Một số công ty lâm nghiệp đã đi vào ổn định sản xuất kinh doanh, vốn và tài sản của doanh nghiệp được quản lý, sử dụng có hiệu quả hơn, cơ chế hoạt động của doanh nghiệp được thay đổi ph
Trang 1Tính đến năm 2005, cả nước có 365 Lâm trường Quốc doanh (LTQD) và công ty lâm nghiệp, trong đó có 110 LTQD hạch toán phụ thuộc và 245 LTQD, công ty lâm nghiệp là doanh nghiệp thành viên của các Tổng công ty
Tính đến năm 2009, thực hiện Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển LTQD, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổng công ty Nhà nước có lâm trường thành viên đã xây dựng Đề án “Sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh” và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
- Công ty, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, trong
Trang 2Theo đó, có 157 LTQD chuyển thành công ty lâm nghiệp, trong đó 17 công ty có đơn
vị thành viên phụ thuộc; số đơn vị thành viên phụ thuộc là 62 đơn vị; 14 công ty trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH) một thành viên 100% vốn Nhà nước; 03 công ty cổ phần; 4 trung tâm lâm nghiệp, 96 Ban quản lý rừng được thành lập hoạt động như đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có 68 Ban quản lý rừng được thành lập từ 68 LTQD chuyển đổi sang và 28 ban quản
lý rừng được hình thành do tách diện tích rừng phòng hộ từ các LTQD, công ty lâm nghiệp; giải thể 14 LTQD Kể từ ngày 1/7/2010, nhiều Công ty Lâm nghiệp đã chuyển đổi thành
Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu vốn
1.1 Diện tích rừng và đất rừng LTQD/ công ty lâm nghiệp đang quản lý:
Tính đến năm 2005, 365 LTQD, công ty lâm nghiệp quản lý 4.081.150,43 ha diện tích đất tự nhiên, diện tích đất lâm nghiệp: 3.914683 ha, trong đó đất rừng sản xuất: 2.114.933 ha (chiếm 54% diện tích đất lâm nghiệp); đất rừng phòng hộ: 1.686.543 ha (chiếm 43%); đất rừng đặc dụng: 32.483 ha (chiếm 3%)
Tính đến năm 2009, 157 công ty lâm nghiệp quản lý: 2.190.400 ha; 96 Ban quản lý rừng được thành lập sau khi sắp xếp lại LTQD quản lý 1.140.145 ha Như vậy, bình quân 1 công ty lâm nghiệp quản lý khoảng 14.471 ha đất tự nhiên Diện tích đất chuyển giao cho địa phương, sau khi sắp xếp lại LTQD (2005-2009), khoảng 0,5 triệu ha và chuyển giao cho các ban quản lý rừng mới là 1,2 triệu ha
Bảng 78: Diện tích đất đai sau khi sắp xếp lại LTQD trong toàn quốc
Tổng diện tích đất
Trồng cây hàng năm
Trồng cây lâu năm
Nuôi trồng thủy sản
Khác Đất
rừng SX
Đất rừng PH
Đất rừng Đặc dụng
Đất khác
TỔNG CỘNG 257 68 3.332.457 54.163 27.262 19.740 100.964 1.932.989 1.105.260 30.714 61.366
Công ty LN
157 68 2.190.400 49.212 22.057 8.551 57.900 1.651.849 361.237 6.550 33.045 BQL rừng
96 0 1.140.145 4.926 5.157 11.188 43.064 280.602 743.001 23.945 28.262 Trung tâm,
Trang 3Một số công ty lâm nghiệp đã đi vào ổn định sản xuất kinh doanh, vốn và tài sản của doanh nghiệp được quản lý, sử dụng có hiệu quả hơn, cơ chế hoạt động của doanh nghiệp được thay đổi phù hợp hơn với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Đặc biệt, các công ty có rừng sản xuất là rừng tự nhiên thuộc loại rừng giầu, rừng trung bình có chỉ tiêu khai thác, có đủ quỹ đất để phát triển rừng trồng sản xuất, hoạt động có hiệu quả với việc đa dạng hóa ngành nghề sản xuất kinh doanh
Khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ:
