Tuy thế, như đã trình bày, có người bắt đầu nghi ngờ về giá trị tuyệt đối cũa độ thính thị vì " xem " và " mua " chưa chắc đã đi đôi với nhau Tỷ lệ thính thị đã đành là số nóc gia có ng
Trang 14) Điều tra sự biến đổi trong hành động mua hàng của khách
Các loại điều tra này, trên thực tế, cũng lại có thể sắp xếp trong hai loại : định
lượng và định tính.
I ĐIỀU TRA ĐỊNH LƯƠNG HẬU QUẢNG CÁO
Tỷ lệ thính thị (rating) dù ở giai đoạn trước (xem chương 7 và chuơng 12) , giữa hay sau khi phóng ảnh (chương 13) , đều ám ảnh những ai nhúng chân vào lĩnh vực quảng cáo, từ người cậy quảng cáo, hãng quảng cáo, người sản xuất chương trình và phim đến đài truyền hình Tuy thế, như đã trình bày, có người bắt đầu
nghi ngờ về giá trị tuyệt đối cũa độ thính thị vì " xem " và " mua " chưa chắc đã
đi đôi với nhau
Tỷ lệ thính thị đã đành là số nóc gia có người xem một đoạn phim hay chương
trình nào đó do một chi cục truyền hình phóng ra vào một giờ giấc nhất định
nhưng nếu chỉ đo chừng đó thì không có ý nghĩa gì đáng kể Câu hỏi "Ai xem
cái gì ?" phải được bổ túc bằng câu hỏi :"Xem như thế nào?" Do đó các hãng
điều tra của Mỹ như A.C Nielsen, ARB và Trendex đã bổ túc bằng những
nghiên cứu có chiều sâu hơn như phân biệt những mẫu quan sát (sample), loại
hình của nó (type of samples), phương pháp sưu tra và giải thích dữ liệu thu thập được.
1) Chỉ số Nielsen
Hãng A.C Nielsen cung cấp nhiều loại tin tức cho giới cậy quảng cáo: tuần san NTI( Nielsen Television Index) tức "Chỉ số truyền hình A.C Nielsen"phát hành
48 tuần trong một năm, nguyệt san "Báo cáo Nielsen về chỉ số các đài" (Nielsen Station Index Report) và tập san tâm hay lục cá nguyệt "Báo cáo Nielsen về dịch
vụ khu vực truyền hình" (Nielsen Coverage Services Report) có tính địa phương hơn.
Để có những con số đáng tin cậy, Nielsen đã phân tích và sắp xếp rất chi tiết đối tượng điều tra từ hình thái gia đình, độ phân bố địa lý, mức thu nhập, trình độ
giáo dục và sử dụng Audiometer (Thu thính kế) với sự hiệplực của gia đình
mẫu Ngoài chỉ số tổng quát TNTI (Total Nielsen Television Index), Nielsen còn cung cấp những tin tức chi tiết (Complete Analysis) liên quan đến tập quán xem truyền hình và sự biến đổi hình dạng của từng gia đình mẫu cho những ai muốn biết thêm.
2) Báo cáo ARB
ARB là tên tắt của trung tâm nghiên cứu Hoa Kỳ (American Research Bureau), cung cấp mỗi tuần thống kê thu thập từ 200 nóc gia trên toàn nước Mỹ thông
báo về thói quen tiếp xúc môi thể truyền hình của họ mỗi ngày cũng như mọi
tình huống bất thường liên quan đến khả năng đó (máy hỏng, đi vắng, bận công chuyện) ARB thay đổi toàn bộ đối tượng trắc nghiệm mỗi lần Từ kết quả ghi
nhận được có thể loại suy ra tình huống toàn quốc Ngoài báo cáo toàn quốc,
ARB còn báo cáo cá biệt về 150 địa phương khác nhau.
Trang 23) Chỉ số Trendex
Chỉ số (index) này biểu diễn xu hướng (trend) của khán giả với các đài trong 20
đô thị có ít nhất 3 mạng truyền hình YÙ kiến người xem được thu thập bằng
phương pháp phỏng vấn qua điện thoại đồng loạt Tuy chỉ giới hạn ở những đô thị lớn nhưng những nơi này mới là chổ truyền hình cạnh tranh ác liệt hơn cả
Một cống hiến khác của Trendex là thông tin về mức độ yêu chuộng của khán
giả với các đài, điều này không có nơi Nielsen và ARB Hơn nữa, chỉ một tiếng đồng hồ sau khi phóng ảnh, ta đã có thể có những thông tin về hiệu quả của
thương điệp quảng cáo .
Ngoài ba loại chính kể trên ở Mỹ còn có hãng Pals cung cấp thông kê về độ hồi tưởng (Recall Method) thương điệp bằng phương pháp phỏng vấn qua điện
thoại Trong hững năm gần đây, với sự phát triển của kỹ thuật điện tử, người ta
có thể áp dụng phương pháp điều tra tỷ lệ thính thị tức khắc (Instantaneous
Rating Method) bằng cách thu trực tiếp và tự động những tín hiệu phát ra mỗi
khi khán giả sử dụng máy truyền hình.
Thống kê định lượng có nhiều khuyết điểm Phỏng vấn bằng điện thoại như
Nielsen, Trendex bị coi là tốn kém, làm rộn thiên hạ vào những giờ giấc không thuận tiện (sớm quá, trễ quá), thống kê ghi chép kiểu ARB cũng bắt người ta ghi chép đủ điều, phiền hà rắc rối.Loại hồi tưởng như Pals dễ đưa người bị trắc
nghiệm đến chỗ trả lời cho xong việc.Nói chung, điều tra định lượng chỉ có giá trị tương đối vì phiền toái, số mẫu bị giới hạn và kết quả điều tra giữa các tổ
chức thường bất nhất trí Do đó, hiện nay ngành quảng cáo đã đi đến chỗ đặt ra một số tiêu chuẩn thống nhất cho điều tra định lượng và bổ sung nó bằng những phương pháp điều tra định tính
II ĐIỀU TRA ĐỊNH TÍNH HẬU QUẢNG CÁO
Điều tra định tính về chương trình tiết mục quảng cáo thường được xoay quanh hai trục chính: đo giá trị tiêu khiển và độ phổ cập thương mại.
1) Đo giá trị tiêu khiển
Tức là kêu gọi khán giả trả lời xem chỗ nào trong chương trình truyền đi gây ấn tượng mạnh nhất và chỗ nào cần được tăng cường Phương pháp của A.C
Nielsen điều tra trắc nghiệm trên người xem truyền hình trong 1000 nóc gia, coi phản ứng của họ đối với từng phút một của một chương trình truyền hình (xem Bellaire) Chủ quảng cáo tiến hành cuộc điều tra này trong khoảng thời gian một chương trình được phóng ảnh Họ có thể tụ họp một số khán giả mẫu ở một nơi nào đó, chiếu cho họ xem chương trình và cứ một phút trôi qua lại ngừng để hỏi cảm tưởng của họ Những người này sẽ ghi cảm nghĩ họ với mỗi phút chương
trình đã xem là " hay ", " vô thưởng vô phạt " hay " dở " vào một tờ chấm điểm
Họ cũng có thể trả lời " thích " hay " không thích " bằng cách bấm nút điện Giá trị tiêu khiển cá nhân sẽ đựơc thành lập sau khi cộng điểm của 30 hay 60 phút
chương trình được chiếu Nhân đọc kết quả tổng hợp này, chủ quảng cáo có thể tìm ra những chỗ nào trong chương trình không lôi cuốn được người xem Máy
đo nói dối (Liar Detector) cũng từng đựơc dùng để đo phản ứng khán giả nhưng
Trang 3phản ứng bất thường của sự tăng giảm huyết áp ghi nhận bởi máy này có thể
được giải thích bằng nhiều cách nên chưa chắc đã đem lại kết quả thoả đáng.
Để thăm dò ấn tượng mà chương trình còn lưu lại nơi người xem, ta có thể đưa
họ bảng kê khai một số từ bình phẩm và hỏi họ xem từ nào trên bảng thiết bị
điện tử thoả đáng nhất để đánh giá chương trình vừa chiếu Đối với một chương trình tạp hý chẳng hạn, ta có thể đưa ra những từ như sau: "hợp với người lớn,
hơi trẻ con, lộn xộn, thông minh, khó chịu, nhàm chán, có tính giáo dục, biến
hoá nhanh nhẹn, hài hước, kém hài hước, nhiều sáng tạo, hiện thực, lãng mạn,
hồi hộp, hạ cấp, lành mạnh " Như thế, khán giả có thể trả lời một cách thoải
mái hơn
Một cuốn phim cho dầu ăn khách đến đâu, vẫn còn có chỗ cần sửa chữa để có
hiệu quả tốt hơn nên kết quả của những cuộc điều tra như thế hãy còn có thể
giúp ta cải thiện chương trình.
2) Độ hiệu quả thương mại
Hiệu quả này có thể đo bằng cách xem nếu đem cùng một phim ngắn quảng cáo lồng vào hai chương trình truyền hình khác nhau thì nó sẽ đưa đến hiệu quả khác nhau như thế nào Loại đo này còn có tên gọi "đo bầu không khí" (climate
research) tức là xem chương trình nào có thể tiếp nhận một thương điệp với hiệu quả tốt.
Nói chung, người ta nhận thấy một thương điệp có hy vọng thành công nhiều
hơn khi được lồng trong chương trình ăn khách Cần nhớ là được nhiều người
xem chưa chắc là điều kiện ắt có và đủ để kêu gọi người ta mua hàng Sự hài hoà giữa mặt hàng hay tên tuổi của hiệu và nội dung chương trình gởi đến khán giả
là một điều cũng không kém phần quan trọng Vì lý do trên, hãng Dentsu ở Nhật
đã đề ra một phương pháp tổng hợp gọi là " Trắc định Cơ Bản Cho Phim
Quảng Cáo Truyền Hình" (Dentsu Basic CM Test) (xem Abe Masakichi),
trong đó mỗi nhân tố liên quan đến sự thành công của thương điệp ( cảm tưởng
về nội dung phim, món hàng trình bày, liên hệ giữa phim và món hàng, ký ức về những chi tiết trong phim, về món hàng, mức độ ham muốn mua hàng sau khi
xem phim ) đều đựơc đề cập tới Một trong những thủ pháp đựơc sử dụng là
Đánh Giá Bằng Ngữ Vị (SD hay Semantic Differential) nghĩa là đưa những cặp tính từ (Ví dụ Cũ-Mới, Nam tính-Nữ tính, Đẹp-Xấu ) để cho người được trắc
nghiệm chấm điểm thương điệp phóng ra theo một nấc thang giá trị gồm 5 bậc (
ví dụ hết sức hay - Hay vừa vừa - Không hay không dở - Dở vừa vừa - Hết sức
dở, chẳng hạn) Qua đó Dentsu lập được bảng đánh giá hình ảnh cuả thương
điệp (Image Profile) nơi người xem Hãng điều tra Video Research ở Tokyo đã nghĩ ra Phương thức "Thẻ Đánh Giá Thương Điệp" (TV-CM Karte), một
hình thức đánh giá tổng hợp độ thẩm thấu của thương điệp nơi người xem
Trước tiên, người ta trình bày 6 hình ảnh (cuts) tiêu biểu và một đoạn âm thanh của thương điệp cho người được trắc nghiệm và đặt những câu hỏi không chỉ để đánh giá bản thân nội dung thương điệp mà còn để đánh giá cả các thông tin
ngoại vi có tính cách cá nhân như hình ảnh xí nghiệp, nhãn hiệu và kinh nghiệm mua hàng đồng loại mà họ có Các tấm thẻ (Karte, gốc tiếng Đức) này được giữ
Trang 4gìn lâu dài và đem ra đối chiếu, thống kê là một nguồn thông tin vô cùng quý
giá đối với người sáng tác và quản lý quảng cáo.
Nhật Bản bắt đầu phóng ảnh truyền hình vào năm 1953 thì qua năm 1954, đài
quốc gia đã cho tổ chức những cuộc điều tra tỷ lệ thính thị bằng lối phỏng-vấn-trực-tiếp-vào-ngày-hôm-sau khi chương trình bắt đầu Năm 1955, hãng quảng
cáo Dentsu dùng phương pháp nhật ký, qua 1960, chi nhánh của Nielsen ở Nhật
đã dùng thu thính kế (Audimeter) và phương pháp nhật ký để đo Video
Research ra đời năm 1962 lại sử dụng một kiểu đo khác với Videometer, phương pháp đo ngoài giờ phát sóng Trong thập niên 90, máy đo trở nên tinh vi hơn Từ
1994, Nielsen Japan đã khai thác hai loại máy: Cá Nhân Kế Cấp Một (APM =
Active People Meter) va Cá Nhân Kế Cấp Hai ( PPM = Passive People Meter)
để theo dõi hành động người xem.Trong trường hợp trước (máy cấp một), đối
tượng thí nghiệm phải chủ động bấm nút máy mỗi lần bật hay tắt truyền hình,
trường hợp sau, máy tự động làm mọi việc Nhờ đó, người ta không những có
thể đo được độ thính thị của cá nhân, của nóc gia mà còn suy định được số máy truyền hình mở vào một thời điểm (Sets-in-Use), số nóc gia có máy truyền hình đang sử dụng máy (Households Using Unit hay HUT), tỷ lệ thính thị theo nóc
gia trong ngày của mỗi đài, của mỗi tiết mục truyền hình, cũng như các số liệu
khác như độ đạo đạt (Reach), thẩm thấu (Reach x Frequency) của nó nữa Dĩ
nhiên, bên cạnh đó, những điều tra định tính cũng cho phép các nhà quảng cáo
Nhật Bản biết về bình điểm của chất lượng (Quality Rating) của khán thính giá đối với tiết mục truyền hình và nội dung của quảng cáo
CHƯƠNG MƯỜI BỐN
QUẢNG CÁO XUYÊN-VĂN-HÓA.
Khái niệm hiệp đồng hay hỗn hợp rất quan trọng trong tiếp thị bởi vì một hành động
đơn lẻ dù nhiều cố gắng vẫn không có tác dụng bội thu Ta thường nghe nói đến giả thuyết lý thuyết về bốn P (The Four P?s Theory) đề xướng bởi học giả Hoa Kỳ ngành tiếp thị E Jerome Mc Carthy Tiếp Thị Hỗn Hợp (Marketing Mix) và Khuyến mãi Hỗn Hợp (Promotion Mix) và Quảng cáo Hỗn Hợp (Advertising Mix) Tiếp thị hỗn hợp là những chiến thuật ảnh hưởng cùng lúc lên bốn phạm vi liên quan đến người tiêu dùng và thị trường (4P = Product-Physical Distribution-Price-Promotion = Sản phẩm- Trưng bày
& Phân Phối Phẩm Vật -Giá Cả - Khuyến Mãi ) Khuyến mãi (nghĩa rộng) hỗn hợp là sự
sử dụng cùng lúc bốn thủ pháp quảng cáo (Advertising- Salesmanship - Sales
Trang 5Promotion- Public Relations = Quảng cáo ? Bán trực tiếp - Khuyến mãi (nghĩa hẹp)
?Giao tế xí nghiệp) để hưởng được năng lực tương thừa (synergy) của nó Để hiểu rõ lập luận này cần phân biệt khái niệm Khuyến mãi nghĩa rộng là toàn bộ 4 hoạt động để khuyến khích người mua thêm nhiều và bao gồm cả quảng cáo Trong khi ấy, khuyến mãi nghĩa hẹp là những phương pháp triển lãm, gọi điện thoại, trương cờ quạt, tặng giải,
xổ số, khấu trừ, giảm giá vừa thông tin vừa làm vui lòng khách :
Đồ biểu 14.1: Từ tiếp thị hỗn hợp đến khuyến mại hỗn hợp
Đồ biểu 14.2: Khuyến mãi (nghĩa rộng) hỗn hợp
Trang 6Xuất xứ: Cả hai biểu đồ đều lấy từ Kajiyama (Kokoku Nyumon, Tokyo, 1996)
Dựa trên khái niệm rất năng động về hiệp đồng hay hỗn hợp ấy, người ta đã đưa đến khái niệm kế hoạch môi thể (media planning) mà ta đã có dịp bàn tới khi nói về công việc của người chủ quảng cáo, đứng trước ngân sách có hạn, phải dùng số tiền thế nào để đạt được kết quả tối ưu.Trong những phương sách giải quyết, ta đã thấy nói đến kỹ thuật hiệp đồng các môi thể (media mix) Đối với truyền hình, trọng tâm của quyển sách này, điều đó có nghĩa là sử dụng truyền hình hiệp đồng như thế nào đối với các môi thể khác vậy.
Trong chương II (đồ biểu 2.3) chúng ta đã thử so sánh hiệu năng của quảng cáo qua từng môi thể và ta nhận ra rằng mọi môi thể có ưu và khuyết điểm riêng Tuy nhiên, khuynh hướng trong những năm gần đây cho thấy hình ảnh đã chiếm lấy chỗ của văn tự vì hành động xem truyền hình đòi hỏi ít cố gắng đối với người xem Nó lôi cuốn hơn, thời
thượng hơn, nhanh nhẹn hơn, dồi dào hơn và để lại ấn tượng lâu dài hơn Quần chúng,
nhất là lớp trẻ xem truyền hình nhiều hơn là đọc nhật báo Mặt khác, hành động xem
truyền hình là một hành động tập thể khi năm, ba người tụ họp với nhau trong phòng khách của gia đình, bàn tới bàn lui Cùng lúc, hành động đọc báo có tính cách cá nhân, đơn lẻ và do đó không khai thác được hiệu ứng sinh động của tập thể Riêng về quảng
cáo trong tạp chí, nó nhắm vào một quần chúng đặc biệt (người thích đi câu, làm vườn,
phụ nữ theo thời trang ) và lọt ra khỏi tầm tay của người quảng cáo truyền hình cổ điển Hơn thế, phạm vi của nó dầu sao cũng bị giới hạn
Còn nói về bích chương ngoài phố hay những tờ quảng cáo bươm bướm phát không
mà ta thấy trong hộp thư mỗi buổi sáng hay lồng trong tờ nhật báo phát mỗi ngày tuy chúng có hình thức đẹp đẽ đầy màu sắc địa phương, cục bộ vì nó gần gũi quảng cáo cho những tiệm quán trong khu phố ta đang ở nhưng ít lối cuốn đựơc sự chú ý, nhiều khi bị vứt đi trước khi thiên hạ để mắt đến Trường hợp của truyền thanh thì hơi khác một chút
Nó có khách hàng riêng của nó và có thể được một số quần chúng đặc biệt yêu thích (ví
dụ lớp trẻ yêu nhạc, tài xế taxi hay vận tải đường trường) nhưng nói chung đã thoái trào
kể từ khi truyền hình xâm lấn thị trường
Trang 7I VƯƠN TỚI NHỮNG NGƯỜI TIÊU THỤ XA KHUẤT
Để đạt được hiệu quả tối đa, gần đây các nhà quảng cáo đã chọn lối sử dụng hiệp đồng các môi thể ví dụ như sử dụng cùng lúc quảng cáo truyền hình và truyền thanh Nhà nghiên cứu Osugi của đài truyền hình Tokyo đã báo cáo trong tập tài liệu của JNN Data Bank về một chiến dịch rất thành công thực hiện vào năm 1995 sử dụng quảng cáo truyền hình và truyền thanh đồng loạt Ông đã cho biết không những khán thính giả để mắt tới hai thương điệp trên hai môi thể khác nhau đã có thể nhận diện mặt hàng thêm nhiều thiện cảm với món hàng và có ý định tiêu dùng rõ rệt hơn Lối sử dụng hỗn hợp môi thể (Media Mix) nếu khéo léo (nghĩa là biết đo lường thời gian phát thanh hay
phóng ảnh và " trám" được một xó kẹt nào đó mà không môi thể nào dùng tới được
(no man land) có thể vừa đạt được hiệu quả thương mại tốt đẹp hơn vừa đỡ phải chi tiêu
vô lý bởi vì, như chúng ta đều biết, chi phí quảng cáo truyền hình tốn hơn chi phí quảng cáo truyền thanh gấp bội Ta hay xem đồ biểu về hiệu quả thẩm thấu tối đa thực hiện trên ngân khoản quảng cáo khác nhau ( do Osugi, JNN Data Bank) với hai môi thể hoặc xen kẻ (Teaser) hoặc phóng thanh đi trước truyền hình theo sau (Radio Pre-Campaign) hay truyền hình mở đường cho phóng thanh (Radio Follow):
Đồ biểu 14.3: Độ đạo đạt của quảng cáo đồng loạt tính theo ngân khoản
Tỷ lệ truyền thanh /
Truyền Hình
Độ đạo đạt (Reach) Số lần truyền đạt
(Frequency)
Đồ biểu trên cho ta thấy không cần phải tiêu 100% số tiền vào truyền hình Với 20% quảng cáo truyền thanh để kèm 80% truyền hình, độ thẩm thấu đã đạt mức tối đa nghĩa
là 90%.
Người Nhật còn làm quảng cáo hiệp đồng bằng cách sử dụng một số tài tử diễn xuất
(tarento) (N) Người này không những đóng vai chính trong các phim quảng cáo truyền hình, mà còn có mặt trên các bích chương ngoài đường phố, trên xe buýt, trong xe điện, tham gia các phòng triển lãm (show room) và nhiều khi ra mắt người tiêu thụ ở các siêu
Trang 8thị nữa Họ còn có thể ký hợp đồng dài hạn để trở thành tượng trưng (mascott, character) đồng hoá với một hãng buôn hoặc một sản phẩm nào đó (Các nữ diễn viên Fujiwara Norika với Nokia Mobile Phone, Takashima Reiko với sake Kizakura ) Chúng ta cũng thấy trường hợp tương tự xảy ra ở Âu Mỹ (các nữ tài tử điện ảnh Elizabeth Hurley với hiệu Mỹ phẩm Revlon và Carole Bouquet với Channel hay cầu thủ David Beckham với Vodafone).
Giữa thời đại đa môi thể (multi-media), khả năng quên lãng một xó kẹt không với tới hầu như biến mất vì cánh tay bạch tuộc của truyền thông điện tử đa năng đã vươn tới mọi nơi.
