sinh, sinh viên thuộc các ngành nghề lâm nghiệp, gồm: Lâm sinh, lâm học, lâm nghiệp, lâm nghiệp xã hội, chế biến gỗ, khảm trai, chạm khắc, khuyến nông lâm, cơ giới hóa lâm nghiệp, quản lý tài nguyên rừng và môi trường, lâm nghiệp đô thị, nông lâm kết hợp, công nghệ sinh học, kinh tế lâm nghiệp, đang học, tuyển mới và tốt nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề do Bộ NN&PTNT quản lý

Bảng 71: Số học sinh, sinh viên thuộc hệ đại học, cao đẳng

Đơn vị tính: Người

Tình trạng 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Có mặt 3.581 3.689 4.048 4.206 4.373 6.063 Tuyển mới 1.119 980 1.156 1.205 1.095 1.093 Tốt nghiệp 786 704 782 911 894 852

Nguồn: Vụ TCCB – Bộ NN&PTNT

Số sinh viên theo học các chuyên ngành về lâm nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng

do Bộ NN&PTNT quản lý có mặt tại thời điểm đầu năm học, trong thời kỳ từ 2005 đến 2010 bình quân mỗi năm có 4.327 người Tuy nhiên, do trong năm 2008 có một trường trung học được nâng cấp một phần của trường thành cơ sở 2 của Trường đại học Lâm nghiệp nên số sinh viên thuộc hệ đại học có mặt từ năm này trở đi đã tăng đáng kể về số lượng Số sinh viên

có mặt đầu năm của năm 2010 so với năm 2005 đã tăng 69,3% và trong thời kỳ từ 2005 đến

2010 số lượng sinh viên có mặt vào đầu năm của hệ đại học và cao đẳng nói chung đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 14,1%/ năm

Số học sinh viên tuyển mới hàng năm theo học hệ đại học - cao đẳng trong các năm từ năm 2005 đến 2010 trung bình mỗi năm có 1.108 người Tuy nhiên, số sinh viên tuyển mới

có xu hướng giảm, cụ thể trong năm 2010 số sinh viên tuyển mới chỉ bằng 97,7% so với năm

2005 Trong thời kỳ từ 2005 đến 2010, số sinh viên tuyển mới có tốc độ giảm bình quân 0,6%/ năm

Số sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng thuộc các chuyên ngành lâm nghiệp tại các trường do Bộ NN&PTNT quản lý trung bình mỗi năm trong các năm từ 2005 đến 2010 là 822 người và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 2% trong thời gian tương ứng

Trang 13

Bảng 72: Số học sinh, sinh viên thuộc hệ trung cấp

Đơn vị tính: Người

Tình trạng 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Có mặt 2.130 2.209 2.107 2.195 1.950 1.967 Tuyển mới 978 1.026 1.248 1.106 1.041 898 Tốt nghiệp 850 825 855 662 691 671

Nguồn: Vụ TCCB – Bộ NN&PTNT

Số học sinh học các chuyên ngành lâm nghiệp thuộc hệ trung cấp có mặt tại các trường

do Bộ NN&PTNT quản lý trong thời kỳ từ 2005 -2010 bình quân mỗi năm có 2.093 người và

có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2010, số lượng học sinh có mặt vào đầu năm chỉ bằng 92,3% so với năm 2005 Tính chung cho cả thời kỳ 2005-2010, số học sinh theo học hệ trung cấp giảm bình quân mỗi năm là 2%

Số học sinh thuộc hệ trung cấp tuyển mới qua các năm cũng có tình hình tương tự, bình quân mỗi năm chỉ tuyển 1.050 người Tốc độ tuyển mới học sinh trung học trong thời kỳ 2005-2010 giảm bình quân mỗi năm 2,1%

Số học sinh tốt nghiệp hệ trung cấp cũng không nằm ngoài xu thế chung Bình quân mỗi năm trong các năm từ 2005-2010 chỉ có 759 người tốt nghiệp Số học sinh tốt nghiệp trung cấp trong năm 2010 chỉ bằng 78,9% năm 2005 Trong thời kỳ từ 2005-2010, số lượng học sinh tốt nghiệp hệ trung cấp giảm trung bình mỗi năm là 5,7%

Bảng 73: Số học sinh sinh viên thuộc hệ dạy nghề

Đơn vị tính: Người

Tình trạng 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Có mặt 2.532 2.599 2.432 2.944 2.967 4.163 Tuyển mới 1.674 1.761 1.959 2.122 2.167 2.264 Tốt nghiệp 1.273 1.173 1.164 1.426 506 1.164