Các công ty lâm nghiệp chưa thích ứng được đầy đủ với việc chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, thiếu chính sách tài chính, tín dụng thích hợp với kinh doanh rừng tự nhiên (kinh phí để bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển rừng tự nhiên nghèo kiệt), lúng túng trong việc định giá rừng làm căn cứ giao vốn
Hầu hết các công ty lâm nghiệp chưa có kế hoạch quản lý rừng và đất lâm nghiệp được giao hoặc đã có kế hoạch quản lý rừng (phương án điều chế rừng đơn giản) nhưng chưa được sử dụng như một công cụ pháp lý để quản lý rừng và đất lâm nghiệp được giao
Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng, hạn chế khai thác gỗ một cách cứng nhắc đã làm cho doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư vào rừng, nhưng vay vốn lại rất khó khăn Rừng giao cho doanh nghiệp gọi là rừng sản xuất, nhưng doanh nghiệp không có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Chưa hoàn toàn tách bạch giữa hoạt động sản xuất kinh doanh với việc thực hiện nhiệm vụ công ích
Các lâm trường chỉ có quyết định thành lập, theo đó, phạm vi đất được giao quản lý chỉ xác định trên bản đồ kèm theo mà không được chỉ rõ ngoài thực địa Thực tế ngay bản thân nhiều tổ chức, công ty cũng không biết được cụ thể ranh giới, phạm vi, diện tích rừng quản lý của mình
Ở nhiều tỉnh, công ty lâm nghiệp, không có quyền tự chủ tài chính trong kinh doanh rừng tự nhiên vì chính sách của địa phương quy định tiền bán đấu giá cây đứng do ngành tài chính thu và cấp phát lại cho công ty cũng chẳng khác gì như một đơn vị sự nghiệp bảo vệ rừng
Các công ty lâm nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì không
có tiền chi trả cho việc đo đạc, lập hồ sơ địa chính, mặc dù Nghị định
200/2004/NĐ-CP quy định ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí này cho các công ty lâm nghiệp Thêm vào đó, các công ty phải trả tiền thuê đất hàng năm, trong khi vốn sản xuất kinh doanh còn không có, nên không thể chi trả cho việc thuê đất này
Nhiều công ty lâm nghiệp sản xuất, kinh doanh trên một diện tích rất lớn về đất đai (bình quân 14.000 ha/ Cty), chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số, liên quan tới cả an ninh quốc phòng
Trang 4Hiện nay, các công ty lâm nghiệp đều ở tình trạng thiếu vốn đầu tư xây dựng rừng Theo Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, các công ty lâm nghiệp được giao quản lý những diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo kiệt, đang trong thời kỳ nuôi dưỡng, phục hồi, chưa được phép khai thác gỗ (địa bàn công ty đóng ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số) thì được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để quản
lý, bảo vệ các khu rừng này theo cơ chế như đối với rừng phòng hộ nhưng trên thực tế
Tổ chức lại công ty lâm nghiệp theo hướng thành lập các tổng công ty lâm nghiệp kinh doanh tổng hợp lâm công nghiệp mà công ty lâm nghiệp là các đợn vị thành viên hạch toán độc lập
Thể chế hoá cơ chế quản lý có tính đặc thù của công ty lâm nghiệp Cụ thể:
Nhà nước chỉ giao quỹ rừng và đất theo đúng khả năng quản lý (về nhân lực, vốn…) của công ty lâm nghiệp hiện có, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty lâm nghiệp
Hoàn thiện cơ chế chính sách giao rừng tự nhiên theo hướng giao rừng rõ ràng, cụ thể, đồng thời với quyền hạn, quyền lợi cũng rõ ràng, minh bạch
