NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC VỀ CÁC ẤN PHẨM, ĐÀI PHÁT THANH VÀ VÔ TUYẾN TRUYỀN HINH Ở CÁC NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN
Trang 1E.G SMIRNOVA
NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC VỀ CÁC ẤN PHẨM, ĐÀI PHÁT THANH VÀ VÔ TUYẾN TRUYỀN HINH Ở CÁC NƯỚC TƯ BẢN
PHÁT TRIỂN
NXB ĐHQG MOSCOW, 1984.
Biên dịch: Nguyễn Quý Thanh
Trang 2Chơng 1: Xã hội học thực nghiệm trong xã hội t bản
I Sự xuất hiện và các giai doạn phát triển chính của xã hội học thực
nghiệm t bản
"Xã hội học (XHH) t bản là một hệ thống tổ chức xã hội phức tạp của nhậnthức, hệ thống này có nhiệm tụ chứng minh "một cách khoa học" quyền đợc tồn tại củachủ nghĩa t bản hiện đại Nó theo đuổi mục đích phân hớng t tởng của quần chúng,soạn thảo ý thức con ngời theo hớng có lợi cho giai cấp thống trị Những thành phầncủa hệ thống này là các thuyết XHH, các thuyết có các dạng, mức độ và các hớng khácnhau Trong hệ thống này bao gồm cả những lý thuyết mang tính triết học - xã hội,nhằm giải thích bản chất của cuộc sống xã hội về tổng thể, cả những thuyết của bảnthân XHH, giải thích những hiện thợng khác nhau, các mặt, quá trình cuộc sống xã hộicác lý thuyết ở mức độ trung bình và cả những nghiên cứu thực nghiệm và ứng dụngcủa những hiện thực xã hội cụ thể một trong những nhà XHH Xô Viết lớn nhất làG.V.Osipop đã viết nh vậy
Việc tính lịch sử của XHH giống nh một hình thức t duy mới về các quá trình
XH đợc thống nhất tính từ nửa đầu của thế kỷ XIX, cụ thể hơn là từ khi xuất hiện 6 tậpgiáo trình triết học thực chứng 1830 - 1842) của nhà triết học Pháp Auguste Comte mà
ở đó lần đầu tiên những luận điểm của chủ nghĩa thực chứng đợc trình bày Nó đã dùnglàm cơ sở cho những quan điểm XHH sau này của nền KHXH t bản
Các ngành khoa học tự nhiên vào thế kỷ XIX đã có những phát minh kỳ diệu,phản bác lại nhiều quan điểm triết học trớc đó về thế giới, chính điều đó đã dẫn nhiềunhà khoa học tự nhiên đến những quan điểm duy tâm Điều này đã tạo ra hai đặc điểmquan trọng nhất của XHH Comte, mà đã có ảnh hởng đến tất cả nền XHH t bản sau đó.Thứ nhất - đó là sự tách các quá trình xã hội khỏi các quá trình kinh tế; Thứ hai - đó làchủ nghĩa vật lý, tức là xu hớng xây dựng các thuật ngữ và các nghiên cứu theo mẫucủa các khoa học tự nhiên, trớc hết là vật lý
Cùng với việc biến đổi trạng thái kinh tế và xã hội của xã hội t bản và nửa sauthế kỷ XIX, đồng thời thay đổi luôn cả t duy xã hội và triết học của nó Quan điểm củaComte bị phê phán từ mọi phía, mọi lập trờng và có nhiều trờng phái XHH xuất hiệnnhằm thay thế chủ nghĩa thực chứng (Trong số đó có các thuyết nh sinh hữu cơ, Địa lý,cơ học, nhân chủng v.v ) Tuy nhiên các thuyết này không để lại một dấu ấn đặc biệtnào trong XHH
Đầu thế kỷ XX ở nền kinh tế cũng nh ở cấu trúc xã hội của các nớc t bản lớnnhất đã có những thay đổi quan trọng CNTB chuyển thành CNĐQ Trong xã hội xuấthiện các tổ hợp công nghiệp độc quyền lớn, hình thành sản xuất ở rộng hàng loạt, xuấthiện nhiều tổ chức quần chúng và các báo chí đại chúng đã đợc nảy sinh Đối với giaicấp cầm quyền nhiệm vụ cấp bách là việc lãnh đạo xã hội đợc coi là tập hợp vô vàn cácnhóm, cấu trúc, tổ chức và sự hoà hợp của chúng Để đạt đợc mục đích này phải cầndến các dự kiến thông số XHH
ở giải đoạn này các nhà XHH t bản đã hoàn toàn từ bỏ việc xem xét xã hội mộtcách tổng thể, mà chuyển sang nghiên cứu và mu tả những nhóm xã hội riêng biệt, cấu
Trang 3trúc và hoạt động của chúng Điều này đợc coi là bớc chuyển của XHH t bản từ mức độTriết học - lý thuyết xuống mức thực nghiệm - cụ thể.
Những đặc điểm chính của XHH thực nghiệm.
Vào những năm 20 - 30 thế kỷ XX số lợng các nghiên cứu thực nghiệm tăngmạnh Ngành khoa học 9KH0 mới đợc hình thành và có tổ chức Giới KH hàn lâmcũng chú ý tới những trào lu mới này hai trờng ĐHTHChicagoo và Colombia đã trởthành những trung tâm nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên ở Mỹ Đồng thời cũng xuấthiện vô số các trung tâm, tổ chức, viện t nhân (hay, độc lập ) tiến hành các nghiên cứu
cụ thể trong những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống xã hội (XH) Dần dần sự chuyênmôn hoá của các nhà nghiên cứu của các trung tâm đợc hình thành - XHH tội phạm,XHH các dân tộc thiểu số, XHH giáo dục, XHH hôn nhân và gia đình Việc nghiêncứu các phơng pháp, thủ tục nghiên cứu đợc đặc biệt chú ý XHH thực nghiệm đợcphát triển tích cực nhất ở Mỹ Sự thống trị của chủ nghĩa thực dụng ở Mỹ vốn là cơ sởhoạt động của tất cả các lĩnh vực của cuộc sống trong đó cả XHH, đã hỗ trợ cho sựphát triển của XHH thực nghiệm XHH thực nghiệm dờng nh đáp ứng tất cả các yêucầu của thời đại Nó đã sử dụng các phơng pháp của KH tự nhiên, trớc hết là mônthống kê và chính nhờ đó nó đã giành về mình một phần của sự phổ biến và lòng tin
mà các ngành KH tự nhiên đang có ( chú thích thêm: Những ví dụ đầu tiên về việc sửdụng thống kê đối với ngời có thể coi những thống kê dân số cổ đại, đợc tiến hành kháthờng xuyên ở Ai Cập và La Mã cổ đại Sau đó việc này không đợc làm nữa Kinh cựu
ớc dã coi bất kể việc đếm (thống kê ) ngời nào đều ngợc ý chúa Cho đến thế kỷ XVIImới xuất hiện công bố đầu tiên, mà trong đó đã đánh dấu quy luật "lạ lùng" ( sau đóngời ta gọi là quy luật thống kê ) về số ngời chết và sinh ra trong một năm Sau đó quyluật "lạ lùng" này đợc tìm thấy cả ở số tự tự, những sự kiện dờng nh hoàn toàn ngẫunhiên và không thể dự đoán đợc )
Tuy nhiên, không phủ nhận những thành tựu rõ ràng của XHH cụ thể trong việcphát triển phơng pháp và kỹ thuật nghiên cứu, cần thiết tính đến rằng, việc ứng dụngcác phơng pháp số lợng, kể cả trong các KHXH là đặc điểm của KH thế kỷ nói chung,
mà không phải của riêng XHH t bản K Mark đã có nói rằng, việc ứng dụng toán họcvào các nghiên cứu KH cho khả năng đạt đợc những hoàn thiện trong khoa học
XHH thực nghiệm từ khi xuất hiện, ngay lập tức chiếm vị trí đối địch với họcthuyết Marx "Tách biệt XHH Mác - xít với các nghiên cứu cụ thể, quy cho nó tất cảnhững thói xấu của những sự đầu cơ XHH t bản - G.M Andreeva, một trong nhữngnhà XHH thực nghiệm lớn nhất của Liên Xô đã nhận xét nh vậy, và đó không phải làphần cuối cùng trong chiến lợc phản ứng của đế quốc trong lĩnh vực XHH"
Cùng với điều đó XHH thực nghiệm t bản cố gắng làm rõ thêm một mặt nữa của
nó dờng nh là tính khách quan, việc không gắn với bất kể t tởng nào ( khác với tất cảcác học thuyết trớc đó nói chung và chủ nghĩa Mác-xít nói riêng ) Điều đó có chủnghĩa là nó có tính KH và chân lý Để chứng minh cho tính vô t khoa học của mìnhXHH thực nghiệm t sản thờng đa ra dẫn chứng là ngay từ đầu nó đã nghiên cứu nhữngmặt xấu của xã hội: tội phạm, đói nghèo, các hành vi sai lệch
Tuy nhiên ở đây có sự đánh tráo tính khách quan bằng chủ nghĩa khách quan,
điều mà đặc trng cho KH t sản về X?H nói chung Lúc sinh thời V.I.Leenin đã đa ra
Trang 4đặc trng chính xác cho hiện tợng này Trong tác phẩm "Bản chất kinh tế của chủ nghĩadân tuý " ông viết "ngời theo chủ nghĩa khách quan khi chứng minh sự cần thiết củahàng loạt các sự kiện thờng mạo hiểm lệch sang quan điểm biện hộ cho những sự kiệnnày Ngời theo chủ nghĩa khách quan nói về những khuynh hớng lịch sử không thể vợtqua; còn ngời theo chủ nghĩa duy vật nói về giai cấp mà bị quy didnhj bởi trật tự kinh
tế đơng thời" (V.I.Lê nin toàn tập, tập 1, tr 418, tiếng Nga)
Đặc điểm này của XHH thực nghiệm có giá trị t tởng và thực tế Một mặt chủnghĩa khách quan tạo ra vẻ khoa học và vô t, dẫn đến sự sai lầm không chỉ d luận, mà
đôi khi chính cả những nhà bác học t bản, bắt họ phục vụ những lợi ích của giai cấpthống trị khi họ nghĩ rằng họ cống hiến cho khoa học Mặt khác, sự phân tách lý thuyết
và thực tế không hề cản trở ở một phạm vi nào dó, việc thu nhận những kết quả cụ thểtrong nghiên cứu các vấn đề riêng rẽ và trong sự hình thành các chỉ dẫn đối với nhữngmặt xấu của đời sống xã hội, điều mà hoàn toàn thống nhất với chức năng mà giai cấplãnh đạo đã giao cho XHH thực nghiệm
ở đây một lần nữa cần ghi nhận rằng việc đa sự quản lý nh một thành phần vàotri thức khoa học không thể nào coi là đặc điểm riêng biệt của XHH thực nghiệm Đó
là đặc điểm, đặc trng của KH hiện đại nói chung, đợc gắn trớc hết với cách mạngKHKT, mà đã xác định trớc mối quan hệ mới với tri thức khoa học "không những đốivới công cụ mu tả và giải thích hiện tợng xung quanh, mà còn nh đối với một trongnhững công cụ biến đổi "thế giới khách quan" Tuy nhiên XHH t bản mà trớc hết làXHH Mỹ, đợc trang bị khía cạnh thực dụng, thực tế hẹp nhất của đặc điểm này của KHhiện đại
Thực tế công việc cụ thể đã nhanh chóng chỉ ra chủ nghĩa khách quan và chứcnăng quản lý xã hội đợc biểu lệ trong những nghiên cứu thực nghiệm nh thế nào Thứnhất, rõ ràng, rằng nhuwgnx mặt xấu của XH t bản XHH mới đợc xem xét tách rờikhỏi hệ thống tổng thể, coi đó là những sai lệch, riêng rẽ Mặt khác, mục đích của cácnghiên cứu cụ thể là việc làm rõ, và theo khả năng, làm bình thờng tất cả những hành
vi sai lệch, để giữ gìn những nền tảng, chuẩn mực của XH hiện hành, tức là hình thànhtính chất cải cách của XHH thực nghiệm
Các giai đoạn phát triển chính của XHH thực nghiệm:
* Giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới đợc đặc trng bởi sự tích luỹ mạnh
các số liệu cụ thể ở những lĩnh vực khác nhau của XHH
Lần đầu tiên trong phạm vi rộng lớn KHXH, sử dụng các phơng pháp thống kêvới những bằng chứng trong tay, xem xét những hiện tợng khác nhau của đời sống XH.Nhiều chuyên luận theo những vấn đề riêng biết đợc viết ra Những chuyên luận nổitiếng nhất, nh các nghiên cứu "Nông dân Ba Lan ở Châu Âu và Mỹ" của Thomas vàZnaniecki "Thành phố miền trung" của vợ chồng Lind, đã làm nảy sinh một loạinghiên cứu mới Một số trung tâm và chuyên gia khoa học dã cống hiến sức mạnh choviệc tích luỹ kinh nghiệm trong lĩnh vực này sẽ giúp sự hoàn thiện mức độ KH của quátrình tiến hành điều tra cụ thể
Tính cụ thể không đặc thù cho triết học truyền thống, của các tác phẩm thựcnghiệm về XHH, tính trực quan của những kết quả nghiên cứu đã tạo ra những kết quảnghiên cứu đã tạo ra những tín đồ của XHH mới và đã quy định sự tách biệt hoàn toàn
Trang 5của chúng với những học thuyết về XHH đại cơng từ đó trở đi XHH Mỹ ngời ta gọihoàn toàn không phải các cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu vấn đề này hay kháchoặc lâpj luận hoạt động nghiên cứu, mà gọi tổ hợp các phơng tiện và phơng pháp kỹthuật cho phép tiến hành các điều tra cụ thể là phơng pháp luận Đối tợng của các cuộcnghiên cứu cụ thể này là những mặt, khía cạnh riêng biệt của cuộc sống XH Lý thuyếtcủa XHH thực nghiệm, khác với thực tế, đợc hình thành đầu tiên ở Châu Âu Nh vậy,tính tất yếu của bớc chuyển đổi XHH từ mức độ lý thuyết sang mức độ thực nghiệm đ-
ợc nhà bác học Đức V.Diltei lập luận chứng minh Những nguyên tắc phơng pháp luậncủa những nghiên cứu thực nghiệm đợc trình bày cụ thể trong các tác phẩm của "nhómviên", và ví dụ, ở trong cuốn sách của Neurath O " XHH thực nghiệm" tại dó tác giả dãkêu gọi không sử dụng những phạm trù mà không đánh giá bằng thực nghiệm đợc Cácthuyết tâm lý học, ví dụ, của nhà XHH Pháp G.Tarde và của các nhà tâm thần học ng ời
áo S Freud có ảnh hởng to lớn nhất đến các điều tra, nghiên cứu cụ thể của những thậpniên đầu thế kỷ XX, trớc hết là tại Mỹ
Nh vậy, giai đoạn đầu của sự phát triển đã có kết quả đối với XHH thực nghiệmdới quan điểm không chỉ thu thập kinh nghiệm tiến hành điều tra cụ thể và việc tạo ranhững phơng pháp, mà còn trong sự tích luỹ không lớn những con số liệu thực tế và kếtquả nghiên cứu những vấn đề riêng biệt
Tuy nhiên ngay vào đầu những năm 40, ngời ta đã bắt đầu ý thức đợc rằngnhững nguyên tắc của XHH thực nghiệm, không cho phép nó vơn lên mức độ tổng hợp,nhìn nhận tổng quan về XH tổng thể, ngăn cản sự phát triển tiếp theo của KH và trênthực tế dẫn đến việc chỉ tạo ra những chỉ báo hẹp, riêng rẽ, điều không thể đáp ứng nhucầu bây giờ của chính những nhà nghiên cứu nghiêm túc Những quan trọng lớn hơn nócũng không đáp ứng đợc nhu cầu của giới lãnh đạo, mà họ huy vọng rằng sẽ thấy trongXHH một ngời giúp việc trong thành trong điều hành XH Kết quả là trong những nămnày đã nảy sinh thái độ phê phán với tình trạng của XHH thực nghiệm Trong giới cácnhà bác học đã dấy lên sự chống đối việc tuyệt đối hoá các phơng pháp định lợng của
điều tra và bắt đầu tìm lối thoát ra khỏi tình trạng ngõ cụt
Cuối những năm 40 đầu những năm 50: Giai doạn này đợc đặc trng bởi motoj
làn sóng chú ý mới đến các vấn đề lý thuyết và phơng pháp luận Trên diễn đàn KHxuất hiện hệ mới đợc coi là "thế hệ hậu kinh điển" của các nhà XHH t bản Một làn nữacác t tởng của các nhà kinh điển thuộc trờng phái Châu Âu thế kỷ XIX nh EDurkheim,M Weber,F Tonnies lại đợc lấy ra một cách thích thú, và dới dạng đã đợcsoạn thảo lại
Về khách quan nhu cầu trong việc tìm kiếm các lý thuyết ( các thế hệ XHH sauchiến tranh đã tiến đến điều này đợc giải thích bằng một loạt các nguyên nhân - Tínhkhông có triển vọng của việc tích luỹ các số liệu thực tế thiếu sự t duy lý thuyết vềchungs, sự phức tạp hoá hoàn cảnh xã hội trong lòng các nớc t bản đòi hỏi một phơngpháp rộng lớn hơn để giải quyết nhuững vấn đề cấu trúc xã hội, sự cần thiết tiến hànhcuộc đấu tranh chống lại hệ thống chủ nghĩa Marx Về chủ quan đó nh là sự phản đốilại xu hớng tâm lý mà đã không khẳng định đợc trong những nghiên cứu sau chiếntranh và dẫn đến việc hớng tới chủ nghĩa tự nhiên và cơ học Bắt đầu xuất hiện mongmuốn hớng XHH đến các nghiên cứu vĩ mô, xem xét những cấu trúc xã hội lớn hơn vàphức tạp hơn, ngợc lại với "các điều tra vi mô" chỉ nghiên cứu các vấn đề riêng rẽ
Trang 6Trong thời gian này chủ nghĩa cơ cấu chức năng có một sự phổ biến đặc biệt.Phơng pháp mới này đợc một số nhà bác học khởi xớng, trong số đó cần phải kể đếnT.Parsons và R.Merton Họ đã đề nghị xem xét XH giống nh một thể thống nhất, ở đónhững hoạt động bình thờng của các phần bảo đảm tính ổn định hoạt động sống củatoàn thể cơ thể "Hệ thống", "cáu trúc", "cân bằng" - những thuật ngữ này thu đợcnhững tiếng vang đặc biệt nhờ những thành công của các ngành điều khiển và tin học
đang phát triển trong những năm đó Những môn đồ của xu hớng mới tìm những mốiliên hệ trực tiếp giữa XH và sinh học, so sánh cơ thể XH trớc hết với cơ thể sinh học
Việc hớng tới thực tế nghiên cứu cụ thể rất quan trọng đối với sự phân tích cấutrúc, lòng mong muốn đa ra cho chúng một cơ sở lý thuyết, gắn hai mặt của khoa học,
lý thuyết và thực tế với nhau Chính XHH thực nghiệm lúc đầu đã tách biệt hai mặt này
ra Trong chuyên luận nổi tiếng "Lý thuyết XH và Cấu trúc XH" R Merton đã trìnhbày những quan điểm của mình về sự cần thiết phải tạo ra các thuyết "trung bình", bởivì XHH còn rất trẻ, cha thể đủ sức giải quyết ngay những vấn đề hoạt động của toàn bộcơ thể XH, hơn nữa các thuyết trung bình thờng ở gần các điều tra cụ thể và có thể làmcơ sở cho chúng và ddồng thời kiểm tra, chỉnh lý lại những lý thuyết đối với chúng.Các thuyết trung bình này dờng nh liên kết các nhà lý luận, mà coi các thuyết của mình
có giá trị và không thể phủ định và các nhà thực tiễn, mà có những kiến thức thực tế vềcác hiện tợng xã hội nhng họ không thể giải thích đợc Trong quyển sách này Mertonviết "thuật ngữ thuyết XHH đợc coi nh là các quan điểm đợc gắn với nhau một cáchlozic, những lý thuyết này thờng bị hạn chế và nhỏ bé theo phạm vi của mình hơn làrộng lớn và bao trùm Tôi thử tập trung sự chú ý đến điều mà có thể gọi là "các thuyếttrung bình" Các thuyết trung gian giữa những giả thuyết không lớn lắm chứa đầy trongcác nghiên cứu hàng ngày, với những thuyết đầy đủ, mà bao gồm cả sơ đồ lý luận, từ
đó nảy sinh ra vô số những quy luật mà theo dõi đợc bằng thực nghiệm, của hành vi xãhội [Merton R Social theory and Socral Structure N.X 1965 P5]
Tuy nhiên không phải sự đầy rẫy các số liệu thực nghiệm mà hay đợc chú ý,cũng không phải những sự tìm tòi các lý thuyết bao trùm hay hẹp có thể giúp đỡ cácnhà XHH Mỹ và những ngời tiếp nối họ ở các nớc khác tạo ra cơ sở phơng pháp luận
Mà trên đó XHH hiện đại có thể đứng vững XHH Phơng tây không thể ra khỏi vòngluẩn quẩn, khi họ đối địch với học thuyết Mác về XH ngay từ đầu Việc thiếu một ph-
ơng pháp luận chung làm giảm giá trị những thành công riêng lẻ, nó không đa ra khảnăng so sánh các kết quả riêng biệt và chính vì vậy nó làm mất triển vọng cuả cácnghiên cứu thực nghiệm Mặt khác, việc không thể có những vị trí hiện thực trong sự
đánh giá quy luật phát triển của lịch sử không cho phép các nhà XHH t bản đi đến việctạo ra một học thuyết chung thuyết phục
Chính các nhà XHH Mỹ cũng phê phán "chủ nghĩa thực dụng quá mức" trongcác điều tra của họ Các nhà XHH Tây Đức cũng có thái độ phê phán hiện trạng củaXHH Mỹ, tuy rằng học vẫn vay mợn sau chiến tranh những phơng pháp và kỹ thuật
điều tra của các đồng nghiệp bên kia đại dơng Nhng những năm gần đây họ trở nênchú ý hơn đến các di sản lý luận lý thuyết của triết học Đức, và tạo ra những hớngnghiên cứu XHH độc lập ví dụ nh trờng phái Franphurt, hội nghị toàn thế giới của cácnhà XHH lần thứ IV họp tại Milan và Trest năm 1959, đã diễn ra dới các khẩu hiệu kêugọi gắn liền lý thuyết và thuyết thực tiễn của các điều tra XHH Tại đại hội này nhà
Trang 7XHH nổi tiếng của Mỹ P Lazarsfeld đã chỉ trích XHH thực nghiệm rằng trong lúc các
sự kiện XH diễn ra sôi động, có nhiều vấn đề nan giải, "các tạp chí XHH Mỹ đầy rẫynhững điều tra nhỏ và không đáng kể về những điều nh sinh viên nữ và nam của các tr-ờng họ hẹn nhau nh thế nào, hoặc là sự phổ biến của các chơng trình radio
"[Transactions of the fourth world congress of Sociology Vol 11 L 1959, P 227]
Những năm 60: Đánh dấu sự lụi bại của trờng phái chức năng và sự quay trở lạivới những trào lu duy tâm chủ quan Một mặt chủ nghĩa chức năng đã không thể trởthành nền tảng để tổng hợp và giải thích các số liệu thực nghiệm mặt khác các sự kiệnchính trị XH sôi nổi của những năm đó đã chứng minh tính thiếu cơ sở của học thuyết
đợc xây dựng trên nguyên tắc hoạt động hài hoà của XH đơng thời tại Mỹ
Còn tính cần thiết của lý thuyết đợc chế định không những chỉ những nhu cầucủa KH "cần ghi nhận rằng - M X Ma-ca-rốp viết, những năm 60 hơn bao giờ hết vaitrò của KHXH trong đó có XHH tăng lên mạnh mẽ Chỉ cần nói rằng, trong mời năm
đó ngân sách liên bang trực tiếp cho các KHXH tăng lên gần gấp ba lần Các nhà XHHbây giờ làm việc không phải nh những yếu tố vố vấn hay t vấn ở các tổ chức nhà nớchay các hãng t nhân, họ càng ngày càng đợc lôi kéo vào việc soạn thảo các đờng lốichính phủ" Hiển nhiên rằng trong tình trạng nh vậy những số liệu thực nghiệm phântán mà khó có thể so sánh với nhau, không đa ra đợc một bức tranh tổng thể và triểnvọng, do vậy không thể sử dụng đợc trong lĩnh vực chính trị Tức là ngay cả trong xu h-ớng tạo ra các thuyết XHH t bản vẫn trung thành với nguyên tắc điều hành và nguyêntắc nghề nghiệp xã hội của mình
Trong những năm này cũng nảy sinh một hớng mới đợc gọi là "sự xây dựng lýthuyết"consstruction] nó không đồng nhất về thành phần nó đặt cho minh mục đíchsoạn thảo những cơ sở cấu tạo của học thuyết XHH và nó hoàn toàn mang tính lý luận,tức là mặt nội dung của các thuyết đợc soạn thảo đợc quan tâm ít nhất ở đây, một lầnnữa rõ ràng rằng một mặt "tính trung lập về t tởng của XHH thực nghiệm Mỹ mà đợctuyên bố ngay từ đầu ( mà che giấu một xu hớng giai cấp nhất định ) Mặt khác việcthực tế công nhận tính vĩnh hằng và bất biến của cơ cấu XH hiện tại đợc dùng làm cơ
sở để xây dựng lý thuyết
* Giai đoạn hiện nay: Sự phát hiện của XHH đợc đặc trng bằng sự tồn tại của
hai khuynh hớng đối kháng Môn đồ của một khuynh hớng thì cho rằng việc sử dụngphơng pháp phân tích các dữ kiện điều tra mới nhất, là con đờng duy nhất để phát triểnkhoa học về XHH và chính điều đó dẫn đến chỗ các máy tính điện tử "nhiều khi làmviệc phan tích lý thuyết thay cho việc trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho sự hoànthiện của nó ( Coser L Two methodss in search of a substance in: "the uses ofcontroversy" N Y L 1976, P 332 )
Đồng minh của môn phái khác - phơng pháp luận dân tộc học khởi nguồn từ chỗnhững nghiên cứu khách quan và việc giải thích khoa học về xã hội, lịch sử không thể
có đợc, và cần phải tập trung nghiên cứu xem những khái niệm, ý niệm này hay kháchình thành nh thế nào trong cảm nhận chủ quan của con ngời Bất chấp sự đối kháng rõnét cả hai khuynh hớng này rõ ràng có cả điểm chung Những môn đồ của chúng trớctiên quan tâm đến việc nghiên cứu nh thế nào, tức là chú ý đến phơng pháp mà quên đinoioj dung lý thuyết mà họ soạn thảo
Trang 8Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy rằng, chính những nhà nghiên cứu cũngthấy rõ diều đó Nhà XHH Mỹ Leon Borsei viết " XHH hiện đại trình bày một sự khácbiệt dang tăng lên về chính trị, đạo dức, lý luận Sự đa dạng của lý thuyết biểu lộ ở việcphổ biến số lợng lớn các học thuyết lớn, cũng nh nhỏ Tuy vậy, về căn bản sự chiếm uthế của các học thuyết và quan niệm nhỏ của chủ nghĩa thực nghiệm vẫn là đặc trng.
Điều thứ nhất đợc chế định bởi việc phần lớn các nhà XHH đều hớng đến sự giải quyếtcác vấn đề XH cụ thể, điều thứ hai - bởi việc phần lớn các điều tra XHH với t cách là
hệ thống tính toán s rụng không phải là lý thuyết , mà những khái niệm riêng rẽ Nhnghọc thuyết lớn đợc tách rời khỏi hoạt động XHH cơ bản, mà có trớc hết ở nhữngnghiên cứu thực nghiệm hớng tới những thuyết nhỏ, dẫn đến những liên kết và những
sự khái quát mức độ thấp Năm 1972 nhà XHH Javetch đã trng cầu ý kiến 152 nhàXHH Mỹ lớn nhất từ 21 trờng ĐHTH để làm rõ các hớng lý thuyết căn bản mà các nhàXHH đang nghiên cứu Trong số đó thờng hay nhở đến thuyết cơ cấu chức năng, hành
vi xã hội, chủ nghĩa tơng tác biểu trng, thuyết chiết trung có chơng trình, sinh thái, môhình hoá toán học, các thuyết về trao đổi xã hội
2 XHH thông tin đại chúng
Lần đầu tiên khái niệm " XHH báo chí" đợc nhà XHH của Đức M.Weber dùngnăm 1910, trong bài phát biểu tại kỳ họp thứ nhất của hội XHH Đức, tạo đó một chơngtrình lý thuyết chung rộng lớn về việc nghiên cứu hoạt động của báo chí, các ấn bảnbằng việc sử dụng các phơng pháp thống kê đã đợc hình thành Weber nêu ra toàn bộ
tổ hợp tác các vấn đề, mà cần phải nghiên cứu ở đây, bắt đầu những vấn đề kinh tế đảmbảo sự tồn tại của báo chí, các đặc điểm của su luận XH kết thúc các nguồn tin tức vàthái độ với thông tin bao gồm cả những suy tởng về sự cần thiết của việc phân tích địnhlợng các t liệu báo chí, điều mà chỉ đợc thực hiện sau 30 năm Tuy nhiên chơng trìnhcủa Weber không tiến đợc một bớc cụ thể nào
Ngời ta cho rằng XHH TTĐC đợc tách ra từ XHH d luận xã hội, hay đúng hơn
là từ những cuộc trng cầu ý kiến mà đã xuất hiện tại Mỹ từ thế kỷ trớc, khi có nhữngcuộc vận động bầu cử Ngay từ đầu, chúng đã năn chặt với báo chí Ví dụ những cuộctrng cầu ý kiến "Solomen" đợc chính giới báo chí tiến hành Năm 1883 nhà biên tậpbáo "Boston Globe" đã sử dụng hệ thống kê phiếu trong ngày bầu cử để dự đoán về kếtquả bỏ phiếu Trng cầu ý kiến kiểu "Solomen" đợc định nghĩa nh là sự thống kê chínhthức của cử tri nhằm mục đích làm rõ sự khác nhau trong quan điểm của d luận XH vềnhững vấn đề xã hội quan trọng và thái đọ của d luận xã hội đối với những ứng cử viênvào các chức vụ của chính phủ [Encyclopedia of social science, Vol XIV P 417]
Đến những năm 20 trng cầu ý kiến kiểu "Solomen" không còn là trờng hợp ngẫu
nhiên của hoạt động báo chí nữa - tất cả những báo chí đàn anh đều tiến hành chúngcùng nhau hoặc đối lập nhau, và phạm vi các cuộc trng cầu ý kiến càng lớn rộng Tómlại, mối quan hệ của báo chí với hình thức quan trọng này của nghiên cứu thực nghiệm,cũng giống nh việc trng cầu ý kiến, đợc hình thành trong lịch sử từ trớc khi XHHTTĐC thành môn khoa học
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng trong trờng hợp này báo viết, radio, vô tuyếntruyền hình (VTTH) là ngời sử dụng các thông tin XHH, mà đợc trực tiếp đa vào cácvăn bản của TTĐC và phục vụ cho việc làm quen của các nhà báo, nhà xuất bản về tìnhtrạng của ý thức quần chúng Mối liên hệ của TTĐC với các cuộc trng cầu ý kiến d
Trang 9luận xã hội rất chặt chẽ cho đến ngày nay Báo chí, đài phát thanh, VTTH là một trongnhững khách hàng chính của các viện, trung tâm và các hãng mà tiến hành các điều tra
d luận xã hội Tuy nhiên đây không phải là bản thân XHH TTĐC, mà theo định nghĩacủa nhà bác học Xô Viết P.X Gurevich "Nghiên cứu các quá trình thông tin - đạichúng trong xã hội, cấu trúc của chúng, các đặc điểm hoạt động, các quy luật và vị trítrong tổ chức xã hội", mà các phơng tiện TTĐC làm đối tợng nghiên cứu cho nó
Những tiền đề kinh tế : của sự hình thành lĩnh vực này của XHH thực nghiệm
đ-ợc gắn liền với sự phát triển sôi động trong quảng cáo báo chí, mà đã trở thành đạichúng trong thời gian này, sẵn sàng dành cho quảng cáo những trang báo của mình, bùlại chứng nhận đợc các phơng tiện để tồn tại Chính các cơ quan quảng cáo, liên đoàncác nhà quảng cáo lần đầu tiên chú ý đến việc nghiên cứu công chúng của TTĐB bằngcác phơng pháp XHH
Tuy nhiên việc phân tích các điều tra những phơng tiện thông tin thành một lĩnhvực độc lập của XHH thực nghiệm có cả những tiền dề t tởng Nh đã nêu ở trên, yếu tốquan trọng của sự sáng tạo ra XHH thực nghiệm có cả những tiền đề t tởng Nh đã nêulên ở trên, yếu tố quan trọng của sự sáng tạo ra XHH thực nghiệm là sự cần thiết đốivới giai cấp lãnh đạo sử dụng KH này nh một vũ khí điều hành XH và lãnh xã hội,
điều mà sẽ giúp bảo tồn những mối quan hệ đơng thời bằng con đờng hiệu chỉnh nhữngsai sót riêng rẽ để giữ nguyên vẹn cái chính Những nguyên tắc tồn tại của XH t bản.Hiển nhiên, là một hệ thống tác động đến ý thức quần chúng hùng mạnh nh thế là báochí (sau này đài phát thanh và VTTH) không thể không đợc các nhà chính trị gia và t t-ởng chú ý đến XHH không chỉ đa ra những phơng tiện để kiểm tra và lãnh đạo toàn bộ
hệ thống TTĐC, mà còn sáng tạo ra ở đó vẻ ngoài của tính khách quan tính khoa học
và tính vô t của các phơng tiện thông tin đối với các lĩnh vực t tởng
Khi làm nhiệm vụ cho UNESCO tóm tắt nội dung các nghiên cứu trong lĩnh vựcTTĐC Lee J ghi nhận thực tế mà mọi ngời đều công nhận là bản chất thơng mại củanhững nghiên cứu trong lĩnh vực này ở phơng tây, và ông giải thích, xác nhận quan
điểm xã hội của nó, khi ông chỉ ra rằng: "các nghiên cứu về TTĐC xuất phát từ tính ổn
định của cấu trúc xã hội hiện hành nói chung và cấu trúc bộ máy tạo ra và truyền đi cácthông tin nói riêng Chúng tập chung chú ý đến mức độ hiệu quả của bộ máy này đã và
đang tác động đến công chúng TTĐC bằng các thông tin, mà các cơ quan quyền lựctrong xã hội cho rằng cần thiết phải phổ biến"
Vào những năm 20, 30 tại Mỹ có thể phân biệt hai hớng trong nghiên cứu
TTĐC Hớng thứ nhất duy trì con đờng lịch xử của xã hội truyền thống Nghiên cứu vềlịch sử xuất hiện và phát triển của báo chí, thảo luận về vai trò của nó trong xã hội cácnguyên tắc tổ chức Nhng dần dần nó phải lùi bớc trớc hớng thứ hai mà ngay lập tức nó
đã xác định hớng rõ ràng đối với các nghiên cứu cụ thể, thực nghiệm, thí nghiệm giống
nh là cơ sở của xã hội mới về hoạt động của các phơng tiện TTĐC trong xã hội
Những thành công của quảng cáo và phân tích về tuyên truyền của đồng minhtrong chiến tranh thế giới lần I tạo ra ảo tởng về sự toàn năng của báo chí Một trongnhững nhà sáng lập ra nền XHH Mỹ G Lasswell trong cuốn "Tuyên truyền của đồngminh trong chiến tranh thế giới lần I" đã trình bày những khả năng của các phơng tiệnTTĐC trong việc thay đổi ý kiến của ngời Mỹ ở đây bao trùm một quan điểm coi công
Trang 10chống TTĐC là một đám đông thụ động, mà không thể chống lại đợc cảnh hởng mãnhliệt của ngời tuyên truyền.