II THỐNG NHẤT NỘI DUNG THƯƠNG ĐIỆP
Kỹ thuật đa môi thể giúp ta đột phá mọi biên giới vật chất nhưng cũng nhờ nó chúng ta phá được biên giới chia cách tân hồn con người Điều này có nghĩa là mọi thương điệp phải tìm được thế bình quân giữa trí óc (kỹ thuật) và con tim (văn hoá, đạo lý) Trên con đường tìm đến hình thái thương điệp có tính cách toàn cầu, T Yamaki (1994) đặt giả thuyết về hình thái tương đồng văn hoá của những nhóm thương điệp Trước tiên, nhà nghiên cứu Nhật Bản này đã thử chia 19 quốc gia thành năm nhóm "tương cận" theo những phạm trù địa lý, tôn giáo, ngôn ngữ, lịch sử, phong tục Yamaki gọi nó là những
"nhóm (N) tương đồng trên tiêu chuẩn quảng cáo"(con số nằm trong ngoặc là số thương điệp khảo sát):
N1: Nhật (750), Đại Hàn (75), Đài Loan(104), (Trung Quốc (112)
N2: Thái-Lan (100), Ma-lay-xia (93), Ấn Độ (113)
N3: Ả-rập Xê-u-dít (63), Tuy-ni-di 850), Hy-lạp (70)
N4 : Hoa-Kỳ (78), Anh (100), Hoà-Lan (100), Đức (100)
N5: Pháp (10), YÙ (118), Thuỵ-sĩ (100), Bra-zin (100), Mê-hi-cô (100)
Dường như Yamaki đã có ý qui tụ các quốc gia Á châu chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa trong nhóm 1 (N1), các quốc gia văn minh Ấn-độ trong nhóm 2 (G2), Các quốc gia truyền thống Hồi Giáo trong nhóm 3 (N3), Các quốc gia Anh-Xắc-Xông trong nhóm 4 (N4) và các quốc gia văn hoá la-tinh trong nhóm 5 (N5) Tiêu chuẩn sắp xếp các quốc gia vào 5 nhóm nói trên khá hợp lý nhưng ta không khỏi thấy sự tương đối của nó vì Thuỵ Sĩ có thể đặt được cả vào nhóm 4 hay nhóm 5.Còn sắp xếp Hy-Lạp vào nhóm nào
là một vấn đề khó giải quyết cho ưng ý.
Công việc phân tích các thương điệp được dựa trên 9 tiêu chuẩn đánh giá theo hai cực đối kháng dương (+) và âm (-) :
1) Thương điệp trực tiếp ( +) hay thương điệp gián tiếp ( -)
2) Quảng cáo sản phẩm (+) hay đề cao danh tiếng xí nghiệp (-)
3) Quảng cáo sản phẩm kỹ nghệ (+) hay hàng tiêu dùng (-)
4) Một nhân vật diễn xuất (+) hay nhiều nhân vật diễn xuất(-)
5) Phim quay ở phim trường (+) hay ngoài trời (-)
6) Thông điệp lôi cuốn (+) hay không lôi cuốn (-)
7) Phân biệt tuổi tác, phái tính (+) hay không phân biệt (-)
8) Cảnh vật thiên nhiên (+) hay cảnh vật giả tạo (-)
9) Có lời giải thích (+) hay không giải thích (-)
Quảng cáo mỗi nước sẽ được chấm điểm để xem nó có trùng hợp với giả thiết đặt ra là
Trang 9những nước trong cùng một nhóm phải có điểm số giống nhau Mỗi khi có sự khác biệt, bắt buộc phải tìm hiểu lý do Dĩ nhiên trong việc phân tích, ta phải chạm trán bức tường ngôn ngữ và văn hoá Ngoài ra còn có những tương tự giả tạo khi nó kết hợp các quốc gia cựu thuộc địa với các nước cai trị thời ấy (Tuy-ni-di có thể giống Pháp và Ma-lay-xia
có thể gần với Anh Đó là chưa kể biết bao nhiêu yếu tố chính trị: Mỹ có thể gần gũi Nhật Bản và Đài Loan hơn là Trung Quốc tuy ba lãnh thổ sau này cùng ở Á châu ). Cho dù phương pháp của Yamaki chưa được hoàn toàn thỏa đáng, ông đáng được lưu ý
vì những nỗ lực khai đường mở lối cho những nhà nghiên cứu về sau Sau đây là một số nhận xét được Yamaki ghi nhận:
• Trung Quốc, Hy Lạp, Ma-lay-xia có khuynh hướng phóng những thuông điệp
theo lối trực tiếp (nói thẳng vào vấn đề) như những quốc gia Âu Châu (YÙ,
Pháp, Anh, Thụy Sĩ) Tuy cùng sử dụng một hình thức, lý do đưa đến đó lại khác nhau.Lý do của ba nước nói trên là vì kỹ nghệ quảng cáo hay còn ở giai đoạn
thành hình hay do nỗi e sợ quảng cáo gián tiếp ăn nói bóng gió gây hiểu lầm lung
lạc quần chúng Trong khi ấy, ở bốn nước sau, lề lối ăn ngay nói thẳng đã nằm vào trong sinh hoạt thường nhật của họ.
• Những nước và lãnh thổ Á Châu như Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc
hay Nhật Bản( với ngoại lệ là Hy Lạp) xem công tác tài bồi thanh danh xí
nghiệp là mục đích chính của quảng cáo thương mại Những quốc gia Âu châu
(trong đó có Đức, Anh, Pháp, Thụy Sĩ, YÙ) lấy thương phẩm làm đích nhắm ưu
tiên.Lý do là theo quan niệm thông thường ở Á Đông, tình cảm và trực giác được đặt trước lý tính và luận lý cho nên người ta mua hàng vì tiếng tăm của người sản xuất hơn là vì nội dung của món hàng Điều này không khéo lại đâm ra mâu thuẫn
vì Yamaki cũng thấy quảng cáo ở hai quốc gia Á châu là Thái Lan và Ma-lay-xia lại có khuynh hướng giống Âu Châu.
• Những quốc gia trên đường phát triển (Mê-hi-cô, Thái, Tuy-ni-di, Ma-lay-xia)
thường nghiêng về quảng cáo có tính chất công ích trong khi những nước tiên tiến (Mỹ, Nhật, Âu Châu) dồn hết sức vào quảng cáo khuyến khích tiêu thụ.
• Nhân vật lên màn ảnh rất đông đảo trong trường hợp các quốc gia trên đường
phát triển (Bra-zin, Ấn Độ, Mê-hi-cô chẳng hạn) trong khi đó ở Thụy Sĩ, Đức, Pháp , Nhật Mỹ (với môt ngoại lệ là Trung Quốc), số nhân vật trong phim lại có
phần thưa thớt hơn Yamaki tự đặt câu hỏi phải chăng ngoại lệ ở Trung Quốc
phản ánh chính sách " hạn chế sinh đẻ " của nhà nước ?
• Pháp, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc chuộng đề-co trong nhà trong khi Hoà-Lan, Mê-hi-cô, Anh, Bra-zin thường quay phim ngoài trời.
• Thương điệp Ả-rập Xê-u-đít, Tuy-ni-di và Thái Lan nặng về tôn giáo trong khi Nhật Bản, Phap, Anh có khuynh hướng thế tục.
• Trái ngược với những quốc gia hay lãnh thổ như Nhật, Thụy Sĩ, Ấn Độ, Đài Loan
mà đích nhắm của thương điệp là đại chúng, Thái Lan, Hy Lạp, Mê-hi-cô, Bra-zin nhắm đặc biệt vào khán thính giả trẻ và nam giới.
• Thương điệp của Hàn Quôc, Ả-Rập Xê-U-Đít, Tuy-Ni-di và Pháp có nhiều hình
ảnh đồng quê (núi non, biển cả, thú vật) trong khi ở Hoà Lan, Đức, Mỹ, thương