1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx

23 1K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật Dẫn Tinh
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Truyền Giống Nhân Tạo Vật Nuôi
Thể loại Giáo trình
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 501,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở khoa học của việc xác định thời điểm phối giống thích hợp Việc xác định thời điểm phối giống thích hợp có liên quan đến nhiều yếu tố như vị trí phóng tinh, sự di chuyển của tinh t

Trang 1

Chương V

KỸ THUẬT DẪN TINIH

1 Xác định thời điểm phối giống ở gia súc cái

1.1 Ý nghĩ của việc xác định thời điểm phối giống thích hợp

Trong truyền giống nhân tạo gia súc, việc xác định thời điểm phối giống thích

hợp có ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và tỉ lệ thụ thai Việc xác định hai thời điểm phối gồng thích hợp sẽ dẫn đến không thụ thai hoặc thụ thai với số lượng con/ lứa thấp (đối với động vật đa thai) Tỷ lệ thụ thai có quan hệ trực tiếp với thời điểm dẫn tinh

1.2 Cơ sở khoa học của việc xác định thời điểm phối giống thích hợp

Việc xác định thời điểm phối giống thích hợp có liên quan đến nhiều yếu tố như

vị trí phóng tinh, sự di chuyển của tinh trùng và trứng trong đường sinh dục cái, thời gian sống của tinh trùng và trứng trong đường sinh dục cái Hiểu biết được các yếu tố trên là cơ sở xác định thời điểm dẫn tinh để trứng và tinh trùng có thể gặp nhau ở vị trí

và thời gian thích hợp khi còn khả năng thụ tinh

- Phóng tinh tử cung: Tinh dịch được phóng vào cổ hoặc sâu bên trong tử cung Trường hợp này tinh dịch có đặc điểm là lượng tinh nhiều, cổ tử cung mở rộng để nhận tinh dịch (ngựa) hoặc đương vật được giữ lại trong cổ tử cung trong quá trình giao phối (lợn, chó) Có sự hình thành nút âm đạo do tinh thanh đông lại thành một cái

Trang 2

nút bịt âm đạo lại (lợn, gặm nhấm)

Qua nghiên cứu các điều kiện lý, hoá, sinh học ở trong tử cung - đặc biệt ở thời

kỳ gia súc cái động dục, người ta nhận thấy tử cung là môi trường rất thuận lợn cho tinh trùng sống và hoạt động Vì vậy, để tiết kiệm tinh dịch và nâng cao khả năng thụ thai, trong thụ tinh nhân tạo, người ta chỉ dẫn tinh vào tử cung (kể cả đối với động vật

phóng tinh tự nhiên trong âm đạo, như: trâu, bò )

1.2.2 Sự di chuyển của tinh trùng trong đường sinh dục cái

Ngay sau khi xuất tinh, tinh trùng nhanh chóng xuyên nhập vào niêm dịch lỏng của cổ tử cung Sự xuyên nhập này chủ yếu dựa vào sức hoạt động của tinh trùng và đặc điểm của niêm dịch đường sinh đục gia súc cái Tốc độ xuyên nhập của tinh trùng trong niêm dịch có sự khác nhau ở các giai đoạn của chu kỳ động dục

Trong quá trình xuyên nhập tinh trùng được định hướng một cách máy móc về phía trong cổ tử cung và đầu tinh trùng được đẩy tới trong các rãnh cổ tử cung với lực

ma sát thấp nhất Tần số đập của đuôi tạo nên sự cộng hưởng cơ giới giữa nó với tần

số dao động của lưới phân tử niêm dịch

Những khoang chứa dịch có chứa các chuỗi phân tử mà ở giữa các chuỗi này có rãnh cho phép tinh trùng đi qua và cho khuếch tán những chất hoà tan Các enzym phân giải protein (proteinase trong tinh thanh) có thể phân giải gốc protein hoặc một

số liên kết chéo của mu xin làm cho lưới niêm dịch giảm ma sát, mở ra nhiều rãnh hơn

để thúc đẩy tinh trùng di chuyển Sự phóng thích tinh trùng từ các hốc của cổ tử cung phụ thuộc vào sự thủy phân các chuỗi glycoprotein (do proteinase trong đầu tinh trùng thực hiện) Sự di chuyển của tinh trùng trong các đoạn của đường sinh dục cái diễn ra như sau:

* Di chuyển của tinh trùng trong tử cung

Sự di chuyển của tỉnh trùng trong tử cung chủ yếu nhờ vào hoạt động co rút của

âm đạo và cơ tử cung Phần lớn tinh trùng, sau khi được đưa vào tử cung, xâm nhập vào các tuyến nội mạc tử cung Sự có mặt của tinh trùng trong tử cung đã kích thích phản ứng bạch cầu ở niêm thạc tử cung, làm thúc đẩy sự thực bào phần lớn tinh trùng yếu và chết Từ các tuyến nội mạc tử cung, tinh trùng có thể di chuyển được là nhờ sự

co bóp của hệ thống cơ tử cung, làm thay đổi hình dạng, thể tích cực ô, ngăn chứa tinh trùng và sự vận động nội tại của tinh trùng, giúp cho tinh trùng tiến về phía ống dẫn

trứng

* Di chuyển của tinh trùng trong ông dẫn trứng

Ống dẫn trứng có chức năng giúp cho tinh trùng và trứng đồng thời di chuyển theo hướng ngược chiều nhau Kiểu di chuyển và tốc độ di chuyển tinh trùng trong ống dẫn trứng được kiểm soát bằng những cơ chế nhu động và phản nhu động của hệ cơ ống dẫn trứng, những co rút phức hợp của các nếp nhầy và màng treo ống dẫn trứng, dòng niêm dịch chảy xuôi và dòng chất dịch chảy ngược đo hoạt động tiên mao, ngoài

ra còn có thể do sự mở và đóng của các vị trí trong vách cơ

Trang 3

Sự co rút của ống dẫn trứng tạm thời làm thay đổi hình dạng của các ngăn của ống dẫn trứng, do đó các dịch thể và tinh trùng có thể được chuyển vận từ ngăn này sang ngăn khác đế tiến sâu vào ống dẫn trứng

Người ta ghi nhận có 3 giai đoạn di chuyển của tinh trùng trong đường sinh dục cái, đó là:

- Di chuyển nhanh: Ngay sau khi tinh dịch được phóng ra, một bộ phận nhỏ tinh

trùng xuyên qua các chuỗi phân tử niêm dịch cổ tử cung và tại đây, một số tinh trùng

di chuyển nhanh chóng đi qua rãnh cổ tử cung giai đoạn này diễn ra trong khoảng thời gian từ 2-10 phút Nhờ sự vận động nội tại của tinh trùng và hoạt động co rút tăng lên của cơ tử cung và màng treo ống dẫn trứng được kích thích bằng phản xạ giao cấu, chỉ trong thời gian 1,5 - 3 phút sau khi giao phối, một số tinh trùng đã đến được miệng trong cổ tử cung và nhanh chóng đi' sâu vào ống dẫn trứng để có mặt tại vị trí thụ tinh

- Thiết lập các ổ chứa tinh trùng: Phần lớn tinh trùng bị giữ lại trong các nếp

màng nhầy phức tạp của cổ tử cung, tạo thành các tổ chứa Quá trình này được thực hiện do các chuỗi phân tử ở cổ tử cung lái tinh trùn đi vào các hốc cổ từ cung, tạo thành các ố chứa Do chất tiết của cổ tử cung có ít bạch cầu hơn so với âm đạo hoặc tử cung, nên cổ tử cung ít xảy ra sự thực bào tinh trùng

Tinh trùng có thể ra khỏi cổ tử cung nhờ năng lực vận động nội tại của tinh trùng hoặc nhờ sự co rút của cố tử cung và tử cung hoặc là kết quả của cả hai yếu tố này Đối với loài xuất tinh tại tử cung' và sừng tử cung, ổ chứa tinh trùng khu trú tại tuyến nội mạc tử cung (như ở chó) hoặc đoạn nối tử cung-ống dẫn trứng (như ở lợn)

- Phóng thích chậm và di chuyển của tinh trùng đến ống dẫn trứng:

