1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 9 potx

28 417 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 8,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn 2005 - 2009, số dự án ODA lâm nghiệp được huy động và ký kết tăng cao năm 2006 17 dự án, nhưng sau đó giảm dần Biểu đồ 53, thể hiện quan điểm giảm dần hỗ trợ ODA cho Việt

Trang 1

Trong giai đoạn 2005 - 2009, số dự án ODA lâm nghiệp được huy động và ký kết tăng cao năm 2006 (17 dự án), nhưng sau đó giảm dần (Biểu đồ 53), thể hiện quan điểm giảm dần

hỗ trợ ODA cho Việt Nam của các nhà tài trợ quốc tế khi Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế và thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Các dự án được

ký kết trong những năm gần đây chủ yếu là dự án không hoàn lại và liên quan tới các lĩnh vực phòng hộ, môi trường, cơ chế phát triển sạch (CDM), thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), vv… Trong cả giai đoạn chỉ có 04 dự án vay được cam kết, cụ thể là: Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (WB3), Dự án Phát triển lâm nghiệp ở Sơn La, Hoà Bình (KfW7), Dự

án Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây nguyên (ADB2) và Dự án Quản lý đất lâm nghiệp bền vững (IDA)

Biểu đồ 53: Số dự án và vốn ODA giai đoạn 2005 - 2010

Nguồn: Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ NN&PTNT (2010).

Tổng số vốn ODA huy động được trong giai đoạn 2005 - 2010 là 220,7 triệu USD, trong đó vốn không hoàn lại là 107,5 triệu USD (48%), vốn vay là 94 triệu USD (43%) và đối ứng 19,3 triệu USD (9%) Tuy dự án vay có số lượng ít (4/51 dự án) nhưng tổng giá trị vốn vay đạt 94,0 triệu USD (43%), gần bằng tổng vốn các dự án không hoàn lại là 107,5 triệu USD, tương đương 48% (Biểu đồ 54) Vốn ODA huy động trong giai đoạn 2005 - 2010 có xu hướng giảm dần, phù hợp với cam kết của các nhà tài trợ khi Việt Nam đang thoát khỏi nhóm các nước nghèo có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 1.000 USD/ năm

Chỉ tiêu

4.1.2

Số dự án ODA trong LN được ký

kết, thực hiện và vốn hỗ trợ

Trang 2

Biểu đồ 54: Vốn ODA giai đoạn 2005 – 2010 theo các hình thức khác nhau

Nguồn: Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ NN&PTNT (2010).

Trong giai đoạn 2006 – 2010, vốn ODA lâm nghiệp được phân bổ theo 5 chương trình của Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 - 2020 theo mức độ không đồng đều (Biểu đồ 55) Vốn ODA phân bổ cho Chương trình quản lý rừng bền vững chiếm tỷ trọng cao nhất (60%), tiếp đến là Chương trình bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và dịch vụ môi trường chiếm 15% Điều này thể hiện xu hướng quan tâm nhiều hơn của các nhà tài trợ đến quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy các giá trị môi trường của rừng

Vốn ODA phân bổ cho Chương trình chế biến gỗ và thương mại lâm sản chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn (4%) Tuy nhiên, vốn ODA nới trên cũng phát huy tác động tích cực, góp phần vào tăng trưởng nhanh của ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ của Việt Nam (giá trị xuất khẩu lâm sản bình quân khoảng 3 tỷ USD/ năm) trong những năm gần đây

Vốn ODA phân

bổ cho Chương trình

nghiên cứu giáo dục, đào

tạo và khuyến lâm và

Chương trình đổi mới thể

được Nhà nước quan tâm

và bố trí nguồn lực từ ngân sách Nhà nước

Vốn ODA lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 cũng được phân bổ không đều theo các vùng lâm nghiệp Biểu đồ 56 cho thấy có 34% vốn ODA được phân bổ cho vùng Tây

Biểu đồ 55: Phân bổ vố ODA Lâm nghiệp theo 5 chương trình

Nguồn: FSSP CO, MARD (2010).

Trang 3

Nguyên, 21% cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, 11% cho vùng Bắc Trung Bộ, 9% cho mỗi vùng Đông Bắc Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long, 5% cho vùng Tây Bắc và chỉ có 2% cho vùng Đồng bằng Sông Hồng

Biểu đồ 56: Phân bổ vố ODA Lâm nghiệp theo vùng

Nguồn: Văn phòng Đối tác hỗ trợ ngành Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT (2010).

Cơ cấu phân bổ vốn ODA theo vùng nói trên cho thấy sự quan tâm nhiều hơn của các nhà tài trợ đối với các khu vực như Tây Nguyên, Duyên hải Miền Trung… đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm tài nguyên rừng cũng như chịu tác động, ảnh hưởng tiêu cực và thường xuyên của điều kiện khí hậu, thời tiết bất lợi, ảnh hưởng đến mục tiêu xóa đói, giảm nghèo cũng như cải thiện sinh kế cho người dân địa phương Tại các khu vực này, nhiều dự

án vay ODA lớn được triển khai trong thời gian qua, trong đó phải kể đến Dự án Bảo vệ rừng

và phát triển nông thôn (WB1) với 26,175 triệu USD, Dự án Khu vực lâm nghiệp và Bảo vệ rừng đầu nguồn (ADB1) với 25,06 triệu USD, Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam (WB3) với 74,5 triệu USD, Dự án Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn các tỉnh Miền Trung (JBIC) với 248 tỷ VNĐ, Dự án Phát triển lâm nghiệp và cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên (ADB2) với 81,420 triệu USD, … Ngoài ra, nhiều dự án lâm nghiệp không hoàn lại và hỗ trợ

kỹ thuật cũng đã và đang được triển khai tại các khu vực này

Khu vực Tây Bắc, tuy cũng có nhiều điều kiện giống và thậm chí nhiều nơi còn bất lợi

và khó khăn hơn khu vực Tây Nguyên và Duyên Hải Miền Trung nhưng chưa thực sự được nhiều quan tâm của các nhà tài trợ thông qua nguồn vốn ODA Đến nay, duy nhất có dự án ODA vốn vay lâm nghiệp quy mô vừa đang được triển khai tại khu vực là Phát triển lâm nghiệp ở Sơn La, Hoà Bình (KfW7) với tổng số vốn 12 triệu USD, trong đó 9,48 triệu USD vốn vay và 2,52 triệu USD vốn viện trợ Các dự án hỗ trợ kỹ thuật cũng không nhiều so với các vùng Tây Nguyên và miền Trung

Trang 4

trợ, tổ chức thực hiện) đang tham gia vào các hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp tại các vùng khác nhau của Việt Nam (Biểu đồ 57) Các tổ chức này đang hỗ trợ và triển khai 81 dự

án trong đó có 25 dự án triển khai ở cấp quốc gia (Trung ương), 7 dự án triển khai ở cấp vùng, 49 dự án triển khai ở cấp tỉnh, huyện và vườn quốc gia (thuộc 35 tỉnh) Nếu tính đến năm 2012 thì tổng số vốn ODA được triển khai theo các dự án trên sẽ đạt giá trị 216,5 triệu USD

Biểu đồ 57: Sự tham gia của các nhà tài trợ trong lĩnh vực ODA Lâm nghiệp

Nguồn: Văn phòng Đối tác hỗ trợ ngành Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT (2010).

Trang 5

Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường pháp

lý cao hơn để thu hút vốn FDI vào Việt Nam Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật ĐTNN đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992,

1996, 2000, cùng với các văn bản dưới Luật đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội

nhập kinh tế quốc tế, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư thay thế Luật Đầu tư nước

ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước

Mặc dù các dự án đầu tư nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp được quan tâm ưu đãi trong thời gian qua nhưng cho đến nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này, kết quả thu hút FDI vào lĩnh vực nông lâm nghiệp chưa được như mong muốn Tính đến tháng 5/ 2009, mới có 476 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với 2,9 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm gần 2% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam

Đến hết năm 2007, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp có 933 dự án còn hiệu lực, với khoảng 2,02 tỷ USD thực hiện trên tổng vốn đăng ký hơn 4,4 tỷ USD (Bảng 83) Các dự án

về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất bằng 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng

ký của ngành Lĩnh vực chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7% Cuối cùng là lĩnh vực trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án

