1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm toàn diện trong xây dựng nền kinh tế thị trường

25 4,4K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm toàn diện trong xây dựng nền kinh tế thị trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 338,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm toàn diện trong xây dựng nền kinh tế thị trường

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Năm 1975, giải phóng miền Nam, hai miền Nam Bắc thống nhất, cách mạng nước

ta chuyển sang giai đoạn mới, nhiệm vụ lớn nhất đặt ra trước mắt là phải khắc phục

được hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại và cải tạo nền kinh tế miền Nam cho

phù hợp với mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa Mặt khác, cơ chế quản lý tập trung

quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không được tạo động lực phát triển, làm suy

yếu nền kinh tế, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế, kìm hãm

sản xuất làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu

thông và phát sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội

Cơ chế đó quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu không

phù hợp với nguyên tắc dân chủ Các cơ quan quản lý hành chính – kinh tế can

thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở, nhưng lại

không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình, dẫn đến các

đơn vị kinh tế cơ sở vừa không có quyền tự chủ vừa không bị ràng buộc trách

nhiệm với kết quả sản xuất, kinh doanh

Cơ chế đó chưa chú ý đến quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả kinh tế, dẫn

tới cách quản lý và kế hoạch hoá thông qua chế độ cấp phát và giao nộp theo quan

hệ hiện vật là chủ yếu, hạch toán kinh tế là hình thức, không ràng buộc trách nhiệm

và lợi ích vật chất với hiệu quả sử dụng vốn, tài sản, vật tư, lao động, tách rời việc

trả công lao động với số lượng và chất lượng lao động Thêm vào đó là bộ máy

quản lý Nhà nước cồng kềnh với những cản bộ quản lý kém năng động, không

thạo kinh doanh, với phong cách quản lý quan liêu cửa quyền Cơ chế cũ gắn liền

với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang

nặng tính chất chủ quan duy ý chí

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong

những nội dung cơ bản của quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nước ta, chiến lược

Trang 2

phát triển kinh tế - xã hội, trong đó cơ chế thị trường và quản lý Nhà nước là hai

yếu tố cơ bản, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Đảng chủ trương tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xoá bỏ

cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ, toàn diện cơ chế

thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trước hết

xác lập đồng bộ các yếu tố thị trường: thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức

lao động, thị trường bất động sản, thị trường vốn Hoàn chỉnh đồng bộ và toàn

diện hệ thống với các công cụ quản lý kinh tế thị trường: pháp luật về kinh tế, kế

hoạch hoá, các chính sách tài chính tiền tệ, nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế

Do vậy, việc nghiên cứu : “Quan điểm toàn diện trong việc xây dựng nền

kinh tế thị trường” là hết sức quan trọng và cấp bách Trong thời gian qua, nhờ có

đường lối mới đúng đắn và sáng tạo của Đảng và nỗ lực phấn đấu của toàn dân,

chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn và rất quan trọng: đã thoát

khỏi khủng hoảng, đạt tốc độ phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện

đáng kế, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh quốc gia được giữ vững Từ

một nền kinh tế hiện vật, kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, chúng ta đã

từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, dựa trên qui luật giá trị và tín hiệu

cung cầu của thị trường, có sự quản lý của Nhà nước thông qua sử dụng các công

cụ điều tiết vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh

tế Từ nền kinh tế đơn thành phần, chúng ta chuyển sang nền kinh tế đa thành phần

với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế Từ chỗ bị bao vây cấm vận,

chỉ quan hệ với một số nước, chúng ta đã tranh thủ thời cơ từng bước hội nhập với

nền kinh tế thế giới, bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, đa

dạng hoá, đa phương hoá, phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước Và

nhất là hiện nay trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực tham gia góp ý xây

dựng Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 và Kế hoạch phát

triển kinh tế xã hội 5 năm 2001 – 2005 thì việc nghiên cứu quan điểm toàn diện lại

càng trở nên quan trọng và cấp thiết

Trang 3

PHẦN I NHỮNG LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN

I CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Quan điểm toàn diện được xuất phát từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

của phép biện chứng đó là:

- Các sự vật, hiện tượng không tồn tại cô lập mà thống nhất với nhau trong

đó các sự vật hiện tượng tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau,

quy định và chuyển hoá lẫn nhau

- Không chỉ trong tự nhiên mà cả trong lĩnh vực đời sống xã hội và tinh thần,

mọi sự vật - hiện tượng tồn tại bằng cách tác động qua lại lẫn nhau

- Sự liên hệ đó chỉ là tính khách quan và là tính phổ biến của các sự vật, hiện

tượng trong thế giới khách quan

Trong thế giới khách quan có vô vàn mối liên hệ, chúng rất đa dạng và giữ

vai trò vị trí khác nhau trong sự tồn tại, vận động và phát triển sự vật hiện tượng:

- Có mối liên hệ bên trong (sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa các mặt các yếu

tố, các bộ phận ở bên trong sự vật hiện tượng), lại có mối liên hệ bên ngoài, nói

chung mối liên hệ này không có ý nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường thông qua

mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với các sự vận động và phát triển

của sự vật Tuy nhiên, nó cũng là mối liên hệ hết sức quan trọng trong nền kinh tế

thị trường Vì vậy, không có một sự kiện nào tồn tại trong trạng thái cô lập tách rời

những sự kiện khác

Chẳng hạn, qua cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vừa tạo ra

thời cơ, nhưng cũng vừa tạo ra những thách thức to lớn đối với tất cả các nước

chậm phát triển Nước ta có tranh thủ được thời cơ do cuộc cách mạng đó tạo ra

hay không, trước hết và chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của Đảng, của Nhà nước

và của nhân dân ta Xong chúng ta cũng khó xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội,

Trang 4

nếu không hội nhập quốc tế, không tận dụng được những thành quả của cuộc cách

mạng khoa học và công nghệ mà thế giới đạt được Nói cách khác, mối liên hệ bên

ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định

- Có mối liên hệ chung trong toàn bộ thế giới, cũng có mối liên hệ riêng

trong từng lĩnh vực cụ thể

- Có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật hiện tượng, lại có những

mối liên hệ gián tiếp (sự vật, hiện tượng liên hệ tác động qua lại lẫn nhau thông qua

một hay nhiều khâu trung gian)

Từ nhận thức trên, trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có

các yếu tố thị trường, các công cụ quản lý nền kinh tế Quan điểm toàn diện ở đây

thể hiện ở chỗ muốn xây dựng nền kinh tế thị trường phải xây dựng các yếu tố thị

trường mang tính đồng bộ, tính toàn diện, phải xây dựng các công cụ đồng thời

cùng hoạt động chứ không thể xây dựng riêng rẽ, như vậy sẽ rất khó có tác dụng

trong việc xây dựng nền kinh tế Các thị trường hàng hoá, dịch vụ cụ thể (thị

trường vốn, thị trường lao động ) mà ngay bản thân nền kinh tế cũng vậy, nó

không tồn tại trong trạng thái cô lập, mà trong mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa

các lĩnh vực kinh tế - chính trị - ngoại giao, kinh tế - chính trị, đạo đức - pháp

quyền, kinh tế - chính trị - khoa học - nghệ thuật

II YÊU CẦU CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN:

Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng về sự vật chúng ta

phải xem xét nó trên hai khía cạnh: thứ nhất là trong mối quan hệ giữa các bộ phận,

giữa các yếu tố, các thuộc tính khác của chính sự vật đó; thứ hai là trong mối quan

hệ giữa các sự vật đó với sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp)

V.I Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và

nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật

đó ”

Trang 5

Quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức được sự vật, chúng ta cần xem xét

nó trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người,

mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản

ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự

vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ, không trọn vẹn

Như vậy, quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức

về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi

phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó Quan điểm toàn diện

không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau

của sự vật hiện tượng, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản nhất, chủ yếu nhất và

quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó

III Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN:

Để cải tạo một sự vật, hiện tượng, để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra trong hoạt

động thực tiễn, đòi hỏi một hệ thống các biện pháp nhất định Nếu thiếu tính toàn

diện trong các chủ trương biện pháp thì sẽ không đạt được hiệu quả như mong

muốn Song toàn diện đồng bộ, không phải cái gì cũng đặt ra một cách đều tràn lan,

mà đòi hỏi trong mỗi một thời kỳ, mỗi một giai đoạn phải có những chủ trương,

những biện pháp mang tính trọng tâm, trọng điểm, phải xác định được những khâu

then chốt tập trung giải quyết để làm cơ sở cho những chủ trương biện pháp khác

một cách đồng bộ

Trong thế giới khách quan mọi sự vật, hiện tượng đều có rất nhiều mối liên

hệ Vì vậy cần phải xem xét một mặt hoặc một vài mặt mà đã vội kết luận ngay vấn

đề, như vậy sẽ không chính xác Các quan hệ lợi ích thường thấy lợi ích trước mắt

mà không thấy được cái lợi ích lâu dài

Chống lại chủ nghĩa triết chung và thuật nguỵ biện (Chủ nghĩa triết chung

nhân danh toàn diện để kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác

nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật Thuật nguỵ biện thì lại lập luận chủ

Trang 6

quan, lấy thứ yếu thay cho chủ yếu, lấy cái không cơ bản thay cho cái cơ bản

nhằm xuyên tạc biện chứng của sự vật)

PHẦN II VẬN DỤNG LÝ LUẬN VÀO VIỆC XÂY DỰNG

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn cũng đòi hỏi chúng ta

phải kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm”

(V.I Lênin)

I KHÁI NIỆM NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC

ĐIỂM

1 Khái niệm:

Kinh tế thị trường thể hiện trình độ cao của kinh tế hàng hoá, quan hệ hàng

hoá, tiền tệ trở nên phổ biến Trong lịch sử nhân loại đã diễn ra các hình thức kinh

tế khác nhau như: kinh tế tự nhiên, kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế văn minh, đó là nền kinh tế vận

động, phát triển gắn liền với hệ thống đồng bộ các thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị

trường tiền tệ và thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường tài nguyên

Kinh tế thị trường đầy đủ gắn liền với một hệ thống luật lệ thể chế, hệ thống

các đạo luật, các quy phạm là xương sống của nền kinh tế Về thực chất là những

khuôn khổ pháp lý đảm bảo cho nền kinh tế năng động có trật tự

2 Mặt tích cực và hạn chế của nền kinh tế thị trường trong đời sống xã

hội ở nước ta:

Nền kinh tế thị trường khác hẳn với nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp

trước kia bởi sự cạnh tranh, dưới góc độ quan điểm toàn diện một mặt nền kinh tế

thị trường làm cho cạnh tranh thúc đẩy khoa học phát triển, tiếp thu được các công

Trang 7

nghệ và bí quyết mới nhưng mặt khác cạnh tranh cũng làm cho hàng loạt các xí

nghiệp, doanh nghiệp bị phá sản

a Về mặt tích cực:

Khi kinh tế thị trường tạo ra được những cong người năng động, quyết

đoán, có được kinh nghiệm sau những lần cạnh tranh thắng lợi hay thất bại của

mình nhằm:

+ Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã

hội

+ Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất

+ Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất

+ Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hàng hoá

dịch vụ dồi dào và luôn luôn được cải tiến

+ Tính năng động và tự điều chỉnh của nền kinh tế

b Về mặt tiêu cực:

+ Phân hoá giàu nghèo quá xa nhau dẫn đến không công bằng và mâu thuẫn

xã hội Thị trường càng phát triển phân hoá càng lớn và đến lượt nó lại là nguyên

nhân tiềm tàng cản trở sự phát triển do tình trạng bất công và dẫn đến tình thế ổn

định

+ Sự phát triển mù quáng của các doanh nghiệp riêng lẻ tất yếu dẫn đến

khủng hoảng chu kỳ, triệt tiêu lẫn nhau và thất nghiệp

+ Động cơ săn đuổi lợi nhuận tối đa luôn luôn gắn liền với những thủ đoạn

không lành mạnh: đầu cơ, buôn lậu và lối sống duy vật chất xem thường truyền

thống và các đạo đức của xã hội

+ Độc quyền của những doanh nghiệp lớn và nước lớn trong việc khống chế

mức lưu thông và giá cả, đầu cơ nâng cao giá hoặc bán phá giá

+ Giá cả hình thành tự do trên thị trường tự nó không phải bao giờ cũng phản

ánh đúng giá trị của nó

Trang 8

Cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của

Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì cạnh tranh cũng xuất

hiện Tuy thời gian xuất hiện và phát triển của nó chưa nhiều song những vấn đề

mà cạnh tranh đặt ra lại không nhỏ Cạnh tranh có xu hướng thúc đẩy nền kinh tế

tăng trưởng mạnh mẽ, điều chỉnh các nguồn lực phát triển của đất nước Mặt khác,

cũng như mặt trái của cơ chế thị trường, mặt trái của cạnh tranh là những thủ đoạn

không lành mạnh

3 Mục đích của nền kinh tế thị trường:

Phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất -

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức

kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, phát

huy tinh thần năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất,

thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lãnh đạo, quản lý nền kinh tế để phát triển

đúng hướng

Đặc điểm kinh tế thị trường ở nước ta:

- Có nhiều thành phần kinh tế, có nhiều hình thức sở hữu nhưng sở hữu công

cộng là nền tảng

- Có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa,

Nhà nước thật sự của dân do dân và vì dân, quản lý kinh tế theo nguyên tắc kết hợp

thị trường và kế hoạch, phát huy mặt tích cực, hạn chế khắc phục mặt tiêu cực của

cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích Nhà nước, của nhân dân lao động

- Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế,

đồng thời phân phối theo mức đóng góp trí tuệ vào sản xuất kinh doanh và thông

qua phúc lợi xã hội, tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng

ngay trong từng bước phát triển

Trang 9

II THỰC TRẠNG VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG Ở NƯỚC TA:

1 Giai đoạn trước năm 1986:

Từ năm 1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách

mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội

Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp lại chịu ảnh

hưởng nặng nề do chiến tranh lâu dài Trong những năm qua nhân dân ta đã không

ngừng phấn đấu vượt qua bao khó khăn thử thách Chúng ta đã có nhiều cố gắng

trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh khôi phục lại nền kinh tế bị tàn phá nặng

nề, từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ

thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế, thiết lập

củng cố chính quyền nhân dân trong cả nước Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn trong

tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến và nặng tính tự cấp tự túc Trình

độ trang bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa - xã

hội lạc hậu, năng suất lao động xã hội thấp Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng của

một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mất cân đối về nhiều mặt, công nghệ

kỹ thuật chưa cao, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc vào nhiều các

nước bên ngoài Cơ chế quản lý tập trung bao cấp để lại nhiều hậu quả tiêu cực, nền

kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp

Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều năm với đặc trưng: sản xuất chậm

và không ổn định, lạm phát ngày càng gia tăng, tài nguyên thiết bị lao động và tài

năng mới được sử dụng thấp, đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn hoá tinh

thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội không được đảm bảo, tham

nhũng, chưa tận dụng hết được nguồn nhân lực lao động trong nhân dân

Trên thực tế nền kinh tế nước ta, từ nghị quyết Hội nghị lần thứ VI BCH

Trung Ương khoá IV (năm 1979), các quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã được chấp

nhận nhưng mới chỉ ở mức độ thứ yếu Đó là do qua nhiều thập kỷ, qua tư tưởng

kinh tế xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến, kiêng kỵ quan hệ hàng hoá và cơ

Trang 10

chế thị trường, coi nó là biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản Mặt khác

là do chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình dập khuôn giáo điều, chủ

quan duy ý chí (các mặt bố trí cơ cấu kinh tế thiên về phát triển công nghiệp nặng

qui mô lớn, vội xoá bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản

xuất, phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nặng về hình thức, phủ nhận

nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường, bộ máy quan liêu cồng kềnh, kém hiệu

lực) Những sai lầm đó đã kìm hãm lực lượng sản xuất và nhiều động lực phát

triển, cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi Tư tưởng Lênin trong chính sách kinh tế mới

xem như bước lùi tạm thời

2 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1990:

Trước tình hình đó, tháng 12 - 1986 Đại hội VI đã nhìn thẳng vào sự thật,

thừa nhận những sai lầm, thiếu sót chủ quan trong lãnh đạo và điều hành, chủ yếu

là duy ý chí, nóng vội chủ quan, đốt cháy giai đoạn, muốn tiến hành nhanh, tiến lên

CNXH Không thể có công cuộc đổi mới nếu xa dời tư tưởng cách mạng, khoa học

của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, Đảng quyết định

thực hiện đường lối đổi mới toàn diện mang tính chiến lược, mở ra thời kỳ mới

phát triển nền kinh tế đất nước

Đổi mới tư duy lý luận, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế Phương hướng

đổi mới cơ chế quản lý được khẳng định là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp để

xây dựng một cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển

của nền kinh tế Đại hội đã được xác định những mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội

như “Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Củng cố thành phần kinh tế xã hội

chủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện,

cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối, làm cho thành phần kinh tế

này giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân, thể hiện tính ưu việt về năng

suất lao động, chất lượng sản phẩm, thu nhập của người lao động và tích luỹ cho sự

nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” Nền kinh tế nước ta đang từ cơ chế quản lý

Trang 11

tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì những sự

thay đổi trong quan điểm kinh tế, cơ cấu kinh tế và cơ chế kinh tế kéo theo sự thay

đổi trong quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của các hiện tượng chính trị,

ngoại giao, đạo đức, pháp quyền, khoa học và nghệ thuật

Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy rõ việc phải sử dụng đầy đủ và đúng đắn

quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân là một tất yếu

khách quan, phải vận dụng tổng hợp hệ thống các qui luật đang tác động nền kinh

tế ví dụ như quy luật giá trị, quy luật cung cầu Kế hoạch hoá phải luôn luôn gắn

liền với việc sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế Để xây dựng nền kinh tế thị

trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo

một cơ cấu hợp lý Trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại

hình sản xuất có qui mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối,

liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển

ổn định

Tuy nhiên, tư tưởng đổi mới của Đại hội VI chưa thể đi ngay vào cuộc

sống, còn có lực cản, nền kinh tế tiếp tục gặp khó khăn trong mấy năm đầu Nhưng

từ năm 1989, các biện pháp đổi mới (như áp dụng chính sách suất dương, xoá bỏ

chế độ tem phiếu, loại bỏ một số khoản chi bao cấp ngân sách Nhà nước, mở rộng

quan hệ thị trường ) đã thực sự đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến rõ rệt làm cho

nền kinh tế có nhiều khởi sắc Ví dụ như: trong giai đoạn 1986- 1990 đầu tư toàn xã

hội trung bình là 12,5%GDP, tăng trưởng kinh tế trung bình là 3,9%, kim nghạch

xuất khẩu bình quân đạt 1,3 tỷ USD/năm, kim ngạch nhập khẩu trung bình là 2,3 tỷ

USD/năm Về lạm phát thì năm 1986 là 77,4% đến năm 1990 giảm xuống còn

67,1% (Nguồn Tổng cục thống kê)

3 Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000:

Do mới có một số biện pháp được áp dụng vào cuối kỳ kế hoạch 1986 -

1990 nên kết quả của thời kỳ này còn hạn chế Song cái được của thời kỳ 1986

Trang 12

1990 là chúng ta đã thực hiện chuyển đổi cơ chế mạnh mẽ, đến giai đoạn 1991

-1995 sự chuyển đổi đó đã phát huy tác dụng và tạo nên thời phát triển của nền kinh

tế Việt Nam

Đại hội Đảng VII (6/1991) với những quyết sách quan trọng như:

- Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế

quản lý thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội

chủ nghĩa

- Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới cả về bề rộng và chiều sâu, lấy đổi mới kinh tế

làm trọng tâm

- Tiếp tục kim chế và đẩy lùi lạm phát, giữ vững và phát triển sản xuất, bắt

đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế

- Ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân (về vật chất và tinh

thần) tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giảm nhịp độ tăng dân số

Những quyết sách ấy được đưa ra trong thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc”,

trong bối cảnh quốc tế không thuận lợi, nguồn lực cho phát triển bị thiếu hụt

dường như đã tiếp thêm sức mạnh cho quá trình chuyển đổi nền kinh tế để góp

phần đưa đất nước ta khỏi khủng hoảng

Trong 5 năm đầu (1991 - 1995), tuy nền kinh tế vẫn đứng trước nhiều khó

khăn, thách thức nhưng với việc triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện

của Đảng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đã tạo ra nhiều động lực phát

triển mới, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991 -1995 được hoàn

thành vượt mức và toàn diện, mà các kế hoạch 5 năm trước đó chưa bao giờ thực

hiện được

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 8,2% (trong khi đó mục

tiêu ta đạt ra là 5- 6%), trong đó nông nghiệp tăng 4,5%; công nghiệp và xây dựng

tăng 13,6% và dịch vụ tăng 8,8%, lạm phát kìm chế ổn định ở mức thấp (bình quân

23,4%/năm) (Theo nguồn Bộ kế hoạch và đầu tư), đầu tư xã hội tăng nhanh, thị

trường xuất nhập khẩu mở rộng Như vậy, kết quả đổi mới đạt được trong giai

Ngày đăng: 18/03/2013, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w