Nhà báo và là nhà XHH nổi tiếng của Mỹ W Lippman đã xuất bản vào năm
1992 cuốn sách "D luận xã hội" mà đã trở thành phơng hớng hành động của nhiều thế
hệ các nhà báo và XHH Mỹ và cho đến bây giờ đợc đa vào các chơng trình của nhiềutrờng ĐHTH ở Mỹ Ông ta khẳng định rằng con ngời hiện đại và không có khả năngmột mình thâu tóm tất cả những đa dạng của cuộc sống nên cần thiết sử dụng khôngphải là sự kiện thực tế mà những cái thay thế chúng "những định kiến" mà TTĐC tạo racho anh ta và anh chịu sự chi phối điều khiển của TTĐC
Schramm W một trong những nhà nghiên cứu TTĐC lớn nhất của Mỹ đã gọinhững luận điểm loại đó là "học thuyết của các viên đạn", theo đó những t tởng cảmxúc, suy nghĩ có thể đợc tự động chuyển đến công chúng TTĐC nh là đến những mụctiêu thụ động, cố định Tuy nhiên các nghiên cứu cụ thể và thí nghiệm bắt đầu nhữngnăm 1940 Trớc hết là các nghiên cứu mang tính tâm lý - xã hội đã phá tan lòng tin vàotính toàn năng của bộ máy quảng cáo tuyên truyền
Trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ II các nhà XHH Mỹ tập trung sự
chú ý chính của mình vào những nhu cầu của chiến tranh tuyên truyền Kinh nghiệmtuyên truyền của chủ nghĩa phát xít đã đợc nghiên cứu các biện pháp phán tuyên truyềncũng đợc soạn thảo, các hớng và biện pháp nâng cao hiệu quả tác động của các phơngtiện thông tin nhằm tạo ra những quan điểm và tâm trạng cần thiết cho chính phủ cũng
đợc nghiên cứu Một trong những nhà nghiên cứu lớn của Mỹ Hovland bắt đầu các
điều tra của mình trong lĩnh vực tâm lý giao tiếp tại trung tâm nghiên cứu đặc biệt của
bộ phận thông tin và huấn luyện quân đội đợc xây dựng trong thơì gian chiến tranh ở
bộ chiến tranh Mỹ Ông tiến hành các thí nghiệm trên binh lính Các bản tổng kết đợccông bố sau chiến tranh về những công việc mà đợc tiến hành dới sự chỉ đạo củaHovland đã định nền tảng cho trờng phái Yale rất phổ biến tại Mỹ và các nớc phơngtây khác - một xu hớng tâm lý học xã hội trong XHH
Các môn đồ của xu hớng này khi tổng kết kinh nghiệm 25 năm làm việc trong 6công trình của Yale là những ngời đầu tiên đề cập về tính gián tiếp của các tác độnggiao tiếp đến con ngời bằng một tập hợp điều kiện Thiếu sót chính là trờng phái nàychính Hovland sau đó đã thú là nhận tính thử nghiệm, không thực tế của các điều tra
Sự phát triển tiếp tục của xu hớng tâm lý - xã hội nhận đợc trong các thuyết "Mâuthuận nhận thức” của Festinger L và thuyết "tơng ứng" của Osgood Ch Và những ngờikhác, mà theo đó con ngời khi lựa chọn trong hàng loạt thông tin đang có họ thờngchọn các tin mà không trái với quan điểm về thế giới của anh ta, trốn tránh những mâuthuẫn mà có thể phá vỡ trạng thái cân bằng trong ý thức của anh ta
Ngời ta coi sự hình thành phơng pháp số lợng phân tích nội dung hay analyse bắt đầu t giai đoạn chiến tranh TG II Khác với các điều tra trớc đó về nội dungcác bài báo cáo đợc tiến hành Content - analyse, thứ nhất đã sử dụng phơng phápthống kê tính toán tần số lặp lại của một biểu hiện này hay khác, mà đã đợc chọn trongmột đơn vị để tính toán Thứ hai là nó sử dụng thủ tục theo dõi hình thức và điều cuốicùng, mục đích của các nghiên cứu loại này là phân tích bằng XHH các văn bản
Trang 11Content-Lasswell G ngời ta đã đa ra cơ sở lý thuyết và tiến hành cùng với các đồngnghiệp của mình hàng loạt các nghiên cứu phân tích nội dung, đợc coi là cha đẻ ngờisáng lập ra trờng phái phân tích số lợng nội dung Vào đầu những năm 40 trong bộphận nghiên cứu về chiến tranh tuyên truyền tại th viện Quốc hội Mỹ đã tiến hành phântích tất cả các báo lớn nhất trên thế giới bằng phơng pháp mới, cuối cùng đã công bố
đợc "Tóm tắt nội dung sự chú ý của thế giới" có trờng hợp trở nên nổi tiếng nh những tliệu của Content - analyse đợc dùng làm cơ sở để đa ra quyết định của toà án Lasswell
G và Laites N đã tiến hành nghiên cứu báo có lợi cho Hít le (nh "Chính phủ Mỹ chứa
đầy sự tham nhũng" "Nớc Đức - hùng mạnh"" nớc Mỹ và đồng minh của họ nằm dới
sự kiểm soát của cộng sản" "và những ý kiến ngợc lại") Hoá ra, những tuyên bố thânHit le nhiều hơn 11 lần tần số các ý kiến thân Mỹ và toà án đã dựa trên cơ sở đó đ a rabản án quyết định đóng cửa tờ báo "Ngời Mỹ đích thực", coi đó là tờ báo thân phát xít
Tuy vậy, sự ứng dụng rộng rãi phơng pháp Content analyse dần dần làm rõkhông chỉ những u điểm mà cả những kiến khuyết mà đợc gắn liền trớc hết với sự thiếucăn cứ trong những tiền đề lý thuyết khởi điểm của các môn đồ trờng phái Laswell(Berelson B; De sona Pun; Lerner D ) Các tiền đề này bị ảnh hởng của xu thế Freudtrong XHH Những thất bại mà hàng loạt các nhà nghiên cứu đã gặp khi sử dụngnguyên tắc tính "các biểu tợng" đợc Lasswell đề nghị, đã dẫn đến điều là vào nhữngnăm 50 bắt đầu sự tìm kiếm các nguyên lý khác tiến hành phân tích nội dung ở đây cóthể chia ra làm hai hớng - hớng tâm - ngôn đợc dựa trên việc sử dụng các liên tởng, h-ớng này do giám đốc Viện nghiên cứu các vấn đề tuyên truyền của trờng ĐHTHIllinoit Charle Osgood và hớng vị lợi thực dụng hay là hớng "công cụ" Hình mẫu củacác nghiên cứu loại này là tác phẩm phân tich sự tuyên truyền ( Giorge A 1959 ) trogn
đó ông ta tổng kết kinh nghiệm làm việc của bộ phận đặc biệt phân tích các hoạt độngtình báo Về sự nghiên cứu các nội dung các chơng trình phát thanh nớc ngoài phơngpháp đợc thống nhất gọi là phơng pháp phân tích định tính Nó thờng đợc dùng để xác
định các xu hớng chính trị cơ bản của ngời đa tin thông qua nội dung các văn bản củaTTĐC
Tuy nhiên không thể coi rằng sự phân tích nội dung TTĐC chỉ mang toàn tínhthực dụng, thân chính phủ Ví dụ nổi tiếng của xu hớng phê phán của các nghiên cứunội dung TTĐC là tác phẩm của nhà XHH Mỹ lớn Lowentan "các tiền sử trong nhữngtạp chí phổ biến" Hoá ra số tiểu sử mọi ngời khác nhau trong các ấn phẩm này đã tăng
từ 27 năm 1901 - 1902 đến 57 năm 1940 - 1941, ngoài ra nếu nh đều thế kỷ đại đại đa
số các nhân vật là đại diện của giới kinh doanh và chính trị, không một ngời nào thuộcgiới thể thao hoặc các hoạt động giải trí đại chúng, thì những năm 40 chỉ có 25 nhânvật thuộc khu vực sản xuất nhng tới 735 là đại diện của giới công nghiệp giải trí và 285các chính trị gia Sự phát triển của xu thế đó đợc ghi nhận trong một nghiên cứu tơng
tự, đợc các cộng tác viên trờng ĐHTH havard tiến hành trên t liệu tạp chí cho giớitrung lu về giai đoạn từ 1940 đến 1963
Vào những năm 40 - 50: việc không thoả mãn về sự tràn ngập các số liệu thực
nghiệm, không hệ thống trong XHH TTĐC, cũng nh trong XHH thực nghiệm nóichung, đã thúc đẩy các nhà XHH lớn kêu gọi tạo ra học thuyết mức độ chung bình, mà
có thể giúp thu hập vào hệ thống các lý thuyết phân tán về hoạt động của các phơngtiện TTĐC ở đây cần phải kể đến tác phẩm của G.Lasswell "Cấu trúc và chức năng
Trang 12trong xã hội", xuất bản năm 1948, trong đó tác giả xây dựng toàn bộ quá trình TTĐCtheo sơ đồ: "Ai nói - Nói cái gì - Bằng phơng tiện gì - Cho ai - Với hiệu quả thế nào".Theo công thức này ( mà sau đó rất phổ biến ) nhiều năm, và cho đến ngày nay diễn raviệc nghiên cứu quá trình TTĐC Nó dùng làm cơ sở cho sự hình thành những lĩnh vựcnghiên cứu riêng biệt, nh là nghiên cứu về ngời truyền tin, phân tích nội dung, nghiêncứu kênh, đối tợng và hiệu quả tuyên truyền.
Thuyết cơ cấu chức năng rất phổ biến thời gian đó ứng dụng vào lĩnh vực này bịchuyển thành khái niệm về TTĐC cần thực hiện trong xã hội chủ yếu các chức năngbảo thủ duy trì vị thế của xã hội, còn ở mức độ cá nhân - củng cố các quan điểm hiện
có Tại đây thông tin đợc dành cho một chức năng gần nh thống soái trong sự bảo đảmviệc hoạt động bình thờng của cơ thể xã hội nhờ vào sự tạo ra mối quan hệ giữa cácphần riêng rẽ của nó
Trong XHH TTĐC cũng tiến hành thử nghiệm tạo ra các thuyết trung bình Từnăm 1940 P.Lazarsfeld B Berenson và E.Gode đã nghiên cứu hành vi của dân chúngmột trong các cộng đồng tại bang Ohio vào thời gian bầu cử tổng thống Họ tìm rarằng, thứ nhất - TTĐC hoàn toàn không phải là nguồn nhận thông tin chính và thứ haimột số ngời dờng nh là ngời phát ra du luận xã hội và chính họ là ngời tiêu dùng chămchỉ TTĐC Trên cơ sở này đã xuất hiện thuyết "lãnh tụ ý kiến", mà TTĐC cần thiếtphải dựa vào họ Tiếp tục con đờng đó và lập luận trên sự phân tích kết quả các cuộcbầu cử, sự phổ biến mốt, mối quan hệ của thầy thuốc với các tân dợc, E Katz vào năm
1957 lần đầu tiên công bố về "dòng giao tiếp 2 bậc", mà sau đó đợc W schramm mởrộng và đợc gọi là "dòng thông tin giao tiếp nhiều bậc
Thời kỳ hiện nay của sự phát triển thuyết học TTĐC cũng nh XHH t bản nói
chung, đợc đặt trng bằng sự tồn tại của nhiều học thuyết, phơng pháp luận điểm Thờigian gần đây các nghiên cứu gắn với vai trò tích cực của cá nhân dới tác động đến nócủa các dùng TTĐC đã đợc phổ biến rộng rãi Những yếu tố trong các cá nhan và giữacá nhân, mà có ảnh hởng đến quá trình tơng tác của ý thức cá thể và thông tin hớng tới
nó đều đợc nghiên cứu vấn đề hậu quả xã hội của hoạt động các phơng tiện TTĐC trởthành đối tợng nghiên cứu thờng xuyên Nhng thờng xuyên hơn cả nó đợc giải quyếttrong phạm vi trách nhiệm đạo đức của nhà báo, điều mà làm xoá nhoà bản chất giaicấp xã hội của quá trình thông tin và vai trò của nó trong xã hội
Đặc trng cho XHH TTĐC hiện đại là sự hứng thú nghiên cứu các vùng ranhgiới, bao trùm cả sự tơng tác các phần tử của chuỗi thông tin, mà trớc đây đã đợcnghiên cứu tách biệt Thí dụ sự tơng tác của ý thức con ngời với các văn bản đợc cácchuyên gia về Tâm ngôn học, xã hội ngôn ngữ học, ký hiệu học nghiên cứu
Việc làm rõ vị trí tích cực của đối tợng TTĐC đối với thông tin thúc đẩy cácchuyên gia trong lĩnh vực tuyên truyền tìm "con đờng vòng" tác động lên ý thức ngời
ru ngủ tính phê phán, làm giảm sự chống đối tăng cờng sự cảm nhận làm việc tích cựctheo hớng này có nhà tâm lý học xã hội ngời Anh, giám đốc trung tâm nghiên cứuTTĐC ở trờng ĐHTH Thành phố Lester G Halloran và các đồng nghiệp Trong côngviệc của mình, dựa vào các tiêu đề duy tâm, sử dụng phơng pháp luận bắt nguồn từFreude và chủ nghĩa hành vi, môn đồ của trờng phái này tiến hành công việc đáng kểnhằm làm rõ các đặc điểm nhân chủng xã hội, nhóm, tâm lý cá nhân, mà sự xem xét
Trang 13chúng gắn liền với những nhiệm vụ, phơng pháp nhất định của thông tin có thể cho kếtquả nh ý.
Cân nhắc lại xu hớng mới này trong XHH TTĐC hiện đại xu hớng kinh tế chínhtrị học Nó đợc các bác học trẻ ở Anh giới thiệu (có thời làm việc dới sự chỉ dẫn củaHallorran) R Chizman và N Garnem Họ mong muốn vợt qua phơng pháp duy tâmtrong nghiên cứu TTĐC chỉ ra tính giai cấp của chúng Bằng chứng cho việc xu hớngnày đợc chú ý nhiêù là sự kiện tại hội nghị quốc tế liên đoàn thế giới vèe nghiên cứutrong lĩnh vực các phơng tiện TTĐC, họp tại Varsawa 1978, đã có cả một chuyên đề
đặc biệt về KTCT TTĐC
Đặc biệt cần đánh dấu sự xuất hiện trên các hội nghị chuyên đề quốc tế về XHHcác bác học từ những nớc t bản - phát biểu trên quan điểm Mác-xít Nhóm "các nhàXHH mới của xu hớng Mác xít tham dự tích cực vào các hội thảo Báo chí cộng sảncủa ý giành nhiều trang để cho cuộc tranh luận về vấn đề và nội dung các điều tra vềTTĐC Các nhà XHH mác - xít tham dự tại hàng loạt hội nghị quốc tế nh ở Florencia
1976, Trento 1977 thấu hiểu tính giai cấp của bản chất phơng tiện TTĐC của một sốnhà bác học Anh Vào cuối những năm 60 các nghiên cứu trong lĩnh vực này mà đ ợccác nhà bác học Mác - xít Đức H Holser ( Mỹnkhen) đã gây đợc sự chú ý Công việcsau đó trở nên phức tạp và ông ta bị cấm hành nghề
* *
*
Kết luận
XHH thực nghiệm t bản phát sinh và tình thành trong giai đoạn phát triển thành
đế quốc của CNTB, chính điều này đã quyết định tiền đề KT và t tởng của các lĩnh vựcXHH TTĐC Trải qua hàng loạt giai đoạn phát triển, XHH thực nghiệm t bản đã phơibày việc không thể giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của TTĐC, vai tròcủa nó, vị trí và nghĩa vụ trong xã hội, nó thiếu duy duy vật trong các vấn đề XHH đạicơng mà gắn với ý tởng về các quy luật phát triển và tồn tại của XHH nói chung Nềntảng lý thuyết lý luận nhất mà cho phép thâu tóm toàn bộ tổ hợp các vấn đề gắn liềnvới lĩnh vực đợc chúng ta nghiên cứu là chủ nghĩa Mác
Mặc dù thiếu cơ sở lý luận và lý thuyết không thể bỏ qua một điều là XHH thựcnghiệm qua nhiều năm tiến hành các điều tra cụ thể nó đã tích luỹ một số t liệu thực tếphong phú, mà có những giá trị ứng dụng nhất định và có thể làm cơ sở t duy khoa học.Cũng không nên đánh giá kém đi giá trị của hiện tợng là trong xã hội t bản XHH đợccác nhà chính trị sử dụng trong sự điều chỉnh ý thức quần chúng ở nớc mình, và cảtrong việc khởi thảo chiến lợc trong quan hệ với các nớc đang phát triển và hệ thốngXHCN Chính vì thế cho nên việc xem xét cụ thể hơn các điều tra XHH cụ thể mà đ ợctiến hành trong lĩnh vực báo chí t bản, trên các đặc điểm của các tổ chức TTĐC, và trêncác phơng pháp điều tra và phân tích kết quả của chúng là cần thiết và bổ ích Thứ nhất
là điều đó cho chúng ta khả năng nhìn rõ xem tính xu thế đợc biểu lộ nh thế nào trongcác nghiên cứu Thứ hai là kinh nghiệm giàu có từ các điều tra, phơng pháp đã đợcsoạn thảo mà có giá trị độc lập có thế có lợi cho XHH Mác xít Và điều cuối cùng việc
Trang 14biết tìm ra tỏng các nghiên cứu của XHH t bản những kiến thức thực tế khách quan,
đánh giá đúng và sử dụng thích ứng với thái độ của chủ nghĩa Mác với khoa học t bản
Trang 15Chơng II: Hệ thống các t vấn xã hội học.
1 Các cơ sở kinh tế - chính trị của những nghiên cứu XHH cụ thể:
Ngày nay chỉ riêng tại Mỹ có tới hàng nghìn tổ chức tiến hành các điều tra XHH
cụ thể, chủ yếu bằng phơng pháp trng cầu ý kiến của nhóm dân khác nhau Doanh sốcủa họ tính vào khoảng 500 triệu con số này chỉ là tơng đối, bởi vì số đông các hãng tnhân và tổ chức t nhân không đa ra tổng kết trong công việc của mình về nguồn và mức
độ thu nhập, chốn sau bức màn tự do kinh doanh họ hoàn toàn không báo cáo về phơngpháp và mục đích công việc Những phơng tiện, tiền đó lấy ở đâu ra ?
Cuối những năm 70 Mỹ chiếm tới 1/4 số ấn phẩm hàng ngày trên thế giới và 1/3
hệ thống truyền hình, họ có 7800 đài phát thanh và hơn 380 triệu máy thu Trong mộtgia đình Mỹ đặc trng thởng mở VTTH 6,5 giờ trong ngày Không ngạc nhiên rằng mộtphạm vi mạnh nh thế của đời sống xã hội đã đợc hai lực lợng mạnh nhất nớc Mỹ - giớikinh doanh và hệ thống chính trị nhà nớc, chú ý đến Mỗi một thế lực đều muốn sửdụng các phơng tiện thông tin đại chúng vào mục đích của mình
Giới kinh doanh hành động thông qua quảng cáo tại Mỹ hàng năm chi phí choquảng cáo tới 28 tỷ đô la, trong số đó năm 1978 báo chí nhận 8,4 tỷ, các tạp chí 1,8 tỷ,
VT 5,3 tỷ, đài phát thanh 2 tỷ sự hào phòng này đợc xây dựng trên cơ sở tính toán chặtchẽ, nhà kinh tế Mỹ Galbraight J đã viết rằng "đài phát thanh và đặc biệt là VTTH củ
Mỹ đã trở thành các phơng tiện chính điều hoà nhu cầu của ngời tiêu dùng Hệ thốngcông nghiệp phụ thuộc sâu sắc vào truyền hình thơng mại và thiếu nó thì công nghiệpkhông thể tồn tại nh dạng này nay đợc" (Galbright J - The new Industrial State Boston,
1976, p 203) Vì thế cho nên các phơng tiện thông tin đại chúng cần thâu tóm chínhcông chúng cần cho các nhà quảng cáo Và sự việc diễn ra đúng nh vây Một trongnhững biên tập chơng trình tin tức của VTTH Mỹ "Variety" miêu tả cơ chế điều hànhcác chơng trình VTTH nh sau: "Về nguyên tắc, các nhà quảng cáo lớn của TV - Cácnhà sản xuất thức ăn y cụ, thuốc men, nớc giải khát, hàng gia đình, ôtô, trớc hết cốgắng đạt đợc sự phổ biến ở các tầng lớp trung bình Cho nên mật độ khán giả cho thànhtiêu chuẩn chính trong việc đánh giá các chơng trình sự kiên trì này dựa trên tính phổbiến của các chơng trình đã tạo ra bề ngoài chọn lọc dân chủ của họ trên VTTH Trênthực tế thậm chí nhiều chơng trình có tính phổ quát rộng lớn cũng biết mất khỏi lànsóng, nếu nh công chúng mà họ hớng tới không đợc các nhà quảng cáo quan tâm đến
Tình huống nh vậy các nhà quảng cáo đều cần biết quan trọng rằng, là họ có thểhớng tới nhóm công chúng nào, đối tơng của họ thích các gì hơn, đối tợng có tin tởngcác phơng tiện thông tin hay không Vì thế cho nên các hãng, tập đoàn quảng cáo đềukhông tiếc tiền của cho những nghiên cứu công chúng và các biện pháp tác động lên
họ "Không nghi ngờ rằng - tạp chí chuyên đề của Pháp" "Presse Actualite" viết - chínhcác nhà quảng cáo đi đầu trong công việc hớng tới việc tạo ra một bức tranh khoa học,
có hệ thống về độc giả của ấn phẩm này hay khác
ở Anh Quốc một phần lớn các nghiên cứu công chúng đợc tiến hành theo nhiệm
vụ do viên các nhà quảng cáo giao cho,thí dụ, những cuộc điều tra toàn quốc định kì về
độc giả hiệp hội giới chủ những tờ báo Mĩ có văn phòng quảng caó đặc biệt, mà các tliệu điều tra của nó thể hiện lợi ích quyền lợi không những chỉ với các hãng buôn bán,
mà còn với cả các báo, bởi vì chúng chứa nhiều t liệu về các đặc trngcủa nhiều độc giả
Trang 16về hành vi của họ với t cách là đối tợng của TTĐC Lợi ích, quyền lợi của các nhà xuấtbản và của các nhà quảng cáo trùng lập ở nhiều điểm, tăng số lợng dân chúng, tăng c-ờng sở thích và lòng tin với các cơ quan thông tin, một sự thống kê đầy đủ hơn nữa, và
sự thoả mãn các nhu cầu của các độc giả, khán, thính giả
Cùng với sự phổ biến của đài phát thanh VTTH họ cũng rơi vào phạm vi chú ýcủa các nhà quảng cáo tức là của giới kinh doanh lớn Tại Mỹ một nhóm nghiên cứulớn đợc lập tại văn phòng quảng cáo trên radio Ngoài ra các nghiên cứu sự phân bốkhán giả, thính giả theo thời gian trong ngày và theo sở thích đối với chơng trình nàyhay khác, còn tiến hành các nghiên cứu tâm lý và đặc trng cảm thụ các thông tin radio
và VTTH so với thông tin ấn phẩm, điều mà hiển nhiên cần thiết cho cả khoa học báochí
Vào thời kỳ chiến tranh TG đã xuất hiện xu hớng điều tra mới trong sự pháttriển các nghiên cứu TTĐC Cũng nh trớc đây đã hình thành mối quan hệ chặt chẽ giữanhững nghiên cứu báo chí radio với công nghiệp và thơng mại trên cơ sở quảng cáo,bây giờ cũng đã hình thành các mối liên hệ chặt chẽ về tài chính và tổ chức của các nhà
điều tra với các cơ quan chính phủ Một trong những nhà sáng lập ra XHH thực nghiệmcủa Mỹ P.Lazarsfeld Đã viết về thời gian này rằng: "Chiến tranh đã kích thích sự lớnlên nhanh chóng các điều tra thực nghiệm mà đợc sử dụng cho những nhu cầu khacsnhau của các tổ chức chính phủ Lúc đó đã cần đến những kiến thức về tâm thể củabinh lính Trạng thái tinh thần của dân chúng và hiệu quả các biện pháp tuyên truyềncủa chính phủ Liên đoàn các nhà nghiên cứu hàm lâm và thơng mại mới thành lập đãtiến hành giải quyết các nhiệm vụ này
Mối quan hệ chặt chẽ của các nhà nghiên cứu với các tổ chức chính phủ thể hiện
ở các khía cạnh khác nhau ngay cả trong thời đại hiện nay Chính phủ tạo ra và mởrộng những hãng thông tin, tuyên truyền của mình, nơi tập trung bộ phận lớn các nhàXHH, các điều tra viên d luận xã hội - tuyên truyền, các chuyên gia về các mối quan
hệ với đoàn thể mà đang theo dõi công việc của các cơ quan này và soạn thảo ra cácbiện pháp kỹ thuật phân tích hiệu quả nhất về dân c Hoa Kỳ và dân c nớc ngoài Cảnhững tổ chức t nhân, độc lập hoặc thơng mại kiểu viện Gallup cũng hành động theo h-ớng đó Và đã không giấu giếm rằng trong thời gian chiến tranh lạnh "các phơng phápnghiên cứu kiểm định bớc đầu t tởng tuyên truyền và thành công của chúng" đã đợc h-ớng tới việc đảm bảo "u thế trớc ngời Nga" và các phơng tiện dùng trong chiến tranh ttởng" khẳng định mình bằng " chiến thắng cuối cùng trớc CNCS" nhanh hơn so với chiphí chiến tranh
Và điểm cuối cùng, chính phủ đã trở thành ngời đặt hàng tích cực với các điềutra XHH, mặc dù khía cạnh này không rõ ràng lắm bởi vì các hợp đồng nh vậy thờngmang tính bí mật và kín đáo Có tài liệu rằng đến giữa những năm 50 chính quyền Mỹ
đã đặt hàng trung tâm quốc gia về nghiên cứu d luận xã hội thuộc trờng ĐHTHChicago những cuộc điều tra d luận xã hội Về tính chất của các cuộc điều tra này, thìkhông rõ điều gì cả Trong chính phủ Mỹ hiện nay có bộ phận đặc biệt mà rất chú ýtheo dõi các nghiên cứu d luận xã hội Mỹ và các phơng tiện TTĐC phân tích kết quảcác nghiên cứu này và đa các kết luận của mình đến những ngời soạn thảo đờng lốiquốc gia
Trang 17Nhà bác học Mỹ nổi tiếng, giáo s khoa học các phơng tiện TTĐC tại trờng
ĐHTH Caliphornia - Diego Chiller G đa ra những kết luận rất quan trọng về vị trí cáccơ quan điều tra d luận xã hội "Những ngời mà sự thông qua quyết định của chính phủphụ thuộc vào họ cùng với hoạt động kinh tế t nhân, là ngời ủng hộ chủ yếu đối vớicác t vấn nghiên cứu d luận Nhu cầu sống còn của các nhóm này quyết định có chủ
định hay không, các thông số hoạt động của các t vấn nghiên cứu d luận Hơn thế nữa,những ngời tiến hành nghiên cứu DLXH của các hãng bằng những hành động của bảnthân mình, và bằng cấu trúc tổ chức, đã lặp lại những đặc điểm đặc trng của hệ thống
điều tra của Hoa Kỳ Trong khi phục vụ cho những ngời khổng lồ của nền công nghiệpHoa Kỳ những hãng nổi tiếng nhất về tiến hành cuộc trng cầu ý kiến hoặc tự biến mìnhthành những đơn vị kinh tế đáng kể, hoặc đứng vào đội ngũ các nhà tập đoàn độc tàikinh doanh Sau một vài năm giới kinh doanh lớn đã dành đợc hơn 20 hãng nghiên cứu
nh vậy"
Cả giới kinh doanh, cả các cơ sở nhà nớc, ngoài các bộ phận, trung tâm đặc biệtxây dựng, họ sử dụng trong nghiên cứu TTĐC các trung tâm thơng mại, t nhân và cảcác trung tâm hàm lâm, học viện Nh vậy, có thể coi rằng, một số lợng lớn các điều traXHH cụ thể trong lĩnh vực TTĐC đợc tiến hành bằng phơng tiện chi phí và dới tác
động của các giới lãnh đạo nền kinh tế, chính trị của XH t bản, mặc dù mối quan hệgiữa chúng mang tính gián tiếp và không rõ ràng
2 Các loại tổ chức điều tra
Đã trở thành lịch sử một điều là, những ngời làm báo chí đã trở thành nhữngnhà XHH đầu tiên của sự nghiệp báo chí Họ đã tiến hành các cuộc trng cầu ý kiếnbằng sức lực của mình hoặc nhờ sự giúp đỡ của các chuyên gia mà đợc mời trong theotừng trờng hợp - đó là các nhà XHH thực nghiệm, các nhà tâm lý học xã hội mà nắm đ-
ợc các phơng pháp đo lờng tơng đối chính xác và các tính toán thống kê kết quả nhữngcuộc phỏng vấn rộng lớn Dần dân XHH thực nghiệm đã xác định đợc những nguyêntắc chặt chẽ về số lợng và đặc tính của những câu hỏi, về cách tính kết quả, về các xác
định mức độ chính xác Ngời không có chuyên môn không đủ sức làm việc đó và cácbáo đồng thời với liên hiệp của họ bắt đầu lập ra các bộ phận đặc biệt về nghiên cứucông chúng của TTĐC Chủ yếu ở các bộ phận phổ biến báo chí Những bộ phận nhvậy tồn tại cho đến bây giờ ở một số báo và Công ty có thể nêu thí dụ tờ "thời báo NewYork" (New York Times", mà từ năm 1934 đã tiến hành nghiên cứu độc giả của mìnhhãng thông tấn Hoa Kỳ UCIA, bộ máy nghiên cứu hùng mạnh của Công ty phát thanhcủa Anh Quốc BBC Hãng vô tuyến NHK tiến hành nghiên cứu đã 40 năm và nó cótrong tay 4 viện: Viện nghiên cứu khoa học về văn hoá truyền hình, tồn tại từ 1946nghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ, Viện khoa học về d luận xã hội, mà bắt đầu từ năm
1960, 5 năm một lần tiến hành các điều tra rộng lớn đối tợng TTĐC, từ năm 1930 bắt
đầu hoạt động phòng thí nghiệm nghiên cứu khoa học về những vấn đề hoàn thiện kỹthuật phát hình, và phòng thí nghiệm nghiên cứu khoa học ứng dụng Gần 4% biên chếcủa công ty (khoảng 600 cộng tác viên ) làm việc nghiên cứu và gần 3% ngân quỹ củacông ty đợc chi cho các nghiên cứu khoa học Về mặt lịch sử có thể coi đây là dạng
đầu tiên của các trung tâm XHH có tổ chức về nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí, đàiphát thanh VTTH - các bộ phận nghiên cứu nằm trong cơ cấu của phơng tiện này, haykhác (hoặc cả nhóm phơng tiện của TTĐC )
Trang 18Song chẳng bao lâu, cùng với sự phát triển của các điều tra XHH trong lĩnh vựcTTĐC, quảng cáo và nghiên cứu d luận xã hội tại Mỹ nhiều trung tâm và tổ chức XHH
t nhân đợc thành lập, chúng thờng là mang tính kinh doanh, dựa vào đó mà họ nói vềtính độc lập, tự chủ, và không đảng phái của mình Những tổ chức này tồn tại về cơ bảnnhờ tiền thù lao của những nghiên cứu Trong điều kiện nh vậy hiển nhiên rằng, các
đơn đặt hàng đợc nhận từ các tổ chức khác nhau và theo những đề tài rất khác nhau Từnhững đơn đặt hàng của chính phủ về việc thử nghiệm một dự thảo của điều luật nào
đó, đến việc nghiên cứu các đặc điểm của nhóm công chúng của báo này hay báo kia
Có thể nêu thí dụ về tổ chức nh vậy Trớc hết phải kể đến Viện D luận Xã hội của Hoa
Kỳ Ngời sáng lập và liên tục làm giám đốc là tiến sĩ tâm lý học Gallup G., ngời lúc
đầu giảng dạy về báo chí tại các trờng ĐHTH Dryke và Columbia, sau đó làm giám
đốc bộ phận nghiên cứu của hãng quảng cáo của New York "Young and Rubicam".Vào đầu những năm 30 ông đã tiến hành một loạt các cuộc trng cầu ý kiến thử nghiệm,thí dụ để nghiên cứu tính phổ biến của một loạt báo và tạp chí Sau đó ông sử dụng rấtthành công các phơng pháp của mình ở phạm vi lớn hơn trong lĩnh vực chính trị Năm
1935 ông thành lập một viện mà sau này cả thế giới biến đến với tên Viện Galớp(Gallup) Các tờ báo đã cung cấp tài chính cho ông Và họ đã công bố các t liệu nghiêncứu đầu tiên của Gallup vào năm 1935 Từ đó đến nay viện Gallup hàng tuần đều tiếnhành các cuộc thăm dò d luận xã hội toàn quốc về các vấn đề kinh tế xã hội, chính trịkhác nhau Kết quả các cuộc điều tra này đợc gửi đến các báo để công bố và thông báovới các báo đã có ký hợp đồng Đây là một trong những nguồn tài chính quan trọng củaviện Tuy nhiên, Gallup còn tiến hành nhiều điều tra và các đơn đặt hàng riêng, trong
số đó cả của chính phủ, các tổ hợp công nghiệp, các hãng quảng cáo Sau chiến tranhViện Gallup bắt đầu tiến hành rộng lớn các nghiên cứu ở các nớc khác, để làm việc đóhiệp hội "Gallup International Limited" đã đợc thành lập do con trai ngời sáng lập Việnlãnh đạo Theo số liệu năm 1978, công ty mới này có tới 50 chi nhánh, làm việc tại hơn
30 nớc
Nếu nh viện Gallup là đại diện lão thành của các tổ chức t nhân, thì đại diện chotrào lu mới sau chiến tranh - ngời cạnh tranh chính của viện Gallup, là hãng của Luisharris Thành lập vào năm 1963 từ chối không làm việc với những khách hàng lẻ, hãng
"Luis hHrris and Associates" đã ký hợp đồng về sự công bố các kết quả điều tra củanhững điều tra toàn quốc với tờ Bu diện Washington và về việc tiến hành các cuộc trngcầu ý kiến cho tạp chí "New Week" Chú ý rằng, ở đây nguồn sống quan trọng đối vớihãng là các tổ hợp báo chí, còn khách hàng chính - các phơng tiện thông tin đại chúng.Song sẽ sai lầm nếu cho rằng sở thích của công chúng điều khiển chỉ huy hãng củaHarris ở đó hoặc dù rằng về căn bản đó các sở thích chính trị Tạp chí "Forbe" mà dànhcho giới kinh doanh lớn, viết "hãng Luis Haris đã tạo ra vinh quang cho mình bằng sựthăm viếng của các cử tri, nhằm giúp các ứng cử viên của các Đảng chính trị hiểu xemcác cử tri nghĩ gì về họ Nhng những thu nhập chính của mình họ nhận đợc, khi sửdụng cũng những thủ pháp đó, từ những công ty cần đến thông tin về tình trạng của thịtrờng"
Mặc dù còn tơng đối trẻ, hãng của Luis Harris nhanh chóng chiếm lĩnh các vị tríkhông chỉ trong nớc, mà còn ở Châu Âu, Châu Phi, Mỹ La Tinh và Châu á Vào năm
1971 tờ báo đầu đàn của Tokyo "Asahi Simbun" đã ký với Harris một hợp đồng giànhquyền công bố tất cả các số liệu mà hãng thu đợc về ý kiến của ngời Mỹ về Nhật
Trang 19Bản.Cũng năm đó Harris, đã lập ra một tổ chức con đẻ, trung tâm nghiên cứu toàn quốc
về nghệ thuật, điều mà chứng minh cho sự tấn công, thâm nhập của các nghiên cứu xãhội vào nghệ thuật
Vào những năm 30 đã xuất hiện cả những trung tâm khoa học đầu tiên có xu ớng hàm lâm, mà đợc lập ra chủ yếu tại các trờng ĐHTH lần đầu tiên một khoa học
h-đặc biệt về những vấn đề cuả d luận xã hội, phơng pháp đo nó, mối liên hệ giữa d luậnxã hội và tuyên truyền đã đợc đa vào dạy tại trờng ĐHTH Princeton Hiện nay cáctrung tâm nghiên cứu về DLXH và các phơng tiện thông tin đại chúng ở Mỹ và ở nhiềunớc khác có ở hầu hết các trờng ĐHTH lớn của Mỹ Thí dụ, văn phòng t vấn TTĐC củatrờng ĐHTH bang Iowa, trung tâm nghiên cứu báo chí Mỹ của trờng ĐHTH Market,Viện nghiên cứu thông tin của trờng ĐHTH Illinois, văn phòng nghiên cứu thông tin vàDLXH của trờng Etran, văn phòng nghiên cứu giao tiếp thuộc ĐHTH Michigan trungtâm nghiên cứu về phát thanh của ĐHTH Ohio vv Về nguyên tức các nghiên cứu mà
đợc các trung tâm này tiến hành mang tính lý thuyết nhiều hơn và phạm vi không lớnlắm những cuộc điều tra toàn quốc họp về nguyên tắc họ không đủ sức làm bởi vì họ
đợc tài trợ một phần từ nguồn của các trờng, một phần t các quỹ khác nhua và quyêngóp mà mang tính chất lần một thí dụ văn phòng đã nói trên của trờng ĐHTHColumbus nhận đợc kinh phí để nghiên cứu tác động xã hội của radioo nên công chúng
từ quỹ của Rockfeller Thành lập từ năm 1941 Trung tâm quốc giá nghiên cứu vềDLXH tại trờng ĐHTH Denver (ngày nay nằm trong trờng ĐHTH Chicagô) nhận đợctài trợ chủ yếu từ các nguồn t nhân Trung tâm nghiên cứu DLXH tại trờng ĐHTHMichigan đợc thành lập bằng sự hợp nhất bộ phận các nghiên cứu có chơng trình của
Bộ nông nghiệp với hai nhóm nghiên cứu khác Trung tâm đợc tài trợ bằng các nguồn
từ hợp đồng chính phủ và các tổ chức t nhân và từ các quỹ của trờng ĐHTH Michgan
Điều đó (nguồn tài tr ) chế định có tính chất của các đề tài đợc nghiên cứu, mà thờngmang tính vụn vặt, không cần đến phạm vi điều tra rộng lớn, và thời gian lâu dài vàviệc giải quyết các vấn đề lý thuyết lớn Những nghiên cứu này thờng đợc các nghiêncứu sinh và những ngời cùng tìm kiếm các chức danh khoa học, đồng thời cả các cộngtác viên với các sinh viên
Các nghiên cứu về thông tin đại chúng là thành phần cơ bản của một loạt cácnghiên cứu xã hội khác, ví dụ, mà có liên quan đến lĩnh vực văn hoá thời gian rỗi, và
đồng thời cả cấu trúc chi tiêu Những vấn đề này cũng đợc các nhà chuyên gia vềTTĐC nghiên cứu Họ hiểu rằng TTĐC là một phần của môi trờng xã hội của con ngời
và cần đợc xem xét trong tổng thể Thí dụ, viện báo chí thuộc trờng ĐHTH Tokiô tiếnhành vào năm 1959 một điều tra dân chúng thủ đô để làm rõ cấu trúc thời giờ nhàn rỗicủa họ Năm 1971 t liệu của cuộc nghiên cứu ở Nhật mọi ngời sử dụng thời gian thếnào về quỹ thời gian trong phạm vi của nớc đã đợc công bố, tại đây đã phỏng vấn38.000 ngời ở độ tuổi từ 10 tuổi Tại Tây Đức theo đơn đặt hàng của chủ hãng xuấtbản lớn nhất Springer một nghiên cứu trình độ văn hoá (dân trí) của độc giả đã đợc tiếnhành và giáo s tâm lý trờng ĐHTH Hăm Buốc K Bongi đã tiến hành phân loại theo thứbậc (mức độ)
Giáo s trờng ( ĐH Brooklyn thuộc trờng ĐHTH thành phố New York AnfredMacklan Lee khi là chủ tịch liên đoàn XHH Mỹ phát biểu tại hội nghị hàng năm của
nó ngày 30/8/1976 đã đánh giá tình trạng chung của XHH Mỹ thế này: “Để mà thành
Trang 20công trong việc tạo danh vọng nghề nghiệp, các nhà XHH Mỹ hiện tại cần tính đến cácnhu cầu, yêu cầu của giới hàn lâm các nhà xuất bản, các chính trị gia và các th ơng gia,
mà có ảnh hởng đối với các tổ chức giáo dục và nghiên cứu khoa học Sự thoả hiệp trênthực tế đang thành đặc điểm không tách rời của hoạt động nghề nghiệp (Lee A.MPresidental Adress "Sociology for whom? Americal Sociological Review" N - Y; 1976,Vol 41, No - 6]
Cần phải nói thêm về một đặc tính của sự phát triển các nghiên cứu trong giai
đoạn hiện nay Cùng với sự tích luỹ số lợng lớn các số hiệu thực nghiệm, vấn đề bảoquan, hệ thống hoá tìm kiểm và sử dụng chúng trở nên cấp thiết Năm 1946 ở Mỹ tạitrờng ĐH Wiliam, một ngân hàng t liệu các điều tra xã hội đã đợc thành lập Từ năm
1957 nó đợc chuyển thành th viện lu trữ các t liệu điều tra, ngân hàng t liệu này đợc gọi
là trung tâm nghiên cứu khoa học Roper Sau 10 năm trong kho lu trữ của thu việnngân hàng này có t liệu của 6000 nghiên cứu Từ năm 1967 còn tồn tại một hội đồng lutrữ các dữ kiện của KHXH tại trờng ĐHTH Pitshburg Cũng thời gian đó hội đồngquốc gia về các số liệu điều tra đợc công bố đã đợc thành lập để đa ra một quy chẩnnào đó trong sự công bố các báo cáo, thống kê về các nghiên cứu đã đợc tiến hành,nhằm tạo khả năng so sánh ở mức dộ nào đó các kết quả khác nhau với nhau Nh vậy
đã đề ra những yêu cầu đòi hỏi khi công bố kết quả cần có các dữ kiện sau: Tổng thểnhững ngời đợc hỏi, các phơng pháp điều tra, kích thớc của điều tra, xác định chínhxác câu hỏi, thời gian tiến hành phỏng vấn và ngời đặt hàng Tuy nhiên, nhiều lầnGallup đã chú ý rằng, không hơn 5% các tổ chức tiến hành điều tra các nhóm dân c cótheo các nguyên tắc nói trên
Tại Châu Âu năm 1960 tại trờng ĐHTH Cô-Lô-nhơ phòng lu trữ các điều tra xãhội thực nghiệm đã đợc thành lập Những ngân hàng t liệu tơng tự sau đó chẳng bao lâucũng đợc mở tại Amstecdam (1962) và Conchester (Anh Quốc 1967 ) Tại Mỹ thờigian đó đã có tới 24 ngân hàng t liệu
Ngân hàng thông tin XHH không chỉ làm việc cất giữ t liệu, mà còn giúp đỡ rấtnhiều các nhà lý luận khi trình họ t liệu thực nghiệm, và cả các nhà thực hành ở đây cóthể phân tích các phơng pháp tiến hành điều tra đã dùng, cách đặt câu hỏi, cấu trúc cácthang, làm quen với các cách phân tích t liệu
3 Đặc trng của các hệ thống t vấn XHH ở Châu Âu và Nhật Bản:
Chúng ta đã xem xét kỹ quá trình lịch sử phát triển của hệ thống nghiên cứuDLXH và TTĐC ( Chúng thờng xuyên rất khó phân tích trong phơng diện tổ chức) tạiHoa Kỳ, bởi vì chúng là phần đáng kể của điều tra XHH thực nghiệm trong lĩnh vựcnày Các nớc Tây Âu và Nhật Bản thời gian đầu chỉ là học trò và ngời kế tục của Mỹ.Ngay hiện nay vị trí chủ đạo của Mỹ trong XHH thực nghiệm ở phơng tây về căn bảnvẫn duy trì, tuy rằng mỗi nớc đều có những đặc điểm của mình mà bị chế định bởi các
đặc điểm của đối tợng nghiên cứu (hệ thống các phơng tiện thông tin quốc gia ) và cáctruyền thống nghiên cứu các hiện tợng xã hội
Anh Quốc
Tại Vơng quốc Anh có nhiều tổ chức nghiên cứu mà sử dụng các phơng phápXHH trong nghiên cứu các phơng tiện TTĐC tất cả các loại Chúng ta có thể chiachúng ra làm loại thơng mại, loại ở trong hệ thống thông tin đại chúng và loại mang
Trang 21tình hàn lâm ở đây, cũng nh ở Mỹ và nhiều nớc khác rất khó xác định các trung tâmnghiên cứu TTĐC, Các nghiên cứu trong lĩnh vực XH báo chí đợc gắn đặc biệt vớinghiên cứu DLXH.
Việc thành lập viện điều tra XH đầu tiên tại Vơng quốc Anh, với việc sử dụngphơng pháp nghiên cứu khoa học đợc gắn tên tuổi Gallup G - Viện d luận xã hội của v-
ơng quốc Anh đợc thành lập năm 1936 nh là tổ chức con đẻ của viện Gallup Viện nàyngay từ những bớc hoạt động đầu tiên cũng đã gắn với báo chí - các t liệu đầu tiên của
nó đợc báo "News Chronicle" công bố vào năm 1937 Từ năm 1960 số liệu các nghiêncứu của viện này (ngày nay là Social Service Gallup Polls limited ) đợc "DailyTelegraph" công bố:
Trung tâm nghiên cứu DLXH lớn thứ hai có thể coi là hãng "National OpinionPolls" đợc thành lập năm 1958 nh là một chi nhánh của tổ hợp Lord Rotermir
"Associated Newspapers" Hãng đợc gắn với tờ "Daily Mail", nơi mà cứ hai tuần mộtlần họ lại công bố các kết quả điều tra DLXH của mình
Sự xuất hiện công ty thứ 3 theo vai trò về điều tra DLXH đợc gắn với hãngquảng cáo Mặc dù về căn bản hãng "Research Services Limited" thành lập năm 1946,làm việc chủ yếu trong lĩnh vực liên kết thị trờng, nhng 5% khối lợng công việc là các
đơn vị đặt hàng của ngời sáng lập "London Press Exchange Group "Thí dụ, nó tiếnhành các nghiên cứu hàng năm về công chúng
Trung tâm "Opinion Research Centre" thành lập năm 1966 là trẻ hơn cả, mộtrong những nhà sáng lập ra nó là cựu phó biên tập về các vấn đề chính trị của báo
"Daily Mail” T Tompson Số lợng các báo cáo của hãng này vợt các số lợng xuất bảncủa tất cả các trung tâm khác và có tính phổ biến rộng lớn Trung tâm duy trì mối quan
hệ công việc với đài BBC, truyền hình thơng mại, tạp chí "New society" và một loạtcác báo cáo khác
Tờ "Daily Exspress" có một bộ phận nhỏ tiến hành các cuộc trng cầu ý kiếntrong thời gian vận động bầu cử Năm 1969 trên cơ sở của nó đã xuất hiện trung tâmcủa L Harris tại báo "Daily expres", mà làm việc nghiên cứu độc giả và các phơng tiệnTTĐC Đối tợng chính của nghiên cứu là các bạn trẻ mới nhận đợc quyền bầu cử theoquyết định quốc hội năm 1968
Trong số các trung tâm nghiên cứu mà nằm trong hệ thống các phơng tiện thôngtin đại chúng, có thể nêu bộ phận nghiên cứu công chúng của hãng phát thanh vơngquốc Anh BBC, đợc thành lập năm 1936 Vào cuối năm 1939, đã bắt đầu những cuộctrng cầu ý kiến bạn nghe đài, còn vào đầu những năm 50 đối tợng theo dõi, nghiên cứu
là khán giả truyền hình Lúc đầu chỉ nghiên cứu về ngời lớn, còn từ năm 1959 trongmẫu điều tra đã có đa cả trẻ em từ 5 tuổi Hàng ngày bộ phận này nhận các thông tin về
số lợng công chúng của từng chơng trình phát thanh hoặc truyền hình Ngoài ra còn sửdụng các điều tra lặp để do ý kiến về các chơng trình chính Theo từng câu hỏi riêngbiệt, ngời ta tiến hành những nghiên cứu đào sâu Bộ phận này cộng tác tích cực vớicác trờng ĐHTH Anh ITV là hãng truyền hình thơng mại của vơng quốc Anh Các tvấn đã xác định số lợng khán giả truyền hình tiến hành đo bằng thiết bị mà ghi lại sốnhững TV đã mở rộng trong 2000 hộ cho I.T.V Để đạt đợc đồng ý của chủ nhân vềviệc đặt thiết bị đo và tiến hành ghi nhật ký việc xem các chơng trình của BBC và
Trang 22VTTH thơng mại họ phải theo dõi chữa các hỏng hóc cho TV, các hãng quảng cáo vàcác khách hàng của những chơng trình này trả tiền cho những theo dõi này.
Về phần các nghiên cứu hàn lâm trong lĩnh vực TTĐC thì theo nh nhà bác học
Mỹ Anbert Crayling, ngời đã tiến hành tóm tắt các nghiên cứu trong lĩnh vực này,trong mời năm gần đây ở đó có một sự sôi động rõ rệt và sự mong muốn đi theo cáchcủa mình, khác với Mỹ, tuy rằng XHH thực nghiệm của Mỹ vẫn là khuôn mẫu nh trớc
đối với các điều tra cụ thể của Anh
Tại trờng ĐHTH Southemton, uỷ ban điều hành các nghiên cứu khoa học, trungtâm nghiên cứu TTĐC tại trờng ĐHTH Lester mà đợc nhà XHH nổi tiếng, JameHalloran lãnh đạo và trung tâm nghiên cứu về VTTH thuộc trờng ĐHTH thành phốLeeds với ngời đứng đầu là Brawn D, đã tiến hành những công việc, nghiên cứu độc lậpnhất Những nghiên cứu tâm lý học xã hội, trớc hết là những nghiên cứu gắn với TV,hiệu quả và các dạng sử dụng nó, đặc biệt vai trò giáo dục từ lâu đ ợc trờng Kinh tếLuân đôn tiến hành
Đáng chú ý là đài phát thanh mà xuất hiện ở Pháp sớm hơn các n ớc Châu Âukhác (Đài phát thanh quốc gia "Tur Effel" và một loạt các hãng t nhân đã có từ cuốinăm 1921), hơn 30 năm đối tợng chỉ là nghiên cứu của các điều tra thẩm mỹ văn hoá.VTTH Pháp cũng có lịch sử riêng của mình Từ năm 1936 trong nớc đã có phát các ch-
ơng trình truyền hình thờng xuyên, nhng số khán giả truyền hình rất ít (400.000 năm
1936 ) và chỉ có từ những năm 60 việc phổ biến rộng rãi loại phơng tiện thông tin nàymới đợc bắt đầu Hiển nhiên rằng việc nghiên cứu nó đợc các nhà khoa học đích thực
để tâm đến đúng vào thời gian này Vào những năm 50 trung tâm điều tra XHH đợcthành lập, vào năm 1960 đã thành lập trung tâm nghiên cứu về TTĐC Từ đó đài phátthanh và VTTH đã bắt đầu đợc nghiên cứu bằng các phơng pháp XHH, trong các điềutra XHH VTTH Pháp đã chi những khoản tiền cho các thí nghiệm trong lĩnh vựcchuẩn bị chơng trình nghiên cứu chỉ số lợng khán giả và thu thập các số liệu đánh giá
"Chỉ số yêu thích" Nhóm các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phơng pháp thống kêtrong phân tích ấn phẩm Thí dụ, nhà bác học và nhà báo nổi tiếng của Pháp JackKaizer đã viết cuốn sách "Bác hàng ngày của pháp" ở đó ông đã sử dụng phơng phápthống kê nghiên cứu các t liệu
Các trung tâm hàn lâm nh các đơn vị nghiên cứu tự lập ở Pháp không phát triểnlắm, tuy một số nghiên cứu riêng về các phơng tiện TTĐC, đợc tiến hành thí dụ, ở việnbáo trí của Pháp tại Paris Tại đây thờng xuyên sử dụng các phơng pháp thống kê thu
Trang 23thập các số liệu Thí dụ, nghiên cứu sinh Sorbonna đã phỏng vấn 318 ngời ở vùng nôngthôn Vogeza để thu thập tài liệu theo đề tài" Dân chúng các vùng nông thôn nhận cácthông tin từ đầu".
ảnh hởng các khuôn mẫu của Mỹ đến các điều tra cụ thể tại Pháp là rõ ràng, làkhông thể tranh cãi, nhng nó không lớn bằng ví dụ ở Tây Đức Ngoài ra các nghiên cứudạng Mỹ chỉ có đợc sự phổ biến rộng rãi vào những năm 70
Còn về việc soạn thảo lý thuyết, thì tại Pháp đã hình thành trờng phái độc lậptheo hớng văn hoá xã hội, mà có ảnh hởng đến các nghiên cứu cụ thể
Nh vậy, đại đa số các nghiên cứu XHH cụ thể nằm trong phần của các tổ chức tnhân, mà nghiên cứu các vấn đề xã hội theo đơn đặt hàng của các tổ chức khác nhau,trong số đó có những nghiên cứu về công chúng
Viện DLXH IFOP của Pháp thành lập năm 1937 là viện lâu năm nhất trong nớc.Vào thời gian đó đã tiến hành cuộc trng cầu ý kiến tại Pháp về đề tài "Có cần thiết phảichết vì nhảy hay không" IFOP nằm trong thành phần nhóm các viện của Gallup Nólàm việc theo đơn đặt hàng của các tổ chức và đảng phái chính trị rất khác nhau (trừ
đảng cộng sản ) nhng 65% thu nhập của nó do các điều tra thị trờng đem lại IFOP làmcả việc trng cầu ý kiến trớc bầu cử, kết quả của nó đợc công bố thờng xuyên hơn cả tạibáo "Francuar" Viện đã tiến hành các điều tra dân chúng về động cơ bầu cử ở các tỉnhtheo hợp đồng với tạp chí "Express" (1973) Một trong những chơng trình phát thanhphổ biến nhất tại Pháp "Châu Âu I" tiến hành cùng với IFOP trong ngày bầu cử một ch-
ơng trình - dự báo Theo các đơn đặt hàng IFOP tiến hành đo xem cái gì "đã đ ợc thấy
và đã đợc đọc" trong ấn bản này hay khác Vào năm 1972, ví dụ, đã tiến hành đ ợc 75nghiên cứu nh vậy Mối quan hệ truyền thống của IFOP với VTTH Pháp đợc duy trì.Viện tiến hành nhiều điều tra về quảng cáo, mà đợc truyền đi theo VTTH ( từ năm
1972 - 1973) đã tiến hành 110 điều tra nh vậy)
Rất thú vị rằng, trong viện LDXH của Pháp có sự phân chia ra làm các khu vực
và chuyên môn của các cộng tác viên tơng ứng với chúng, thí dụ khu vực DLXH và các
điều tra XHH, khu vực điều tra toàn quốc định kỳ, khu vực nghiên cứu của thị trờngphân tích thông tin, điều này không đặc trng cho các trung tâm nghiên cứu của Mỹ, nơi
mà cả tập thể lần lợt làm một dạng hay khác công việc
SOFRES - Hiệp hội nghiên cứu bằng cách trng cầu ý kiến của Pháp thành lậpnăm 1962 là một viện nổi tiếng rộng lơns khác mà cũng tiến hành các điều tra XHH cụthể Nó đợc coi nh ? xí nghiệp con đẻ của tổ chức quốc CEMAMETRA và có đợc sự
độc lập năm 1974 Hội này thờng xuyên liên trởng với những điều tra trớc bầu cử bởi vì
nó thờng tiến hành chúng theo đặt hàng của tờ "Le Figaro" nơi mà các kết quả sẽ đợccông bố Đài phát thanh và truyền hình Lucxenburg cũng thờng xuyên đặt hàng hộinày tiến hành các chơng trình về kết quả bầu cử Các vận động chính trị và bầu cử 155hoạt động của hội, tuy nhiên là một tổ chức thơng mại SOFRES quan tâm đến việcquảng cáo cho mình, việc đó đạt đợc nhờ mối liên hệ với báo chí đài phát thanh Theo
ý kiến của tạp chí "Press Actualite" chính các điều tra XHH và chính trị đợc công bố ởnhững phơng tiện TTĐC khác nhau, đã tạo nên sự nổi tiếng của tổ chức này" Đợc chỉ
đạo bởi các động cơ nh vậy SOFRES tiến hành các nghiên cứu cho các báo cáo và tạpchí với suy nghĩ rằng sẽ thu nhận đợc thông tin đại chúng đem lại Hội còn khảo sát cả
Trang 24cong chúng của TTĐC Các kết quả của công việc này không đợc công bố, chúng chỉmang tính phục vụ thí dụ năm 1969 SOFRES theo đơn đặt hàng của 16 báo tỉnh lớnnhất đã làm những điều tra tâm lý xã hội học và thống kê dân chúng đang sống trongnhững vùng phổ biến của các báo Đã làm rõ mức độ và những động cơ trung thành củabạn đọc với các loại báo, tạp chí khác nhau ( tin tức, văn học, phụ nữ, gia đình), sởthích với các vấn đề của địa phơng, hành vi công chúng (tần số, khối lợng đọc, những
đề mục hay đọc ) sự hài lòng ấn phẩm khác nhau
Giám đốc SOFRES đã trả lời phỏng phấn tạp chí "La Nhep" "trong một xã hộichúng ta các nghiên cứu chính trị chiếm chỉ 15% quay vòng tài chính Nh vậy khôngnhiều, nhng chính chúng bắt phải nói về chúng ta nhiều hơn cả, chính nhờ chúng têntuổi chúng ta có trên tất cả các phơng tiện thông tin
Cần phải nói vài lời về hai tổ chức nghiên cứu nổi tiếng khác "COFREMKA" và
"PUBLIMETRI" ở chúng có xu thế mới trong lĩnh vực điều tra cụ thể tại Pháp - họ phêbình những ngời anh em đi trớc ở sự quan tâm phiến diện các phơng pháp thống kê và
cố gắng dùng trong các công việc của mình những thành tựu của tâm lý xã hội học ngữnghĩa, các thuyết nhận thức và nhiều thuyết nhỏ khác nhau nữa" PUBLIETRI" cộngtác với các báo "Oror" và "Comba", đặt giá các điều tra của mình thấp nhằm tranhgiành khách hàng của "IFOP" (viện đắt giá nhất nh ngời Pháp thờng nói, đó là "sự trảgiá vì kinh nghiệm") Ngời sáng lập và tổng giám đốc hãng "COFREMKA", khi tuyêntruyền các phơng pháp làm việc của mình mà dựa trên nghiên cứu về động cơ, đã viết
tờ "Le Monde": "Nếu giới hạn ở những ý kiến chúng ta không thu đợc cái gì thú vị thực
sự cả, nhng nếu chúng ta xem xét những mối quan hệ thì chúng ta thu đợc bức tranhchính xác hơn những điều tra truyền thống"
Cần phải ghi nhận thêm một đặc điểm nữa của lĩnh vực nghiên cứu XHH tạiPháp Trong nớc có hai viện đợc thành lập về chuyên đề nghiên cứu báo chí và côngchúng của nó Tính chất và sự xuất hiện của các tổ chức làm việc nghiên cứu số lợng vàchất lợng đối tợng của TTĐC LOJD (văn phòng phát hành ) và CESP (trung tâm nghiêncứu quảng cáo) này đợc gắn trực tiếp với quảng cáo "Không nghi ngờ rằng chínhnhững nhà quảng cáo khởi đầu các công việc tới sự sắp xếp khái niệm khoa học có hệthống về vạn đọc của báo này hay khác" Nhà nghiên cứu báo chí Pháp ToussaintNadin đã viết nh vậy ("Prese Actualité" 1974 No 89) Văn phòng phát hành đợc thànhlập năm 1922 ( tức là trớc khi xuất hiện ở Mỹ và Châu Âu các viện DLXH ) do sự cốgắng chung của các đại diện các báo, tổ chức về sự phổ biến thông tin và quảng cáo.Mục đích của nó - nghiên cứu sự phổ biến thực tế (mà không phải số lợng in ấn) của ấnbản này hay khác vì quyền lợi của quảng cáo và theo nguyện vọng của chính cơ quan
ấn hành Khoảng gần 775 báo chí thơng mại, tức là hầu hết báo hàng ngày cần đến sựgiúp đỡ của văn phòng để kiểm tra đợc các hãng quảng cáo, hoặc hợp đồng nhợngquyền của quảng cáo cho các báo hoặc chính cơ quan báo chí đặt hàng và tài trợ
Trung tâm nghiên cứu quảng cáo CESP đợc thành lập năm 1956 ban đầu chỉ đểxem xét kinh nghiệm nghiên cứu công chúng, mà đợc tiến hành tại Mỹ và vơng quốcAnh, còn từ năm 1965 đã bắt đầu tiến hành những điều tra công chúng hàng năm củamình theo đặt hàng của báo chí, đài phát thanh VTTH về phim ảnh Trong Hội đồngquản trị của trung tâm có thậm chí một đại biểu của trờng ĐHTH Khác với văn phòngphát hành dựa chủ yếu vào việc nghiên cứu văn bản, trung tâm tiến hành điều tra theo
Trang 25mẫu lựa chọn, để xác định các đặc tính của các loại ngời khác nhau, mà thờng đọc báoxem ti vi, nghe đài và xem phim Trong trờng hợp thứ nhất tiến hành phân tích định l-ợng công chúng, trong trờng hợp thứ hai về định tính Trung tâm nghiên cứu hiện naytheo dõi khoảng 70 báo, tạp chí, ghi lại ngoài các đặc tính nhân khẩu - XH của côngchúng trong TTĐC, các đặc điểm nơi sống, các điều kiện sống, trang bị căn hộ, số lầnxem phim Nh tờ "Presse Actualite" nói: " tính chất các câu hỏi chỉ ra xu hớng quảngcáo của các nghiên cứu" - nghiên cứu không phải sở thích "của ngời sử dụng thông tin
"đối với nội dung của ấn phẩm, mà các thói quen tiêu dùng Bạn đọc tự mình ít khi làkhách thể của một nghiên cứu hệ thống Rất ít báo chí phân tích sở thích các độc giảcủa mình và những ngời không phải là độc giả của họ"
Sự pha trộn nh vậy trong một nghiên cứu các nhiệm vụ xem xét công chúng vớinhững quyền lợi thơng mại thuần tuý của các nhà quảng cáo rất đặc trng cho các điềutra cụ thể trong lĩnh vực khoa học báo chí tại phơng Taya Kinh nghiệm của Tây Đức
và Nhật Bản là sự khẳng định cho điều đó
Tây Đức.
Những cuộc trng cầy ý kiến đầu tiên đợc tiến hành ở Đức vào khoảng nhữngnăm 30 giống nh nhiều nớc khác ở châu Âu, và hội nghiên cứu ngời tiêu dùng đã tổchức chúng.Vào thời gian này đã hình thành cái gọi là "trờng phái Frankfurt" rất đặc tr-
ng bởi quan điểm rằng điều tra cần đợc tiến hành nh một cuộc nói chuyện tự do không
ép buộc, không hề giống phỏng vấn, trong đó những ngời nói chuyện thờng là nhữngngời bạn và những ngời phỏng vấn thân quen Song những số liệu thu đợc theo phơngpháp này không thể phân tích bằng phơng pháp thống kê, còn ý kiến của những ngờiquen biết nhau không có tính đại diện, vì thế, nó là vô bổ Từ đầu những năm 50 XHHthực nghiệm ở Tây Đức đợc phát triển theo khuôn mẫu của Mỹ, và nếu nh trong lĩnhvực lý thuyết về sau này có xuất hiện nhiều trào lu tự chủ (trờng phái Franfurt là ví dụ).Thì trong các điều tra XHH cụ thể các nhà XHH Tây Đức tiếp tục và phát triển truyềnthống Mỹ
Về số lợng điều tra tính theo đầu ngời của Tây Đức bây giờ họ chút nữa thì vợt
Mỹ Các nghiên cứu trong lĩnh vực TTĐC đợc tiến hành với các trờng ĐHTH, cũng nhcác viện nghiên cứu khoa học t nhân và các trung tâm thơng mại không thể nào phânbiệt rõ giữa chúng ai nghiên cứu riêng về các phơng tiện TTĐC ở Tây Đức khách hàngquyết định xu hớng và đề tài nghiên cứu Mà các khách hàng, cùng với báo chí, đàiphát thanh, VTTH, là các đảng phái chính trị, các nhà hoạt động chính trị, các tổ chứcchính trị, các cơ quan chính phủ, các xí nghiệp và tất nhiên là các hãng quảng cáo ở
đây đơn đặt hàng nghiên cứu mà đợc báo chí trả, hoàn toàn không nhất thiết về các vấn
đề thông tin Thí dụ, tạp chí rất phổ biến "Spigel" đã đặt hàng một nghiên cứu về sự tác
động của quảng cáo đối với độc giả của mình Gần nh tất cả các cơ quan báo chí đềutiến hành những nghiên cứu tơng tự, bởi vì quảng cáo có hiệu quả là nguồn tăng thêmthu nhập Sự đồng nhất những quyền lợi của các báo trong mặt này đã cho phép việnDLXH DIVO (Franphurt - on - Maine ) và INRATEST (Munkhen) lập một ăng két( phiếu hỏi ) tổng hợp theo đó năm 1946, theo đơn đặt hàng của liên hiệp các nhà làmbáo đã điều tra độc giả của gần nh toàn bộ nền báo chí Tây Đức Trong ăng két chỉ có
3 câu hỏi điều tra: Bạn thờng đọc các báo cáo và tạp chí nào ? Bạn có xem VTTH haykhông ? Và tuần vừa qua bạn có đi xem phim hay không ? một số tờ báo đôi khi bổ
Trang 26xung ăng két này bằng những câu hỏi về sự cảm thụ thông tin báo chí: mức độ đọc ờng xuyên, sự phổ biến các đề mục khác nhau của tờ báo, việc chú ý đến các nguồnthông tin khác.
th-Các hãng VTTH và Đài phát thanh Tây Đức cũng lôi kéo các Trung tâm nghiêncứu nổi tiếng vào việc nghiên cứu nhóm công chúng của mình VTTH đặc biệt quantâm đến những vấn đề cảm nhận các thông tin đợc truyền đi Cả những nhà bác họccủa các trờng ĐHTH và các trung tâm thơng mại đều nghiên cứu ảnh hởng của các ch-
ơng trình TV đến DLXH về vấn đề này hay khác INFRATEST của Munkhen đã soạnthảo một thang từ + 10 đến - 10 với mục đích đó, và theo đó đánh giá từng chơng trình
Cần xem xét đặc biệt một trong những viện lớn và nổi tiếng nhất đã tiến hànhcác điều tra XHH cụ thể tại Tây Đức - viện dân c học (Demoscopi ) đợc thành lập năm
1947 tại Allensbach Lãnh đạo nó là một nhà XHH, bác học, ngời đứng đầu Viện chínhluận của trờng ĐHTH Elizabet Noelle-Neuman Nh vậy đã hơn 30 năm nay viện dân chọc tiến hành các dự báo kết quả bầu cử vào quốc hội, ở đây nghiên cứu đợc đảng cầmquyền tài trợ Các hợp đồng với các cơ quan của chính phủ nh bộ bảo vệ sức khoẻ, bộ tpháp tạo thành phần nhất định trong ngân quỹ của viện Hiển nhiên rằng không mộttrung tâm nghiên cứu t nhân nào có thể tồn tại mà không nghiên cứu những điều màgiới kinh doanh quan tâm: nghiên cứu thị trờng hàng hoá, điều tra những ngời tiêudùng hàng hoá, đa ra các dự đoán về đầu t vốn Tuy vậy phân t tất cả công việc củaviện đợc làm cho báo và các tạp chí Đó là phần rất lớn đối với một trung tâm nghiêncứu thơng mại Ngoài những quyền lợi nghề nghiệp thuần tuý (bản thân Noelle-Neuman là nhà báo nữ vẽ tuyên truyền cho nền khoa học báo chính chính xác
"Pressizion Press” ) báo chí cần cho các trung tâm nghiên cứu ở tất cả các n ớc nhquảng cáo Chính những công bố đợc đăng trên báo chí đảm bảo sự lên tiếng rộng lớncho các tác giả, chính vậy Noelle-Neuman tự mình công bố một cách có hệ thống trênVTTH và báo chí những kết quả nghiên cứu của mình và đa ra dự báo
Viện dân c học đã thành lập hệ thống nghiên cứu ý kiến khán giả truyền hình
đầu tiên trên thế giới với các kỹ thuật hiện đại đợc gọi là ống kính truyền hình
"Telescope" Bằng việc chọn mẫu có tính đại diện đã chọn đợc một số lợng nhất địnhcác gia đình có TV, và đợc sự đồng ý của họ ngời ta đã đặt thêm vào TV một bộ phận
mà nhờ đó sẽ gửi về trung tâm tín hiệu về việc ai xem mà xem cái gì vào thời điểm đótrên VTTH và đánh giá thế nào về chơng trình khi tất cả các thành viên gia đình ấnnhững nút cần thiết Gia đình đợc trả một thù lao nhỏ về sự cộng tác, sau một đêmthông tin đã nhận đợc nh vậy đợc xử lý và sáng ra sự phân tích các chơng trình củangày hôm qua đã đợc chuẩn bị, với sự phân chia khán giả theo học vấn, kiểu nơi sống,nghề nghiệp Tuy nhiên phơng pháp không đợc dùng rộng rãi vì kỹ thuật phức tạp và
đắt
Tại viện dân c học có một phòng lu trữ đợc tổ chức rất tốt mà cho phép ta làmnhững so sánh các số liệu VTTH - theo những thông số khác nhau và trong nhiều năm.Văn phòng lu trữ này giúp việc soạn thảo các tài liệu cho những điều tra mới Nó cóhai bộ phận: Tại một bộ phận tất cả các câu hỏi mà lúc nào đó đã đa ra trong những
điều tra của viện đợc sắp xếp trình bày lại theo thứ tự A, B, C Cạnh từng câu hỏi họ chỉ
rõ trong nghiên cứu nào đó đã đợc dùng và có thể tìm thấy kết quả điều tra ở đâu