1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới ppt

33 531 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 548,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.GIỚI THIỆU CHUNG: Trên thế giới, hầu hết các nước đều sử dụng các công cụ của CSTT công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, công cụ tái cấp vốn, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng; hoặc chế độ

Trang 1

Tiểu luận Tìm hiểu về LPMT qua một thập

kỷ kinh nghiệm của thế giới

Trang 2

Mục Lục

A.GIỚI THIỆU CHUNG: .3

B.NỘI DUNG CHÍNH: 3

I Sự khác nhau giữa các nền kinh tế mới nổi và nền kinh tế tiên tiến, đặc điểm của nhưng nền kinh tế mới nổi: 3

II Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới: 4

1 LPMT là gì? 4

2 Đối tượng nào áp dụng LPMT và làm như thế nào? 4

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến LPMT 7

4 Các nước đã thực hiện LPMT như thế nào? 12

III Các lỗi mắc phải trong quá trình thực hiện, xem xét lại vấn đề thiết kế hoạt động: 13

1 Sự tương tác giữa thời gian mục tiêu, độ rộng phạm vi mục tiêu, điều khoản giải thoát và sự lựa chọn mục tiêu lạm phát cơ bản: 13

2 LPMT trong giai đoạn chuyển tiếp từ lạm phát cao xuống lạm phát thấp: 14

3 Những ai nên đặt mục tiêu lạm phát trong trung hạn: 16

4 Vai trò của tỷ giá và giá các loại tài sản khác: 18

IV Những vấn đề chưa được giải quyết: 21

1 Mục tiêu lạm phát dài hạn tối ưu: 22

2 Mục tiêu mức giá với mục tiêu lạm phát: (price-level versus inflation targets) 25

C SAU MỘT THẬP KỶ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI, VẤN ĐỀ LPMT Ở VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO? 27

I.Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia mới nổi: 27

II Tìm hiểu về lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2000- 2010: 28

III Lam phát muc tiêu năm 2011 là 7%, khó thực hiện được: 30

IV.Những điều kiện không thuận lợi để điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế lạm phát mục tiêu ở Việt Nam: 31

V.Kết luận: 32

Trang 3

A.GIỚI THIỆU CHUNG:

Trên thế giới, hầu hết các nước đều sử dụng các công cụ của CSTT (công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, công cụ tái cấp vốn, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng); hoặc chế độ tỷ giá hối đoái làm mục tiêu trung gian trong điều hành CSTT quốc gia Tuy nhiên, vào những năm 1990, có một số nước công nghiệp phát triển đã ''phá lệ'' truyền thống trong việc xây dựng các mục tiêu trung gian tương tự mà tập trung tâm điểm vào chỉ số lạm phát Cách tiếp cận tương đối mới này tập trung vào kiểm soát lạm phát, và được gọi là LPMT (Inflation targeting) Từ những đợt khủng hoảng trầm trọng và những tiêu cực do lạm phát mang lại, hầu hết các quốc gia đã nhận thức rõ được 1 điều: muốn đạt được mục tiêu cuối cùng là một nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững trong tương lai thì mục tiêu lớn nhất của CSTT là phải ổn định giá cả trong dài hạn, và dường như chiếc neo tốt nhất để ổn định giá cả trong dài hạn chính là duy trì một mức độ LPMT hợp lý

Trong thời gian đầu thực hiện LPMT, chắc chắn các quốc gia sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách Bởi vì muốn duy trì một mức độ LP thấp, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với một nền kinh tế với tỷ lệ thất nghiệp là tương đối cao Điều này sẽ gây mất lòng tin của dân chúng đối với các chính sách của NHTW sau này Vượt qua những khó khăn đó, trong vòng 1 thập kỷ 1990-

2000, hàng loạt các quốc gia của các nên kinh tế mới nổi đã áp dụng chính sách LPMT và đat

được những thành quả nhất định Trong bài nghiên cứu của Frederic S Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel về “1 thập kỷ thực hiện MTLP trên thế giới”, 2 ông đã chứng minh những

nhận định trên là hoàn toàn đúng

Các nội dung trong bài viết của chúng tôi đều xuất phát từ những nghiên cứu thực nghiệm của Frederic S Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel về “1 thập kỷ thực hiện MTLP trên thế giới, những gì chúng ta biết và những gì chúng ta cần phải biết.”

B.NỘI DUNG CHÍNH:

I Sự khác nhau giữa các nền kinh tế mới nổi và nền kinh tế tiên tiến, đặc điểm của nhưng nền kinh tế mới nổi:

Trong bài viết này chúng ta chỉ xét đến những khác biệt về các thể chế trong chính sách kinh tế

vĩ mô từ đó phân tích những tác động của nó đến chính sách LPMT (theo Mishkin và cộng sự 2004) Đối với các nền kinh tế mới nổi, tồn tại một số điểm khác biệt lớn cần được xem xét, cân

Trang 4

nhắc để có được những lý luận thuyết phục hay những đề xuất về chính sách có hiệu quả bao gồm:

- Thể chế tài khóa, tài chính yếu kém

- Thể chế tiền tệ với uy tín thấp

- Tồn tại vấn đề thay thế tiền tệ (currency substitution) và đô la hóa tài sản nợ

- Dễ bị tổn thương khi luồng vốn đột ngột chảy ra (rút vốn bất ngờ)

II Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới:

1 LPMT là gì?

Về bản chất, mục tiêu lạm phát gắn liền với chỉ số lạm phát Do đó, việc hình thành mục tiêu lạm phát hàm ý xây dựng một chỉ số lạm phát cụ thể Vấn đề đặt ra là LPMT được định nghĩa và cách xác định như thế nào?

Chính sách mục tiêu lạm phát đòi hỏi phải được công bố về một chỉ số lạm phát và được xem như mục tiêu ổn định giá cả trong những năm tiếp theo

Theo wikipedia LPMT là một chính sách kinh tế mà trong đó, một NHTW dự toán và đưa ra

một tỷ lệ lạm phát và sau đó cố gắng để chỉ đạo đối với mục tiêu lạm phát thực tế thông qua việc

sử dụng các thay đổi lãi suất và các công cụ tiền tệ khác.

Ngoài ra, còn có một số khái niệm khác về LPMT Theo NHTW Châu âu ECB, LPMT là một

chiến lược CSTT nhằm duy trì việc ổn định giá cả bằng cách tập trung vào độ lệch dự báo lạm phát từ một mức lạm phát đã được công bố Họ tin rằng trong một chế độ LPMT, dự báo lạm phát là trung tâm để hoạch định và thực thi chính sách

2 Đối tượng nào áp dụng LPMT và làm như thế nào?

LPMT bắt đầu từ một thập kỷ trước, với những thông báo rộng rãi về các mục tiêu lạm phát ở New Zealand và Chile Theo tính toán của chúng tôi, tính đến tháng 11 năm 2000 đã ghi nhận 19 trường hợp quốc gia áp dụng LPMT, và rất đa dạng về kinh nghiệm bao gồm cả những nước

Trang 5

dụng LPMT, các quốc gia có LPMT chính thức và bán chính thức, các nước mới bắt đầu thực hiện hay và thực hiện trước đó, các quốc gia có LPMT cũ và hiện tại.

Chúng tôi giới thiệu hai nhóm nước mà chúng tôi đã tiến hành phân tích thực nghiệm trong thập niên 1990 - một mẫu các quốc gia có LPMT và một nhóm không có LPMT Mẫu đầu tiên có LPMT (được liệt vào danh sách các nước có LPMT) là một nhóm không đồng nhất gồm 18 nước công nghiệp và nền kinh tế mới nổi: Australia, Brazil, Canada, Chile, Colombia, Cộng hòa Séc, Phần Lan, Israel, Hàn Quốc, Mexico, New Zealand, Peru, Ba Lan, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thái Lan, và Vương quốc Anh (Phần Lan và Tây Ban Nha đã bị loại khỏi nhóm này khi từ

bỏ CSTT vào lúc thông qua đồng euro trong năm 1999)

Mẫu thứ hai là một nhóm gồm 9 nền kinh tế công nghiệp không có LPMT trong suốt những năm 1990: Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, và Mỹ Trong số này

có hai quốc gia (Đức và Thụy Sĩ) đã có những mục tiêu tiền tệ rõ ràng trong hầu hết thập niên

1990 nên có thể được xem như là quốc gia có LPMT chìm (như lập luận của ông Bernanke,

Trang 6

Laubach, Mishkin và Posen, 1999), hai nước mà không có mục tiêu rõ ràng ( Nhật Bản và Mỹ),

và còn lại 5 quốc gia châu Âu đã đặt mục tiêu tỷ giá theo đồng Mác Đức trước khi thông qua đồng euro vào năm 1999

LPMT cho thấy một số điểm tương đồng và khác biệt trong những điều kiện tiên quyết của LPMT , xác định mục tiêu, và cách thức vận hành

a. LPMT chính thức thì dựa trên năm điểm chính: không có các cái neo danh nghĩa khác, một cam kết về thể chế để ổn định giá cả, không có sự thống trị tài chính, chính sách công cụ độc lập, và một chính sách minh bạch, trách nhiệm

b. Việc thông qua LPMT là sự tiến triển từ những thay đổi nhỏ đến những thay đổi lớn

c. Lạm phát lên xuống giữa hai mức từ khá cao xuống rất thấp trong thời gian thông qua LPMT

d. Các nước có LPMT khác nhau rất nhiều trong cách thực hiện LPMT bao gồm chỉ

số giá, độ rộng mục tiêu, thời gian mục tiêu, các điều khoản giải thoát, trách nhiệm khi không đạt mục tiêu, tính độc lập mục tiêu, tính minh bạch và trách nhiệm tổng thể, cũng như việc thực thi chính sách theo LPMT

Để hiểu rõ hơn phần này, chúng ta có thể quan sát bảng 2 phần phụ lục.

Trang 7

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến LPMT.

Liệu có phải các nước thông qua LPMT có khác với các nước công nghiệp không sử dụng LPMT

về những điều kiện cơ cấu và hiệu năng nền kinh tế vĩ mô? Bài nghiên cứu sẽ giải quyết câu hỏi này bằng cách so sánh mẫu gồm 18 nước áp dụng LPMT với nhóm 9 quốc gia công nghiệp không áp dụng không áp dụng LPMT đã xác định ở trên Bài viết tập trung vào mối quan hệ giữa

có (hoặc không có) một cơ cấu LPMT đặt ra và chuỗi các đặc điểm về cơ cấu, thể chế, nền kinh

tế vĩ mô Các phân tích thực nghiệm ở đây tất yếu chỉ mới là những nghiên cứu sơ bộ bởi vì không phải luôn luôn dễ dàng để quyết định xem có nên phân loại một quốc gia nào đó có cam kết thực hiện LPMT hay không Hơn nữa, việc xác định ngày chính xác để thông qua một chế độ LPMT cũng khá khó khăn Các quan chức tại nhiều NHTW mà chúng tôi đã tham khảo ý kiến thường xuyên đưa ra ngày thông qua LPMT sớm hơn bên ngoài làm Sự không chắc chắn của việc xác định ngày tháng thường theo sau từ thực tế là LPMT được thông qua dần dần theo thời gian, làm cho việc xác định ngày thông qua đó vô cùng khó khăn

Trong bài nghiên cứu, Frederic S Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel đã thu tập dữ liệu gồm 1

mẫu 27 quốc gia trong thời kỳ 1990 -1999 Trong đó, trọng tâm là LPMT riêng biệt, biến chế độ nhận giá trị của 1 khi chính sách LPMT được đặt ra; hoặc nhận giá trị của 0 khi CSTT khác được đặt ra; và 1 bộ các biến có thể kết hợp với sự lựa chọn LPMT theo chế độ Bộ các biến đó bao gồm: một thước đo của việc sử dụng những chính sách truyền thống thay thế (một thước đo độ rộng dải băng tỷ giá và mục tiêu giá của CSTT), điều kiện cơ cấu (mở cửa thương mại), các thước đo về tính độc lập của NHTW (độc lập chính thức, các công độc lập, mục tiêu độc lập), và các biến kinh tế vĩ mô khác (lạm phát và thặng dư từ chính sách tài khóa)

