1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

26 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Tác giả Lê Thanh Tùng, Phạm Xuân Cường, Trần Nam Sơn
Người hướng dẫn Hoàng Thị Lan
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 186,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Trang 1

HỘI NHẬP VÀO NỀN KINH TẾ KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI

Giáo viên hướng dẫn : Hoàng Thị Lan

Sinh viên thực hiện : Lê Thanh Tùng 20093106

Phạm Xuân Cường 20090438 Trần Nam Sơn 20092279

HÀ NỘI, 4/2011

eeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeee

fggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggh

Trang 2

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 2 2 Một số vấn đề chung về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế 3 2.1 Khái niệm hội nhập kinh tế 3

2.2 Tại sao phải hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 3

2.3 Nội dung của hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 4

2.3.1 Nguyên tắc của hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 4

2.3.2 Nội dung của hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 4

2.4 Thuận lợi, khó khăn và thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 5

3 Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và trên thế giới 8 3.1 Quan điểm, mục tiêu của đảng về hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 8

3.1.1 Quan điểm: 8

3.1.2 Mục tiêu 8

3.2 Những chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 9

3.3 Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 9

3.3.1 Con đường hội nhập 9

3.3.2 Việt Nam gia nhập ASEAN – Hiệp hội các nước Đông Nam Á 10

3.3.3 Việt Nam hội nhập vào APEC – Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương 13

3.3.4 Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) 13

3.3.5 Quá trình hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) 15

3.3.6 Hợp tác kinh tế quốc tế năm 2011 22

KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượngsản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàncầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung tư bảndẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia tácđộng mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế chính trị của các nước nói riêng và của thế giớinói chung Đó là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởngkinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thếgiới như WTO, EU, AFTA và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoáđem lại Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà

là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như saunày Bởi một nước mà đi ngược với xu hướng chung của thời đại sẽ trở nên lạc hậu và bị

cô lập, sớm hay muộn nước đó sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế Hơn thế nữa, mộtnước đang phát triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt thì việc chủ độnghội nhập kinh tế với khu vực và thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ hết Trong quátrình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn có cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời cơ phát triểnkinh tế Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu

tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báucủa các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triểnkinh tế.Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt đối lập Hội nhập kinh tế quốc tế mangđến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thửthách Nhưng theo chủ trương của Đảng : " Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước

", chúng ta sẽ khắc phục những khó khăn để hoàn thành sứ mệnh Hội nhập kinh tế quốc

tế là tất yếu khách quan đối với Việt Nam Em xin chọn đề tài: " Các bước đi của nước

ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới " Đây là đề tài rất sâu rộng,mang tính thời sự Đã có rất nhiều nhà kinh tế đề cập đến vấn đề này Bản thân chúng

em, là những sinh viên năm thứ hai, khi được giao viết đề tài này cũng cảm thấy rấthứng thú và say mê Tuy nhiên do sự hiểu biết còn hạn chế nên chúng em chỉ xin đónggóp một phần nhỏ suy nghĩ của mình Bài viết còn có rất nhiều sai sót, chúng em kínhmong cô giúp đỡ để hoàn thành bài viết tốt hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn !

Trang 4

Chương 1

Đặt vấn đề

Chủ trương hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, thực hành đường lối đối ngoại hòa bình,hữu nghị với các quốc gia, dân tộc trên thế giới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra từkhi thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong quá trình lãnh đạo côngcuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra đường lối mở cửa kinh tế, chuyển nền kinh tếsang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Có thể nói, tích cực và chủ động hộinhập kinh tế khu vực và quốc tế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quátrình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước Thực hiện chủ trương này, sau 20 năm đổimới, nền kinh tế nước ta đã hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới Tiếp tụcđường lối đối ngoại rộng mở, Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ: Chủ động và tích cựchội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nayđến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hộinhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương,lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất Phát huy vai trò chủ thể và tínhnăng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc

tế Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới vàthương hiệu mới.Từ khi Việt Nam chính thức là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) đã đặt ra nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn Bài viết nhằm nghiên cứu vàquán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

về hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó phân tích thực trạng quá trình hội nhập củanền kinh tế nước ta trong công cuộc đổi mới và đề xuất một số giải pháp góp phần nângcao nhận thức lý luận, đẩy mạnh tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng về hộinhập kinh tế

Trang 5

Một số vấn đề chung về hội nhập

kinh tế khu vực và quốc tế

2.1 Khái niệm hội nhập kinh tế

Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là quá trình gắn bó một cách hữu cơ nền kinh tếquốc gia với nền kinh tế thế giới góp phần khai thác các nguồn lực bên trong một cách

có hiệu quả

2.2 Tại sao phải hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Hội nhập là xu hướng chung của toàn cầu,nếu không kịp thời hội nhập,nền kinh tế nước

ta sẽ tụt hậu so với các nước trên thế giới.Vì thế nước ta phải tích cực hội nhập kinh tế

để tham gia sâu hơn nữa vào các hoạt động của nền kinh tế thế giới nhằm công cuộc xâydựng đất nước và bảo vệ an ninh quốc phòng,phục vụ đắc lực cho việc ký kết và thựchiện các cam kết quốc tế

Trong thời đại ngày nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang là 1 trong nhữngvẫn đề thời sự đối với hầu hết các nước Nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược xuthế chung của thời đại, khó tránh khỏi rơi vào lạc hậu Trái lại, mở cửa hội nhập kinh tếquốc tế tuy có phải trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển củamỗi nước Bởi với những tiến bộ trên lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệtruyền thông và tin học, thì giữa các quốc gia ngày càng có mối liên kết chặt chẽ, nhất làtrên lĩnh vực kinh tế Xu hướng toàn cầu hoá được thể hiện rõ ở sự phát triển vượt bậccủa nền kinh tế thế giới

- Về thương mại: trao đổi buôn bán trên thị trường thế giới ngày càng gia tăng Từsau chiến tranh thế giới lần thứ hai, giá trị trao đổi buôn bán trên thị trường toàncầu đã tăng 12lần Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi đáng kể:công nghiệp nhường chỗcho dịch vụ

- Về tài chính: số lượng vốn trên thị trường chứng khoán thế giới đã tăng gấp 3 lầntrong 10 năm qua Sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của các tổ chứckinh tế quốc tế

là một phần của quốc tế hoá Nó góp phần thúc đẩy nền kinh tếcủa các nước pháttriển mạnh hơn nữa

Trang 6

Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hoá các nước giàu luôn có những lợi thế về lực lượngvật chất và kinh nghiệm quản lý Còn các nước nghèo có nền kinh tế yếu kém dễ bị thuathiệt, thường phải trả giá đắt trong quá trình hội nhập Là một nước nghèo trên thế giới,sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơchế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nànbắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền kinh tế thị trường rộng lớn đầy rẫy những sức ép, khókhăn Nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ cuộc Trái lại, đứng trước xu thế phát triểntất yếu, nhận thức được những cơ hội và thách thức mà hội nhập đem lại, Việt Nam, một

bộ phận của cộng đồng quốc tế không thể khước từ hội nhập Chỉ có hội nhập Việt Nammới khai thác hết những nội lực sẵn có của mình để tạo ra những thuận lợi phát triểnkinh tế

Chính vì vậy mà đại hội Đảng VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991 đã đề rađường lối chiến lược: " Thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại " Đến đại hội đảng VIII, nghị quyết TW4 đã đề ra nhiệm vụ:

" giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài, xây dựngmột nền kinh tế mới, hội nhập với khu vực và thế giới "

2.3 Nội dung của hội nhập kinh tế khu vực và thế

giới

2.3.1 Nguyên tắc của hội nhập kinh tế khu vực và thế giớiBất kì một quốc gia nào khi tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực cũng nhưtrên thế giới đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc của các tổ chức đó nói riêng vànguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung

Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản của hội nhập:

• Không phân biệt đối xử giữa các quốc gia; tiếp cận thị trường các nước, cạnh tranhcông bằng, áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết, dành ưuđãi cho các nước đang và chậm phát triển

• Đối với từng tổ chức có nguyên tắc cụ thể riêng biệt

2.3.2 Nội dung của hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Hội nhập kinh tế khu vực(ASEAN)

Về mục đích, nguyên tắc, Hiến chương khẳng định lại các mục đích và nguyên tắc cơbản của ASEAN, nhất là mục đích hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác khu vực, nguyêntắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ của nhau; bổ sungmột số mục đích và nguyên tắc mới phù hợp tình hình, trong đó có liên kết ASEAN, thuhẹp khoảng cách phát triển, hướng về nhân dân và vai trò trung tâm của ASEAN ở khuvực, nguyên tắc về việc các nước không tham gia và không cho phép bất kỳ quốc gia, đốitượng nào sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên để chống nước thành viên khác

Về cơ cấu tổ chức, Hiến chương nêu rõ: Bộ máy sẽ bao gồm Hội nghị cấp cao (là cơ quanquyết định chính sách cao nhất, mỗi năm họp hai lần, thay vì mỗi năm một lần trước

Trang 7

đây); bốn Hội đồng cấp Bộ trưởng, trong đó ba Hội đồng về ba trụ cột của Cộng đồngASEAN (gồm chính trị - an ninh; kinh tế; văn hóa - xã hội) và một Hội đồng điều phốichung (gồm các Bộ trưởng Ngoại giao); các hội nghị bộ trưởng chuyên ngành; Ủy ban đạidiện thường trực các nước tại ASEAN; Ban Thư ký ASEAN và Tổng Thư ký ASEAN;Ban Thư ký ASEAN quốc gia Ngoài ra, ASEAN cũng sẽ lập Cơ quan nhân quyền ASEAN.

Về cách thức ra quyết định, nguyên tắc chủ đạo là đồng thuận; khi không đạt đồngthuận, Hội nghị cấp cao sẽ quyết định về cách thức phù hợp

Về giải quyết tranh chấp, bất đồng, Hiến chương khẳng định nguyên tắc giải quyết hòabình, thông qua thương lượng, dựa trên các thỏa thuận đã có của ASEAN Nếu khônggiải quyết được, hoặc có vi phạm nghiêm trọng Hiến chương, vấn đề được trình Hội nghịcấp cao quyết định Hiến chương ASEAN do những người đứng đầu Nhà nước hoặc Chínhphủ các nước thành viên ký phê chuẩn; có hiệu lực 30 ngày sau khi tất cả các quốc giathành viên phê chuẩn Hiến chương được xem xét, bổ sung, sửa đổi 5 năm một lần đểphù hợp tình hình thực tế Hội nhập kinh tế thế giới(chủ yếu là WTO)

Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện thuậnlợi hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư:

1 Về thương mại hàng hoá: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan nhưQUOTA, giấy phép xuất khẩu , biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảmdần theo lịch trình thoả thuận

2 Về thương mại dịch vụ, các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn phươngthức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên doanh,hiện diện

3 Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu về tỉ lệ nộiđịa hoá, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ,khuyến khích

tự do hoá đầu tư

2.4 Thuận lợi, khó khăn và thách thức khi Việt Nam

hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Thuận lợi

- Khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế

- Đẩy mạnh thương mại và quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới.Việt Nam sẽ

có lợi từ việc cải thiện hệ thống các tranh chấp khi có quan hệ với các cường quốcthương mại chính

- Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn,kinh nghiệm,quản lí công nghệ mới củanước ngoài

- Nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế,đồng thời tạo ramôi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 8

Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

- Tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩythương mại phát triển

Khó khăn,thách thức

1 Cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn Cạnh tranh không chỉ giữa doanh nghiệp nước

ta với doanh nghiệp các nước trên thị trường nước ngoài để xuất khẩu hàng hóa vàdịch vụ mà cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước Điều đó gây sức ép khôngnhỏ đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp đã quen với sự trợgiúp của Nhà nước, những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và công nghệ yếukém mà tình trạng này lại khá phổ biến ở doanh nghiệp nước ta

2 Hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quátrình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụtiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả nhữngrủi ro về mặt xã hội Thách thức ở đây là đề ra được những chính sách đúng đắnnhằm tăng cường khả năng kiểm soát vĩ mô, nâng cao tính năng động và khả năngthích ứng nhanh của toàn bộ nền kinh tế, củng cố và tăng cường các giải pháp ansinh xã hội để khắc phục những khó khăn ngắn hạn Tóm lại, phải tạo dựng đượcmôi trường để quá trình chuyển dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực diễn ra một cáchsuôn sẻ, với chi phí thấp

3 Hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách cho việc bổsung và hoàn thiện thể chế Trong thời gian qua, mặc dù đã có nhiều nỗ lực để hoànthiện khuôn khổ pháp luật có liên quan đến kinh tế và thương mại nhưng chúng

ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm Trước hết, phải liên tục hoàn thiện môi trườngkinh doanh để thu hút đầu tư và phát huy mọi tiềm lực của tất cả các thành phầnkinh tế Đồng thời không ngừng hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để bảo đảmmột môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hộp nhập

4 Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã làm bộc lộ nhiều bất cập của nền hành chínhquốc gia Do một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO là minh bạch hóa nênkhi gia nhập WTO, nền hành chính quốc gia chắc chắn sẽ phải có sự thay đổi theohướng công khai hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn Đó phải là nền hành chính vìquyền lợi chính đáng của mọi người dân, trong đó có doanh nghiệp và doanh nhân,lấy người dân, doanh nghiệp, doanh nhân làm trọng tâm phục vụ, khăc phục mọibiểu hiện trì trệ, thờ ơ và vô trách nhiệm Nếu không tạo ra được một nền hànhchính như vậy thì chẳng những không tận dụng được các cơ hội do hội nhập kinh

tế nói chung và việc gia nhập WTO nói riêng đem lại mà cũng không chống đượctham nhũng, lãng phí nguồn lực

5 Để bảo đảm tiến trình hội nhập đạt hiệu quả, bên cạnh quyết tâm về chủ trươn,cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân đủ mạnh.Đây cũng là một thách thức to lớn đối với Việt Nam do phần đông cán bộ của tacòn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu

tố nước ngoài Nếu không có sự chuẩn bị phù hợp, thách thức này sẽ chuyển thànhnhững khó khăn dài hạn rất khó khắc phục

6 Hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự hợp tác về an ninh và văn hóa Đồng thời, việc

mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay,bên cạnh nhiều mặt tốt, những cái xấu cũng du nhập vào, đòi hỏi các cấp lãnh đạo,

Trang 9

quản lý và mọi người dân phải nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ gìn bản sắc văn hóadân tộc nhằm nâng cao sức đề kháng, chống lại sự tha hóa, biến chất, chống lại lốisống hưởng thụ, tự do tư sản .

Trang 10

tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.

Trong nghị quyết 07, Bộ Chính Trị đã nêu ra quan điểm chỉ đạo về chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế:

- Quán triệt chủ trương được xác định tại đại hội Đảng IX: Chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quảhợp tác kinh tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảovệ lợi ích dântộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường

- Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp toàn dân, quá trình vừa hợp tác vừa đấutranh; vừa đề phòng tư tưởng thụ động vừa phải chống tư tưởng đơn giản, nônnóng

- Đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý phù hợp với trình độ phát triển của đất nước.3.1.2 Mục tiêu

Bộ Chính Trịnh: " Chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới nhằm mở rộng thịtrường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá

- hiện đại hoá theo định hướng XHCN; thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng

Trang 11

dân chủ văn minh, trước mắt là thực hiện kế hoạch nhiệm vụ đưa ra trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 và kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 ".

- Đối với những chính sách: Nhà nước ban hành chính sách thương mại, tài chính,tiền tệ, đầu tư để kích thích mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp tạo điều kiện cho nước ta hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

3.3 Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt

Nam

3.3.1 Con đường hội nhập

Theo quan điểm của đảng, Việt Nam tiến hành hội nhập từng bước, dần dần mở cửa thịtrường với lộ trình hợp lý Một lộ trình “ quá nóng “ về mức độ %, thời hạn mở của thịtrường vượt quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế sẽ dẫn tới thua thiệt, đổ vỡ hàngloạt doanh nghiệp, vượt khỏi tầm kiểm soát của nhà nước, kéo theo nhiều hậu quả khólường Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là lộ trình càng dài càng tốt, bởi kéo dài quátrình hội nhập sẽ đi liền với duy trì quá lâu chính sách bảo hộ bao cấp của nhà nước, gâytâm lý trì trệ, ỷ lại, không dốc sức cải tiến quản lý công nghệ, kéo dài tình trạng kémhiệu quả, yếu sức cạnh tranh của nền kinh tế

Xác định lộ trình hội nhập là rất quan trọng Đây không chỉ là xác định thời gian mở cửathị trường trong nước mà còn là xác định mục tiêu nền kinh tế nước ta: phát huy lợi thế

so sánh, chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn trên thương trường quốc tế, thâm nhập ngàycàng nhiều vào thị trường các nước cả về hàng hoá và đầu tư dịch vụ

Tháng 12/1987, Quốc hội nước ta thông qua luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã

mở các cuộc đàm phán để nối lại các quan hệ với quỹ tiền tệ quốc tế và ngân hàng tàichính thế giới, đến tháng 10/1993 đã bình thường hoá quan hệ tín dụng với hai tổ chứctài chính tiền tệ lớn nhất thế giới

Tháng 7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và từ ngày 1/1/1996 bắt đầuthực hiện cam kết trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do ASEAN, tức AFTA Cùng

Trang 12

Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

tháng 7/1995 công nghệ đã kí kết hiệp định khung về hợp tác kinh tế, khoa học kĩ thuật

và một số lĩnh vực khác với công đồng Châu Âu (EU) Đồng thời bình thường hoá quan

hệ với Mĩ Khoảng tháng 3/1996, Việt Nam tham gia với tư cách thành viên sáng lậpdiễn đàn hợp tác kinh tế á - Âu (ASEAM) Tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thànhviên chính thức của diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Tháng7/2000, hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã được kí kết Trước đó từ cuối năm

1994, nhà nước ta đã gửi đơn xin gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đếnnăm 2007 chúng ta đã chính thức gia nhập WTO sau khi bộ trưởng Trương Đình Tuyểnđàm phán thành công vào năm 2006

3.3.2 Việt Nam gia nhập ASEAN – Hiệp hội các nước Đông

Nam Á

Quá trình gia nhập

Ngày 25/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN

Ngày 15/12/1995 Việt Nam chính thức tham gia thực hiện AFTA bằng việc kí nghị địnhthư tham gia hiệp định CEPT để thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN

Việt Nam bắt đầu thực hiện hiệp định CEPT từ ngày1/1/1996 và sẽ kết thúc vào ngày1/1/2006

Tại thời điểm gia nhập, Việt Nam đã đệ trình với các nước ASEAN bốn danh mục hànghoá theo quy định của CEPT: danh mục loại trừ hoàn toàn, danh mục loại trừ tạm thời,danh mục cắt giảm thuế ngay, danh mục nông sản chưa chế biến và chế biến nhạy cảmcao

Những mặt hàng đưa vào thực hiện CEPT là những mặt hàng có thế mạnh xuất khẩucủa ta hoặc những mặt hàng chưa có trao đổi buôn bán gì với ASEAN

Những lợi ích và những bất cập đối với nước ta khi gia nhập ASEAN /AFTA/CEPTNhững đánh giá sơ bộ về thực trạng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trongnước trong mối liên hệ với việc thực hiện CEPT cho thấy sự bất lợi của các doanh nghiệptrong nước nếu Việt Nam phải thực hiện cắt giảm thuế quan và bỏ các rào cản phi thuế.Hiệu quả sản xuất trong nước còn thấp do sự lạc hậu trong các thiết bị máy móc Cơ chếKHH tập trung trong thời gian dài trước đây đã tạo cho các nhà sản xuất trong nước cóthói quen ỷ lại vào chính sách bảo hộ mậu dịch, ít quan tâm đến khả năng cạnh tranh,thị trường tiêu thụ và vấn đề hiệu quả sản xuất Các doanh nghiệp chưa có định hướng

cụ thể về biện pháp điều chỉnh sản xuất để tồn tại và phát triển trong môi trường mởcửa không còn hàng rào bảo hộ Nhiều doanh nghiệp không có định hướng xuất khẩu mộtcách khả thi, kế hoạch xuất khẩu thì chỉ là những chỉ tiêu xuất khẩu dựa trên kế hoạch

về sản lượng so sánh với dự kiến về kế hoạch tiêu dùng trong nước mà không có nhữngphân tích so sánh cụ thể dựa trên tiêu chí về giá thành, chất lượng, khả năng tiêu thụ.Tuy nhiên cũng có một số ngành sản xuất trong nước thật sự có tiềm năng cạnh tranh,một số doanh nghiệp phần nào nắm được một số thay đổi trong môi trường kinh doanhtheo cơ chế thị trường, kịp thời đầu tư công nghệ mới Đối với các ngành này nếu được

áp dụng những biện pháp, định hướng đúng đắn và thích hợp thì sẽ có khả năng pháttriển sản xuất và xuất khẩu

Trang 13

Với thực trạng phát triển hiện nay của các ngành sản xuất trong nước, phương ánthích hợp nhất để thực hiện AFTA/CEPT cần được lựa chọn đối với Việt Nam là ViệtNam sẽ thực hiện AFTA trong khuôn khổ các quy định của CEPT, đồng thời đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu phù hợp với các lợi thế tương đối của Việt Nam trong tương quan

so sánh với các nước ASEAN; tập trung phát triển nhanh những ngành có lợi thế Tuynhiên vẫn tiếp tục duy trì bảo hộ có thời hạn hoặc theo những mức độ khác nhau chophần lớn các ngành của nền kinh tế quốc dân, để có thể đạt được một trình độ phát triểnnhất định trước khi mở cửa thị trường trong nước theo CEPT, chỉ hạn chế sản xuất vớimột số ít các ngành mà Việt Nam không có khả năng cạnh tranh

Điều thuận lợi là hàng xuất khẩu của ta khi nhập vào các nước ASEAN sẽ được hưởngthuế suất ưu đãi nhưng đây cũng là một vấn đề có những thách thức riêng của nó Bởikhi ta được hưởng ưu đãi thì cũng phải dành ưu đãi về thuế suất cho bạn Khi đó nếuhàng hoá của ta chất lượng không bằng bạn, giá cao hơn thì các doanh nghiệp của ta rất

dễ mất đi thị trường trong nước Chẳng hạn như mặt hàng gạo, mặc dù ta là nước xuấtkhẩu gạo thứ hai trên thế giới chỉ sau Thái Lan Khi được hưởng thuế quan ưu đãi, kể

cả sau khi đã nộp thuế nhập khẩu, nếu giá thành bán lẻ của gạo Thái Lan vẫn thấp hơngiá thành bán lẻ của ta (mà gạo Thái Lan phải ngon hơn gạo ta), thì người tiêu dùng vớimức sống ngày càng tăng như hiện nay chọn mua gạo Thái Lan để ăn Và gạo của ta lúc

đó chỉ còn là thị phần của những người có thu nhập thấp hoặc để xuất khẩu

Dấu ấn Việt Nam sau 15 năm gia nhập ASEAN

Trong suốt chặng đường 15 năm qua, Việt Nam đã tham gia tích cực và có nhiều đónggóp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN cũng như trong việc xácđịnh tương lai phát triển, phương hướng hợp tác và các quyết sách lớn của ASEAN, gópphần tăng cường đoàn kết và hợp tác, nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của Hiệp hội.Với mong muốn cùng chung tay xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng,Việt Nam và các thành viên khác của ASEAN đã vượt qua những khác biệt và tồn tại

do lịch sử để lại, đẩy mạnh hợp tác toàn diện trên tinh thần hữu nghị và đoàn kết ViệcViệt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 được coi là bước khởi đầu quan trọng đối với tiếntrình mở rộng và phát triển của ASEAN Ngay sau khi tham gia ASEAN, Việt Nam đãtích cực thúc đẩy việc kết nạp các nước Lào, Myanmar và Campuchia vào ASEAN, qua

đó góp phần hoàn tất ý tưởng về một ASEAN bao gồm toàn bộ 10 quốc gia ở Đông Nam

Á, mở ra một trang mới của đoàn kết, hữu nghị và hợp tác ở khu vực Có thể khẳng địnhrằng, sự hình thành ASEAN-10 là một trong những mốc phát triển quan trọng của Hiệphội, tạo nền tảng thiết yếu cho ASEAN trở thành một tổ chức khu vực toàn diện, liênkết sâu rộng và có vai trò quan trọng ở Đông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương nhưngày nay

Dấu ấn Việt Nam thể hiện khá đậm nét trong việc tổ chức những hoạt động quantrọng cũng như trong việc xây dựng các quyết sách lớn của ASEAN Chỉ 3 năm sau khitrở thành thành viên ASEAN, Việt Nam đã để lại trong lòng bạn bè ASEAN và quốc tế

Ngày đăng: 18/03/2013, 14:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w