Bảng 83: Tình hình đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp đến 2008

Nông, lâm nghiệp Số dự án Vốn đăng ký (USD) Vốn thực hiện (USD)

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010)

Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào ngành Nông, Lâm, Ngư nghiệp nước ta, trong đó các nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc,

Trang 6

28%) Các nước thuộc EU đầu tư vào Việt Nam đáng kể nhất gồm có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands (11%) Một số nước có ngành Nông nghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Australia) vẫn chưa thực sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta

Các dự án FDI trong ngành Nông, Lâm, Ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, Duyên Hải Nam Trung Bộ 15% Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước

Theo thống kê chưa đầy đủ, trong lĩnh vực lâm nghiệp hiện có khoảng 32 dự án FDI đã được cấp phép và có 22 dự án đang hoạt động Tổng số vốn hiện đang được đầu tư cho các

dự án đang hoạt động là 640,3 triệu USD, tương đương 12.806 tỷ đồng (xem Bảng 84) Các

dự án trên chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực trồng rừng nguyên liệu; trồng rừng phòng hộ, môi trường, LNXH; trồng rừng - chế biến; và chế biến gỗ

Về số dự án, lĩnh vực chế biến gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số dự án đăng ký (13/32) và số dự án đã đầu tư hoạt động (9/22) Tiếp theo là lĩnh vực trồng rừng - chế biến và trồng rừng phòng hộ, môi trường, LNXH khác nhau về số dự án đăng ký (8/32 và 7/32 tương ứng) nhưng đều có cùng số dự án hoạt động (6/22) Các lĩnh vực trồng rừng nguyên liệu đứng cuối cùng với 4/32 dự án đăng ký và chỉ có 1/22 dự án đang hoạt động

Bảng 84: Hiện trạng đầu tư nước ngoài vào lâm nghiệp

Số lượng

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Về vốn, lĩnh vực trồng rừng - chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất về tổng lượng vốn FDI (77,1% và 493,5 triệu USD) Tiếp theo là lĩnh vực chế biến gỗ với 11,9% (76 triệu USD) Lĩnh vực trồng rừng phòng hộ, môi trường, LNXH đứng thứ ba với 8,1% (52 triệu USD) Thấp nhất phải kể đến lĩnh vực trồng rừng chỉ đạt 2,9% tương đương với 18,8 triệu USD về tổng lượng vốn Như vậy, có thể thấy rằng trong khi các nhà tài trợ quan tâm nhiều hơn tới lĩnh vực phát triển và sử dụng rừng phòng hộ, đặc dụng thì các nhà đầu tư nước ngoài lại chú

Trang 7

ý nhiều hơn tới các hoạt động liên quan tới rừng sản xuất, nhất là trồng rừng kết hợp chế biến

và chế biến gỗ

Vốn FDI bình quân cho một dự án thực hiện là 27,3 triệu USD Tuy nhiên, có những dự

án có tổng vốn đầu tư cao hơn rất nhiều mức bình quân trên như:

- Dự án Trồng rừng và sản xuất bột giấy tại Tiên Yên, Hải Hà, Đầm Hà, Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh với tổng vốn đầu tư là 375 triệu USD;

- Dự án Trồng rừng nguyên liệu gắn với chế biến giấy, bột giấy tại các huyện của tỉnh Sơn La với tổng vốn đầu tư là 85 triệu USD;

- Dự án Nhà máy chế biến bột giấy tại Khu công nghiệp Trần Quốc Toản, Đồng Tháp với tổng vốn đầu tư là 31 triệu USD