Nguồn: Vụ TCCB – Bộ NN&PTNT

Số học sinh theo học hệ dạy nghề thuộc các trường dạy nghề do Bộ NN&PTNT quản lý

có mặt tại thời điểm đầu năm học, trong các năm từ 2005-2010 trung bình mỗi năm có 2.940 người Số lượng học sinh học nghề tăng khá đều qua các năm là dấu hiệu tốt trong cơ cấu đào tạo Số lượng học sinh học nghề có mặt đạt tốc độ tăng bình quân 13,2% trong các năm từ 2005-2010 Riêng trong năm 2010, số học sinh học nghề có mặt tăng 64,4% so với năm 2005

Số học sinh học nghề tuyển mới cũng có những tiến bộ nhất định, tăng 35,2% trong năm 2010 so với năm 2005 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong thời kỳ từ 2005-2010 là 7,8% Bình quân hàng năm các trường dạy nghề thuộc Bộ quản lý tuyển mới 1.991 người

Số học sinh học nghề tốt nghiệp bình quân hàng năm trong các năm từ 2005-2010 là 1.118 người Đây là con số khá thấp so với số học sinh tuyển mới hàng năm và giảm trung

Trang 14

bình mỗi năm là 2,2% Điều này được lý giải là thời gian học nghề càng về sau càng lâu hơn

do yêu cầu của thị trường việc làm đòi hỏi lao động có tay nghề ngày một cao hơn

Ngoài hệ thống trường thuộc Bộ NN&PTNT, còn một số trường đại học thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có khoa Lâm nghiệp và đào tạo kỹ sư lâm nghiệp, bao gồm: Đại học Nông - Lâm Thái Nguyên, Đại học Tây Bắc, Đại học Huế, Đại học Tây Nguyên, Đại học Nông - Lâm Thủ Đức Tuy nhiên, số liệu thống kê về số học sinh có mặt, tuyển dụng và tốt nghiệp hàng năm của các trường này Vụ Tổ chức cán bộ chưa thu thập được

Nguồn ảnh: Vụ KHCN&HTQT, TCLN, Bộ NN&PTNT

Ngày đăng: 31/07/2014, 05:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 66: Số người làm khoa học công nghệ lâm nghiệp tại Viện KHLN, Viện ĐTQHR và  Trường Đại học Lâm nghiệp - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 66 Số người làm khoa học công nghệ lâm nghiệp tại Viện KHLN, Viện ĐTQHR và Trường Đại học Lâm nghiệp (Trang 5)
Bảng 67: Số giống và cây giống được công nhận và cấp giấy chứng nhận - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 67 Số giống và cây giống được công nhận và cấp giấy chứng nhận (Trang 6)
Bảng 68: So sánh cơ cấu nguồn giống năm 2005 và 2010 - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 68 So sánh cơ cấu nguồn giống năm 2005 và 2010 (Trang 7)
Bảng 69: Số đề tài khoa học được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 69 Số đề tài khoa học được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng (Trang 8)
Bảng 70: Cơ cấu lực lượng cán bộ khuyến nông theo ngành chuyên môn đào tạo tính  đến hết tháng 6/2010 - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 70 Cơ cấu lực lượng cán bộ khuyến nông theo ngành chuyên môn đào tạo tính đến hết tháng 6/2010 (Trang 11)
Bảng 71: Số học sinh, sinh viên thuộc hệ đại học, cao đẳng - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 71 Số học sinh, sinh viên thuộc hệ đại học, cao đẳng (Trang 12)
Bảng 73: Số học sinh. sinh viên thuộc hệ dạy nghề - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 73 Số học sinh. sinh viên thuộc hệ dạy nghề (Trang 13)
Bảng 72: Số học sinh, sinh viên thuộc hệ trung cấp - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 72 Số học sinh, sinh viên thuộc hệ trung cấp (Trang 13)
Bảng 74: Lực lượng lao động thuộc lực lượng kiểm lâm trong năm 2009 - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 74 Lực lượng lao động thuộc lực lượng kiểm lâm trong năm 2009 (Trang 21)
Bảng 75: Số lượng doanh nghiệp thuộc ngành chế biến lâm nghiệp - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 75 Số lượng doanh nghiệp thuộc ngành chế biến lâm nghiệp (Trang 24)
Bảng 76: Tổng số lao động của các doanh nghiệp chế biến lâm nghiệp - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 7 ppt
Bảng 76 Tổng số lao động của các doanh nghiệp chế biến lâm nghiệp (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm