NGUỒN PHÓNG XẠ TN Vỏ trái đất Thực Phẩm Nước biển Tia vũ trụ Cơ thể người Sự phân bố các nguồn phóng xạ tự nhiên... 1 Trong lớp vỏ trái đất Phông phóng xạ trên trái đất gồm các nhân ph
Trang 1Các nguồn phóng xạ
tự nhiên
Sinh viên thực hiện: Hồ Ngọc Đăng Khoa
Nguyễn Thị Ngọc TrâmNguyễn Thị Hoài ThuNguyễn Ngọc Vân
Trang 3NGUỒN PHÓNG
XẠ TN
Vỏ trái đất
Thực
Phẩm
Nước biển
Tia
vũ trụ
Cơ thể người
Sự phân bố các nguồn phóng xạ tự nhiên
Trang 41) Trong lớp vỏ trái đất
Phông phóng xạ trên trái đất gồm các nhân phóng xạ tồn tại
cả trước và khi trái đất được hình thành
Henry becquerel
Năm 1896 nhà bác học người Pháp Becquerel phát hiện
ra chất phóng xạ tự nhiên, đó là uranium và con cháu của nó
Trang 5Thành viên đầu tiên của một
họ khác, gọi là họ actinium
Th232 là thành viên đầu tiên của họ thorium
Ba họ phóng xạ cơ bản
Trang 6Khí 86Rn220 được gọi là thoron, thời gian bán rã 52s
Sản phẩm cuối cùng trong mỗi họ đều là chì
Lý do chính gây nên phông phóng xạ tự nhiên của môi trường
Pb206
Pb207
Pb208
Trang 8Ngoài các đồng vị phóng xạ trong ba họ thorium, uranium
và actinium, trong tự nhiên còn tồn tại một số đồng vị phóng
Trang 9Một trong các đồng vị phóng xạ tự nhiên là K40 , rất phổ biến trong môi trường, trong thực vật, động vật, cơ thể người.
Hàm lượng trung bình:
Trong đất đá : 27g/kgTrong đại dương: 380mg/lít Trong cơ thể người: 1,7g/kg
Đồng vị phóng xạ tự nhiên quan trọng khác là C14 với thời gian bán rã 5600 năm
Kết quả của biến đổi hạt nhân do các tia vũ trụ bắn phá hạt nhân N14
Trước khi xuất hiện bom hạt nhân
Hàm lượng tổng cộng của C14
Trong khí quyển: 1,5.1011 MBq (4MCi)
Trong thực vật 4,8.1011MBq (13MCi)
Trong đại dương 9.1012 MBq (240 MCi)
Việc thử nghiệm vũ khí hạt nhân làm tăng đáng kể hàm lượng C14
Cho đến năm 1960 đã thải ra khí quyển khoảng 1,1.1011 MBq (3MCi)
Trang 102) Các nhân phóng xạ có trong nước biển
Toàn bộ nước trên trái đất, kể cả nước biển, đều chứa các nhân phóng xạ
Nhân phóng
xạ Hoạt độ dùng để tính
toán
Thái bình dương 6,549x10 17 m 3
Đại tây dương 3,095x10 17 m 3
Tất cả các đại
dương 1,3x10 18 m 3
Trang 12CÁC NHÂN PHÓNG XẠ TRONG CƠ THỂ NGƯỜI
Cơ thể con người được cấu tạo nên từ các nguyên tố hóa học, vì vậy trong cơ thể người có các nhân phóng xạ
Một số các nhân phóng xạ vào cơ thể do ăn thực phẩm và uống nước cũng như do hít thở hằng ngày
Bảng sau trình bày một số nhân phóng xạ chính trong cơ thể người lớn, nặng 70kg
Trang 13Các bức xạ proton, alpha, … năng lượng cao rơi vào khí quyển Trái Đất từ không gian bên ngoài gọi là các tia vũ trụ
Năng lượng: Vài chục MeV đến 1020 eV
CÁC TIA VŨ TRỤ
Lớp vật chất dày khoảng 103
g/cm2 của khí quyển
Trang 14Gồm 79% các proton năng lượng cao, 20% các hạt alpha và các hạt ion nặng hơn, Phần còn lại là các electron, photon, neutron,…
Mặt trời Thiên hà
Gồm các proton và hạt
alpha với năng lượng tương đối
thấp, vào khoảng MeV
và có cường độ rất lớn 106 –
107 hạt/cm2.s
400
≤
Trang 15Các tia vũ trụ sơ cấp được chia thành các nhóm như sau