Nguồn ảnh: FSSP CO

Trang 8

Vốn đầu tư cho khoa học công nghệ là vốn để thực hiện các đề án, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ bao gồm toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế, xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt thiết bị, thực hiện các hoạt động KHCN và các chi phí khác ghi trong dự toán Hiện ngân sách nhà nước vẫn là nguồn lực chính cho hoạt động khoa học công nghệ của ngành lâm nghiệp Tuy nhiên, nguồn vốn hạn chế của ngân sách nhà nước và của các nguồn vốn đầu tư khác vẫn là một trở ngại cho hoạt động khoa học công nghệ và nghiên cứu lâm nghiệp Tổng số vốn đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực lâm nghiệp giai đoạn 2005 – 2009 là 207.309 triệu đồng, bình quân 41,5 tỷ đồng/ năm, chủ yếu cho các lĩnh vực: lâm sinh 136.618 triệu đồng (65,9%), công nghiệp rừng 18.796 triệu đồng (9,1%), kinh tế - chính sách 8.130 triệu đồng (3,9%) và lĩnh vực khác 27.336 triệu đồng (13,2%) (xem Biểu đồ 58) Như vậy, có thể thấy rằng đầu tư cho khoa học – công nghệ trong lĩnh vực lâm sinh vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, thể hiện sự quan tâm và định hướng của ngành trong thời gian qua nhằm nâng cao năng suất của rừng trồng và chất lượng của rừng tự nhiên đang

ở mức độ thấp

Biểu đồ 58: Vốn đầu tư cho khoa học – công nghệ 2005 – 2009 (triệu đồng)

Nguồn: Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ NN&PTNT (2010).

Trong thời gian qua, nhiều vấn đề bất cập về cơ chế, chính sách lâm nghiệp đã và đang được các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu chính sách, các chủ rừng và người dân sống dựa vào rừng nhận diện và khuyến nghị để hoàn thiện Tuy nhiên, đầu tư cho

Chỉ tiêu

4.1.4

Đầu tư cho nghiên cứu khoa học

và công nghệ lâm nghiệp

Trang 9

nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách lâm nghiệp lại chưa được quan tâm thỏa đáng, thể hiện ở tỷ trọng vốn đầu tư từ 2005 đến 2009 chiếm nhỏ nhất (3,9%) với lượng vốn khoảng 8

tỷ đồng, bình quân 1,6 tỷ đồng/ năm Điều này giúp lý giải tại sao trong thời gian qua trong lĩnh vực lâm nghiệp lại thiếu vắng các cơ chế, chính sách mang tính đột phá, khả thi và phù hợp với thực tiễn để tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành lâm nghiệp

Theo năm, đầu tư cho các lĩnh vực khoa học – công nghệ cũng biến động theo các xu thế khác nhau (Biểu đồ 59) Trong khi đầu tư cho các lĩnh vực như lâm sinh, công nghiệp rừng và đổi mới công nghệ đều có xu hướng tăng từ 2005 đến 2009, đầu tư cho lĩnh vực kinh

tế - chính sách và lĩnh vực khác lại giảm đi

Biểu đồ 59: Diễn biến vốn đầu tư cho KH-CN lâm nghiệp theo lĩnh vực

Nguồn: Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ NN&PTNT (2010).

Trang 10

Vốn đầu tư lâm sinh trong giai đoạn 2005 - 2010 chủ yếu liên quan tới triển khai thực hiện nhiệm vụ của Dự án 661 theo Nghị quyết số 73/2006/QH11 của Quốc hội Tổng số vốn thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng từ năm 2005 đến 2010 chiếm khoảng 9.321.403 triệu đồng, bình quân 1.553.000 triệu đồng/ năm Trong tổng số vốn này, vốn từ ngân sách Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (59,3%), vốn tư nhân và nước ngoài chiếm tỷ lệ tương đương (15,6% và 15,2%) và vốn từ thuế tài nguyên chiếm tỷ trọng thấp nhất (0,7%) (xem Biểu đồ 60)

Như vậy, có thể thấy rằng việc thực hiện các mục tiêu của Dự án 661 nói chung và nhiệm vụ theo Nghị quyết số 73/2006/QH11 của Quốc hội nói riêng vẫn chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước cân đối cho ngành lâm nghiệp hàng năm Việc huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước vào phát triển và bảo vệ rừng trong những năm qua vẫn chưa thực sự có kết quả chuyển biến rõ nét Ngoài ra, thuế tài nguyên thu được từ các hoạt động khai thác rừng tự nhiên hàng năm chiếm giá trị không đáng kể, vì vậy không thể đóng

vai trò trong việc “lấy nguồn thu từ rừng để phục vụ cho phát triển và bảo vệ rừng” theo tinh

thần Nghị quyết Hội nghị TW 7 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Biểu đồ 60: Vốn đầu tư cho Dự án 661 giai đoạn 2005-2010

Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT (2010).

Biến động theo năm của các nguồn vốn cho Dự án 661 diễn ra theo hai xu thế trái ngược nhau (Biểu đồ 61) Các nguồn vốn như tín dụng, nước ngoài, thuế tài nguyên có xu thế

Chỉ tiêu

4.1.5

Giá trị thực hiện vốn đầu tư lâm

sinh

Trang 11

giảm từ năm 2005 đến 2009 và đạt mức rất thấp vào năm 2010 Riêng vốn tư nhân tăng mạnh

từ 2005 đến 2008, gắn với phong trào đầu tư trồng rừng sản xuất trong bối cảnh đất trồng rừng còn nhiều nhưng lại giảm nhiều từ sau năm 2008 Ngược lại, vốn Ngân sách Nhà nước lại có xu thế tăng với tốc độ thấp từ 2005 đến 2008 và sau đó tăng đột biến từ 2008 đến 2010 Việc tăng vốn ngân sách Nhà nước với tốc độ và quy mô lớn có thể được lý giải là do cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc đảm bảo nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo cho ngành lâm nghiệp đạt được mục tiêu đặt ra theo Nghị quyết số 73/2006/QH11 của Quốc hội vào năm 2010

Biểu đồ 61: Diễn biến các nguồn vốn cho Dự án 661 giai đoạn 2005 – 2010

Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT (2010).

Việc đảm bảo vốn thực hiện dự án hàng năm không tương xứng với kết quả đạt được Qua 4 năm thực hiện nghị quyết số 73/2006/QH11 của Quốc hội (2006 – 2009), mặc dù các lĩnh vực đã gần đạt kết quả so với mục tiêu đề ra như: Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 110,8%, trồng rừng 86,4% (riêng trồng rừng phòng hộ, đặc dụng mới đạt 76%, trồng rừng sản xuất đã đạt 89,7%) nhưng vốn đầu tư mới đạt 44,5% (trong đó ngân sách Nhà nước đạt 64% và các nguồn vốn khác đạt 39%) Đến hết năm 2010, hầu hết các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch của Dự

án trồng mới 5 triệu ha rừng đều vượt so với Nghị quyết 73/2006/NQ-QH11 của Quốc hội nhưng hiện vẫn còn 550 tỷ cần được bổ sung cho các địa phương, đơn vị đã thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch năm 2010 được điều chỉnh sau Hội nghị trực tuyến của Ban chỉ đạo

dự án 661 Trung ương (tháng 4 năm 2010) Sự mất cân đối giữa kết quả thực hiện về mặt khối lượng và vốn giải ngân cho thấy chất lượng của các hoạt động trồng rừng sẽ bị ảnh hưởng, nhất là tỷ lệ thành rừng cũng như năng suất rừng trồng trên ha/ năm

Nhận định

Trong giai đoạn 2005 - 2009, cơ cấu vốn đầu tư cho ngành Lâm nghiệp có sự thay đổi

Trang 12

ngân sách Nhà nước và ODA Vốn huy động từ tư nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, LTQD chiếm tỷ trọng thấp mặc dù đã có hàng loạt cơ chế, chính sách được ban hành nhằm khuyến

khích đầu tư trong lâm nghiệp như: Luật Đầu tư số 59/2005/QH và các văn bản hướng dẫn,

Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 6 tháng 7 năm 2007, số 164/2008/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2008 và số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007 về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015, Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về hỗ trợ 62 huyện nghèo

Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, những diện tích có điều kiện thuận lợi, gần các trung tâm dân cư đều đã được trồng hết Một trong những thách thức lớn đối với ngành Lâm nghiệp là trong thời gian tới các hoạt động lâm nghiệp sẽ phải tiến hành trên những địa bàn xa hơn, sâu hơn, điều kiện tự nhiên khó khăn hơn Vì vậy, chi phí đầu tư cũng sẽ cao hơn

và cơ hội tiêu thụ sản phẩm cũng khó khăn hơn Những yếu tố bất lợi đó không khuyến khích các địa phương, các chủ rừng trong công tác phát triển và bảo vệ rừng, có thể làm giảm hay chậm tiến độ để đạt được mục tiêu phát triển của ngành

Trong những năm tới, thay đổi về cơ cấu và mục tiêu sử dụng các nguồn lực trong ngành Lâm nghiệp có thể diễn ra theo các xu thế sau đây:

- Tỷ trọng vốn từ Ngân sách Nhà nước đầu tư cho ngành lâm nghiệp sẽ giảm dần, tập trung vào lĩnh vực như: phát triển, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển, nơi xung yếu; bảo vệ rừng đặc dụng; hỗ trợ phát triển rừng sản xuất; nghiên cứu, xây dựng thể chế, chính sách lâm nghiệp; và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực;

- Nguồn vốn ODA cũng sẽ giảm, chủ yếu dành cho các lĩnh vực: phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển; quản lý rừng bền vững; bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển dịch vụ môi trường (REDD+, PES và tín chỉ carbon) và các hoạt động nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu;

- Đầu tư tư nhân (trong nước và FDI) có thể sẽ tăng nhờ các chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp, chủ yếu vào các lĩnh vực: trồng rừng sản xuất, rừng nguyên liệu gỗ, rừng CDM; phát triển công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu

và tiêu dùng trong nước; tiếp thị và thương mại lâm sản; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Trong bối cảnh đó, để đáp ứng được nhu cầu về nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực lâm nghiệp trong những năm tới, ngành lâm nghiệp cần có những bước tiến mạnh mẽ trong việc hoàn thiện và xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư và tài chính trong lâm nghiệp nhằm tạo

ra những chính sách mang tính đột phá nhằm đa dạng hóa các nguồn lực, giúp phát huy lợi thế và giá trị của ngành Lâm nghiệp, góp phần đạt được mục tiêu phát triển của ngành

Trang 13

Kinh phí đầu tư cho khuyến lâm giai đoạn từ năm 2005 đến 2009 chủ yếu tập trung phục vụ mục tiêu Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2005 - 2020 Trong giai đoạn này chương trình khuyến lâm đã được triển khai ở 55 tỉnh có rừng với 894 mô hình, thu hút 40.179 hộ tham gia với tổng kinh phí đầu tư trên 74 tỷ đồng

Nhìn chung kinh phí đầu tư cho khuyến lâm tăng đều qua các năm, năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt trong năm 2009 kinh phí đầu tư tăng gần gấp đôi so với năm 2008 Tính trong giai đoạn 2005-2009 kinh phí đầu tư cho khuyến lâm đạt tốc độ tăng bình quân mỗi năm 15%

Mục tiêu chính của các chương trình khuyến lâm là nâng cao nhận thức của người dân

về phát triển và quản lý rừng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật gây trồng các loài cây lâm nghiệp, từng bước đưa diện tích đất dốc ở vùng núi do phá rừng làm nương rẫy trong nhiều năm vào canh tác có hiệu quả, góp phần tăng độ che phủ của rừng, tạo thu nhập cho nông dân, ổn định cuộc sống, góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững

Biểu đồ 62: Kinh phí đầu tư cho hoạt động khuyến lâm

Trang 14

tuyển chọn cho năng suất cao trên địa bàn các tỉnh miền núi phía bắc, miền Trung và Tây Nguyên

Chương trình trồng rừng thâm canh cây đặc sản: Đã trồng được khoảng 12.000 ha

mô hình trình diễn, bao gồm các loài cây chủ yếu: Thảo quả, sa nhân, dẻ ván, trám lấy quả, tre lấy măng Phát triển các loài cây làm dược liệu dưới tán rừng tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ

Chương trình thâm canh cây gỗ lớn: Xây dựng trên 6.277 ha mô hình trình diễn trồng thâm canh cây gỗ lớn bao gồm các loài cây mọc nhanh, cây bản địa với các phương thức khác nhau nhằm góp phần cung cấp nguyên liệu gỗ lớn cho chế biến, xuất khẩu Chương trình được thực hiện ở một số tỉnh miềm núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên

Chương trình canh tác bền vững trên đất dốc: Xây dựng trên 967 ha mô hình trình diễn các kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc nhằm chuyển giao các kỹ thuật canh tác cho nông dân, góp phần thay đổi nhận thức của người dân về tập tục canh tác lạc hậu trên đất dốc Chương trình thực hiện chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Qua thực hiện chương trình khuyến lâm, nhất là các mô hình trình diễn tổ chức trồng rừng đã thực sự góp phần quan trọng trong chiến lược xây dựng lại vốn rừng, phát triển nghề rừng nhân dân, cải thiện môi trường và tăng thu nhập hàng năm cho nông dân

Mô hình khuyến lâm cũng đã góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo, thu hút và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động ở nông thôn Tuy với thời gian chưa dài, nhiều loài cây lâm nghiệp chưa đến thời kỳ thu hoạch, các mô hình khuyến lâm đã thực hiện phương thức nông lâm kết hợp, trồng cây ngắn ngày kết hợp cây dài ngày, nên nhiều mô hình đã cho thu hoạch bình quân hàng năm từ 3-5 triệu đồng/ năm Nhiều vườn rừng, trại rừng cho thu hoạch từ 5-10 triệu đồng/ năm Đặc biệt những mô hình trồng cây lâm đặc sản như: tre măng, quế, hồi, bời lời đỏ đã cho thu nhập khá cao

Các mô hình khuyến lâm đã thực sự chuyển đổi được nhận thức của người dân miền núi từ chỗ chỉ biết khai thác lợi dụng rừng sang biết kinh doanh tổng hợp, tạo thu nhập từ đất rừng, đồng thời tái tạo lại rừng đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội

Tuy nhiên do điều kiện kinh phí hạn chế nên người dân ở một số vùng cao, vùng sâu chưa được tiếp cận nhiều với các tiến bộ kỹ thuật lâm nghiệp Một số mô hình có kết quả và hiệu quả chưa cao Các hộ nghèo thường ít có cơ hội tham gia do không có vốn đối ứng theo quy định của Chính phủ gây khó khăn trong việc nhân rộng mô hình

Ngoài việc bố trí nguồn kinh phí đầu tư cho công tác khuyến lâm tăng về số tuyệt đối qua các năm, cơ cấu đầu tư cho hoạt động khuyến nông nói chung và hoạt động khuyến lâm nói riêng có nhiều thay đổi qua các năm từ 2005 đến 2009 Cụ thể, cơ cấu đầu năm 2009 so với cơ cấu đầu tư năm 2005 đã có sự chuyển dịch đáng kể, theo hướng giảm đầu tư đối với các lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, tăng đầu tư các lĩnh vực tuyên truyền, đào tạo và khuyến lâm Riêng cơ cấu kinh phí đầu tư cho khuyến lâm đã tăng từ 13% trong năm 2005 lên 16% trong năm 2009

Ngày đăng: 31/07/2014, 05:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 83: Tình hình đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp đến 2008 - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 9 potx
Bảng 83 Tình hình đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp đến 2008 (Trang 5)
Bảng 84: Hiện trạng đầu tư nước ngoài vào lâm nghiệp - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 9 potx
Bảng 84 Hiện trạng đầu tư nước ngoài vào lâm nghiệp (Trang 6)
Bảng 85: Cơ cấu ngành nghề của lao động nông thôn - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 9 potx
Bảng 85 Cơ cấu ngành nghề của lao động nông thôn (Trang 19)
Bảng 86: Cơ cấu trình độ chuyên môn của lao động nông thôn - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 9 potx
Bảng 86 Cơ cấu trình độ chuyên môn của lao động nông thôn (Trang 21)
Bảng 87: Số học sinh, sinh viên, kinh phí đầu tư cho giáo dục, đào tạo lâm nghiệp từ - Báo cáo tiến độ ngành Lâm nghiệp 2006-2010 part 9 potx
Bảng 87 Số học sinh, sinh viên, kinh phí đầu tư cho giáo dục, đào tạo lâm nghiệp từ (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w