Sau khi đã thiết lập các ổ chứa trong đường sinh dục cái, tinh trùng được phóng thích liên tục trong một thời gian dài và di chuyển theo từng đợt (phụ thuộc khá nhiều vào tần số co rút của cơ tử cung và màng treo ống dẫn t ứng) Sự phóng thích này là chậm chạp, đảm bảo cho tinh trùng có khả năng liên tục đi vào ống dẫn trứng để thụ tinh Vì vậy, càng có nhiều tinh trùng đi vào các ổ chứa thì thời gian tinh trùng có mặt

ở ống dẫn trứng càng dài và khả năng thụ tinh càng cao Tuy nhiên, để đến được ống dẫn trứng, tinh trùng phải vượt qua những rào chắn về giải phẫu và sinh lý Các rào chắn này có ý nghĩa quan trọng trong việc sàng lọc, ngăn cản số đông tinh trùng không thể tiến ồ ạt vào ống dẫn trứng là cơ chế tránh hiện tượng thụ tinh nhiều tinh trùng trong một trứng, gây chết trứng đã thụ tinh

Trang 4

1.2.3 Di chuyển của trứng trong ống dẫn trứng

Thời gian di chuyển của trứng trong ống dẫn trứng là khá dài và thay đổi tuỳ loài

Ví dụ: bò: 90 giờ; ngựa: 98 giờ; cừu: 72 giờ; lợn: 50-90 giờ, mèo: 148 giờ; chó: 168 giờ; khỉ Rhesus: 96 giờ; thú có túi: 24 giờ; phụ nữ: 48-72 giờ (Hafez, 1987)

Tuy nhiên, thời gian sống của trứng thì rất ngắn, bò: 20-24 giờ; cừu: 16-24 giờ; lợn: 8-10 giờ; ngựa: 6-8 giờ; người: 12-24 giờ (Bazer và CS, l987)

Các kết quả nghiên cứu cho thấy: ở lợn, trong nửa phần đầu của ống dẫn trứng, các noãn bào di chuyển nhanh, chúng lưu lại trong đoạn nối phồng - eo vào lúc 60 -75 giờ tính từ khi bắt đầu chịu đực Trứng đi vào tử cung trong khoảng thời gian từ 66 -

90 giờ tính từ khi chịu đực; ở ngựa, trứng không được thụ tinh sẽ lưu lại trong ống dẫn trứng một số tháng Những trứng đã thụ tinh xuống đến tử cung vào giai đoạn "dưỡng thai" thích hợp của chu kỳ động dục

1.2.4 Sự thụ tinh

Trong hệ thống sinh sản hữu tính, thụ tinh là quá trình trong đó các giao tử đực

và cái (tức tinh trùng và trứng) đã hợp nhất lại thành một hợp tử Nó được xem như là

sự tập hợp những biến đổi xảy ra trong trứng sau khi có tác động qua lại và có sự hợp nhất của các giao tử dẫn đến việc kết hợp hai nhóm nhiễm sắc thể đơn bội có nguồn gốc từ con mẹ và con bố

Trong tự nhiên, ở loài có vú, sự thụ tinh xảy ra tại phần trên của ống dẫn trứng, là nơi mà tinh trùng tiến vào tiếp xúc với những noãn bào đã rụng Vào lúc thụ tinh, số lượng tinh trùng đến được xung quanh noãn bào là rất hạn chế

Chang và Austin (1951) lần đấu tiên nhận thấy tinh trùng cần phải lưu trú lại nhiều giờ trong đường sinh dục của con cái trước khi tiếp cận và thâm nhập vào tế bào trứng Quá trình này được gọi là sự kiện toàn năng lực thụ tinh của tinh trùng và được xảy ra trong tử cung

Vì khoảng thời gian hữu thụ của tinh trùng và trứng là có hạn (bảng 5.1), nên bắt

buộc việc phối giống và quá trình rụng trứng phải đồng bộ thì mới đạt được tỉ lệ thụ

Trang 5

thai cao

Súc vật cái rụng trứng ở nhiều thời điểm khác nhau sau khi bắt đầu chịu đực Tuổi thọ của tinh trùng trong đường sinh dục cái có liên quan đến độ dài thời gian chịu đực ( lợn cái và ngựa cái, tinh trùng có tuổi thọ lâu hơn nhiều so với ở bò và cừu) Tuy vậy, phối giống sớm quá hoặc muộn quá đều làm giảm khả năng thụ thai

Bảng 5.1 Thời gian sống của tinh trùng và trứng trong đường sinh dục cái ở một số

loài gia súc

Loài gia súc Loại giao tử Đơn vị

Bò Ngựa Cừu Lợn

Tinh trùng

Trứng

Giờ Giờ

30-48 20-24

72-120 6-8

30-48 16-24

34-72 8-10

1.2.5 Một số phương pháp xác định thời điểm phối giống thích hợp

Cho đến nay, có nhiều phương pháp có thể xác định được thời điểm phối giống thích hợp ở gia súc cái Tùy vào đối tượng gia súc, điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật để lựa chọn một trong các phương pháp sau đây hoặc kết hợp giữa các phương để xác định chính xác thời điểm phối giống thích hợp

* Phương pháp mổ khám

Là phương pháp phẫu thuật nhằm bộc lộ buồng trứng để kiểm tra sự rụng trứng Phương pháp này cho biết mối quan hệ giữa thời điểm rụng trứng và các biểu hiện động dục được quan sát thấy ở bên ngoài Đây là phương pháp chính xác nhất để xác định để xác định thời điểm phối giống thích hợp, nhưng chỉ được dùng trong nghiên cứu không áp dụng trong sản xuất

* Phương pháp quan sát triệu chứng lâm sàng

Đây là phương pháp đơn giản, dễ làm, có kết quả khá tin cậy và thường được áp dụng nhiều trong thực tiễn sản xuất Phương pháp này chủ yếu dựa vào quan sát, kiểm tra các biểu hiện bên ngoài của con vật và bằng kinh nghiệm để xác định thời điểm phối giống thích hợp Các biểu hiện toàn thân và cục bộ ở thời điểm phối giống thích hợp, gồm :

- Trạng thái toàn thân: Con vật có phản xạ "mê ỳ", thích gần con đực hoặc con

cái khác (hoặc với người chăn nuôi nó), đứng yên cho con khác nhảy lên lưng, hoặc cho người chăn nuôi đè, ấn, ngồi lên lưng nó Hai chân sau có tư thế đứng trụ, đuôi hơi ngỏng lên để lộ âm hộ ra và sẵn sàng tiếp nhận giao phối

- Biểu hiện ở quan sinh dục

+ Bộ phận sinh dục ngoài: âm hộ bớt sưng, giảm độ hồng bóng, hơi có vết nhăn

Khi vạch mép âm hộ ra thấy tiền đình và niêm mạc âm đạo bớt hồng và mức độ bóng

Trang 6

nhẫy (ướt) ít hơn giai đoạn trước chịu đực Mép âm hộ có thể dính các lá cỏ hoặc rác khô nhẹ

+ Cổ tử cung: Nếu dùng mỏ vịt hoặc ống soi âm đạo sẽ thấy cổ tử cung mở rộng

có nước nhờn đặc chảy ra

+ Dịch nhờn: dịch nhờn tiết ra ở âm hộ có màu nửa trong nửa đục, độ keo dính

cao, có thể kéo dài 2,5 - 3,0 cm (đối với lợn) và 7-10 chỉ (đối với trâu, bò) Do dịch âm

hộ tiết ra dính nên ở mặt dưới khấu đuôi và hai u xương ngồi có vệt bẩn dính thành vảy mỏng Nếu chăn nuôi trong môi trường có cỏ, rác thì dễ dàng quan sát cỏ, rác khô bám vào u ngồi hoặc mông Nếu lấy dịch âm hộ phiết kính, soi lên ánh sáng mặt trời sẽ thấy các sợi dịch xếp theo hình cây dương xỉ

âm hộ con cái Mỗi ngày cho đực thí tình đi kiểm tra, phát hiện các con cái động dục

và chịu đực 2 lần vào buổi sáng và chiều Thông qua phản xạ nhẩy của con đực thí tình

và phản xạ chịu đực của con cái giúp ta xác định được chính xác thời điểm phối giống thích hợp

Trang 7

* Phương pháp kiểm tra buồng trứng qua trực tràng

Phương pháp này dựa trên việc kiểm tra buồng trứng qua trực tràng bằng tay trong thời gian động dục Qua kiểm tra người ta phát hiện được vết lõm của buồng trứng (nếu trứng đã rụng) hoặc độ căng của noãn bao Bằng kinh nghiệm, người ta có thể để chẩn đoán thời gian rụng trứng và dẫn tinh Phương pháp này chỉ áp dụng đối với đại gia súc (trâu, bò, ngựa)

* Phương pháp dùng điện trở kết c định điện trở âm đạo

Dựa trên quy luật biến đổi điện trở âm đạo là: điện trở âm đạo sẽ giảm thấp nhất tại thời điểm rụng trứng sau đó lại tăng lên sau khi trứng rụng Theo quy luật này, người ta dùng điện trở kế đưa vào tiền đình âm đạo, theo dõi sự biến đổi điện trở âm đạo của con vật, khi nào từ số điện trở đạt giá trị thấp nhất chính là thời điểm trứng rụng, lúc này dẫn tinh cho kết quả cao nhất Theo Lê Xuân Cương và Lưu Kỷ, tại thời điểm rụng trứng trị số điện trở âm đạo lợn nái đạt từ 200-300 Ohm

* Phương pháp kiểm tra thân nhiệt

Dùng nhiệt kế theo dõi sự thay đổi thân nhiệt của gia súc cái trong thời gian động dục Quy luật của sự biến đổi là: Trong thời gian động dục, thân nhiệt cơ thể tăng cao hơn bình thường, đạt giá trị cao nhất tại thời điểm rụng trứng, sau đó nhanh chóng trở lại bình thường Căn cứ vào quy luật biến đổi đó, khi thân nhiệt gia súc giảm đột ngột

là thời điểm rụng trứng, lúc này phối giống sẽ cho kết quả thụ thai cao

* Phương pháp dùng âm thanh

Phương pháp này được áp dụng đối với cơ sở chăn nuôi lợn cái tập trung Người

ta dùng băng ghi âm tiếng lợn đực khi gần lợn cái động dục và chỉ có lợn cái mới hiểu được âm thanh ấy mà biểu hiện hành vi, tâm tính của nó Khi âm thanh lợn đực được phát ra, những con cái nào động dục sẽ vểnh hai tai hướng về phía có âm thanh và quanh quẩn bên máy phát, tỏ vẻ muốn giao phối Để tăng độ chính xác của phương pháp, nên kết hợp việc sử dụng âm thanh với thử phản ứng mê ì của lợn

* Phương pháp dùng feromon

Phương pháp này được dùng để xác định thời điểm phối giống ở lợn Feromon là chất có mùi giống như mùi lợn đực Lợi dụng tính chất của feromon, người ta đã điều chế chất quyến rũ sinh học ở dạng khí dung (aerosol) để thử phản ứng chịu đực của lợn cái trong thời kỳ động dục bằng cách bơm một ít chất này vào mũi lợn cái Nếu lợn cái chịu đực sẽ có biểu hiện "mê ì" muốn giao phối Nếu chưa chịu đực, lợn cái sẽ tránh hoặc chạy ra nơi khác Dựa vào đó để xác định thời điểm dẫn tinh thích hợp

2 Dẫn tinh cho một số loài gia súc

2.1 Dẫn tinh cho lợn

2.1.1 Đặc điểm chu kỳ động dục của lợn cái

Chu kỳ động dục của lợn cái trung bình là 21 ngày, dao động từ 19-22 ngày tuỳ theo giống, tuổi và cá thể Thời gian động dục trung bình là 3-4 ngày (đối với lợn nội),

Trang 8

4-5 ngày (đối với lợn ngoại và lợn lai), 1-2 ngày (đối với lợn nái hậu bị)

Thời gian động dục cũng như chịu đực nhìn chung càng dài khi con vật động dục càng sớm sau cai sữa

2.1.2 Biểu hiện động dục và cách phát hiện

Biểu hiện động dục ở lợn cái thể hiện rất rõ: Giai đoạn đầu lợn kêu rít, phá chuồng, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình Nếu người sờ mó vào lợn, nó sẽ né tránh hoặc bỏ chạy Cuối giai đoạn, các biểu hiện hưng phấn giảm dần Ở cuối ngày thứ hai sang đầu ngày thứ ba, lợn cái thường không chạy nhảy nữa, đứng hoặc nằm một chỗ, mắt có vệt quầng thâm, dáng mệt mỏi, buồn

Biểu hiện cục bộ ở cơ quan sinh dục: âm hộ sung huyết, sưng to và mọng đỏ, sau chuyển dần sang bớt sưng, se, hơi thâm và có các vết nhăn mờ Dịch chảy từ âm hộ giảm, hơi đặc và keo dính (âm hộ lợn cái thường thấy dính rơm, cỏ rác)

2.1.3 Cách xác định thời điểm phối giống thích hợp

Người ta có nhiều phương pháp xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn cái Các phương pháp thường được dùng nhiều trong sản xuất là: phương pháp quan sát triệu trứng lâm sàng, dùng đực thí tình, dùng feromon và dùng âm thanh Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu phương pháp quan sát triệu trứng lâm sàng - phương pháp dùng phổ biến trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam

- Giai đoạn trước chịu đực: lợn nái thường có biểu hiện bị kích thích, hay đi lại,

kêu rít, muốn nhảy chuồng ra ngoài Kém ăn hoặc bỏ ăn Gặp lợn khác thích nhảy lên bao ôm, nhưng không chịu cho con khác nhảy lên (kể cả lợn đực) Nếu người sờ mó thì nó có phản xạ tránh né hoặc bỏ chạy

Âm hộ sưng mọng, đỏ hồng, có nước nhờn chảy ra ngoài âm hộ nhưng còn lỏng, trong suất, độ keo dính kém Nếu lấy một ít nước nhờn này đặt vào giữa 2 đầu ngón tay để kéo dài ra thì dễ đứt, không kẻo thành sợi được

- Giai đoạn chịu đực: lợn bắt đầu yên tĩnh hơn, ít kêu rít, biểu hiện trầm lặng,

thỉnh thoảng thích nhảy lên lưng con khác nhưng vẫn chưa chịu để con khác bao ôm Đến cuối ngày thứ 2, âm hộ đã giảm độ sưng, ít căng bóng, màu hơi thâm tái, có các nếp nhăn mờ xuất hiện Trong âm đạo có màu hồng nhạt và ít trơn bóng như ngày đầu Nước nhờn đã bắt đầu keo dính, có thể kẻo thành sợi dài 2-3 cm, có mầu vấn đục Do vậy, ở hai bên mông, ở tròng khấu đuôi và mép ngoài âm hộ có vết dính, có thể dính với cỏ, rác Lúc này, nếu có lợn đực đến gần, lợn cái sẽ quay phần mông về phía lợn đực, sẵn sàng cho giao phối Khi lợn đực (hoặc lợn khác) nhảy lên lưng thì đứng yên, lợn cái chụm 2 chân sau, né đuôi về một bên để lộ âm hộ Hai mép âm hộ có những co rút nhẹ, hé mở, thỉnh thoảng đái dắt

Người ta có thể dùng tay ấn hoặc cưỡi lên lợn nái, nó vẫn đứng yên Dùng que kích thích ngoài vùng âm hộ, lợn nái cong đuôi lên và xoay mông về phía que kích thích Các biểu hiện như vậy gọi là triệu trứng "mê ì" của lợn nái, là biểu hiện đặc

Trang 9

trưng dễ nhận biết và chuẩn xác để cho phối giống hoặc dẫn tinh thích hợp

- Giai đoạn sau chịu đực: tính tình lợn nái trở lại bình thường và đã ăn chút ít

âm hộ khô và teo lại, nước nhờn màu vẩn sữa, bã đậu và không dính Trạng thái

"mê ì” giảm dần, càng về cuối giai đoạn này lợn nái không thích gần lợn đực nữa, đuôi không chếch về một bên mà luôn luôn cụp vào âm hộ

Như vậy, bằng quan sát lâm sàng cho thấy, thời điểm phối giống hoặc dẫn tinh thích hợp nhất đối với lợn nái thường vào cuối ngày thứ 2 đến đầu ngày thứ 3 sau khi động dục Biểu hiện đặc trưng lâm sàng của thời kỳ động dục là trạng thái “mê ì" thời

kỳ chịu đực cao độ

Tuy nhiên, thời gian chịu đực khá biến động (từ 24-48 giờ sau động dục), phụ thuộc vào lứa đẻ (nái tơ hay nái rạ), chế độ dinh dưỡng, phẩm giống Thường lợn nái nội thời gian chịu đực sớm hơn nái lai (ngoại x nội) và nái ngoại 1 ngày; nái tơ sớm hơn nái rạ khoảng 1 ngày