o Lựa chọn 1: Thực hiện cơ chế giao rừng tự nhiên cho các công ty lâm nghiệp để sản xuất kinh doanh có định giá trị rừng và có thu hồi lại giá trị rừng đã sử dụng thông qua thực hiện chính sách giá cây đứng
o Lựa chọn 2: Thực hiện cơ chế chính sách thuê rừng tự nhiên để sản xuất kinh doanh
Công ty lâm nghiệp phải có quyền tài sản đối với rừng tự nhiên được giao hoặc thuê Rừng tự nhiên là tài nguyên quốc gia, nhưng rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất, mà Nhà nước đã giao cho công ty phải trở thành tài sản của công ty, một loại vốn quan trọng nhất mà Nhà nước giao, công ty được sử dụng vốn này theo nguyên tắc bảo toàn vốn và có hoàn trả Tuy nhiên, cũng cần làm rõ mối quan hệ giữa thuế tài nguyên, tiền thuê rừng, tiền giá cây đứng đối với rừng tự nhiên
Thực hiện chế độ thuê đất (có đấu thầu), đặt các công ty lâm nghiệp vào thế cạnh tranh
sử dụng đất, vì nếu không có cạnh tranh, người ta không thể nào khai thác tối đa các lợi thế so sánh, không thể nào có động lực tạo lập những lợi thế so sánh mới
Trang 5Bãi bỏ việc quy định hạn mức khai thác gỗ rừng tự nhiên và xét cấp hạn ngạch khai thác cho các công ty, chuyển sang chế độ khai thác theo phương án điều chế rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt (5 năm điều chỉnh một lần) và có chế tài nếu vi phạm phương án điều chế rừng
Hỗ trợ vốn đầu tư hoặc hỗ trợ lãi suất vay cho khoản vốn đầu tư vào rừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng phục hồi để nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng rừng
Việc cổ phần hoá công ty lâm nghiệp chỉ nên tiến hành đối với rừng trồng Đối với rừng tự nhiên không nên cổ phần hoá, vì chưa có điều kiện để định giá rừng một cách chính xác (đo đếm chính xác trữ lượng rừng, định giá lâm sản ngoài gỗ, tính toán các dịch vụ môi trường của rừng) nên dễ dàng lợi dụng, làm thất thoát tài sản của Nhà nước
Nguồn ảnh: FSSP CO
Trang 6Doanh nghiệp lâm nghiệp là một loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp với đặc trưng cơ bản nhất là lấy rừng và đất rừng làm tư liệu sản xuất chủ yếu Tài sản
cố định trong công ty lâm nghiệp chủ yếu là nhà làm việc, các công trình lâm sinh, thiết bị vận chuyển, thiết bị máy móc trong xưởng sơ chế lâm sản…
Doanh nghiệp lâm nghiệp được
chia thành nhiều loại tuỳ thuộc vào mục
tiêu nghiên cứu Phân loại theo sở hữu
vốn trong doanh nghiệp, có doanh nghiệp
lâm nghiệp Nhà nước (chủ yếu là công ty
lâm nghiệp từ LTQD chuyển đổi sang),
doanh nghiệp lâm nghiệp tư nhân, công
ty cổ phần, công ty hợp doanh
Hiện nay, không có số liệu chính
xác về vốn cố định của các công ty lâm
nghiệp trong phạm vi toàn quốc Doanh
nghiệp lâm nghiệp tư nhân, công ty cổ
phần, công ty hợp doanh trong ngành lâm nghiệp rất ít và hầu hết có vốn cố định nhỏ
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2005, tổng số vốn của các LTQD là 671.895 triệu đồng, trong đó vốn cố định 428.849 triệu đồng, bình quân vốn cố định của 01 LTQD là 1.165 triệu đồng Căn cứ vào số liệu của đoàn công tác liên ngành kiểm tra việc sắp xếp, đổi mới và quản lý sử dụng đất đai nông, lâm trường quốc doanh tại Công văn số 2102/QĐ-BNN-ĐMDN ngày 11/7/2008 của Bộ NN&PTNT, vốn cố định trong các công ty lâm nghiệp dao động từ 500 triệu - 4 tỷ đồng
Nhận xét: Giai đoạn 2005-2009, về cơ bản, đã chuyển đổi các LTQD sang công ty lâm nghiệp, nhưng quy mô vốn cố định của các công ty tăng lên rất chậm, khoảng 1/3 số công ty lâm nghiệp trong toàn quốc có khai thác rừng trồng nên có điều kiện đầu tư thêm về tài sản