Nhóm p: gồm proton, deutron và triton
Nhóm : α gồm alpha và 2He3
Nhóm các hạt nhân nhẹ: lithium, beryllium và boron (Z = 3-5)
Nhóm các hạt nhân trung bình:
Gồm carbon, oxygen, nitrogen và flourine (Z = 6-9)
Nhóm các hạt nhân nặng: các hạt nhân với Z ≥ 10
Nhóm các hạt nhân rất nặng: các hạt nhân với Z ≥ 20
Nhóm các hạt nhân siêu nặng: các hạt nhân với Z ≥ 30
TIA VŨ TRỤ SƠ CẤP
Trang 16Ảnh hưởng của từ trường Trái Đất lên tia vũ trụ sơ cấp:
Thứ nhất: từ trường Trái Đất cản trở các hạt năng lượng thấp
đi vào Trái Đất
Chẳng hạn, một hạt proton chuyển động trong lưỡng cực từ của Trái Đất
Trang 17Thứ hai, từ trường Trái Đất ngăn cản tia vũ trụ sơ cấp bay vào bầu khí quyển dưới phương bay xác định
Chẳng hạn hạt mang điện tích dương không thể bay vào
bầu khí quyển dưới một góc xác định so với đường chân trời
Trang 18TIA VŨ TRỤ THỨ CẤP
Tia vũ trụ thứ cấp gồm 3 thành phần:
1 2 3
Kích hoạt hạt nhân (các hạt hadron)
Trang 19Hạt tương đối tính
Delta nucleon
Kích thích hạt nhân
(Proton, neutron, alpha)
Pion
gamma muon
positron
Electron-Cơ chế sản sinh các thành phần khác nhau của tia vũ trụ
Delta-nucleon là các nucleon sinh ra với năng lượng cỡ 160 Mev
Trang 20TIA VŨ TRỤ THỨ CẤP
Cường độ các thành phần tia vũ trụ thứ cấp phụ thuộc vào độ cao của bầu khí quyển
Thành phần hadron giảm rất nhanh theo chiều cao từ trên xuống
và hầu như bằng không tại mặt biển
Thành phần electron-photon có cường độ lớn ở độ cao lớn và
bị hấp thụ rất nhanh khi đi đến mặt đất, có cường độ không đáng
kể so với thành phần muon
Tại mặt biển, cường độ các thành phần cứng và mềm bằng
Ihard= 1,7.10-2 hạt/cm2.s và Isoft= 0,7.10-2 hạt/cm2.s
Như vậy cường độ tia vũ trụ thứ cấp ở mặt biển vào khoảng
100 lần bé hơn cường độ ở giới hạn bầu khí quyển, mà trong đó chủ yếu là các hạt muon
Trang 21Sự phân bố phóng xạ trong thạch quyển và địa quyển
1) Đá kết tinh:
Đá núi lửa và núi biến chất là đá kết tinh được tạo thành dưới điều kiện nhiệt độ và áp suất lớn
Độ giàu của hai nguyên tố tăng theo hàm lượng silic,
Trong đá giàu silic :
Hàm lượng uran là cao nhất nhưng hiếm khi vượt quá 30ppm, Trong đá nghèo silic:
Có hàm lượng uran cỡ 0,1 ppm hoặc thấp hơn
Vào khoảng trên 1,4 tỷ năm trước, hầu như không có oxygen trong khí quyển và uranoxit có thể tồn tại trên bề mặt trái đất dưới dạng hạt quặng tự nhiên không bị oxy hóa,
Theo thời gian, các
điểm tích tụ này bị chôn
vùi, ép sâu và bị biến
chất thành các mỏ kết tủa
Hạt uran di chuyển theo các dòng suối và do mật độ cao nên chúng bị tích tụ trong các mỏ sa khoáng
Trang 222) Đá trầm tích:
Khoảng 1,4 tỷ năm trước hoặc sớm hơn, uran phong hóa
từ các đá núi lửa, đá kết tinh hoặc đá trầm tích bị khuyếch
tán dưới dạng các ion hòa tan hoặc một trong các
Đá Trầm tích tìm thấy ở bãi Nam, Ninh Hải, Ninh Hoà
Trang 233) Đá phiến sét ( diệp thạch) giàu hữu cơ và than đá:
Các lớp sét tích lũy và vật liệu hữu cơ có thể xuất hiện trong môi trường biển và cửa sông dưới độ sâu vài km trong các phiến
đá sét giàu hữu cơ
Uran bị hấp thụ lên trên các lớp hữu cơ và lớp sét
Đá phiến sét Chattanooga đông USA có hàm lượng trung bình là 79 ppm được xem như nguồn uran chính của Mỹ
Các vùng Alum ở Thụy Điển
và Kupferschiefer ở Đức cũng là
các vùng đá phiến sét giàu uran
Trang 244) Sa thạch ( đá cát kết):
Sa thạch là nơi tích tụ phần lớn uran có tính kinh tế Nước chứa uran chảy qua sa thạch và đi vào miền khử, ở đấy uran bị khử và kết tủa, tạo nên lớp áo phủ trên các hạt cát Thân quặng được tạo ra và lớn dần
Con cháu của dãy uran được giải phóng và do độ hòa tan khác nhau có thể được vận chuyển tách ra khỏi khối uran Những khối chất này tích tụ dần dần và làm giàu thân quặng
Trang 2570 300 700
2 3 12
8 11 45
2 1.5 4
25 18 50
Đất trung bình toàn
Trang 26Những vùng có phông phóng xạ tự nhiên cao trên thế giới
Mức phông thường gần như không đổi trên phạm vi toàn thế giới và nằm trong khoảng từ 0,08 đến 0,15 µGy/h
Nhưng cũng có những nơi cao bất bình thường, được gọi là vùng dị thường phóng xạ
Vùng dị thường phóng xạ do các khoáng vật chứa phóng xạ, chủ yếu là monazit đôi khi đi kèm với ilmenit và được lắng tụ tạo nên cát có màu đen đặc trưng
Ở Việt Nam, các vùng như vậy nằm dọc bờ biển Nam
Định, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Phú Yên, Bình Định, Bình
Thuận, Ninh Thuận, Vũng Tàu
Trang 27Tại Brazil quặng monazit tìm thấy ở một số dải bờ biển nhất định
Mức phông cao nhất được tìm thấy ở Brazil, Ấn Độ, và Trung Quốc
Mức phóng xạ của những loại cát đen này có thể lên đến 50
µGy/h, vào khoảng 400 lần cao hơn mức bình thường
Một số đường phố chính của các thành phố xung quanh
có mức phông phóng xạ cao cỡ 1,3 µGy/h, lớn hơn bình thường 100 lần
Một số vùng khác tại Brazil có mức phông cao hơn bình thường là do các vùng đó hình thành các vỉa quặng đất hiếm lớn
có dạng những quả đồi cao khoảng 250m so với các vùng xung quanh
Phần chính của mỏ quặng nằm gần đỉnh quả đồi và chứa một lượng phóng xạ ước tính khoảng 30.000 tấn Thorium và 100.000 tấn các nguyên tố đất hiếm
Mức phóng xạ gần đỉnh quả đồi nằm trong khoảng 10-20
µGy/h trên một diện tích khoảng 30.000 m2
Các cây cối thực vật ở đây do hấp thụ quá nhiều Ra226 nên tự chúng có thể phát tia X
Trang 28Bên bờ biển phía tây-nam Ấn Độ quặng monazit còn lớn hơn
cả ở Brazil Mức liều bức xạ trung bình ở đây cũng vào cỡ mức liều ở Brazil, vào khoảng 5-6 mGy/năm, một số điểm lên tới 32,6 mGy/năm
Tại một vùng ở Trung Quốc có suất liều bức xạ tự nhiên cỡ 3-4 mGy/năm Kết quả này cũng do monazit chứa thorium gây nên
Theo tài liệu của Hội đồng về các hiệu ứng sinh học do bức
xạ ion hóa BEIR V (Committee on the Biological Effects of Ionizing Radiation) báo cáo về ảnh hưởng của các mức phóng
xạ thấp đối với sức khỏe
Trong các vùng có phông phóng xạ cao có hiện tượng biến đổi nhiễm xác thể xảy ra cao hơn
Không có sự gia tăng các trường hợp bị ung thư trong số dân chúng cư trú trong các vùng có mức phóng xạ cao nêu trên