Hình 5.4 Quá trình động dục và thời điểm dẫn tinh thích hợp ở lợn

2.1.3 Kỹ thuật dẫn tinh

* Dụng cụ dẫn tinh

Gồm dẫn tinh quản (loại ống cao su trơn hoặc loại ống plastic có đầu xoắn hoặc không xoắn) và bộ phận chứa tinh dịch (bằng lọ thủy tinh hoặc plastic) Xi lanh dùng

để dựng và bơm tinh dịch (trong trường hợp lọ đựng tinh bằng thủy tinh) Những dụng

cụ này được làm bằng các chất liệu không độc cho tinh trùng

Trang 10

* Thao tác dẫn tinh

Bước 1 : Trước khi dẫn tinh cho lợn nái, cần quan sát triệu chứng động dục, xác định thời điểm dẫn tinh thích hợp Thời điểm dẫn tinh, xác định từ lúc bắt đầu động dục, được coi là thích hợp như sau:

Lợn nái nội: cuối ngày thứ hai sang đầu ngày thứ ba

Lợn nái lai (ngoại x nội) và lợn ngoại: cuối ngày thứ ba sang đầu ngày thứ tư Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ:

- Vô trùng dụng cụ dẫn tinh: Dụng cụ dẫn tinh được luộc trong nước sạch, sôi trong 15 phút Sau đó vẩy ráo nước Dùng 5-l0ml dung dịch nước sinh lý NaCl 0,85%, hoặc 3-5 ml tinh dịch đã pha loãng, hoặc môi trường pha loãng để' tráng lại lòng dẫn tinh quản Dùng vazơlin hoặc glyxerin bôi 2/3 mặt ngoài phía đầu dẫn tinh quản Bước 3 : Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích và số lượng tinh trùng tiến thẳng trong 1 liều dẫn, như sau:

- Nâng dần nhiệt độ lọ tinh bằng cách cầm nắm trong lòng bàn tay (đến khi lọ tinh không còn lạnh là được) Nếu có kính hiển vi, nên kiểm tra lại hoạt lực của tinh trùng trước khi dẫn tinh

- Quy định về thể tích và số tinh trùng có hoạt động tiến thẳng cần thiết cho một liều dẫn tinh như sau:

- Đối với lợn nái nội: 30ml tinh pha, trong đổ đảm bảo 0,5 - 1,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng

- Đối với lợn nái lai (ngoại x nội) : 60ml tinh pha, trong đó đảm bảo 1,0- 1,5ml tỷ tinh trùng tiến thẳng

- Lợn nái ngoại: 90ml tinh pha trong đó đảm bảo 1,5-2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng (Nếu sử dụng xi lanh thì rót tinh dịch từ từ vào xi lanh theo thành ống, tuyệt đối không lắp xi lanh vào dẫn tinh quản rồi hút tinh dịch, làm sục tinh dịch, ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng)

Trang 11

Bước 4: Vệ sinh lợn nái: Rửa sạch vùng sinh dục lợn nái bằng nước sạch, nếu có điều kiện dùng thuốc tím 0,1% để rửa Sau khi rửa xong, lau khô bằng vải sạch, sau đó bôi một ít vazơlin vào mép âm đạo

- Dẫn tinh: Giữ cho lợn cái đứng yên bằng cách gãi nhẹ vùng mông hoặc kích thích âm hộ lợn cái Có thể dùng bàn chân đè nhẹ lên lưng hoặc bơm một ít tinh dịch vào phán mũi lợn cái để gây hưng phấn Dùng ngón cái và ngón trỏ vạch hai mép âm

hộ ra và nhẹ nhàng đưa dẫn tinh quản về phía trước hơi chếch lên phía trên Vừa đưa vừa xoay nhẹ đầu dẫn tinh quản cho đến khi vào sâu trong âm đạo lợn cái khoảng 15- 20cm Tiếp tục đẩy dẫn tinh quản vào sâu trong cổ tử cung (hình 5.5): Khi dẫn tinh viên cảm thấy đầu dẫn tinh quản không thể vào sâu được nữa thì từ từ bơm tinh Tốt nhất nâng lọ đựng tinh hoặc xi lanh dẫn tinh lên cao để tinh dịch tự động từ từ chảy vào tử cung