Bảng 3 gồm các báo cáo cross-country, bảng thống kê và mối tương quan giữa LPMT với các biến liên quan

Trang 8

Dữ liệu phản ánh chênh lệch lớn ở tất cả các loại biến trong mẫu 27 quốc gia theo thời gian Bảng mối tương quan đôi khi rất khác với bảng tương quan cross-country, kể cả trường hợp thay đổi trong các dấu hiệu Đây là một kết quả thích hợp do độ nhiễu của dữ liệu quốc gia hàng năm

- vì vậy bài viết đã tập trung vào mối tương quan cross-country

Trang 9

Việc có 1 mục tiêu Lạm phát được đặt ra không có mối tương quan dương đáng kể với bất kỳ một biến riêng biệt nào và chỉ có mối tương quan nghịch đáng kể với mục tiêu tăng trưởng tiền tệ của một quốc gia (monetary growth targets- MT) LPMT có mối tương quan dương không đáng

kể với độ mở thương mại (trade openness - Open), tỷ lệ thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP (the fiscal surplus ratio to GDP - fiscal), độ rộng dải băng tỷ giá (exchange rate band width

- BW), và các công cụ độc lập của NHTW ( central-bank instrument independence - CBII), và có mối tương quan nghịch đáng kể với lạm phát chuẩn (normalized inflation - Inf), NHTW độc lập chính thức (central bank formal independence - CBFI), và tính độc lập mục tiêu của NHTW (central bank goal independence - CBGI)

Tiếp theo bài nghiên cứu đã đưa ra được các cơ sở để thành lập một mô hình xác suất đa biến cho các khả năng có một chế độ LPMT đặt ra, dựa trên những quan sát của các biến xác định ở trên

Pr (IT I ) = f (Inf, Open, Fiscal, BW, MT, CBFI, CBGI, CBII)

Trong đó:

Inf: mức độ tương quan với lạm phát chuẩn (normalized inflation)

Open: mở cửa thương mại (Trade openness)

Fiscal: tỷ lệ thặng dư từ chính sách tài khóa (fiscal surplus ratio to GDP)

BW: độ rộng dải băng tỷ giá (exchange rate band width)

MT: mục tiêu tăng trưởng tiền tệ của 1 quốc gia (monetary growth targets)

CBFI: ngân hàng TW độc lập chính thức (central bank formal independence)

CBGI: ngân hàng TW độc lập mục tiêu (central bank goal independence)

CBII: công cụ độc lập của ngân hàng TW (central bank instrument independence)

Kết quả mô hình được thê hiện qua bảng sau:

Trang 10

Sau đây, chúng tôi xin phân tích một số yếu tố tác động đến kết quả mô hình.

a. Mối quan hệ giữa LPMT với Inf:

LPMT có mối tương quan dương đáng kể với mức lạm phát (chuẩn), một kết quả phản ánh rằng LPMT đã được thông qua bởi các quốc gia, trên trung bình, đã có mức lạm phát cao hơn so với nền công nghiệp không có LPMT Thật vậy, hầu hết các nước mới nổi đã thông qua LPMT như

là một công cụ để kéo lạm phát xuống mức thấp chỉ còn một con số Hầu hết các quốc gia áp dụng LPMT bao gồm cả những uốc gia công nghiệp và mới nổi có LPMT, đã có những tiến bộ lớn trong việc giảm lạm phát trong suốt thời gian hoặc trước hoặc sau khi thông qua LPMT

Trang 11

b. Tác động của chính sách tài khóa đối với LPMT:

Ổn định tài khoá là điều kiện cần thiết mang tính nền tảng để kiểm soát lạm phát, cũng như đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế LPMT Một số nghiên cứu đã đưa ra nhận định: “Chính sách tài khoá tắc trách sẽ làm tăng áp lực đối với các cơ quan tiền tệ trong việc tài trợ để trả nợ, bởi vậy

sẽ làm cung tiền và lạm phát tăng nhanh” Nếu mất cân bằng tài khoá ở mức cao thì rốt cục sẽ làm cho CSTT trở nên phụ thuộc vào các quyết định tài khoá (cái được gọi là: sự thống lĩnh của chính sách tài khoá) và mục tiêu lạm phát hẳn là sẽ phải bị xoá bỏ hoặc thay đổi rất nghiêm trọng

Thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP: (fiscal surplus ratio to GDP)

LPMT tương quan nghịch với “tỷ lệ thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP”, một lần nữa một kết quả theo sau việc có một nhóm các quốc gia không áp dụng LPMT bao gồm 9 quốc gia công nghiệp, trên trung bình, thể hiện vị thế tài chính mạnh mẽ hơn so với 18 quốc gia có LPMT Tuy nhiên, nhóm này vẫn không đạt tới mức quy ước

Mở cửa thương mại (Trade openness):

Mở cửa thương mại có nghĩa là 1 quốc gia hoặc 1 nền kinh tế được phép có những giao dịch thương mại với những quốc gia hoặc với những nền kinh tế khác Các hoạt động thương mại bao gồm: xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vay hoặc cho vay, nhận kiều hối từ nước ngoài…

c. Tác động của CSTT đến LPMT:

Độ rộng dải băng tỷ giá: (exchange rate width band – BW)

Đối với nền kinh tế đang phát triển, hệ thống thường thấy là hệ thống neo tỷ giá Trong hệ thống này, một quốc gia sẽ ấn định một mức ngang giá cho đồng tiền của mình và chỉ cho phép có những thay đổi nhỏ xung quanh mức ngang giá, chẳng hạn cộng trừ vài phần trăm so với ngang giá Độ rộng của biên độ đó chính là độ rộng của dải băng tỷ giá Bằng các công cụ của mình, NHTW có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối để giữ cho tỷ giá không tăng vượt qua mức sàn

Trang 12

và mức trần này Tuy nhiên, nếu dự trữ ngoại hối sụt giảm làm cho NHTW không có khả năng duy trì mức trần hoặc mức sàn này thì dải băng sẽ di chuyển nhưng độ rộng không thay đổi trừ khi NHTW thay đổi mức biên độ dao động Theo kinh nghiệm của các quốc gia thực hiện LPMT

trong 1 thập kỳ qua, từ mô hình Frederic S Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel đã đưa ra kết

luận: LPMT tương quan dương nhưng ít ý nghĩa với độ rộng dải băng tỷ giá

Mục tiêu tăng trưởng tiền tệ của các quốc gia: (monetary growth target)

Mối liên quan giữa lạm phát và tăng trưởng tiền tệ dựa trên lượng cung tiền và lượng cầu tiền

tệ NHTW điều tiết lượng tiền trong lưu thông bằng việc mua bán các trái phiếu, hoặc thông qua

tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay lãi suất chiết khấu Nếu NHTW chấp nhận mức tăng trưởng tiền tệ cao thì đồng thời phải chấp nhận mức lạm phát cao Chính vì vậy mà LPMT có mối tương quan nghịch và đáng kể với mục tiêu tăng trưởng tiền tệ, điều đó cho thấy một CSTT minh bạch và những mục tiêu lạm phát không thể tồn tại đồng thời

Thước đo tính độc lập của NHTW: (central bank independence measures)

Thước đo tính độc lập của NHTW gồm 3 yếu tố chính: NHTW độc lập chính thức (central bank formal independence), NHTW độc lập mục tiêu (central bank goal in-dependence), và các công

cụ độc lập của NHTW (central bank instrument independence)

Ngân hàng TW độc lập trong việc sử dụng các CSTT có nghĩa là ngân hàng TW không được tài trợ cho việc thâm hụt ngân sách của chính phủ; các NHTW được phép lựa chọn và sử dụng các công cụ của CSTT mà không có sự can thiệp của chính phủ; đồng thời các thành viên trong hội đồng CSTT phải được độc lập, không bị tác động bởi các diễn biến chính trị bằng việc bổ nhiệm dài hạn với các thành viên này và cũng không có chuyện bãi miễn họ một cách độc đoán

4 Các nước đã thực hiện LPMT như thế nào?

Chúng tôi kết luận rằng LPMT đã chứng minh một khuôn khổ tiền tệ mới thành công mĩ mãn, cả hai sự so sánh với các kinh nghiệm trước của các nước có LPMT và liên quan đến chế độ tiền tệ thay thế được thông qua bởi một nhóm kiểm soát các nước công nghiệp rất thành công đã nằm trong hiệp định tiền tệ khác trong suốt những năm 1990

Trang 13

III Các lỗi mắc phải trong quá trình thực hiện, xem xét lại vấn đề thiết kế hoạt động:

1 Sự tương tác giữa thời gian mục tiêu, độ rộng phạm vi mục tiêu, điều khoản giải thoát và sự lựa chọn mục tiêu lạm phát cơ bản:

Hai thành phần chính của cơ chế LPMT bao gồm yếu tố thời gian (thời gian mục tiêu) và tính linh hoạt của mục tiêu lạm phát (độ rộng mục tiêu)

+ Yếu tố thời gian:

Là khoảng thời gian vận hành cơ chế LPMT Tùy vào CSTT của mỗi nước mà thời gian mục tiêu

sẽ là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn… Tuy nhiên trong cơ chế LPMT, người ta thường đề ra mục tiêu lạm phát trong một khoảng thời gian ngắn cụ thể là mục tiêu lạm phát hàng năm

Không những thế, thời điểm tiến hành chính sách LPMT cũng là hết sức quan trọng và cần thiết

để có thể đạt được những thành công nhất định ban đầu

+ Yếu tố linh hoạt của LPMT:

Độ rộng của phạm vi mục tiêu cũng là một thành phần hết sức quan trọng trong cơ chế này Độ lệch khỏi mục tiêu LP là bao nhiêu để phản ứng lại với các cú sốc? Mục tiêu LP là một con số cụ thể hay một cái khung nhất định? Bởi vì các cú sốc có thể ảnh hưởng lên tỷ lệ LP bất cứ khi nào, những ảnh hưởng của CSTT là không ổn định, cho nên tỷ lệ LP thường có mức độ biến động lớn để phù hợp với CSTT Những tính toán cho thấy, mức độ biến động trong tỷ lệ LP là tương đối cao, do đó, khung mục tiêu LP là tương đối rộng mới phù hợp với sự biến động trong

Trang 14

Thời gian mục tiêu quá ngắn và phạm vi mục tiêu quá hẹp cũng có thể dẫn đến sự bất ổn của các công cụ của CSTT Mà sự bất ổn đó thể hiện rõ nhất là sự thay đổi tỷ giá hối đoái và lãi suất (2 công cụ quan trọng của CSTT) Đặc biệt ở các nền kinh tế mở và nhỏ thì những biểu hiện đó càng rõ ràng hơn Với một phạm vi và thời gian mục tiêu đó thì chính phủ và NHTW sẽ cố gằng điều chỉnh lãi suất và tỷ giá một cách quyết liệt để đạt được mục tiêu lạm phát đề ra Tuy nhiên

có lẽ NHTW sẽ tập trung hơn vào chính sách tỷ giá, bởi vì tỷ giá tác động đến lạm phát nhanh hơn so với lãi suất

Để tránh vấn đề khó kiểm soát và sự bất ổn của các công cụ của chính sách tiển tệ trong cơ chế LPMT, có 4 cách để NHTW có thể sử dụng:

- Đưa ra các điều khoản giải thoát để điều chỉnh LPMT trong một số trường hợp nhất định

- Sử dụng thước do lạm phát cơ bản

- NHTW có thể mở rộng phạm vi của LPMT

- NHTW có thể đặt ra mục tiêu lạm phát cho vài năm tới

2 LPMT trong giai đoạn chuyển tiếp từ lạm phát cao xuống lạm phát thấp:

Khi lạm phát ban đầu đạt trên mức LPMT trong dài hạn phù hợp với sự ổn định giá cả, sự tín nhiệm của NHTW sẽ thấp Thêm nữa là, vào lúc đầu khi tỷ lệ lạm phát cao (có thể nói

là trên 10%), lạm phát sẽ không dễ dàng được kiểm soát bởi những nhà tiền tệ Do đó, LPMT, để đạt được sự giải lạm phát từ một tỷ lệ lạm phát cao là một thách thức lớn

Một cách để giải quyết sự phức tạp ngày càng tăng lên từ mức lạm phát cao ban đầu là thực hiện dần dần từng giai đoạn của LPMT, làm như vậy sẽ tăng dần thành công trong bước đầu sự giải lạm phát, như theo đề nghị bởi Masson (1997)

Ví dụ: Mexico cũng đang thực hiện theo dần dần từng bước 1 để tiến tới LPMT bổ sung Người

có quyền lực cấp cao của ngân hàng Mexico gần đây mô tả CSTT trọng tâm của Mexico như đang là “một giai đoạn chuyển tiếp hướng đến 1 kế hoạch LPMT rõ ràng” Những năm gần đây Mexico công khai kế hoạch lạm phát một cách dứt khoát vào lúc Bộ trưởng tài chính đệ trình lên Đại hội chương trình kinh tế của chính phủ vào năm kế tiếp Ngân hàng Mexico vẫn tiếp tục đặt tầm quan trọng vào LPMT như là mục tiêu trọng tâm của CSTT Năm 1999, sau lạm phát hằng

Trang 15

năm ở 12,3% thấp hơn so với mục tiêu là 13%; lần đầu tiên NHTW công bố mức LPMT là 10% vào năm 2000 trước khi Bộ tài chính đệ trình lên Quốc hội kế hoạch kinh tế của năm Bắt đầu tháng 4/2000, ngân hàng của Mexico đưa ra báo cáo về lạm phát, bản tài liệu về những diễn biến

về lạm phát đang xảy ra và cách ngân hàng Mexico dự kiến đạt được mục tiêu lạm phát, nhưng không cung cấp dự đoán về chỉ số lạm phát và sản lượng Trong báo cáo về lạm phát lần thứ ba, công bố vào tháng 10/2000, ngân hàng Mexico công bố mục tiêu hằng năm, điều mà tiến về mục tiêu dài hạn là 3% mà sẽ đạt được vào tháng 12/2003

Sự tín nhiệm sụt giảm dần khi lạm phát ban đầu cao vì có khả năng nhiều hơn là công chúng và thị trường không tin tưởng rằng NHTW quan tâm về việc đạt được mục tiêu đề

ra nếu việc xác minh phải chờ nhiều hơn một năm trong tương lai Vấn đề này gây ehbra một khó khăn cho NHTW trong việc thông qua MTLP trong khi mà lạm phát quá cao để chọn một MTLP với phạm vi dài hơn một năm Việc này làm NHTW rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan do sự chậm trễ từ CSTT có khả năng lâu hơn phạm vi 1 năm Một giải pháp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này thì chỉ rõ hướng để đưa ra LPMT với mục tiêu nhiều năm, đó là những điều mà NHTW của Brazil, Cộng hòa Czech, Mexico

đã từng làm từ năm 1998 Tuy nhiên, việc chỉ rõ hướng đi của MTLP hằng năm tạo ra sự nguy hiểm mặc dù NHTW đang tiến tới LPMT trong dài hạn, có sự không chắc chắn là trong quá trình kiểm soát lạm phát tại tỷ lệ lạm phát cao, điều đó có thể làm chệch hướng

về căn bản từ hướng đi nhiều năm Vấn đề này có thể giúp giải thích tại sao NHTW Chile không chọn chỉ rõ MTLP qua nhiều năm khi nó bắt tay vào việc tìm MTLP dưới chế độ năm 1990

Khi có sự chuyển tiếp từ cao đến thấp của lạm phát, xuất hiện lý do mạnh hơn cho việc chấp nhận phạm vi LPMT rộng hơn để phản ánh một điều không chắc chắn của việc kiểm soát lạm phát khi mà lạm phát ở mức cao từ ban đầu Tuy nhiên, như đã thảo luận trong tiểu mục trước, một phạm vi rộng của LPMT có thể dẫn đến vấn đề về sự tín nhiệm bởi vì chính phủ có thể sẽ sẵn sàng tán thành tất cả mức lạm phát mà tỷ lệ lạm phát nằm khoảng trên điểm giữa của phạm vi mục tiêu, nhưng dưới mức trần của phạm vi Có một điểm mục tiêu, mặt khác, làm trạng thái này trong một phần của chính phủ ít có khả năng

Trang 16

xảy ra Có một điều chắc rằng chính phủ không trở nên kém quyết tam trong việc giảm lạm phát, đó là một điều đặc biệt quan trọng LPMT theo chế độ khi lạm phát cao bởi vì

sự tín nhiệm quá nhiều tạm thời không ổn định trong những trường hợp này Do đó có những tranh luận mạnh mẽ của việc chọn điểm mục tiêu trên phạm vi mục tiêu trong LPMT theo chế độ trong suốt sự chuyển tiếp từ cao đến thấp của lạm phát Thật là thú vị, NHTW Chile chuyển đổi từ phạm vi LPMT sang điểm LPMT năm 1994 trong quá trình làm cứng lại chế độ LPMT

3 Những ai nên đặt mục tiêu lạm phát trong trung hạn:

Trong dài hạn, NHTW chính là người đặt ra và vận hành cơ chế LPMT, tuy nhiên trong trung hạn, ai là người nên thực hiện nhiệm vụ đó? Những quan điểm lập luận rằng ai là người đưa ra người đưa ra LPMT trung hạn, “chính phủ hay NHTW”, chúng ta sẽ xem xét các lập luận khác nhau về vấn đề này.

Lập luận đầu tiên cho rằng: chính phủ nên đặt ra mục tiêu lạm phát trung hạn chứ không phải là

NHTW Những người có cùng quan điểm này tranh luận rằng các mục tiêu của NHTW phải trùng hợp với mục tiêu của chính phủ để có thế nhận được sự hỗ trợ ưu đãi từ chính phủ (như hỗ trợ xây dựng dự án CSTT quốc gia, đề án phát triển hệ thống ngân hàng, xây dựng khung pháp lý thông thoáng tạo thuận lợi trong hoạt động của ngân hàng…) NHTW phải phụ thuộc vào chính phủ, được trao rất ít sự độc lập Đôi khi NHTW chỉ hoạt động với tư cách là cố vấn cho Chính phủ, nó không độc lập trong việc hoạch định CSTT mà những mục tiêu phải do “sự thoả thuận” giữa Bộ Tài chính và Chính phủ Vì vậy CSTT của NHTW như là một công cụ hoạt động theo ý muốn của Bộ Tài chính Tuy nhiên, nếu chính phủ có thực hiện điều đó thì cũng là không hề dễ dàng Nếu LPMT đang thấp, các mục tiêu trung hạn có thể sẽ rất giống với các mục tiêu dài hạn

và do đó, sẽ không có xung đột giữa chúng, dễ dàng hơn cho chính phủ khi đặt mục tiêu lạm phát trung hạn Nhưng nếu LPMT hiện nay đang xa rời với các mục tiêu trong dài hạn thì những người đặt mục tiêu trung hạn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn

Chiều dài của độ trễ từ CSTT đến lạm phát là một vấn đề mà các NHTW có đủ điều kiện để xác định dễ dàng hơn các chính trị gia Chính vì vậy để hạn chế những khó khăn của lập luận thứ

nhất, Lập luận thứ hai cho rằng nên để NHTW thiết lập các mục tiêu lạm phát trung hạn Vì

Ngày đăng: 31/07/2014, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w