cố định trong doanh nghiệp
Hiện nay, không có chỉ tiêu thống kê về giá trị tài sản cố định của các doanh nghiệp lâm nghiệp nói chung
Chỉ tiêu
3.5.4
Giá trị tài sản cố định của các
doanh nghiệp lâm nghiệp
Nguồn ảnh: FSSP CO
Trang 7Hộ kinh tế cá thể lâm nghiệp được hình thành và phát triển từ khi thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2005, Nhà nước đã giao cho khoảng 1,1 triệu hộ gia đình, cá nhân với diện tích 3.473 triệu ha đất lâm nghiệp, bằng 23,7% diện tích đất lâm nghiệp đang sử dụng trong toàn quốc (14,6 triệu ha) Đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình bao gồm cả rừng tự nhiên, rừng trồng và đất trống với cơ cấu như sau: 45% là rừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng thứ sinh phục hồi; 25% là rừng trồng (rừng trồng bằng vốn của Nhà nước giao lại cho dân và dân tự trồng); 30% là đất trống đồi núi trọc Hộ gia đình chủ yếu được giao diện tích đất rừng sản xuất (1,8 triệu ha), đất rừng phòng hộ (1.595 triệu ha); rừng đặc dụng (68.277ha)
Đến năm 2008, Nhà nước đã giao cho khoảng 1,3 triệu hộ gia đình, cá nhân với diện tích 3.826 triệu ha đất lâm nghiệp, bằng 26,2% diện tích đất lâm nghiệp đang sử dụng trong toàn quốc Đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình bao gồm cả rừng tự nhiên, rừng trồng và đất trống với cơ cấu như sau: 60,6% là rừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng thứ sinh phục hồi; 26,4% là rừng trồng (rừng trồng bằng vốn của Nhà nước giao lại cho dân và dân tự trồng); 12,8% là đất trống đồi núi trọc Hộ gia đình chủ yếu được giao diện tích đất rừng sản xuất
(2.317.504 ha), đất rừng phòng hộ (1.466.510 ha); rừng đặc dụng (42.025 ha)
Nhận xét: Từ năm 2005-2008, số hộ kinh tế cá thể lâm nghiệp chủ yếu là hộ gia đình tăng khoảng 200 ngàn hộ Bình quân mỗi năm tăng khoảng 50 ngàn hộ Diện tích đất lâm nghiệp các hộ kinh tế cá thể quản lý tăng 353.000 ha, bình quân mỗi năm tăng 88.250 ha Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp bình quân 1 hộ lại giảm, năm 2005 là 3,157 ha, vào năm 2008 chỉ còn 2,943 ha Diện tích đất lâm
nghiệp bình quân 1 hộ giảm, chủ yếu là
do những hộ gia đình được giao đất lâm
nghiệp trong vài năm gần đây với diện
tích nhỏ, trong đó có hộ gia đình được
giao đất lâm nghiệp do các LTQD chuyển
giao cho địa phương Diện tích đất trống
mới có xu hướng giảm do một phần diện
Trang 8Tiêu chí xác định kinh tế trang trại quy định tại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2006), đến năm 2005, cả nước có 2.547 trang trại lâm nghiệp với diện tích 56.276 ha Trang trại lâm nghiệp phân bố tập trung ở miền Bắc: 66,31% tổng số trang trại lâm nghiệp cả nước, miền Nam: 33,69%; 2 vùng có nhiều trang trại nhất là Đông Bắc (786) và Bắc Trung Bộ (759) Bình quân cả nước 1 trang trại quản lý 22,9
ha (20,8 ha đất lâm nghiệp), hơn gấp 4 lần diện tích đất lâm nghiệp bình quân của 1 hộ gia đình và bằng 2/3 mức hạn điền về đất lâm nghiệp của 1 hộ Về cơ cấu trang trại theo quy mô diện tích sản xuất, trang trại có quy mô dưới 10 ha là 200 (chiếm 7,8% tổng số trang trại); từ
10 đến dưới 20 ha là 1.666 (61,8%), từ 20 đến dưới 50 ha là 667 (26,2%) và từ 50 ha trở lên
là 107 trang trại (4,2%) Lực lượng lao động: 18.862 lao động, bình quân 1 trang trại sử dụng 7,7 lao động, trong đó 3,5 lao động thường xuyên
