Khởi bệnh: Cấp tính, đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt khớp hoàn toàn trở lại bình thường.. Ở một hoặc rất ít khớp, không đối xứng Có thể tự khỏi sau 3 - 7 ngày ở giai đoạn đ
Trang 1BẠN ĐÃ BIẾT GÌ VỀ CÁC BỆNH THÂP
KHỚP ?
5 Bệnh thống phong (Bệnh Gout - Goutty Arthritis)
Thuộc nhóm các bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển
hóa Purine
Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,3% dân số người lớn, nghĩa là cứ
330 người lớn thì có 1 người mắc bệnh Gout
Thường gặp ở nam( chiếm tỉ lệ trên 90%)
Tuổi bắt đầu mắc bệnh, trung niên, từ 35 đến trên 40
Trang 2Khởi bệnh: Cấp tính, đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa
các đợt khớp hoàn toàn trở lại bình thường
Vị trí bắt đầu thường là các khớp chi dưới, đặc biệt là
ngón 1 bàn chân(70%)
Tính chất: Sưng nóng đỏ đau dữ dội, đột ngột
Ở một hoặc rất ít khớp, không đối xứng
Có thể tự khỏi sau 3 - 7 ngày ( ở giai đoạn đầu)
Giai đoạn muộn thể hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng,
xuất hiện các u cục (Tophy) ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp,
ở vành tai
Trang 3Dấu hiệu toàn thân: Khi bị viêm khớp cấp, có thể sốt cao,
đột ngột kèm rét run
Thể trạng thường khỏe mạnh, mập mạp, sung túc
Có thể kèm cao huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu
Điều trị rất có hiệu quả khi kết hợp tốt giữa điều trị triệu
chứng (thuốc kháng viêm giảm đau), điều trị phòng ngừa đều
đặn, liên tục, lâu dài (thuốc làm giảm acid uric máu), điều trị các
bệnh kèm theo, tuân thủ chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý
6 Bệnh sốt thấp cấp / thấp khớp cấp / thấp tim (Rheumatic
Fever)
Trang 4Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn gián tiếp (qua cơ
chế miễn dịch)
Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,5 - 0,6% dân số trẻ em (dưới 15
tuổi), nghĩa là cứ khoảng 200 trẻ thì có 1 trẻ bị bệnh, bệnh rất ít
gặp ở người lớn
Gặp đều ở cả hai giới (nữ = nam)
Bệnh thường mắc ở trẻ em lứa tuổi đến trường (thường
từ 5 - 15 tuổi)
Khởi bệnh thường là cấp tính với sốt, đau - viêm họng,
đau - viêm khớp
Trang 5Vị trí bắt đầu thường ở các khớp lớn (khớp gối, khớp
khuỷu tay, khớp cổ chân)
Tính chất: Sưng nóng đỏ đau, khớp lớn, không hoặc ít đối
xứng
Di chuyển từ khớp này sang khớp khác, khi chuyển sang
khớp mới khớp cũ hết đau, không để lại di chứng tại khớp
Có thể có viêm màng ngoài tim, màng trong tim, viêm cơ
tim
Dấu hiệu toàn thân: Sốt, viêm họng, mệt mỏi, xanh xao,
múa vờn, suy tim
Trang 6Điều trị: Bệnh phải được chẩn đoán xác định sớm để có
điều trị chống liên cầu tan huyết nhóm A ở họng, phòng thấp,
ngừa tái phát, ngăn ngừa các tổn thương vĩnh viễn ở tim, van tim
của trẻ
Điều trị phòng thấp phải liên tục, đều đặn, đủ thời gian, đủ
liều lượng
7 Bệnh lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus
Erithematosus - SLE)
Là bệnh nặng, thuộc nhóm các bệnh của tổ chức liên kết