Khi đưa dẫn tinh quản vào âm đạo nên làm động tác rút ra, đút vào nhè nhẹ để kích thích lợn Động tác kích thích rất quan trọng bởi vì nó hỗ trợ tử cung thúc đẩy tinh trùng tiến về phía ống dẫn trứng Sau khi bơm tinh xong, rút dẫn tinh quản ra một cách từ từ sao cho phần tiếp xúc của ống dẫn tinh với âm hộ luôn cao hơn so với âm

hộ con lợn

Chú ý: Có một số lợn cái, nhất là lợn cái tơ không chịu đứng yên khi dẫn tinh

Trong trường hợp này cần dồn lợn vào một góc để nó không chạy được Nếu lợn cái nằm bẹp xuống và dí âm hộ sát mặt đất, lúc đó để có thể dẫn tinh, người dẫn tinh phải dùng một tay kẻo đuôi nâng mông lợn lên

Sau khi dẫn tinh, nếu kỹ thuật viên "cảm thấy" hài lòng thì chỉ cần dẫn tinh một lần Nếu ngược lại, nên lặp lại lần dẫn tinh thứ hai sau lần 1 từ 10- 12 giờ Riêng nái ngoại cán phối hai lần trong một chu kỳ động dục

Bước 5 : Sau khi dẫn tinh xong, phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ bằng nước xà phòng, nước nóng bằng cách bơm thụt nhiều lần Cuối cùng rửa lại bằng nước sạch và lau khô bằng khăn sạch

Bước 6: Sau khi dẫn tinh 21-25 ngày, phải kiểm tra kết quả thụ thai, phát hiện những lợn cái động dục lại để kịp thời dẫn tinh Những lợn cái thụ thai ở kỳ động dục nào ghi vào kết quả thụ thai của kỳ động dục ấy

2.2 Dẫn tinh cho bò cái

2.2.1 Đặc điểm chu kỳ động dục của bò cái

Chu kỳ động dục của bò cái trung bình 21 ngày, dao động trong khoảng từ 17-24 ngày Thời gian động dục 30 giờ, dao động trong khoảng từ 18-36 giờ Thời gian chịu đực trung bình 15 giờ sau động dục , dao động trong khoảng 12- 1 8 giờ Thời gian rụng trứng trung bình từ 12- 14 giờ sau khi kết thúc chịu đực , dao động từ 6- 18 giờ sau khi kết thúc chịu đực Tuy nhiên, các đặc điểm về chu kỳ động dục của bò cái cũng phụ thuộc vào các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng, phẩm giống, lứa đẻ và các yếu tố ngoại cảnh khác

Ngày đăng: 30/07/2014, 23:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.1. Thời gian sống của tinh trùng và trứng trong đường sinh dục cái ở một số - Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx
Bảng 5.1. Thời gian sống của tinh trùng và trứng trong đường sinh dục cái ở một số (Trang 5)
Hình 5.4. Quá trình động dục và thời điểm dẫn tinh thích hợp ở lợn - Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx
Hình 5.4. Quá trình động dục và thời điểm dẫn tinh thích hợp ở lợn (Trang 9)
Bảng 5.2. Biểu hiện bên ngoài và bên trong của bò cái động dục - Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx
Bảng 5.2. Biểu hiện bên ngoài và bên trong của bò cái động dục (Trang 12)
Bảng 5.3. Thời điểm xuất hiện động dục ở bò cái - Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx
Bảng 5.3. Thời điểm xuất hiện động dục ở bò cái (Trang 12)
Bảng 5.4. Quan hệ giữa số lần quan sát và tỷ lệ bò động dục được phát hiện - Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx
Bảng 5.4. Quan hệ giữa số lần quan sát và tỷ lệ bò động dục được phát hiện (Trang 13)
Bảng 5.6. Thời gian phối giống thích hợp theo quy tắc "Sáng - Chiều” - Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx
Bảng 5.6. Thời gian phối giống thích hợp theo quy tắc "Sáng - Chiều” (Trang 15)
Bảng 5.7. Đặc điểm sinh lý sính sản của dê - Giáo trình-Truyền giống nhân tạo vật nuôi - chương 5 potx
Bảng 5.7. Đặc điểm sinh lý sính sản của dê (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm