1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

86 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác lập cơ sở khoa học phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Trường học Trường Đại Học Khoa Học
Thể loại Luận văn
Thành phố Quảng Trị
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 19,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1.1 Các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tổng hợp đới bờ 7

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu quản lý đới bờ 7

1.1.2 Khái niệm về đới bờ và quản lý tổng hợp đới bờ 8

1.1.3 Quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam – thành công và hạn chế 13

1.2 Các vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế sinh thái 17

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu kinh tế sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam 17

1.2.2 Khái niệm về kinh tế sinh thái 19

1.2.3 Khái niệm về mô hình hệ kinh tế sinh thái 21

1.3 Quan điểm nghiên cứu 22

1.3.1 Quan điểm hệ thống và tổng hợp 22

1.3.2 Quan điểm lịch sử 23

1.3.3 Quan điểm phát triển bền vững 23

1.4 Phương pháp nghiên cứu 24

1.4.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu 24

1.4.2 Phương pháp khảo sát thực địa 25

1.4.3 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS) 25

CHƯƠNG 2 - PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 27

2.1.1 Vị trí địa lý 27

2.1.2 Đặc điểm địa chất, địa hình 27

2.1.3 Đặc điểm khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan 30

2.1.4 Thuỷ văn 33

2.1.5 Thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật 34

2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 38

2.2.1 Dân số và lao động 38

2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Hải An 38

2.2.3 Sức ép dân số tới tài nguyên đất 41

2.2.4 Hiện trạng phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng 45

Trang 2

2.3 Đặc điểm cảnh quan xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 48

NGUYÊN THIÊN NHIÊN KHU VỰC VEN BIỂN HUYỆN HẢI LĂNG 533.1 Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kế của người dân địa

phương 533.1.1 Khái niệm sinh kế 533.1.2 Sinh kế và bảo vệ môi trường 533.1.3 Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân khu vực ven biển 543.2 Xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 673.2.1 Định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường xã Hải An 683.2.2 Các chính sách phát triển và nhu cầu quy hoạch xã Hải An 723.2.3 Quy hoạch lãnh thổ phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ dựa vào cộng đồng xã Hải An, giai đoạn 2009 – 2020 73

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 3

DANH MỤC HÌNH

Hình 1-1 Sơ đồ ranh giới đới bờ [15] 9

Hình 1-2 Mối quan hệ giữa đới bờ và tài nguyên đới bờ [17] 10

Hình 1-3 Tỷ lệ dự án trên nhóm mục tiêu thực hiện [5] 14

Hình 1-4 Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven biển Việt Nam 15

Hình 1-5 Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven biển Việt Nam 16

Hình 1-6 Mười (10) đơn vị tài trợ lớn nhất 17

Hình 1-7 Sơ đồ về xác định phạm vi của Kinh tế sinh thái [23] 20

Hình 1-8 Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường [23] 20

Hình 1-9 Mô hình hệ kinh tế sinh thái [12] 22

Hình 2-1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 28

Hình 2-2 Sơ đồ địa mạo xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 31

Hình 2-3 Biểu đồ nhiệt độ, độ ẩm trung bình các tháng trong năm [13] 32

Hình 2-4 Biểu đồ lượng mưa trung bình các tháng trong năm [13] 32

Hình 2-6 Sơ đồ thổ nhưỡng khu vực xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 37

Hình 2-7 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Hải An năm 2008, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 40

Hình 2-8 Biểu đồ Cơ cấu sử dụng đất xã Hải An năm 2008 41

Hình 2-9 Bản đồ mật độ dân số hữu hiệu huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 45

Hình 2-10 Biểu đồ cơ cấu kinh tế xã Hải An năm 2008 46

Hình 2-11 Bản đồ cảnh quan khu vực xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 50

Hình 2-12 Chú giải bản đồ cảnh quan xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 51

Hình 3-1 Các bước tiến hành đánh giá và dự báo tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu tới sinh kế người dân 55

Hình 3-2 Quy trình xây dựng mô hình số độ cao xã Hải An 60

Hình 3-3 Diện tích đất bị ngập khi mực nước biển dâng 0,5 mét 61

Hình 3-4 Diện tích đất bị ngập khi mực nước biển dâng 01 mét 62

Hình 3-5 Diện tích đất bị ngập khi mực nước biển dâng 2 mét 62

Hình 3-6 Mô hình ngập lụt khu vực xã Hải An khi nước biển dâng lên 0,5 mét; Diện tích ngập là 140 ha 65

Hình 3-7 Mô hình ngập lụt khu vực xã Hải An khi nước biển dâng lên 1 mét; Diện tích ngập là 215 ha 66

Trang 4

Hình 3-8 Mô hình ngập lụt khu vực xã Hải An khi nước biển dâng lên 2 mét; Diện tích

ngập là: 361 ha 67

Hình 3-9 Bản đồ định hướng không gian phát triển xã Hải An 73

Hình 3-10 Bản đồ quy hoạch lãnh thổ phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ dựa vào cộng đồng xã Hải An 76

Hình 3-11 Hiện trạng vị trí trước khi xây dựng mô hình (10/2008) 80

Hình 3-12 Sơ đồ mô hình Rừng - Vườn - Ao - Chuồng 81

Hình 3-13 Hiện trạng mô hình sau khi xây dựng 85

DANH MỤC BẢNG Bảng 1-1 Lịch sử quản lý đới bờ [16] 7

Bảng 2-1 Nhiệt độ trung bình (Ttb), độ ẩm trung bình (rtb) và lượng mưa trung bình (Rtb) các tháng trong năm (2000-2007) 33

Bảng 2-2 Thống kê đơn vị hành chính thuộc huyện Hải Lăng 42

Bảng 2-3 Hệ thống phân loại cảnh quan xã Hải An 49

Bảng 3-1 Các hoạt động sinh kế chính ở xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 56

Bảng 3-2 Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập khi nước biển dâng lên 0,5 mét 63

Bảng 3-3 Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập khi nước biển dâng lên 1 mét 63

Bảng 3-4 Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập khi nước biển dâng lên 2 mét 64

Bảng 3-5 Định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan xã Hải An 70

Bảng 3-6 Hiệu quả kinh tế của mô hình Rừng - Vườn - Ao - Chuồng 84

Trang 5

THUẬT NGỮ VIẾT TẮTQLTHĐB Quản lý tổng hợp đới bờ

DANIDA Quỹ hỗ trợ phát triển quốc tế Đan MạchCIDA Quỹ hỗ trợ phát triển quốc tế CanadaIDRC Trung tâm phát triển tài nguyên quốc tếNETGOV Chính phủ Hà Lan

JICA Quỹ hỗ trợ quốc tế Nhật Bản

SIDA Quỹ hỗ trợ phát triển quốc tế Thụy ĐiểnUNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốcJBIC Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật BảnADB Ngân hàng phát triển Châu Á

CHN Đất làm nhà tạm, lán trại

NTD Đất nghĩa trang, nghĩa địa

NTS Đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt

RPT Đất trồng rừng phòng hộ

SMN Đất sông ngòi, kênh rạch

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có hơn 3000 km bờ biển, và đây là khu vực sinh sống, nguồn sinh

kế cho hàng triệu người dân Vùng ven biển nước ta có dân cư tập trung khá đôngđúc, chiếm khoảng 30% tổng dân số của cả nước Số người trong độ tuổi lao động

có khoảng 10,2 triệu người Dự báo đến năm 2010 dân số vùng ven biển khoảnggần 27 triệu người, trong đó gần 18 triệu người ở độ tuổi lao động Theo ước tính,quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47-48%1 GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế vùng ven biển đạt khoảng 26 – 27%

Dự báo trong tương lai, cùng với việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, sẽ cómức gia tăng nhanh hơn rất nhiều so với hiện nay

Biển là di sản của nhân loại, là kho dự trữ cuối cùng của loài người nóichung và của người dân Việt Nam nói riêng, về lương thực, thực phẩm và nguyên,nhiên liệu Vì vậy, phải cân nhắc đến tính bền vững trong phát triển kinh tế khu vựcbiển và ven biển Khai thác biển đã đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội bước đầuquan trọng, nhưng việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên khu vực biển và ven biểnchưa hiệu quả, thiếu bền vững

Là một xã ven biển miền trung, xã Hải An thuộc huyện Hải Lăng, tỉnhQuảng Trị có đặc điểm ít tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất (đất cátnghèo dinh dưỡng), khí hậu khô nóng khắc nghiệt, nhiều đụn cát, bãi cát rộng, chịutác động mạnh mẽ của hiện tượng sa mạc hoá, và thiếu nước vào mùa khô Lợi thếcủa khu vực nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng là nằm trên hành lang kinh tếđông – tây, cầu nối kinh tế bắc – nam, là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh tế hướng ra Biển Đông và đảm bảo an ninh quốcphòng nước ta Khu vực ven biển Quảng Trị thuận lợi cho đánh bắt nuôi trồng thuỷhải sản, phát triển du lịch, giao lưu kinh tế trong và ngoài nước, góp phần quantrọng trong phát triển kinh tế khu vực ven biển

Người dân xã Hải An, sống chủ yếu vào đánh bắt hải sản và sản xuất nôngnghiệp Nhu cầu đánh bắt cao cùng với gia tăng dân số, làm cho nguồn lợi ven bờcạn kiệt dần, bên cạnh đó quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp chỉ có hạn Tuy vậy,nếu xây dựng các khu bảo tồn biển để bảo vệ tài nguyên biển và giảm bớt đánh bắt

1 Nguồn: Viện nghiên cứu và phát triển Tp Hồ Chí Minh http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?

Trang 7

ven bờ lại có khả năng ảnh hưởng xấu tới sinh kế của người dân ven biển do chúngkhông thể mang lại lợi ích tức thì Vậy làm thế nào để vừa bảo vệ môi trường, vừađảm bảo sinh kế cho người dân, đặc biệt là trước tác động của hiện tượng biến đổikhí hậu toàn cầu đang diễn ra như hiện nay? Để phần nào giải quyết bài toàn này,việc tiến hành nghiên cứu, đánh giá nhằm xây dựng mô hình kinh tế sinh thái phùhợp với mục đích giảm sức ép đến khai thác tài nguyên thiên nhiên và bước đầuđánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu tới sinh kế của người dânđịa phương đã được tiến hành thực hiện Đây cũng chính là nội dung của đề tài

“Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị” đặt ra để nghiên cứu.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác lập cơ sở khoa học xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ sửdụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh QuảngTrị

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

(i) Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ và hệ kinh tế sinhthái;

(ii) Phân tích các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực;

(iii) Bước đầu đánh giá, dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kếcủa người dân địa phương

(iv) Xác lập cơ sở khoa học xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụphát triển bền vững dải ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

(i) Phạm vi không gian lãnh thổ nghiên cứu: khu vực ven biển huyện HảiLăng gồm hai xã là Hải An và Hải Khê; tuy nhiên do địa bàn nghiên cứu rộng, nộidung nghiên cứu bao gồm nhiều vấn đề phức tạp, đề tài tập trung nghiên cứu trênquy mô lãnh thổ là toàn bộ xã Hải An, huyện Hải lăng, tỉnh Quảng Trị

(ii) Phạm vi khoa học: nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích đặc điểm tự nhiên,kinh tế xã hội, từ đó xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với điều kiệnthực tiễn tại xã Hải An

Trang 8

CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tổng hợp đới bờ

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu quản lý đới bờ

Mặc dù việc khai thác nguồn tài nguyên ở đới bờ đã có từ lâu đời, nhưng hầuhết các quốc gia ven biển chỉ mới thực sự quan tâm đến vấn đề quản lý nguồn tàinguyên quý giá này từ sau những năm 1960 Lịch sử phát triển của quản lý đới bờtrải qua bốn giai đoạn, được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1-1 Lịch sử quản lý đới bờ [16]

Giai đoạn 1 Giai đoạn chuẩn bị

Thời gian Cuối những năm 1960

Mục tiêu Tăng cường việc sử dụng tài nguyên

Công tác quản lý Sử dụng mang tính đơn ngành hoặc có sự kết hợp của một vài

ngành nào đó

Phạm vi quản lý Vùng biển nông ven bờ hoặc một dải hẹp phần đất ven biển

Giai đoạn 2 Giai đoạn bắt đầu

Thời gian Vào những năm 1970

Mục tiêu Quản lý việc sử dụng tài nguyên mang tính cục bộ và bảo vệ

môi trường

Công tác quản lý Mang tính đa ngành

Phạm vi quản lý Quản lý theo ranh giới hành chính hoặc theo tiêu chuẩn

Giai đoạn 3 Tiến tới giai đoạn trưởng thành

Thời gian Vào những năm 1980

Mục tiêu Quản lý việc sử dụng đới bờ một cách toàn diện, bảo vệ môi

trường và duy trì các vùng nhạy cảm

Công tác quản lý Mang tính tổng thể

Phạm vi quản lý Về phía đất liền: giới hạn theo các tiêu chuẩn khác nhau Về

phía biển: trùng với phạm vi vùng hoạt động hàng hải thuộc chủ quyền của quốc gia

Giai đoạn 4 Giai đoạn trưởng thành

Thời gian Vào những năm 1990

Mục tiêu Quản lý thống nhất đới bờ, bao gồm cả việc sử dụng và các hệ

sinh thái

Công tác quản lý Quản lý tổng hợp

Phạm vi quản lý Về phía đất liền: giới hạn theo các tiêu chuẩn khác nhau Về

phía biển: trùng với phạm vi vùng hoạt động hàng hải thuộc chủ quyền của quốc gia và vùng đặc quyền kinh tế

Trang 9

Công tác quản lý đới bờ có sự phát triển liên tục cả về mục tiêu, quy môcũng như phạm vi quản lý Quản lý từ mang tính đơn ngành trong một phạm vi hẹpcho đến đa ngành trên phạm vi toàn bộ đới bờ.

Trên thực tế, quan điểm tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB) xuấthiện đầu tiên tại Mỹ vào đầu những năm 1970, và đã đạt được một số những thànhtựu nhất định trong việc quản lý tài nguyên đới bờ Sau đó, một số quốc gia có biển

đã theo cách tiếp cận như vậy để thực hiện hoặc thử nghiệm một số công việc cụ thểliên quan đến công tác quản lý đới bờ Cho đến đầu những năm 1980, QLTHĐB đãđược sử dụng khá rộng rãi, chương trình QLTHĐB không chỉ thực hiện đơn lẻ ởmỗi quốc gia, mà còn tiến hành trên một khu vực rộng hơn như cho cả khốiASEAN, hoặc cho toàn bộ các quốc gia có biển ở khu vực Nam Á, Châu Âu, Caribe

và khu vực các nước Mỹ La Tinh Những bài học rút ra từ thực tiễn của công tácquy hoạch và thực thi dự án liên quan đến đới bờ là những kinh nghiệm quý báu chocác quốc gia có biển nói chung và cho Việt Nam nói riêng

1.1.2 Khái niệm về đới bờ và quản lý tổng hợp đới bờ

a) Đới bờ

Đới bờ (Coastal Zone) là một bộ phận đặc biệt và quan trọng của bề mặt TráiĐất, là nơi tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quyển, thuỷ quyển, khíquyển Đới bờ cũng là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất cao, tính đa dạngsinh học lớn Rất nhiều nhà khoa học thuộc lĩnh vực khác nhau quan tâm đến đới bờtheo hướng cụ thể của mình và có cách nhìn nhận khác nhau, sau đây là một số địnhnghĩa về đới bờ:

Định nghĩa mang tính khái quát nhất và được sử dụng khá rộng rãi là định

nghĩa đới bờ trong mối tương tác giữa môi trường biển và lục địa: “Đới bờ là một

vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trường biển và môi trường lục địa tương tác lẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất”[15] Về mặt lý thuyết, định nghĩa

này thể hiện một cách đầy đủ bản chất của đới bờ, là một không gian cụ thể mà ở đómôi trường tự nhiên mang tính đặc thù riêng bởi sự kết hợp giữa môi trường biển vàmôi trường lục địa, đồng thời mang tính tổng quát cao Đây cũng là định nghĩa đượckhá nhiều công trình về môi trường tự nhiên của đới bờ sử dụng

Chương trình quản lý tài nguyên và môi trường của Malaysia năm 1996 lại

cho rằng “Đới bờ là một hệ sinh thái giàu có về thực vật cũng như các quá trình vật

Trang 10

lý, có động lực mạnh và là môi trường nhạy cảm hơn bất cứ nơi nào trên Trái Đất,

là vùng đất và biển, mở rộng về phía biển 10 km và về phía đất liền cũng 10 km”

Trên quan điểm tổng hợp và hệ thống, Lymarev V.I đã định nghĩa “Đới bờ

(hay còn gọi là đới tương tác hiện tại giữa lục địa và biển) là một dải tiếp giám đất

- biển không rộng lắm có bản chất độc đáo tạo nên một hợp phần lớp vỏ cảnh quan của Trái Đất và là nơi xảy ra mối tác động tương hỗ phức tạp và đối lập giữa thạch quyển, khí quyển, thuỷ quyển và sinh quyển”.

Theo phạm vi không gian của đới bờ Việt nam có thể được xác định là toàn

bộ các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam phù hợp với Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, gồm vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và bao gồm cả một dải đất liền ven biển (mà hiện nay

chưa thể xác định được chiều rộng chính xác của nó) Nội dung của định nghĩa nàytrên thực tế chỉ thuần tuý mang tính pháp lý để khẳng định chủ quyền vùng biển củacác quốc gia có biển

Hình 1-1 Sơ đồ ranh giới đới bờ [15]

Hiện nay, Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể xác định về phạm vi và ranhgiới của đới bờ Trong một số nghiên cứu hiện nay, việc lựa chọn dựa trên đốitượng hành chính cơ bản là các tỉnh có ranh giới biển làm phạm vi quan tâm, khảosát và thu thập số liệu

Khu vực đới bờ là nơi có môi trường sống đa dạng, với nhiều hệ sinh tháiphong phú như cửa sông, cỏ biển, san hô, đầm phá, vũng vịnh, bãi triều v.v Các sảnphẩm tự nhiên của khu vực này trở thành tài nguyên thực sự khi có tác động của conngười Các hành vi này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vùng ven biển hoặc thôngqua mối quan hệ giữa hệ thống ven biển với các hệ thống xung quanh Các mối

Vùng đất cao

Vùng núi

Trang 11

quan hệ này có khi là tích cực và cũng có khi là tiêu cực, vì vậy nó tạo nên các dạngmôi trường khác nhau ở khu vực ven biển

Hình 1-2 Mối quan hệ giữa đới bờ và tài nguyên đới bờ [17]

Do vậy, việc định nghĩa và xác định ranh giới cho đới bờ phục vụ mục đíchquản lý phải hết sức linh hoạt và đa dạng, phụ thuộc vào mục đích sử dụng của nó,với ý nghĩa nhằm quy hoạch và quản lý để đạt được sự phát triển một cách bềnvững nguồn tài nguyên nơi đây

Xác định theo mục đích và nhiệm vụ của các chương trình quản lý: khônggian của đới bờ thường được xác định theo bốn cách thức sau:

(1) Xác định theo một khoảng cách cố định: trong đó yếu tố tự nhiên của đới

bờ được quan tâm, được tính theo một ranh giới nào đó giữa biển và lục địa thường là theo mực triều trung bình, ranh giới về phía biển thường lấy theo phạm vichủ quyền của quốc gia.(Chương trình quản lý tài nguyên và môi trường củaMalaysia năm 1996, Luật biển quốc tế)

-(2) Xác định theo các khoảng cách thay đổi: không gian của đới bờ lấy theocách thức khoảng cách biến đổi được xác định theo một đường ranh giới nào đógiữa lục địa và biển, nhưng khoảng cách đường bao tính từ ranh giới này thay đổiphụ thuộc vào việc lựa chọn theo: đặc điểm tự nhiên; theo đặc điểm sinh học; theocác mốc công trình; hoặc theo ranh giới hành chính

(3) Xác định theo mục đích sử dụng: Các tổ chức quốc tế và quốc gia có diệntích biển lớn thường xác định giới hạn của đới bờ theo những vấn đề quản lý cụ thể(Hội nghị về khai thác và sử dụng tài nguyên đới bờ tháng 6 năm 1972 tại Woods

Trang 12

Hole, Văn bản hướng dẫn đánh giá tác động môi trường của Ngân hàng Thế giới1989).

(4) Xác định theo kiểu lồng ghép: Các nhà quản lý cho rằng, ranh giới củađới bờ được xác định theo mục đích và nhiệm vụ quản lý là phù hợp hơn cả Đới bờ

là nơi có môi trường sống hết sức đa dạng và bao gồm nhiều các hệ sinh thái phongphú khác nhau Các sản phẩm tự nhiên của đới bờ trở thành tài nguyên thực sự khi

nó có sự tác động của con người

Về mặt quản lý, cũng như nhiều nước trên thế giới, Chính phủ Việt Namcũng đã tuyên bố về đới bờ biển bao gồm các vùng biển của mình phù hợp vớiCông ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và các thông lệ quốc tế,nhằm mục đích chính khẳng định về mặt chủ quyền và hoạch định chiến lược, cácchính sách lâu dài của quốc gia cho việc quản lý và khai thác sử dụng tài nguyên

Trong quá trình triển khai các chương trình, dự án của quốc gia, của các bộ,ngành, không gian đới bờ lại được xác định lại một cách cụ thể cho phù hợp vớimục tiêu và nội dung nghiên cứu cũng như khả năng đáp ứng về mặt tài chính và kỹthuật công nghệ Các tiêu chí để xác định đới bờ biển ở nước ta là tài nguyên thiênnhiên, quản lý xã hội và hành chính pháp luật Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có

sự thống nhất nào giữa các bộ ngành về ranh giới của đới bờ biển Việt Nam

Đối với khu vực nghiên cứu xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị,theo kết quả nghiên cứu của đề tài KC.09.08/06-10 [8], ranh giới đới bờ được xácđịnh theo các tiêu chí sau: (i) Xác định theo cách thức "khoảng cách thay đổi”; (ii)Việc xác định không gian nghiên cứu được kế thừa kinh nghiệm của các dự án quản

lý đới bờ đã được thực hiện thành công trên thế giới và ở Việt Nam; (iii) Dễ triểnkhai dự án theo các cấp quản lý; (iv) Khu vực nghiên cứu bao chứa được các tàinguyên nguyên thiên nhiên của dải ven bờ như: bãi biển, bãi triều, cửa sông, đầmphá, thềm cát biển, các đụn cát ven biển ; (v) Tầm quan trọng và mức độ ảnhhưởng của các hoạt động kinh tế và dân sinh trong mối tương tác đất biển (quan tâmđến các huyện không giáp biển, nhưng có ảnh hưởng rõ rệt đến phần giáp ranh/hạlưu) Từ đó, đề tài đã xác định các ranh giới đất liền và ranh giới biển như sau:

- Ranh giới phía đất liền: đề tài xác định các tài nguyên thiên nhiên đới bờ

của khu vực nghiên cứu là các dạng tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các thànhtạo địa hình được hình thành bởi mối tương tác lục địa-biển trong suốt thời gian từ

Đệ Tứ đến nay, đang hiện hữu và ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động phát triểnkinh tế xã hội, đồng thời kết hợp với việc giải quyết khó khăn trong triển khai dự ántheo các cấp quản lý, đề tài đã lựa chọn phương án tích hợp giữa hai đường ranhgiới tự nhiên (theo đường bình độ 25m) với ranh giới hành chính của các xã Với

Trang 13

cách tích hợp như vậy, phạm vi nghiên cứu về phía đất liền của đề tài gồm có 207

xã thuộc đồng bằng ven biển các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huếvới tổng diện tích 5.106 km2 , chiếm 29% tổng diện tích của cả 3 tỉnh (17671 km2)

- Ranh giới phía biển: Ranh giới phía biển được xác định trên cơ sở đường

cơ sở thẳng của chính phủ công bố năm 1982 tính từ nam đảo Cồn Cỏ và theo đềxuất của đề tài KHCN 06-05 năm 1999 đã được Hội đồng Khoa học Nhà nướcthông qua ở phần phía bắc đảo Cồn Cỏ Do đó, phạm vi nghiên cứu về phía biển của

đề tài: (i) nằm trong giới hạn của đới bờ theo luật biển quốc tế (200 hải lý tính từ bờđến hết vùng đặc quyền kinh tế); (ii) thuộc vùng nước nội thuỷ của quốc gia, nơichính phủ Việt Nam thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trênlãnh thổ đất liền, thuận lợi cho công tác quy hoạch và đưa ra các chính sách quản lý;(iii) chủ yếu nằm trong giới hạn từ 0 đến 50m nước, có thể tham khảo và kế thừanhiều tài liệu của các đề tài nghiên cứu trước đó Theo đó, ranh giới về phía biểnđược xác định cơ bản theo đường đẳng sâu 30m nước Riêng khu vực đảo Cồn Cỏ,ranh giới được lấy rộng ra đến đường đẳng sâu 50m (giới hạn độ sâu phân bố hệsinh thái san hô) bao lấy toàn bộ đảo Tổng diện tích nghiên cứu phía biển của đề tài

sẽ là 4.731 km2, bao gồm cả huyện đảo Cồn Cỏ

Như vậy, khu vực nghiên cứu của đề tài KC 09.08/06-10 tính từ đất liền raphía biển gồm có các tiểu vùng: (1) dải địa hình gò đồi ; (2) dải cát nội đồng; (3) dảicồn cát ven biển (bãi ngang); (4) dải cát nằm giữa mực triều thấp trung bình và mựctriều cao trung bình; và (5) vùng biển đảo Trên cơ sở ranh giới đới bờ đã được xácđịnh ở phần trên, toàn bộ khu vực nghiên cứu của đề tài nằm trong phạm vi của tiểuvùng (3) - dải cồn cát ven biển (bãi ngang)

b) Quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB)

Có khá nhiều định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau về QLTHĐB Theo

Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), QLTHĐB được định nghĩa là

một quy trình mềm dẻo đối với công tác quản lý tài nguyên phục vụ cho sự phát triển bền vững ở đới bờ, có nghĩa là các nguồn tài nguyên ở đây phải được duy trì

và bảo vệ cả về khối lượng và chất lượng không chỉ để cung cấp cho những lợi íchkinh tế và môi trường hiện tại mà còn phải cho tương lai

Theo Tổ chức Ngân hàng thế giới (WB), QLTHĐB là một quá trình mang

tính pháp chế, nó bao gồm hệ thống các ban ngành chức năng và hệ thống luật pháp cần thiết để bảo đảm cho tính thống nhất trong các kế hoạch quản lý và phát

Trang 14

triển đới bờ với mục tiêu bảo vệ môi trường (bao gồm cả xã hội) và được thiết lập trên cơ sở đã tính toán đến những ảnh hưởng này.

Có thể thấy, các định nghĩa đều nhấn mạnh bản chất linh hoạt của quá trìnhQLTHĐB và tầm quan trọng của nó đối với sự thống nhất của chính phủ, các banngành và cộng đồng dân cư trong việc khai thác, bảo vệ và phát triển đới bờ, nhằmđạt mục tiêu phát triển bền vững Trong báo cáo của Hội nghị quốc tế GESAMP(năm 1996) về vấn đề định hướng khoa học cho việc bảo vệ môi trường biển [26] đãđịnh nghĩa QLTHĐB như sau

QLTHĐB là một quá trình linh hoạt và liên tục trong đó các cấp chính quyền và người dân, các nhà khoa học và các nhà quản lý, các ban ngành và cả cộng đồng cùng chuẩn bị và thực hiện một kế hoạch thống nhất cho mục tiêu bảo vệ

và phát triển bền vững các hệ sinh thái và tài nguyên đới bờ.

Định nghĩa này nêu một cách đầy đủ về sự vận hành của quá trình quản lý,người và phương thức quản lý và mục tiêu của việc quản lý

1.1.3 Quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam – thành công và hạn chế

Hiện nay đã có rất nhiều dự án, đề tài (sử dụng nguồn vốn trong nước vàngoài nước) về lĩnh vực sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ở khu vực cáctỉnh ven biển Việt Nam Việc đánh giá nội dung, phạm vi và kết quả đạt được củacác dự án này là vô cùng quan trọng Nó cho phép các nghiên cứu sau đó kế thừakết quả đã đạt được cũng như tránh chồng chéo hoặc lặp lại các nội dung đã thựchiện Do vậy, đề tài đã tiến hành thống kê các dự án, đề tài liên quan đến lĩnh vựctài nguyên – môi trường đã thực hiện ở khu vực ven biển

Nội dung, mục tiêu thực hiện trên số dự án

Trong tổng số 294 dự án thống kê được tại 29 tỉnh ven biển Việt Nam từ năm

1995 trở lại đây, các dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ tài nguyên chiếm 22,71% trêntổng số dự án; 40% dự án/đề tài liên quan đến môi trường; 21,69% liên quan đếnquản lý và xã hội; 15,59% dự án/đề tài về phát triển kinh tế

Trang 15

Phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng:

Bảo vệ tài nguyên Môi tr ờng Các Vấn đề xã hội Phát triển kinh tế

Hỡnh 1-3 Tỷ lệ dự ỏn trờn nhúm mục tiờu thực hiện [5]

Trong bốn lĩnh vực nờu trờn, mụi trường là lĩnh vực cú số lượng dự ỏn, đề tàithực hiện cao nhất, chiếm 40% tổng số Như vậy, cú thể nhận thấy mối quan tõmđến vấn đề mụi trường tại cỏc tỉnh ven biển rất lớn Vấn đề mụi trường chủ yếu đềcập đến việc đỏnh giỏ hiện trạng khai thỏc và sử dụng tài nguyờn, từ đú xỏc địnhnguyờn nhõn, xõy dựng mụ hỡnh quản lý và giải phỏp khắc phục Cụ thể trong nuụitrồng thuỷ sản, khai thỏc, sử dụng tài nguyờn rừng, hoạt động khai thỏc than (Vớ dụ:Cỏc vấn đề mụi trường trong hoạt động nuụi trồng thủy sản tại tỉnh Thỏi Bỡnh, xem

dự ỏn số 38, phụ lục 1)

Phạm vi thực hiện

Tất cả cỏc tỉnh ven biển đều cú dự ỏn Tuy nhiờn, số lượng dự ỏn/đề tài phõn

bố khụng đồng đều Miền bắc cú số dự ỏn/đề tài tập trung chủ yếu ở ba tỉnh QuảngNinh, Hải Phũng và Nam Định (chiếm 26.1% tổng số dự ỏn), miền trung cú số dựỏn/đề tài tập trung ở Thừa Thiờn Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam (chiếm 14.2% tổng

số dự ỏn), miền nam tại Bà Rịa Vũng Tàu, thành phố Hồ Chớ Minh và Cà Mau(chiếm 12.2% tổng số dự ỏn), hỡnh 1-4 và 1-5

Trang 16

Thi

ªn HuÕ

Qu¶

ng Nam B×nh §Þnh

Kh¸

nh Hßa

B×nh

ThuËn

TP H

å Ch

Ý Mink

TiÒn

Giang

Trµ V

inhB¹c L

iªu

Kiªn

Giang

Hình 1-4 Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven

biển Việt Nam

Trang 17

Hình 1-5 Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường

của các tỉnh ven biển Việt Nam

Trang 18

Kinh phí thực hiện

Sau khi tổng hợp và phân tích, mười (10) đơn vị tài trợ nhiều nhất cho các dựán/đề tài thuộc khu vực ven biển Việt Nam từ năm 1995 đến nay được thể hiện ởhình 1-6

0 5 10

Hình 1-6 Mười (10) đơn vị tài trợ lớn nhất

Tóm lại, hiện nay nhiều dự án đã và đang được triển khai ở khu vực venbiển Những dự án này không chỉ nhận được đầu tư từ nhà nước mà còn từ các tổchức quốc tế Nhưng qua đây có thể nhận thấy, nguồn ngân sách nhà nước vẫn lànguồn tài trợ cao nhất phục vụ cho hoạt động của các dự án/ đề tài tại khu vực đới

bờ Việt Nam, điều này nói lên sự quan tâm rất lớn của chính phủ đối với khu vựcnày Tuy nhiên, nhà nước Việt Nam vẫn chưa có một chương trình quản lý thốngnhất nào trên khu vực này Điều này dẫn đến nhiều đầu tư chồng chéo, gây xung độttrong sử dụng, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường ở khu vực ven biển

1.2 Các vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế sinh thái

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu kinh tế sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam

Khi kinh tế học trở thành một ngành khoa học vào năm 1776, Adam Smith(1723 - 1790) xuất bản tác phẩm “Quốc phú luận (The Wealth of Nations)” Câu hỏi

về bản chất và nguyên nhân của phát triển kinh tế với luận điểm nổi tiếng về “Bàntay vô hình” trong học thuyết của Smith Ông là một trong nhiều nhà kinh tế thuộcnhóm những nhà kinh tế học cổ điển mà tư tưởng của họ có ảnh hưởng lớn đến kinh

tế học trong một thời gian dài cho đến 25 năm cuối thế kỷ XIX Kinh tế học cổ điển

được biết đến rộng rãi với tên gọi: Kinh tế Chính trị Quan điểm này dựa trên lýluận là quỹ đất nông nghiệp không tăng lên trong khi quy mô dân số ngày lớn Theocác nhà kinh tế học cổ điển, môi trường tạo ra giới hạn cho sự mở rộng hoạt động

Trang 19

kinh tế với chiều hướng trong thời gian dài là lương công nhân sẽ giảm tới mức vừa

đủ để tồn tại Đây như là một lời tiên đoán rằng tình trạng thiếu việc làm sẽ xảy ratrong tương lai Cho đến nay, thực tế cho thấy điều này hoàn toàn sai Nền kinh tếTây Âu từ đầu thế kỷ XIX cho thấy rằng dân số tăng và mức sống cũng được nângcao theo thời gian Sự giải thích thông thường cho sự sai lầm của Malthus là ông đã

bỏ qua sự phát triển của khoa học và công nghệ Malthus và các nhà kinh tế học cổđiển đã cho rằng công nghệ không thay đổi; trong khi trên thực tế khoa học và côngnghệ đã biến đổi rất nhanh cùng với sự ra đời của các cuộc Cách mạng Côngnghiệp Tuy nhiên, nền kinh tế Tây Âu không đem lại hiệu quả với quỹ đất nôngnghiệp không đổi trong suốt thời kỳ này Sự thất bại này là một trong những nguyênnhân dẫn đến sự suy thoái của kinh tế học cổ điển

Bắt đầu từ những năm 1870, kinh tế học bắt đầu phát triển lên từ kinh tế học

cổ điển theo hướng “kinh tế học tân cổ điển” Vào khoảng những năm 1950, khimôi trường tự nhiên đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh

tế học cổ điển và tân cổ điển, phần lớn trong số họ đã bỏ qua mối quan hệ giữa việcquản lý hộ gia đình về mặt tự nhiên và quản lý hộ gia đình về mặt nhân văn Vàothập kỷ 60, nhiều nhà kinh tế học đã phát triển những lý thuyết về tăng trưởng kinh

tế, trong đó vai trò của môi trường tự nhiên hoàn toàn không được đề cập đến.Những lý thuyết này đã mặc nhiên cho rằng sự quản lý kinh tế theo đúng quy tắcđưa ra sẽ làm cho mức sống có thể tăng liên tục vô hạn định Sự theo đuổi tăngtrưởng kinh tế đã trở thành mục tiêu lớn nhất của chính sách phát triển - kinh tế.Một lý do quan trọng lý giải cho điều này là tăng trưởng kinh tế dường như đem lạitriển vọng của nhiều quốc gia giúp giảm bớt đói nghèo Bắt đầu từ những năm đầuthập kỷ 70, kinh tế học tân cổ điển bắt đầu bày tỏ mối quan tâm về môi trường tựnhiên cho tới nay đã phát triển thành hai chuyên ngành quan trọng là kinh tế môitrường và kinh tế tài nguyên thiên nhiên Kinh tế môi trường chủ yếu quan tâm đến

sự lồng ghép kinh tế vào môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường Kinh tế tàinguyên thì chủ yếu quan tâm đến sự khai thác của kinh tế từ môi trường và nhữngvấn đề liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên Rất nhiều chương trình kinh tế

ở các trường đại học đưa ra những khoá chuyên sâu về một hoặc hai chuyên ngànhnày

Kinh tế sinh thái dựa trên quan điểm cho rằng những nghiên cứu đúng quytắc về sinh kế của con người bao gồm nghiên cứu về mối quan hệ giữa con ngườivới môi trường hữu cơ và vô cơ Trong khi các nhà kinh tế học tân cổ điển coi

Trang 20

nghiên cứu về quan hệ tương hỗ giữa kinh tế và môi trường là một phần thêm vàokhông bắt buộc thì đối với kinh tế sinh thái.

Kinh tế sinh thái là một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành tương đối mới Trong

ba thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học nhận thức được rằng hoạt độngkinh tế của con người đã và đang tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên và điềunày gây ra những tác động có hại tới phương diện kinh tế của các thế hệ tương lai.Thành lập năm 1989, Hội Kinh tế sinh thái Quốc tế với sự ủng hộ của nhiều học giả

ở các chuyên ngành khác nhau, cho rằng việc nghiên cứi mối quan hệ tương hỗ giữakinh tế và môi trường và các vấn đề liên quan cần có sự tiếp cận liên ngành baogồm những lĩnh vực nghiên cứu truyền thống của kinh tế học và sinh thái học

Kinh tế sinh thái là một khoa học liên ngành, không đơn giản là nó có liênquan tới những hiện tượng kinh tế và sinh thái hay là nó thu hút sự tham gia của cácchuyên ngành kinh tế học và sinh thái học Khi một vấn đề vượt quá hay nằm ngoàiranh giới của chuyên ngành thì cần có một quan điểm chung bao trùm cả hai chuyênngành Khi nghiên cứu mối tương quan giữa kinh tế và môi trường, quan điểm kinh

tế học truyền thống cần phải thay đổi để trở thành cơ sở hữu hình cho hoạt độngkinh tế Quan điểm sinh thái học truyền thống cần phải nhận ra vai trò của xã hộiloài người trong các hệ sinh thái Sự thay đổi quan điểm này sẽ dẫn đến việc nhậnthức về sự hữu ích của công cụ và phương pháp phân tích lịch sử kết hợp với nhiềukhoa học khác

Có hai quan điểm về vấn đề này: Thứ nhất, những nghiên cứu cụ thể về mốitương tác kinh tế – môi trường liên quan đến nhiều chuyên ngành, trong đó kinh tếsinh thái phải là chuyên ngành đi trước Thứ hai, có nhiều hiện tượng và vấn đềkinh tế hay sinh thái mà chỉ có từng chuyên ngành mới giải quyết được Nếu chúng

ta chỉ ngiên cứu về thị trường chứng khoán thì không cần quan tâm đến sinh thái.Hay như chúng ta nghiên cứu về chuỗi thức ăn thì không cần nghĩ nhiều về kinh tế.Tuy nhiên, khi chúng ta muốn hiểu kinh tế thế giới như một hệ thống phục vụ nhucầu của con người hay hệ sinh thái toàn cầu như là hệ thống phong phú các loài sinhvật thì chúng ta cần nghiên cứu liên ngành để kết nối hai mảng kiến thức chuyênngành này với nhau

1.2.2 Khái niệm về kinh tế sinh thái

Tiền tố “eco” trong từ “ecology” hay “economics” bắt nguồn từ “oikos”trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là hộ gia đình Sinh thái học là khoa học nghiên cứu

về việc quản lý hộ gia đình về mặt tự nhiên và kinh tế học nghiên cứu việc quản lý

Trang 21

hộ gia đình trong các cộng đồng dân cư Sinh thái học có thể được định nghĩa làkhoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường hữu cơ và vô cơ.Kinh tế học nghiên cứu phương thức sinh kế của con người, phương thức làm thoảmãn nhu cầu cơ bản và khát vọng của con người [22].

Kinh tế sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản lý hộgia đình về mặt tự nhiên và nhân văn Nói theo cách khác, nó nghiên cứu về mốitương tác giữa các hệ thống kinh tế và các hệ thống sinh thái Theo định nghĩa này,con người là đối tượng nghiên cứu của cả kinh tế học và sinh thái học Tuy nhiên,loài người được đặc trưng bằng quan hệ xã hội giữa các cá nhân Hoạt động laođộng của con người là điểm hoàn toàn khác biệt so với các động vật khác Ta có thểthấy kinh tế học và sinh thái học là những chuyên ngành có chung một số lĩnh vựcnghiên cứu và phần chung đó là kinh tế sinh thái (hình 1-7)

Hình 1-7 Sơ đồ về xác định phạm vi của Kinh tế sinh thái [23]

Hình 1-8 Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường [23]

Bản chất của mối tương tác giữa các hệ thống kinh tế và sinh thái được mô tảtổng quát trong hình 1-8 Các nền kinh tế trên thế giới được xem như là một hệthống kín và môi trường là toàn bộ môi trường tự nhiên trên Trái đất Các nền kinh

tế nằm trong môi trường và trao đổi vật chất, năng lượng với nó Để phục vụ hoạt

Trang 22

động sinh hoạt và sản xuất của mình, con người đã khai thác nhiều dạng tài nguyênthiên nhiên như dầu mỏ, khoáng sản, gỗ,… từ môi trường Mặt khác, con người cònthải ra môi trường rất nhiều loại chất thải phát sinh trong quá trình sinh sống và sảnxuất như SO2, CO2 Môi trường của con người - Trái đất - bản thân nó cũng có mộtmôi trường bao quanh: đó là vũ trụ rộng lớn Trái đất và vũ trụ chỉ trao đổi nănglượng mà không trao đổi vật chất Hoạt động kinh tế của con người luôn liên quanđến nguồn vật chất và năng lượng trao đổi với môi trường (hình 1-7, và 1-8) Tronglịch sử loài người, mức độ tác động của con người tới chức năng của môi trường làkhông đáng kể Tuy nhiên, trong vòng ba thế kỷ gần đây, mức độ tác động của conngười tới tự nhiên ngày càng gia tăng nhanh chóng Hoạt động kinh tế quy mô toàncầu hiện tại đã ảnh hưởng tới khả năng cung cấp tài nguyên của môi trường

Ở Việt Nam, theo tác giả Phạm Quang Anh (1983): “Hệ kinh tế sinh thái làmột hệ thống cấu trúc và chức năng về mối quan hệ biện chứng và nhất quán giữa

xã hội và tự nhiên trên một đơn vị lãnh thổ nhất định đang diễn ra mối tác động trựctiếp hoặc gián tiếp của con người trên cả ba mặt: khai thác, sử dụng và bảo vệ tiềmnăng tài nguyên trên lãnh thổ đó, tạo nên chu trình vận hành và bù hoàn vật chất -năng lượng - tiền tệ để biến nó thành một bậc thực lực về kinh tế (giàu có, trungbình, nghèo đói) và cùng với một bậc trạng thái môi trường (ô nhiễm khắc nghiệt,bình thường, và trong sạch, dễ chịu) nhằm thỏa mãn cho bản thân mình về vật chất

và nơi sống”[1]

Theo tác giả Đặng Trung Thuận và Trương Quang Hải (1999): “Hệ kinh tếsinh thái là một hệ thống chức năng nằm trong tác động tương hỗ giữa sinh vật vàmôi trường, chịu sự điều khiển của con người để đạt mục đích lâu bền, là hệ thốngvừa đảm bảo chức năng cung cấp (kinh tế), vừa đảm bảo chức năng bảo vệ (sinhthái) và bố trí hợp lý trên lãnh thổ”[12]

Mô hình hệ kinh tế sinh thái là một hệ kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế

và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định, bao gồm các thành phần, cấu trúc,chức năng (đầu vào, đầu ra và các quá trình sản xuất quan hệ với nhau thông quadòng vật chất, năng lượng, thông tin)

Trang 23

T: các yếu tố tự nhiên

K : các yếu tố kinh tế xã hội

M : các yếu tố môi trường

U(t) : vai trò điều khiển của con người tại thời điểm t.

X(t) : sản phẩm kinh tế - xã hội - môi trường tại thời điểm t.

Hình 1-9 Mô hình hệ kinh tế sinh thái [12]

Đầu vào của hệ thống là các nhân tố tự nhiên (bao gồm các hợp phần của lớp

vỏ địa lý được đưa vào mô hình dưới dạng nhiệt, vật chất vô cơ, hữu cơ và cácthông tin di truyền); các nhân tố kinh tế xã hội (bao gồm nguồn lực lao động,phương thức sản xuất và chính sách xã hội) Các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội

có mối quan hệ tương hỗ với nhau, trong đó các yếu tố tự nhiên là nền tảng củanhân tố xã hội và chịu sự chi phối của nhân tố kinh tế

Đầu ra là các sản phẩm kinh tế - xã hội và môi trường Đầu ra của hệ thống,ngoài chức năng là tạo thu nhập cho hộ gia đình và xã hội mà còn thải vào môitrường một lượng lớn chất thải, do đó cần đảm bảo tính bền vững không chỉ về mặtkinh tế - xã hội mà còn đảm bảo tính bền vững về mặt môi trường

1.3 Quan điểm nghiên cứu

Xã Hải An là một xã ven biển điển hình của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị,khu vực này chịu sự tác động tương hỗ của nhiều yếu tố, hợp phần cấu tạo khácnhau, và chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi dòng vật chất năng lượng,thông tin Khi tác động vào một thành phần hay một bộ phận nào đó thì các thànhphần hay bộ phận khác cũng sẽ thay đổi Vì vậy, khi nghiên cứu và khảo sát, cầnxem xét, nhìn nhận các yếu tố một cách đầy đủ, chi tiết trong một hệ thống thốngnhất, qua đó, thấy được mối quan hệ giữa các hợp phần với nhau, cùng với đặc điểmcấu trúc đứng và cấu trúc ngang của khu vực nghiên cứu

Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng trên cơ sở phân hoá cảnhquan, vì vậy phải tiến hành nghiên cứu lãnh thổ một cách toàn diện, đầy đủ về điều

Hệ kinh tế sinh thái

T, K,M

U(t)

X(t)

Trang 24

kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội Đây chính là cơ sở quan trọngtrong công tác quản lý tài nguyên khu vực ven biển.

Các hợp phần tự nhiên tồn tại, phát triển theo quy luật riêng của chúngnhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Việc nghiên cứu tựnhiên trên quan điểm này cần xuất phát từ lịch sử phát sinh, phát triển của chúngtrong mối tương quan giữa các yếu tố với nhau, từ đó, có biện pháp sử dụng hợp lý,cải tạo và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên phù hợp

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển

về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai

xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗiquốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng đểhoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên vàTài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triểncủa nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọngnhững nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo

Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát

triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế

hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điềunày, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phảibắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội -

Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môitrường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đimột thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trongviệc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường

Trang 25

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi làHội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại

các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại

kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sáchliên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào nhữngkhoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 "Phát triển bền vững” có nội hàm rấtrộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng; nó phản ánh sự quan ngại đốivới một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế vội vã, chọn cách phát triển thiển cận,miễn sao tăng thu nhập hiện tại cho nhanh, mà không để ý đến những nguy hại dàilâu của lối phát triển ấy đến môi trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạc hóa ), đếntrữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng mỏ, dầu hỏa, khí đốt) Mộtmẫu hình phát triển bền vững là mỗi địa phương, vùng, quốc gia… không nên thiên

về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia Vấn đề là áp dụng nó như thế nào ở cáccấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Việc xây dựng mô hình kinh tế sinh thái cũng phải tính đến tính bền vữngnày Một mô hình hệ kinh tế sinh thái nào cũng chỉ được coi là bền vững khi sửdụng một cách hợp lý đầu vào (điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội) và phân phốiđúng đắn đầu ra (các sản phẩm kinh tế, xã hội, môi trường)

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Các tài liệu được thu thập thông qua các cơ quan nghiên cứu, các cơ quanchuyên ngành: Khoa Địa lý - Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, Bộ Tàinguyên và Môi trường, Tổng cục Bảo vệ môi trường, Trung tâm Viễn thám quốcgia, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị, UBND huyện Hải Lăng, UBND

xã Hải An Ngoài ra, các tài liệu tham khảo còn được tổng hợp từ kết quả điều trathực địa và điều tra xã hội học tại xã Hải An của sinh viên khoa Địa lý, Trường ĐHKhoa học Tự nhiên các khoá 48 (tháng 4/2007), khoá 49 (tháng 4/2008), khoá 50(tháng 12/2008)

Tài liệu thu thập được bao gồm hệ thống số liệu, bản đồ, các công trìnhnghiên cứu khoa học có liên quan: hệ thống tài liệu về khí hậu, địa chất, địa hình,

Trang 26

thuỷ văn, dân số, lao động, tình hình phát triển kinh tế, số liệu thực địa điều tra kinh

tế hộ gia đình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình…

Trong quá trình thực hiện, đề tài đã tiến hành khảo sát thực địa tại xã Hải An

từ ngày 27/3 đến ngày 3/4/2009 Tuyến khảo sát được thực hiện dọc theo bờ biển(theo hướng bắc - nam) từ thôn Thuận Đầu đến thôn Mỹ Thuỷ và theo hướng đông -tây từ khu vực nội đồng ra biển Trong hai tuyến khảo sát này, các nội dung nghiêncứu bao gồm: khảo sát đặc điểm địa hình, xác định vị trí các dòng chảy mặt tạmthời và thường xuyên Ngoài ra, tại một số điểm khảo sát được lựa chọn, tác giả đãtiến hành đào phẫu diện thổ nhưỡng, đo đạc các thông số vi khí hậu, mô tả các quátrình địa mạo, đặc điểm thuỷ văn, thực vật Đây là cơ sở tự nhiên xây dựng bản đồcảnh quan cũng như xác lập vị trí xây dựng các mô hình hệ kinh tế sinh thái

1.4.3 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)

Hệ Thông tin địa lý (GIS) là một công cụ máy tính để lập bản đồ và phântích các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất Công nghệ GIS kết hợp các thao tác cơ

sở dữ liệu thông thường (như cấu trúc hỏi đáp) và các phép phân tích thống kê, phântích địa lý, trong đó phép phân tích địa lý và hình ảnh được cung cấp duy nhất từcác bản đồ Những khả năng này phân biệt GIS với các hệ thống thông tin khác vàkhiến cho GIS có phạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (phân tíchcác sự kiện, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược)

Hiện nay, những thách thức chính mà chúng ta phải đối mặt - bùng nổ dân

số, ô nhiễm, phá rừng, thiên tai - chiếm một không gian địa lý quan trọng.Khi xác định một công việc kinh doanh mới (như tìm một khu đất tốt cho trồngchuối, hoặc tính toán lộ trình tối ưu cho một chuyến xe khẩn cấp), GIS cho phép tạolập bản đồ, phối hợp thông tin, khái quát các viễn cảnh, giải quyết các vấn đề phứctạp, và phát triển các giải pháp hiệu quả mà trước đây không thực hiện được GIS làmột công cụ được các cá nhân, tổ chức, trường học, chính phủ và các doanh nghiệp

sử dụng nhằm hướng tới các phương thức mới giải quyết vấn đề.Lập bản đồ và phân tích địa lý không phải là kỹ thuật mới, nhưng GIS thực thi cáccông việc này tốt hơn và nhanh hơn các phương pháp thủ công cũ

Nền tảng GIS cho phép gắn liền thông tin địa lý với nội dung thuộc tính của

nó thành những bản đồ chính xác, có thể chồng ghép hoặc tách rời từng phần, lưutrữ dữ liệu thuộc tính mềm dẻo, dễ dàng tổng hợp và truy cập số liệu Trên cơ sở

Trang 27

phân tích và tổng hợp các dữ liệu đã có quản lý trong hệ thống có thể tính toánnhằm đưa ra các kết luận, các quyết định chính xác, kịp thời, đóng vai trò như làmột công cụ hỗ trợ quyết định cho việc lập kế hoạch hoạt động.

Đây là phương pháp rất quan trọng, thể hiện nội dung nghiên cứu của đề tàitrên bản đồ Phần mềm chính được sử dụng là phần mềm ArcGIS để biên tập bản đồnhư các bản đồ thành phần, bản đồ cảnh quan, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản

đồ định hướng sử dụng cảnh quan…

Trang 28

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ

-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

Xã Hải An nằm ở phía đông huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, phía bắc giáphuyện Triệu Phong, phía tây giáp xã Hải Ba, phía nam giáp xã Hải Quế và Hải Khê.Với đường bờ biển kéo dài hơn 6 km, chạy dọc phía đông của xã theo hướng tâybắc - đông nam (hình 2.1), xã Hải An có tiềm năng tự nhiên phát triển ngành khaithác hải sản và du lịch Tuy vậy, do nhu cầu và thời gian khai thác, hiện nay nguồntài nguyên hải sản đang dần cạn kiệt Bên cạnh đó, do dân cư đông đúc, tập trungthành cụm dọc ven biển nên sức ép tới tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyênđất là rất lớn Vì vậy, việc xác định các cơ sở đặc trưng về điều kiện tự nhiên là mộttrong những yếu tố cần thiết để xây dựng các mô hình phát triển kinh tế - xã hội bềnvững

a) Đặc điểm địa chất

Khu vực nghiên cứu bao gồm ba thành tạo địa chất Đệ tứ.

Trầm tích Holocen giữa muộn (QIV2-3): Đây là các thành tạo được hình thànhsau đợt biển tiến Flandrian, đóng vai trò cấu tạo nên bề mặt thềm cao 4 - 6m, cácdải cát, đụn cát cao phân bố từ trung tâm tới phần phía tây nam lãnh thổ nghiên cứu.Với thành phần vật chất đặc trưng bởi các tập cát trắng xám, khi phong hoá chúngthường tạo ra đất cát nghèo dinh dưỡng Những đặc trưng này là cơ sở ban đầu choviệc lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp, từ đó hình thành nên những môhình kinh tế sinh thái

Trầm tích hiện đại ( QIV3 ): Với thành phần vật chất chủ yếu là cát hạt trung

và nhỏ màu vàng nhạt, trầm tích này nằm ở độ cao 0 - 2m, thành tạo nên bãi biểnkhá bằng phẳng có chiều rộng thay đổi từ 40 - 50m đến 100 - 150m, phân bố thànhdải dọc ven bờ, thuận lợi cho việc xây dựng các khu dân cư, trồng trọt, chăn nuôi,khai thác hải sản hoặc xây dựng các bãi biển phục vụ du lịch Thành tạo này có tuổihiện đại khoảng 1000 năm trở lại đây

Trang 30

Ngoài ra, các hoạt động khai thác trên của con người còn chịu ảnh hưởng củatrầm tích biển - gió, thành phần chủ yếu là cát hạt mịn Đây là các thành tạo trẻ đangđược hình thành và hiện đang chịu tác động mạnh của gió tạo nên các cồn cát diđộng chạy song song với đường bờ Những cồn cát di động này đang góp phần làmgiảm dần diện tích đất canh tác trong khu vực nghiên cứu.

b) Đặc điểm địa hình: Địa hình khu vực nghiên cứu được chia thành 2 nhóm

dạng địa hình chính do hoạt động của biển và hoạt động của gió

(i) Nhóm dạng địa hình được thành tạo do hoạt động của biển:

Thềm tích tụ bậc I (cao 4 - 6m): bề mặt thềm (do các bề mặt tích tụ nâng lêntrong Holocen giữa muộn) khá bằng phẳng, hơi nghiêng thoải từ tây sang đông,nằm trên độ cao 4 - 6m, phân bố ở phần trung tâm và phía tây nam của xã, có điềukiện khá phù hợp cho người dân sinh sống, từ đó tiến hành các hoạt động sản xuấtnhư trồng rừng hay trồng trọt, chăn nuôi Đây là địa bàn tương đối phù hợp để xâydựng các công trình cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hình thành các

mô hình kinh tế sinh thái

Bãi biển tích tụ: bề mặt này phân bố thành dải hẹp chạy dọc theo bờ biểnhiện đại khu vực nghiên cứu, rộng khoảng 40 - 50m, cũng là một địa bàn có điềukiện tương đối thuận lợi cho dân cư sinh sống cũng như phát triển các hoạt độngnông nghiệp, lâm nghiệp hay thủ công nghiệp Ngoài ra, với vị trí gần biển và có bãibiển rộng, những hoạt động du lịch và khai thác hải sản có thể phát triển trên địahình này

(ii) Nhóm dạng địa hình được thành tạo do hoạt động của biển - gió: do

chịu tác động mạnh của gió kết hợp với yếu tố về vị trí, độ cao, thành phần vật chấtcấu tạo, yếu tố nhiệt ẩm, nhóm dạng địa hình này hầu như không thuận lợi, hoặcgây khó khăn cho hoạt động sinh sống cũng như sản xuất của người dân địa phương

Đụn cát tích tụ: dạng địa hình này phân bố thành dải song song với đường

bờ, tập trung ở phần trung tâm lãnh thổ nghiên cứu, tiếp giáp ngay với bề mặt đồngbằng, có đặc điểm ít thuận lợi cho việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng hay

cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất (nhất là khi các đụn cát làđụn cát di động) như: nằm ở độ cao từ 5 đến 10m, bề mặt lượn sóng, dưới dạng cácdãy đụn nối tiếp nhau, sườn bất đối xứng (dốc ở phía tây và thoải ở phía đông)

Những dạng địa hình còn lại bao gồm máng trũng thổi mòn và dải cồn cátphôi thai đang di động mang những đặc điểm bất lợi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến

Trang 31

cuộc sống của người dân trong xã Trong đó, máng trũng thổi mòn phân bố rải ráctrên các bề mặt tích tụ cát ở Mỹ Thuỷ và xen giữa các khu dân cư của xã Đặc biệt,dải cồn cát phôi thai di động rất phổ biến trong khu vực nghiên cứu (nhiều nhất ởkhu vực thôn Thuận Đầu) với độ cao trung bình từ 1 đến 2m, thậm chí 3 - 4m, bềrộng thay đổi từ vài mét đến vài chục mét, thành phần vật chất cấu tạo là cát trắngxám, hạt mịn đến trung, phân bố theo hướng song song dọc bờ biển nên khi có tácđộng của gió, chúng di động về phía đất liền gây vùi lấp đồng ruộng, thu hẹp diệntích đất canh tác của người dân nơi đây.

2.1.3 Đặc điểm khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan

Lãnh thổ nghiên cứu thuộc vùng khí hậu Bình - Trị - Thiên của miền khí hậuĐông Trường Sơn, do đó khí hậu khu vực mang tính chuyển tiếp giữa hai miền khíhậu: khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh ở phía bắc và khí hậu nhiệt đớiđiển hình ở phía nam Đặc biệt khu vực này lại là nơi thường xuyên xảy ra nhiềuhiện tượng thời tiết cực đoan

(i) Thuận lợi:

Về chế độ nhiệt: nền nhiệt cao, mùa đông ấm hơn so với các vùng phía bắc

và tương đối lạnh so với các vùng phía nam với một số biểu hiện như: tổng lượngnhiệt năm trên 90000C, số giờ nắng trung bình đạt 1800 - 2000 giờ/năm, nhiệt độtrung bình năm khoảng 25 – 260C (nhiệt độ tháng thấp nhất (I, XII) khoảng 200C,nhiệt độ tháng cao nhất (V-VII) có thể lên tới 350C), nhiệt độ mùa đông thường thấphơn 1 – 20C so với Đà Nẵng, Quảng Nam hoặc 3 – 40C so với Bình Định, KhánhHoà, biên độ nhiệt giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khá cao, khoảng 9 đến

100C Chế độ nhiệt này là một trong những điều kiện tương đối phù hợp cho sự pháttriển của các loại cây nhiệt đới

Về chế độ ẩm: khu vực thuộc loại có nhiều tháng ẩm, quá nửa số tháng trongnăm (7 - 8 tháng) có độ ẩm không khí trung bình lớn hơn 85% Chỉ số ẩm ướt từtháng I đến tháng VII từ 0.5 - 0.7

Về chế độ mưa: chế độ mưa tương đối phong phú, với lượng mưa trung bìnhnăm trên 2400mm/năm, mùa mưa bắt đầu vào tháng VIII, kết thúc vào tháng XIIhoặc tháng I năm sau, lụt tiểu mãn vào tháng V, mùa khô kéo dài từ tháng XII đếncuối tháng VII đầu tháng VIII Đây là nguồn cung cấp nước khá dồi dào (trừ một sốtháng ít mưa hoặc chịu ảnh hưởng của gió Lào) cho sinh vật cũng như các hoạtđộng sống tại đây

Trang 33

Về chế độ gió: hàng năm có 2 mùa gió chính là gió mùa Tây Nam gây khônóng về mùa hạ, gió mùa Đông Bắc gây mưa về mùa đông Ngoài ra, trong khu vựccòn có một số dạng hoàn lưu nhỏ như: gió đất - biển, gió tây khô nóng Nhờ chế độgió và dạng hoàn lưu nhỏ này, khu vực nhận được lượng mưa tương đối lớn trongmùa mưa (chủ yếu do sự hoạt động của gió mùa Đông Bắc), có sự điều hoà lưuthông không khí (nhờ vào hoạt động của gió đất - biển dọc ven biển).

0 5 10 15 20 25 30 35

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

218 323.1

599

424.8

261.9

61 0

100 200 300 400 500 600 700

Trang 34

(ii) Khó khăn:

Bão và lũ lụt: lượng mưa tuy khá phong phú nhưng lại tập trung trong một sốtháng (lượng mưa trung bình từ tháng 9 đến tháng 12 hơn 300mm/tháng với số ngàymưa từ 15 đến 29 ngày/tháng) Điều kiện khí hậu này kết hợp với những đặc điểmthuỷ văn tạo ra tình trạng thường xuyên ngập úng vào mùa mưa ở một số khu vựctrong xã Đặc biệt, khu vực nghiên cứu còn chịu ảnh hưởng của những đợt bão, kèmtheo mưa to, gió lớn (các tháng nhiều bão nhất tập trung từ tháng 9 đế tháng 11 vớitốc độ gió bão ven biển có thể đạt tới 40m/s), gây thiệt hại lớn về người và hoạtđộng sản xuất Vì vậy, khi xây dựng các mô hình kinh tế sinh thái cần kết hợp vớicác biện pháp thủy lợi (xây dựng kênh mương thoát nước) phù hợp nhằm hạn chếthiệt hại do bão lũ gây ra

Hạn hán: Đây là hiện tượng thời tiết cực đoan do gió tây khô nóng, thườngxuất hiện vào mùa hè, chủ yếu vào tháng V, VI, VII, gây ra Loại gió khô nóng nàykhi hoạt động khiến cho nhiệt độ không khí tăng cao, độ ẩm không khí giảm xuốngrất thấp (Khi hoạt động mạnh, vận tốc gió xấp xỉ đạt từ 5 - 10 m/s làm cho nhiệt độkhông khí trong ngày có gió có thể đạt tới 370C - 400C, độ ẩm không khí giảmxuống dưới 45% Khi tốc độ gió tây khô nóng vừa phải, khoảng 2 - 3 m/s, nhiệt độkhông khí có thể là 340C - 350C và độ ẩm thấp dưới 55%) Nền nhiệt cao kết hợpvới gió tây khô nóng khiến cho đất đai trở nên khô cằn, thiếu ẩm nghiêm trọng, thựcvật khó phát triển Đây là một nét đặc trưng đáng lưu ý khi lựa chọn giống cây trồnghoặc vật nuôi có khả năng chịu hạn, tăng khả năng bền vững cho các mô hình kinh

tế sinh thái

Cát di động: đây là một hiện tượng tự nhiên cực đoan do ảnh hưởng của điềukiện khí hậu (gió, mưa) kết hợp điều kiện thổ nhưỡng gây ra Do các dạng dichuyển của cát (cát bay, cát chảy), mặt cát luôn xáo trộn trung bình từ 30 - 35cm,làm cho cây cối bị lấp vùi và không sống được trên cát Đối với hiện tượng này, để

có thể hình thành và phát triển mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp, cần thiết phải

có sự nghiên cứu và lựa chọn hợp lý nhằm hạn chế được hiện tượng cực đoan này,chẳng hạn trồng rừng chống cát di động

Hệ thống nước mặt và nước ngầm là nguồn cung cấp nước cho mọi hoạtđộng sinh sống và sản xuất của người dân Đây là nhân tố tự nhiên then chốt, quyếtđịnh sự tồn tại của các mô hình kinh tế sinh thái hộ gia đình, là cơ sở cho việc xácđịnh vị trí các mô hình phát triển kinh tế xã hội

Trang 35

Hệ thống nước mặt: bao gồm dòng chảy thường xuyên và dòng chảy tạmthời có vai trò rất quan trọng đối với khu vực nghiên cứu Trong đó, dòng chảythường xuyên gồm những con suối bắt nguồn từ các xã Hải Ba, Hải Quế, chảy quatrung tâm vùng cát theo hướng vuông góc với đường bờ biển Các con suối nàythường không sâu (độ sâu khoảng 10 - 20cm), rộng trung bình khoảng 5m, lưulượng nước vào mùa khô đạt 0,18m3 /s Ngoài nhiệm vụ cung cấp nước, những consuối này còn có vai trò tiêu, thoát lũ vào mùa khô.

Hệ thống nước ngầm: dạng nước ngầm trong khu vực nghiên cứu là nước lỗhổng tồn tại trong các trầm tích bở rời Đệ Tứ Lượng nước ngầm khá dồi dào vớimực nước nông Mùa mưa mức nước đó cách mặt cát từ 0,8 - 1,5m Tầng nước đóđược chứa trong tầng cát, thuộc phụ thống Holocen thượng nguồn gốc sông - gió -biển Thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt vừa đến hạt thô, mài mòn và chọn lọctốt, có chiều dày từ 20 - 30m và được ngăn cách bởi tầng trầm tích thuộc phụ thốngHolocen giữa là tầng trầm tích không thấm nước, vì thế mà lượng nước ngầm nhiềunăm của tầng dưới không tràn lên tầng nước ngầm trên cùng Nhìn chung, nướcsạch đạt tiêu chuẩn vệ sinh để sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp

Tuy vậy, yếu tố thuỷ văn này cũng tồn tại những đặc điểm không thuận lợicho cuộc sống cũng như quá trình sản xuất của người dân trong xã Hải An Cụ thể,lượng dòng chảy mặt nhỏ, tập trung lượng lớn vào một số tháng trong năm (từ tháng

IX đến tháng XI), suối có lưu vực nhỏ, ngắn, dốc nên khả năng giữ nước kém, vìvậy, các suối có thể là phương tiện để mang cát về lấp đồng ruộng, nhà cửa vàđường sá, tăng thêm lượng lũ (nhất là các tháng X và XI) và hạn chế phù sa về bónruộng Bên cạnh đó, do có quan hệ thủy lực với dòng nước mặt nên nước ngầm dễ

là đất khô, thiếu ẩm, nghèo chất dinh dưỡng, và đặc biệt rất nghèo mùn Tuy đất cát

có tuổi thành tạo trẻ nhưng lại có xu hướng thoái hoá nhanh do thành phần cơ giớinhẹ, đặc biệt là khả năng giữ nước kém Trong đó, mỗi nhóm đất có đặc điểm riêngnhư:

Trang 36

- Đất cồn cát biển có thành phần cơ giới thịt nhẹ, chủ yếu là cát Đất có phảnứng từ trung tính đến hơi chua Độ phì tự nhiên của đất cồn cát vàng (Cv) thấpnhưng cao hơn đất cồn cát trắng (Cc) Đạm tổng số và các chất dễ tiêu lân, kali đềunghèo, tổng cation trao đổi thấp Hàm lượng mùn trong đất thấp, từ 0,1 - 0,2% trongđất cồn cát trắng tới 0,2 - 0,5% trong đất cồn cát vàng Đất cồn cát trắng có địa hìnhcao hơn so với đất cồn cát vàng, độ dốc thường 3 - 50, chúng có thể di chuyển vàsan lấp những dải đất canh tác nông nghiệp khi mưa to, gió lớn hoặc chịu ảnhhưởng của gió Tây khô nóng.

- Đối với bãi cát biển, nhóm đất này nằm trên địa hình thấp, tương đối bằngphẳng, có độ phì thấp, thành phần cơ giới tuy có nặng hơn đất cồn cát biển nhưng tỷ

lệ sét nhỏ hơn, mùn trong đất nghèo, các chất tổng số như đạm, lân, kali đều thấp

Hiện nay, bãi cát biển chịu ảnh hưởng của triều nên bị mặn ít (Cm) Ngoài ranguyên nhân triều, đất tại khu vực thôn Thuận Đầu cũng bị nhiễm mặn do ảnhhưởng của đầm nuôi tôm của doanh nghiệp Thái Lan

Tuy nhiên, nhóm đất cát này vẫn có thể cải tạo được thành đất trồng trọt nếuđảm bảo được cả ba yếu tố: cát phải ổn định không bị xáo trộn, cát có độ ẩm thíchhợp và cát phải có lượng dinh dưỡng nhất định Đây cũng là một trong những yêucầu quan trọng đặt ra khi xây dựng các mô hình kinh tế sinh thái hộ gia đình trongkhu vực, sao cho phối hợp đồng bộ ba giải pháp sau: biện pháp thủy lợi, biện pháplâm nghiệp và biện pháp nông nghiệp

Trang 38

Lớp phủ thực vật

Thảm thực vật có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chu trình sinh - địa

- hóa Đặc biệt trên các vùng đất cát, thực vật lại càng đóng vai trò quan trọng, giúpgiảm bớt hiện tương cát di động, cải tạo điều kiện vi khí hậu, tính chất cơ lý, tănglượng hữu cơ trong đất, cải tạo đất Khu vực nghiên cứu hiện có các thảm thực vậtchính:

- Thảm thực vật tự nhiên chủ yếu gồm các loài thực vật chịu hạn như: (i)Trảng cây cỏ trên các đụn cát với ưu thế là loài cỏ chông, cao dưới 1,5m; che phủkín (ii) Trảng cỏ và cây bụi chịu ngập thấp dưới 10 - 20cm, với ưu thế là Rau ngổtrâu, Rau dừa nước, Cỏ dùi trống, Mua thường, Hoàng đầu hẹp, Hoàng đầu ít hoa…(ii) Các trảng cỏ chịu hạn (chỗ đất chưa được canh tác) như Bời lời Nha Trang, Cóiquăn láng, Cói quăn lông tơ, Cỏ lông bò, Cỏ may đông cao 0,5 - 1m, che phủ thưa.(iv) Ngoài ra, dọc bãi biển hiện đại còn gặp loài Rau muống biển mọc ở nơi méptriều, về phía bãi triều và cửa lạch Ở cửa lạch nơi nước chảy ra biển và vẫn chịuảnh hưởng của triều cao có quần xã Rau đắng biển cao 5cm (v) Trảng cây bụi thứsinh nhân tác: thảm thực vật này hình thành do hậu quả của quá trình canh tác lâudài và của chiến tranh, gồm một số loài cây chịu được hạn và sống được trên đấtnghèo dinh dưỡng như sim, mua

- Thảm thực vật nhân tác - thảm thực vật nuôi trồng nhân tạo bao gồm: Thảmthực vật nuôi trồng nhân tạo gồm thảm rừng trồng và cây trồng hàng năm Trong

đó, thảm rừng trồng chủ yếu là phi lao, keo và tràm hoa vàng Dải phi lao đượctrồng thành dải ở khu vực đụn cát ven biển và xen kẽ trong các khu dân cư Tràmhoa vàng được trồng tập trung ở phần tây nam của xã, hình thành dải rừng phòng hộrộng 1 - 2km Bên cạnh đó, cây trồng hàng năm chủ yếu là khoai lang, sắn, đậu, lạc,các loại rau màu…

Tóm lại, thảm thực vật ở đây chủ yếu là thảm thực vật trồng nhân tạo, vớicác loại cây phù hợp với đất cát, có tác dụng chắn gió, có tác dụng về kinh tế và cảitạo đất tốt như cây phi lao, tràm hoa vàng, cây dứa dại và cây dứa gai Ngoài ra, câyhàng năm cũng đã được người dân trồng trọt nhưng diện tích canh tác rất nhỏ vàmanh mún, tập trung trong vườn nhà, trong khi đó, trên những diện tích đất tự nhiênchưa được sử dụng chỉ có lớp phủ thực vật tự nhiên nghèo nàn Vì vậy, khi xâydựng các mô hình kinh tế sinh thái, ngoài việc lựa chọn và kết hợp những loại câytrồng hiện tại, còn cần có biện pháp thuỷ lợi phù hợp để cải tạo đất phục vụ sảnxuất, giúp mở rộng diện rộng đất canh tác

Trang 39

2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

Tổng số dân của xã Hải An là 5009 người, với 1.051 hộ gia đình (theo số liệuđiều tra đến tháng 4 năm 2008), được chia thành bốn thôn gồm thôn Thuận Đầu,thôn Tây Tân An, thôn Đông Tân An và thôn Mỹ Thuỷ Tốc độ gia tăng dân sốtrung bình năm là 0,99% Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 60% dân

số, đây là nguồn lao động dồi dào cho việc phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên,lực lượng lao động tại chỗ không nhiều (khoảng 30%) do phần lớn lao động hiệnđang làm việc tại các địa phương khác Bên cạnh đó, đời sống còn khó khăn, trình

độ người lao động chưa cao, phần lớn là lao động nông nghiệp, đánh bắt hải sản gần

bờ Lao động trong các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ nhỏ và không ổn định, chủ yếu

là lao động thủ công nghiệp, dịch vụ du lịch và làm thuê ở các tỉnh khác Tỷ lệ hộnghèo năm 2008 là 21,1%

Mật độ dân số trung bình là 429 người/km2 Tuy nhiên, sự phân bố dân cưkhông đều (tập trung chủ yếu dọc theo đường quốc phòng ven biển), với diện tíchđất canh tác nhỏ, manh mún, đa phần là ở vườn nhà

Tổng diện tích xã Hải An là 1120,53 ha (theo số liệu thống kê của xã tínhđến ngày 1/1/2008) Trong đó, theo mục đích sử dụng, quỹ đất của xã bao gồm cácloại đất sau:

Đất sản xuất nông nghiệp: Diện tích là 173,44ha, chiếm 15,5% tổng diện

tích đất tự nhiên, bình quân trên đầu người vào khoảng 0,035 ha/người Đất nghèodinh dưỡng kết hợp với điều kiện khí hậu khắc nghiệt và tình trạng “cát bay”, “cátnhảy” đã khiến cho hệ số sử dụng đất thấp, năng suất cây trồng thấp Một đặc điểmnữa của loại hình sử dụng đất này trên địa bàn xã là không có đất trồng lúa mà chủyếu là đất trồng các cây hàng năm như khoai lang, sắn, đậu, lạc, một số cây rau màu

và cây gia vị Các nông sản chưa mang tính sản xuất hàng hoá, chủ yếu phục vụchăn nuôi và đáp ứng một phần nhu cầu lương thực thực phẩm của xã

Đất lâm nghiệp: Diện tích loại đất này là 686,15ha, chiếm 61,2% tổng diện

tích đất tự nhiên Rừng phòng hộ phân bố thành hai khu vực: dải rừng hẹp chạy sát

bờ biển với thành phần chủ yếu là phi lao và một diện tích lớn ở phần tây nam trồngtràm hoa vàng và phi lao Diện tích rừng phòng hộ lớn đã làm giảm đáng kể hiệntượng cát di động lấp ruộng, vườn, nhà cửa, đường giao thông

Ngày đăng: 18/03/2013, 14:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1-1. Lịch sử quản lý đới bờ [16] - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
ng 1-1. Lịch sử quản lý đới bờ [16] (Trang 7)
Hình 1-1 . Sơ đồ ranh giới đới bờ [15] - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 1 1 . Sơ đồ ranh giới đới bờ [15] (Trang 9)
Hình 1-2 . Mối quan hệ giữa đới bờ và tài nguyên đới bờ [17] - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 1 2 . Mối quan hệ giữa đới bờ và tài nguyên đới bờ [17] (Trang 10)
Hình 1-3 . Tỷ lệ dự án trên nhóm mục tiêu thực hiện [5] - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 1 3 . Tỷ lệ dự án trên nhóm mục tiêu thực hiện [5] (Trang 14)
Hình 1-4. Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven biển  Việt Nam - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 1 4. Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven biển Việt Nam (Trang 15)
Hình 1-5. Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường  của các tỉnh ven biển Việt Nam - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 1 5. Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven biển Việt Nam (Trang 16)
Hình 1-6. Mười (10) đơn vị tài trợ lớn nhất - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 1 6. Mười (10) đơn vị tài trợ lớn nhất (Trang 17)
Hình 1-7. Sơ đồ về xác định phạm vi của Kinh tế sinh thái. [23] - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 1 7. Sơ đồ về xác định phạm vi của Kinh tế sinh thái. [23] (Trang 20)
Hình 2-11. Sơ đồ địa mạo xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 2 11. Sơ đồ địa mạo xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (Trang 31)
Hình 2-16. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Hải An năm 2008, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 2 16. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Hải An năm 2008, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (Trang 39)
Bảng  2-2. Thống kê đơn vị hành chính thuộc huyện Hải Lăng - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
ng 2-2. Thống kê đơn vị hành chính thuộc huyện Hải Lăng (Trang 41)
Bảng  2-3. Hệ thống phân loại cảnh quan xã Hải An - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
ng 2-3. Hệ thống phân loại cảnh quan xã Hải An (Trang 48)
Hình 2-20. Bản đồ cảnh quan khu vực xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hình 2 20. Bản đồ cảnh quan khu vực xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (Trang 49)
Bảng  3-4. Các hoạt động sinh kế chính ở xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh  Quảng Trị - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
ng 3-4. Các hoạt động sinh kế chính ở xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (Trang 55)
Bảng  3-5. Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập  khi nước biển dâng lên 0,5 mét - Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
ng 3-5. Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập khi nước biển dâng lên 0,5 mét (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w