Trang 7Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,02 - 0,1 % dân số người lớn (nghĩa
là cứ 1.000 - 5.000 người lớn mới có một người bị bệnh, chỉ
chiếm 1/30 - 1/5 số bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Đại đa số là nưõ (90%) Bệnh bắt đầu mắc ở lứa tuổi trẻ
(20 - 40), 55% dưới 30 tuổi
Khởi bệnh: Có thể là cấp tính hoặc bán cấp, cũng có thể
từ từ tăng dần, sốt dai dẳng
Vị trí bắt đầu thường không rõ ràng, ở nhiều khớp, ở toàn
thân
Tính chất: Cứng khớp buổi sáng nhẹ và ngắn
Đau nhức, nhức mỏi là chính
Trang 8Đối xứng, ít gây biến dạng khớp
Dấu hiệu toàn thân: Sốt kéo dài, xanh xao, ban cánh
bướm ở mặt, mệt, khó thở, phù, xạm da, rụng tóc, loét
miệng, rối loạn kinh nguyệt, viêm mạch máu
Điều trị: Đây là bệnh toàn thân khá nặng, các điều trị hiện
nay đều nhằm kéo dài thời gian lui bệnh, điều trị triệu chứng và
điều trị biến chứng ở tim, thận, phổi, thần kinh trung ương (nếu
có) của bệnh
Tiên lượng của bệnh rất dè dặt, đặc biệt khi bệnh nhân còn trẻ,
tổn thương nhiều cơ quan (tim, thận, thần kinh trung ương.)
Trang 9Bệnh thường bột phát, nặng lên trong thời kỳ thai nghén, sinh đẻ
và cho con bú
8 Các bệnh viêm khớp do vi khuẩn gồm lao và vi khuẩn (tụ
cầu, lậu cầu )
Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn trực tiếp
Vi khuẩn có thể vào khớp theo các đường chính: ngoài
da, đường niệu, và đường máu
Trực khuẩn lao vào khớp hoặc cột sống (sụn khớp hoặc
đĩa đệm) qua đường máu, sau nhiễm lao đặc biệt là lao phổi
Trang 10Có thể gặp ở cả hai giới, mọi tuổi, đặc biệt trẻ em,
người già và những người suy giảm sức đề kháng, suy giảm
miễn dịch
Khởi bệnh thường là cấp tính (nếu do vi khuẩn) hoặc bán
cấp (nếu do lao)
Vị trí bắt đầu thường ở một khớp, khớp lớn (khớp gối,
khớp háng, cột sống)
Tính chất: Không cứng khớp buổi sáng
Sưng nóng đỏ đau một khớp, cố định Không đối xứng
Dấu hiệu toàn thân: Sốt cao, dấu hiệu nhiễm trùng toàn
thân và tại chỗ
Trang 11Có đường vào của vi khuẩn (ngoài da, đường niệu và
đường máu.)
Sốt về chiều, có dấu hiệu nhiễm lao, có nguồn lây bệnh
Điều trị: Thuốc kháng sinh đặc hiệu theo mầm bệnh (nếu
viêm khớp do vi khuẩn)
Thuốc kháng lao theo các phác đồ điều trị lao hiện hành
(nếu lao khớp)
Điều trị tại chỗ, bất động trong giai đoạn viêm cấp
Tập vận động, phục hồi chức năng sớm để tránh cứng
khớp, teo cơ
Trang 12Tiên lượng tốt, có thể chữa khỏi nếu điều trị đúng, đủ và
sớm
KẾT LUẬN
Với hoàn cảnh và trang bị kỹ thuật hiện đại, các bệnh
khớp thường gặp nêu trên có thể được xác định sớm bởi các
thầy thuốc chuyên khoa ở các cơ sở y tế Rất mong các thầy
thuốc và người bệnh quan tâm hơn nữa tới việc xác định chuẩn
đoán sớm các bệnh thấp khớp để việc điều trị đạt kết quả cao
nhất, hạn chế các tác dụng bất lợi không đáng có của việc điều trị
triệu chứng đơn thuần kéo dài, bảo vệ sức khỏe và chất lượng
Trang 13cuộc sống cho một số rất lớn bệnh nhân là góp phần làm giảm
bớt gánh nặng kinh tế cho mỗi gia đình và cho toàn xã hội