Bảng 79: Trang trại lâm nghiệp năm 2005
Tổng
số
Lao động thường xuyên
Trang 9Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cả nước (2008) có khoảng 3.300 trang trại lâm nghiệp với diện tích quản lý: 61.050 ha 2 vùng có nhiều trang trại nhất là Đông Bắc (886) và Bắc Trung Bộ (859) Bình quân cả nước 1 trang trại quản lý 18,5 ha
Về quy mô trang trại lâm nghiệp, số trang trại dưới 10 ha là 200 (78%), số trang trại), từ
10 ha đến dưới 20ha là 1.666 (51,8%), từ 20 đến dưới 50 ha là 667 (26,2%) và từ 50 ha trở lên là 197 (4,2%)
Bảng 80: Quy mô diện tích đất lâm nghiệp bình quân 01 trang trại theo vùng
Đơn vị tính: ha/ trang trại
Nguồn: Tổng cục Thống kê, niên giám thống kê năm 2006, 2008
Bảng 81: Cơ cấu trang trại lâm nghiệp phân theo quy mô sản xuất năm 2008
Nguồn: tính toán theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2008
Đến nay, có khoảng 55% trang trại lâm nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Về nguồn gốc đất cho phát triển trang trại, đa số các trang trại sử dụng đất từ quỹ đất lâm nghiệp giao sử dụng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân Một số chủ trang trại thuê đất của các chủ sử dụng đất khác hoặc nhận khoán đất của LTQD (công ty lâm nghiệp)
Trang 10Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2005, giá trị sản lượng hàng hoá bán ra bình quân 1 trang trại trong toàn quốc khoảng 42,9 triệu đồng/ năm; thu nhập bình quân 1 trang trại rất thấp 22,3 triệu đồng/ năm Vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có giá trị sản lượng hàng hoá bán ra và thu nhập bình quân 1 trang trại cao nhất toàn quốc 25 tỉnh có giá trị sản lượng hàng hoá bán ra bình quân 1 trang trại trên 50 triệu đồng/ năm, trong đó chỉ có 2 tỉnh có giá trị sản lượng hàng hoá bán ra bình quân 1 trang trại vượt trên 100 triệu đồng/ năm (Đồng Nai, Tây Ninh) Về thu nhập bình quân 1 trang trại, chỉ có 2 tỉnh có thu nhập bình quân 1 trang trại trên 50 triệu đồng/ năm (Đồng Nai, Bình Phước), 18 tỉnh có thu nhập bình quân 1 trang trại trên 30 triệu đồng/ năm
Từ năm 2005-2009, giá trị sản lượng hàng hoá bán ra và thu nhập bình quân 1 trang trại
có xu hướng tăng lên Năm 2005, giá trị hàng hoá bán ra bình quân 1 trang trại trong phạm vi toàn quốc 42,9 triệu đồng, đến năm 2007 đạt 87,1 triệu đồng, tăng khoảng 2 lần so với năm
2005 Năm 2009, giá trị sản lượng hàng hoá bán ra đạt 151,3 triệu đồng tăng hơn 3 lần so với năm 2005 và tăng 35% so với năm 2008 Về thu nhập bình quân 1 trang trại, năm 2005 đạt 22,3 triệu đồng, đến năm 2007 đạt 39,6 triệu đồng tăng 77% so với năm 2005; năm 2009 đạt
60 triệu đồng, tăng hơn 2,5 lần so với năm 2005 và tăng 5% so với năm 2008
Năm 2009, 39 tỉnh có giá trị sản lượng hàng hoá bán ra bình quân 1 trang trại trên 50 triệu đồng/ năm, trong đó 14 tỉnh có giá trị sản lượng hàng hoá bán ra bình quân 1 trang trại trên 100 triệu đồng/ năm (trong khi đó năm 2005 chỉ có 2 tỉnh) Về thu nhập bình quân 1 trang trại, 19 tỉnh có thu nhập bình quân 1 trang trại trên 50 triệu đồng (năm 2005 chỉ có 2 tỉnh), 28 tỉnh có thu nhập bình quân 1 trang trại trên 30 triệu đồng (năm 2005 có 18 tỉnh)
1.1 Nhận xét chung
Giai đoạn 2005-2009, kinh tế trang trại lâm nghiệp phát triển đã góp phần khai thác thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc đưa vào sản xuất lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hoá, tạo ra các vùng sản xuất lâm nghiệp tập trung cung cấp cho công nghiệp chế biến lâm sản Đồng thời, góp phần huy động lượng tiền trong dân để đầu tư cho phát triển sản xuất lâm nghiệp tạo việc làm và thu nhập cho lao động ở nông thôn cũng như cải thiện môi trường sinh thái
Chỉ tiêu
3.5.7
Doanh thu của các trang trại lâm
nghiệp
Trang 11Bảng 82: Giá trị sản lượng hàng hoá bán ra và thu nhập bình quân 1 trang trại lâm nghiệp
Các
vùng
Năm 2005 2007 2008 2009 Giá trị
sản lượng
HH bán
ra /1
TT
Thu nhập/1
TT
Giá trị sản lượng
HH bán ra /1 TT
Thu nhập/1
TT
Giá trị sản lượng
HH bán
ra /1
TT
Thu nhập/1
TT
Giá trị sản lượng
HH bán
ra /1
TT
Thu nhập/1
Trang 12- Hầu hết các xã chưa có quy hoạch, kế hoạch phát triển trang trại nên khi hộ nông dân có điều kiện muốn phát triển mô hình này thì UBND xã lúng túng trong điều hành
- Trang trại lâm nghiệp còn trong giai đoạn mới phát triển, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp so với các loại trang trại nông nghiệp, thuỷ sản
- Quy mô trang trại nhỏ và phát triển tự phát, diện tích đất của trang trại tương đối ổn định, song việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm Vì vậy, các chủ trang trại chưa thật sự yên tâm khi bỏ vốn đầu tư vào việc phát triển trang trại Nhiều chủ trang trại thuê đất của các chủ sử dụng đất khác hoặc nhận đất khoán của nông, lâm ngư trường nhưng hiện tại họ không được hưởng quyền của người thuê đất hoặc nhận khoán đất mà pháp luật quy định Chính vì vậy, các chủ trang trại không muốn bỏ vốn đầu tư
- Số lượng lao động trong mỗi trang trại thấp, xu hướng tăng sử dụng lao động làm thuê (thời vụ), hầu hết lao động chưa được qua đào tạo
- Điều hành tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự nhiệt tình của chủ trang trại
- Hầu hết các chủ trang trại mới tập trung vào việc mở rộng diện tích, áp dụng kinh nghiệm truyền thống, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống mới vẫn còn hạn chế, nên chất lượng sản phẩm không cao
- Nguồn lực tài chính rất hạn chế, vốn đầu tư chủ yếu là vốn tự có, thiếu vốn để mở rộng sản xuất
- Không tạo được sự liên kết giữa phát triển trang trại với sự hình thành các vùng sản xuất tập trung Một số chủ trang trại chưa nắm bắt kịp thời yêu cầu của thị trường để định hướng sản xuất nên sản phẩm làm ra có lúc khó tiêu thụ, hiệu quả chưa cao, thường bị ép cấp, ép giá
- Nhà nước đã có những chính sách khuyến khích kinh tế trang trại, nhưng ngoài một số trang trại có quy mô lớn đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, còn phần lớn các trang trại có quy mô nhỏ chưa được hưởng những ưu đãi của Nhà nước về đầu tư, tài chính, tín dụng…
1.3 Đề xuất
a Quy hoạch vùng phát triển trang trại
Để trang trại lâm nghiệp phát triển tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, hình thành các vùng sản xuất tập trung, tạo ra khả năng cạnh tranh mới, khắc phục tình trạng trang trại phát triển
tự phát, các tỉnh cần rà soát lại quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xác định các vùng phát triển trang trại, công bố quỹ đất có thể giao hoặc cho thuê để phát triển trang trại, chủ yếu là các vùng đất trống, đồi núi trọc, đất còn hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển
Trang 13- Tiếp tục giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các
trang trại làm cơ sở pháp lý để chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất
- Tạo điều kiện ra đời thị trường bất động sản về đất lâm nghiệp, thể chế hoá việc thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng đất lâm nghiệp, mở rộng quy mô hạn điền trong tích tụ đất lâm nghiệp
c Chính sách đầu tư và tín dụng
- Mở rộng hình thức cho vay tín dụng trung hạn và dài hạn theo chu kỳ kinh doanh của cây rừng; chính sách hỗ trợ lãi suất vay trồng rừng gỗ lớn, nuôi dưỡng rừng tự nhiên nghèo kiệt; miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
d Hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho chủ trang trại và tay nghề của người lao động, nâng cao trình độ ứng dụng khoa học và công nghệ ở các trang trại
e Hỗ trợ trang trại tiếp cận thị trường, tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá
- Hướng dẫn các cơ sở công nghiệp chế biến hợp đồng tiêu thụ lâm sản hàng hoá với các chủ trang trại Tuyên truyền, hướng dẫn và giúp đỡ các trang trại, thực hiện liên kết giữa các trang trại với các doanh nghiệp để phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ lâm sản
f Thông tin về trang trại lâm nghiệp
Hiện nay, trong niên giám thống kê, trang trại lâm nghiệp được thống kê chung với trang trại trồng cây lâu năm, nên không có số liệu chính xác về trang trại lâm nghiệp (số lượng, quy mô diện tích, vốn đầu tư, vốn sản xuất, lao động, doanh thu, lợi nhuận…) Đề nghị cần bổ sung chỉ tiêu trang trại lâm nghiệp trong niên giám thống kê hàng năm
Trang 14Theo kết quả tổng điều tra nông nghiệp và nông thôn năm 2006 của Tổng cục Thống
kê, cả nước mới có 30 hợp tác xã lâm nghiệp, trong đó 20 HTX thành lập mới và 10 HTX chuyển đổi, với số xã viên bình quân là 16 lao động/ HTX Số HTX có hoạt động dịch vụ là
20 và có hoạt động sản xuất là 19 Doanh thu bình quân của một HTX chỉ từ 200-300 triệu đồng
Theo số liệu của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), tính đến năm 2009 (theo báo cáo của 64 tỉnh, thành phố), toàn quốc có 8.845 hợp tác xã, trong đó: HTX nông nghiệp: 8.452; HTX khai thác thủy sản: 74; HTX nuôi trồng thuỷ sản: 263; HTX nghề muối: 56 Như vậy, không có hợp tác xã chuyên lâm nghiệp, chỉ có một số hợp tác xã nông - lâm nghiệp, trong đó tham gia các hoạt động lâm nghiệp chủ yếu như: quản lý và tiếp thị sản phẩm gỗ rừng trồng, nhận khoán trồng rừng, bảo vệ rừng từ các tổ chức Nhà nước, phát triển lâm sản ngoài gỗ, lai tạo, nhân giống và cung ứng các loại giống cây trồng lâm nghiệp…Diện tích rừng nhận khoán bảo vệ có quy mô từ vài ha đến hàng trăm ha, nhận khoán trồng rừng có quy mô nhỏ hơn từ vài ha đến hàng chục ha
Nhận xét:
- Giai đoạn 2005-2009, số lượng HTX lâm nghiệp tăng rất chậm, diện tích đất lâm nghiệp quản lý của mỗi hợp tác xã rất nhỏ bé chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp nhận khoán từ các tổ chức Nhà nước, một số hợp tác xã quản lý những khu rừng trong phạm vi làng, bản với quy mô nhỏ bé vài ha hoặc vài chục ha, hầu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước
- Để khuyến khích hình thành các HTX lâm nghiệp, cần có chương trình hỗ trợ, bao gồm hình thành HTX, tăng cường năng lực và đào tạo cho các HTX như kỹ năng kinh doanh, quản lý tài chính, tiếp thị, kết nối với nhà cung cấp…
- Cần bổ sung chỉ tiêu HTX lâm nghiệp trong chỉ tiêu chung thống kê về hợp tác xã
Chỉ tiêu
3.5.8
Số lượng HTX LN tham gia quản lý
bảo vệ rừng và diện tích quản lý