1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng thị trường bán lẻ việt nam sau 5 năm gia nhập wto

66 544 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 512 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ Trong cuốn “Những nguyên lý tiếp thị”, Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻ :“Bán lẻ bao hàm mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực t

Trang 1

1.2.2 Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ 5 1.3 Phân loại các hình thức bán lẻ trên thị trường 9

1.4.1 Thị trường bán lẻ là cầu nối quan trọng giữa nhà sản xuất và người tiêu

1.4.2 Thị trường bán lẻ cung cấp thông tin từ người tiêu dùng đến nhà sản xuất

1.4.3 Thị trường bán lẻ phản ánh tình hình sản xuất, kinh doanh và mức sống

1.4.4 Thị trường bán lẻ giữ vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã

1.4.5 Thông qua thị trường bán lẻ, nhà nước sẽ xây dựng những chính sách phù hợp để phát triển nền kinh tế và định hướng tiêu dùng 16

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM SAU 5

1.1 Quy mô, tốc độ và cơ cấu thị trường bán lẻ Việt Nam 20 1.2 Các loại hình kinh doanh bán lẻ phong phú, đa dạng 24

Trang 2

1.3.2 Big C ( Tập đoàn Bourbon – Pháp) 27

1.3.3 Trung tâm thương mại Parkson ( Lion Group – Malaysia) 29

1.3.4 Công ty TNHH Trung tâm thương mại Lotte Việt Nam 30

1.4.1 Liên hiệp hợp tác xã thương mại thành phố Hồ Chí Minh – Saigon

1.4.2 Công ty cổ phần đầu tư và phát triển hệ thống phân phối Việt Nam

1.4.3 Tổng công ty thương mại Sài Gòn ( Satra) 34

2 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA

2.1 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối bán lẻ 37

2.1.2.Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối 38 2.2 Tác động của việc gia nhập WTO đến thị trường bán lẻ Việt Nam 40

CHƯƠNG III: TIỀM NĂNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT

2.1 Các loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại mở rộng, chiếm ưu thế, hệ thống

Trang 3

2.3 Nhượng quyền thương mại trên TTBL ngày càng phổ biến 54

2.4 Xu hướng M&A ngày một gia tăng 55

3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT

3.1.1 Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho hệ thống bán lẻ 55

3.1.2 Thực hiện các biện pháp điều hành, giám sát TTBL, hoàn thiện chế tài xử phạt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và xâm phạm lợi ích người tiêu

3.1.3 Hỗ trợ các DN trong nước, hướng dẫn, khuyến nghị NTD hướng tới dùng

3.2.1 Tận dụng và phát huy lợi thế trên thị trường nội địa, hiểu rõ về thị trường

3.2.2 Nhạy bén thông tin, điều chỉnh theo biến động thị trường 57

3.2.3 Đầu tư thiết lập củng cố thương hiệu, không ngừng mở rộng danh mục sản phẩm với chất lượng đảm bảo, giá cả cạnh tranh 58

3.2.4 Đào tạo đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, hiệu quả 59

3.2.5 Đẩy mạnh đầu tư, áp dụng công nghệ cao đê quản lý mọi khâu của hoạt

3.2.7 Tiến hành liên minh, liên kết với nhau để tăng tính cạnh tranh với các

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi đổi mới nền kinh tế, nhất là bắt đầu từ những năm 90, Việt Nam chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì bộ mặt của toàn nền kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến Thị trường bán lẻ là một trong những thị trường có nhiều thay đổi sâu sắc nhất trong

toàn bộ nền kinh tế Khi nền kinh tế còn trong giai đoạn tập trung quan liêu bao cấp

phương thức phân phối chủ yếu của thị trường bán lẻ là tem phiếu Số lượng, chủng loại, giá cả hàng hoá đều do sự chỉ đạo mang tính chủ quan của Nhà nước Sau những năm 90 thì hình thức phân phối này hoàn toàn bị thay thế Thay vào đó là hình thức phân phối mang tính chất thị trường Giá cả, số lượng, chủng loại hàng hoá sản xuất hay nhập khẩu đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường Đồng thời là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống chợ và các doanh nghiệp bán lẻ thuộc thành phần kinh tế ngoài Nhà nước Các doanh nghiệp bán lẻ Nhà nước mất dần vai trò phân phối chủ đạo của mình trên thị trường bán lẻ Lúc này, thị trường bán lẻ thực sự thể hiện được vai trò của mình là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và góp phần thúc đẩy sản xuất, tái sản xuất Mặc dù trong thời gian ngắn gần 20 năm đổi mới, thị trường bán lẻ Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc song vẫn bộc lộ nhiều hạn chế

Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO Sự kiện này mở ra nhiều cơ hội song không ít thách thức đối với thị trường bán lẻ còn yếu kém của Việt Nam Việc nghiên cứu thực trạng cũng như những tác động của việc gia nhập WTO đối với để đưa ra được những định hướng

phát triển phù hợp là rất cần thiết Bởi vậy, em đã chọn đề tài nghiên cứu: “Thực

trạng thị trường bán lẻ Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO”.

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Bài khóa luận chủ yếu tập trung vào nghiên

cứu thực trạng cũng như những tác động của việc gia nhập WTO đến thị trường bán

lẻ Việt Nam, tiềm năng, định hướng và giải pháp phát triển cho thị trường bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới

Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về tài liệu và thời gian nên khóa luận

tập trung vào nghiên cứu trong phạm vi 5 năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cụ thể là từ năm 2007 cho đến năm 2011

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận em đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên

cứu Trong đó, phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp thống kê là những

phương pháp giúp em có được những thông tin đáng tin cậy cho thực trạng thị

trường bán lẻ Việt Nam Kết hợp thêm các phương pháp phân tích, tổng hợp, em

xin đưa ra đánh giá cá nhân về những tác động tích cực của việc gia nhập WTO, cũng như những thuận lợi và khó khăn của thị trường bán lẻ Việt Nam Tìm hiểu

vấn đề tương tự này ở các nước trên thế giới và sử dụng phương pháp đối chiếu

so sánh, em nêu ra những tiềm năng và định hướng phát triển cho thị trường bán lẻ Việt Nam Cuối cùng em sử dụng phương pháp lý luận logic để đưa ra một số giải

pháp nhằm phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm ba chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về thị trường bán lẻ

Chương II: Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO

Chương III: Tiềm năng, định hướng và giải pháp phát triển cho thị trường bán lẻ

Việt Nam

Do hiểu biết còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhân được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, các bạn sinh viên và tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực thị trường bán lẻ Việt Nam

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo – TS Phạm Thị Hồng

Trang 6

đồng thời em cũng mong nhận được lời góp ý từ các thầy cô giáo để khóa luận của

em được hoàn thiện hơn

Trang 7

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ

Trong cuốn “Những nguyên lý tiếp thị”, Philip Kotler đã định nghĩa bán

lẻ :“Bán lẻ bao hàm mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân chứ không mang tính thương mại.”

Còn theo “Giáo trình Marketing lý thuyết” ( trường Đại học Ngoại Thương)

thì bán lẻ được định nghĩa là:“ Hoạt động bán lẻ bao gồm tất cả các hoạt động phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cá nhân, phi thương mại.”

Trích Điều 3, Chương 1, Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng

Như vậy có thể thấy rằng rằng các khái niệm trên đều xoay quanh ba khía cạnh chủ yếu nhất của hoạt động bán lẻ, đó là:

- Nội dung: Tất cả các hoạt động liên quan đến việc bán trực tiếp các sản phẩm vật chất hay dịch vụ

- Đối tượng: Người tiêu dùng cuối cùng

- Mục đích: Đáp ứng nhu cầu cá nhân, không phải để kinh doanh

Trong thương mại, nhà bán lẻ mua hàng hóa với số lượng lớn từ nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu, trực tiếp hoặc thông qua nhà bán buôn, và sau đó bán lại từng mặt hàng hoặc với số lượng nhỏ hàng hóa tới công chúng hoặc người tiêu dùng cuối cùng

Trang 8

1.2 Đặc điểm của thị trường bán lẻ

1.2.1 Đặc điểm của thị trường bán lẻ

Hoạt động bán lẻ hàng hóa có những đặc điểm cơ bản sau:

- Trong TTBL hàng hóa được bán trực tiếp đến tay NTD cuối cùng để tiêu dùng, không phải để kinh doanh hay cho mục đích khác Đây chính là đặc điểm cơ bản nhất của TTBL

- Người mua hàng là người tiêu dùng cuối cùng Sau khi người mua mua hàng hóa, hàng hóa đó sẽ không quay trở lại thị trường

- TTBL là thị trường cung cấp nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau, đa dạng về chủng loại và phục vụ đông đảo đối tượng khách hàng khác nhau Các hoạt động bán lẻ có thể bán từ các hàng hóa thông thường, giá trị thấp cho đến hàng hóa

có giá trị cao, tiêu dùng dài ngày, đáp ứng các nhu cầu đa dạng và đồng bộ của khách hàng

- Tại TTBL, các công ty bán lẻ có thể kinh doanh các mặt hàng từ toàn bộ đến một số ngành, lớp, nhóm, loại và nhãn hiệu hàng hóa Vì thế, khách hàng có thể mua nhiều loại sản phẩm chỉ tại một địa điểm

1.2.2 Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ

Sơ đồ 1: Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ

( Nguồn: sách Quản trị Marketing, trang 314, Phillip Kotler, 2003 Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội)

Dù hàng hóa được phân phối theo hình thức nào thì về cơ bản kênh phân phối của thị trường bán lẻ gồm: người sản xuất, người trung gian và người tiêu dùng cuối cùng

- Người sản xuất: Là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa đó Đôi khi người sản xuất cũng là người trực tiếp bán hàng hóa đó tới tay người tiêu dùng không cần qua trung gian

- Người trung gian: Là người phân phối hàng hóa tới người tiêu dùng Người trung gian có thể bao gồm: đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ (cửa hàng tiện dụng, siêu thị và đại siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng đại hạ giá, cửa hàng chuyên doanh, trung tâm thương mại…)

Người sản

Trang 9

- Người tiêu dùng: là người cuối cùng nhận được hàng hóa đó Họ nhận hàng hóa với mục đích để tiêu dùng cho cá nhân chứ không phải vì mục đích kinh doanh.

Bên cạnh đó, do sự đa dạng của khâu trung gian mà hàng hóa có thể đến tay người tiêu dùng theo nhiều con đường dài ngắn khác nhau, có thể tìm hiểu việc thực hiện phân phối từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng qua mô hình sau:

Trang 10

Sơ đồ 2: Các kênh phân phối từ người sản xuất đến người tiêu dùng

( Nguồn: sách Quản trị Marketing, trang 314, Phillip Kotler, 2003 Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội)

Qua sơ đồ trên ta có thể thấy, việc phân phối và bán lẻ hàng hóa được thực hiện chủ yếu thông qua bốn kênh chủ yếu: Nhà sản xuất trực tiếp phân phối hàng

hóa đến người tiêu dùng; Nhà sản xuất thông qua nhà bán lẻ phân phối hàng hóa tới

người tiêu dùng; Nhà sản xuất thông qua nhà bán buôn, nhà bán lẻ phân phối hàng

hóa tới tay người tiêu dùng, Nhà sản xuất thông qua người môi giới, nhà bán buôn,

nhà bán lẻ đưa hàng hóa tới người tiêu dùng Mỗi kênh phân phối đều có ưu điểm

và nhược điểm riêng:

- Kênh 1: Nhà sản xuất trực tiếp đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng.

Theo hình thức này, hàng hóa được bán trực tiếp tại cửa hàng bán và giới thiệu sản

phẩm của nhà sản xuất hoặc thông qua điện thoại, qua mạng, qua đơn đặt hàng…Ưu

điểm của kênh này là hàng hóa được tiêu thụ nhanh chóng, giá cả phải chăng, nhà

sản xuất lại thu được nhiều lợi nhuận hơn Đặc biệt ưu điểm lớn nhất đó là nhà sản

xuất có thể dễ dàng nhận biết được nhu cầu của khách hàng Tuy nhiên để có thể

thực hiện phân phối hàng hóa qua kênh này và đảm bảo lợi nhuận thì người tiêu

dùng phải là người có nhu cầu tiêu thụ lớn và ổn định Trên thực tế, doanh nghiệp

rất khó có thể tìm được những người tiêu dùng có thể đáp ứng được yêu cầu trên

Kênh phân phối này thường được áp dụng đối với những hàng hóa có giá trị lớn, có

tính chất thương phẩm đặc biệt ( hàng tươi sống, hàng lâu bền…)

- Kênh 2: Nhà sản xuất phân phối hàng hóa tới người tiêu dùng thông

Nhà sản

xuất

Người tiêu dùngNhà bán

lẻ

Nhà bán buôn

Nhà bán lẻ

Người môi giới

Nhà bán buôn

Nhà bán lẻ

Trang 11

trí bán hàng, hệ thống phân phối của nhà bán lẻ, qua đó tăng uy tín của hàng hóa Ngoài ra, nhà sản xuất cũng dễ dàng điều chỉnh hoạt động bán hàng của mình Tuy nhiên lợi nhuận sẽ bị phân chia một phần cho nhà bán lẻ Người sản xuất cũng khó điều phối hàng hóa của mình do địa điểm bán hàng thuộc sở hữu của nhiều nhà bán

lẻ khác nhau Kênh phân phối này chủ yếu được áp dụng cho người sản xuất có quy

mô nhỏ kiêm luôn hoạt động bán buôn Các nhà bán lẻ cần phải đáp ứng yêu cầu là

- Kênh 4: Nhà sản xuất phân phối tới tay người tiêu dùng thông qua người môi giới, nhà bán buôn, nhà bán lẻ Trong trường hợp này, người sản xuất

có thể chuyên tâm vào sản xuất, khâu phân phối được giao cho người môi giới Tuy nhiên chi phí tăng lên rất nhiều vì phải qua nhiều khâu trung gian Kênh phân phối này áp dụng khi phải thâm nhập vào những thị trường có luật lệ quy tắc khó khăn hoặc là thị trường đầu tiên của người sản xuất bán hàng hóa của mình Tại những thị trường này, để có thể bán được hàng thì phải cần đến những người am hiểu thị trường, có mối quan hệ tốt với nhà bán buôn, đó chính là người môi giới

1.3 Phân loại các hình thức bán lẻ trên thị trường

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động bán lẻ của Việt Nam cũng

có sự thay đổi Trước kia, nền kinh tế Việt Nam còn kém phát triển, hoạt động bán

lẻ mới chỉ dừng lại ở các hình thức đơn giản như chợ búa, cửa hàng bách hóa, cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ, quầy bán hàng vỉa hè, gánh hàng rong…Nhưng khi nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, hệ thống phân phối bán lẻ ngày càng

đa dạng, phong phú hơn với sự xuất hiện của các siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại… Dựa trên các tiêu chí khác nhau người ta có thể phân loại ra nhiều

Trang 12

lẻ thành có cơ sở bán lẻ lớn, vừa và nhỏ, phân loại theo chủ thể thì gồm có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá thể hộ gia đình… Tuy nhiên phổ biến nhất và dễ hiểu nhất thì người ta thường phân loại TTBL theo tiêu thức cách thức bán hàng và hàng hóa kinh doanh Theo tiêu thức này các loại hình bán lẻ gồm có: bán lẻ tại cửa hàng, không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ.

1.3.1 Bán lẻ tại cửa hàng:

Đây là loại hình phổ biến nhất hiện nay Theo loại hình này, các tổ chức hay cá nhân có một địa điểm kinh doanh cố định Tại đây, người ta tổ chức trưng bày hàng hóa và người tiêu dùng đến đây mua hàng và thanh toán trực tiếp Hiện nay có các loại hình bán lẻ như sau:

- Chợ: Là một loại hình truyền thống và lâu đời, phổ biến khắp nơi trên thế

giới Chợ có thể hiểu là nơi quy tụ nhiều người bán lẻ và người tiêu dùng để tiêu thụ các loại hàng hóa khác nhau Hoạt động buôn bán của chợ có thể diễn ra hàng ngày hoặc định kỳ theo một thời gian nhất định

- Siêu thị: Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương

mại Việt Nam-nay là Bộ Công thương Việt Nam ban hành ngày 24/09/2009: “Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại, kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, đảm bảo chất lượng; đáp ứng tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kĩ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng” Siêu thị có sức hút lớn bởi mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng hàng ngày phong phú, chủng loại đa dạng, mỗi mặt hàng có thể có đến hàng chục nhãn hiệu khác nhau giúp việc lựa chọn hàng dễ dàng, đảm bảo chất lượng và giá cả phải chăng Trong những năm qua, hình thức kinh doanh siêu thị đã thực sự khẳng định được vị thế của mình trên thương trường Người tiêu dùng ngày càng nhận thức đc những giá trị gia tăng mà siêu thị mang lại như sự tiện lợi, chất lượng phục vụ và sự uy tín của sản phẩm… thay vì đến các cửa hàng nhỏ, cũ kỹ, vàng thau lẫn lộn, người tiêu dùng đã đến siêu thị để có cơ hội so sánh từ giá cả đến mẫu mã, kiểu dáng, tính năng của nhiều sản phẩm của nhiều thương hiệu khác nhau

-Trung Tâm Thương Mại: Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ

Trang 13

24/09/2009: “Trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch

vụ, hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang thiết bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, hiện đại đáp ứng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ của khách hàng”

- Cửa hàng bán lẻ độc lập: Loại hình bán lẻ này tồn tại rất phổ biến Các

cửa hàng này thường thuộc sở hữu cá nhân hay hộ gia đình Nó tồn tại dưới hình thức các cửa hàng, cửa tiệm nhỏ tại các mặt phố, khu dân cư Các loại hàng hóa tại các cửa hàng này thường là hàng tiêu dùng,dân dụng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày

- Cửa hàng bán lẻ dạng Hợp tác xã: Hợp tác xã bán lẻ được hình thành bởi

một nhóm người bán lẻ liên kết với nhau để cùng buôn bán, phân phối hàng hóa Sự liên kết này dựa trên sự tự nguyện, đồng thời các thành viên có quyền tự do gia nhập, tách khỏi hợp tác xã và tự cung ứng hàng hóa từ nguồn ngoài hợp tác xã

- Cửa hàng bách hóa: Đây là loại hình cửa hàng lớn cả về quy mô và số

lượng hàng hóa Các cửa hàng bách hóa thường được xây dựng tại các khu dân cư tập trung đông đúc Hàng hóa tại đây phong phú về chủng loại và mẫu mã nên thường được bày bán chuyên biệt tại các khu vực riêng của cửa hàng

- Cửa hàng đại lý: Các cửa hàng này được người sản xuất hoặc người phân

phối cho làm trung gian trong việc tiêu thụ hàng hóa trên cơ sở hợp đồng đại lý Hoạt động của các cửa hàng này thường độc lập và hưởng một khoản hoa hồng nhất định

- Cửa hàng nhượng quyền thương mại: Loại hình bán lẻ này bắt đầu xuất

hiện tại Mỹ từ đầu thế kỷ 20 và ngày càng phát triển mạnh mẽ Cửa hàng này thường được ký hợp đồng để được nhượng quyền kinh doanh một loại hàng hóa dịch vụ nhất định từ nhà sản xuất Các cửa hàng nhượng quyền là các cửa hàng có sẵn vốn và địa điểm kinh doanh Các cửa hàng này kinh doanh dựa vào thương hiệu của một hãng nổi tiếng trên thị trường Ngoài ra, các cửa hàng này cũng nhận được

sự tư vấn, cung cấp bí quyết về marketing, tổ chức quản lý, đào tạo nguồn nhân lực… từ đơn vị trao quyền kinh doanh Để đổi được điều đó, thì ngoài số tiền đóng

Trang 14

lúc đầu, các cửa hàng còn phải đóng thêm một khoản phí nhất định Hiện nay ở Việt Nam hình thức này thường gặp ở các cửa hàng ăn ví dụ như KFC, Lotteria, BBQ…

- Cửa hàng chuyên doanh: Đây là loại hình cửa hàng kinh doanh chuyên

sâu Nó chỉ cung cấp cho một hay số nhóm người tiêu dùng nhất định Ví dụ: cửa hàng chuyên doanh quần áo, giày dép…hay một nhóm sản phẩm như hàng tươi sống, hàng đông lạnh, cửa hàng thể thao, đồ điện tử gia dụng…

- Cửa hàng giảm giá, hạ giá: Cửa hàng này bán các loại hàng hóa với giá

thấp hơn với giá bán lẻ theo yêu cầu của người sản xuất hoặc tính chất của sản phẩm Ví dụ các cửa hàng bán sản phẩm quần áo hạ giá của Made in Vietnam

- Cửa hàng kho: Cửa hàng này giống như một kho hàng Các cửa hàng này

thường không trưng bày hàng hóa, không quảng cáo do vậy tận dụng được diện tích

và chi phí

- Cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm: Đây là kênh phân phối trực tiếp

của người sản xuất tới người tiêu dùng Ví dụ như cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của TH True Milk, cửa hàng sữa Vinamilk…

Trang 15

1.3.2 Bán lẻ không qua cửa hàng

Theo loại hình này, các tổ chức và cá nhân không cần thiết phải có một địa điểm bán hàng cố định Hiện nay loại hình bán lẻ này có các dạng:

- Bán lẻ theo đơn đặt hàng qua bưu điện hay điện thoại: Mọi hoạt động

bán hàng đều có sử dụng qua bưu điện hay điện thoại để tiếp nhận đơn đặt hàng, hỗ trợ đưa hàng đến tận nhà khách hàng Loại hình này có thể bao gồm: bán theo đơn đặt hàng căn cứ vào catalog (người bán gửi cho khách hàng catalog qua quầy bán hàng, hàng được đặt sẽ được giao từ kho trung tâm cho các quầy, quầy sẽ thông báo qua điện thoại cho khách hàng là hàng đã về và có thể đến nhận); hoặc marketing trực tiếp (người bán sẽ thông báo trên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình mô tả một mặt hàng nào đó và người tiêu dùng có thể đặt mua qua bưu điện, điện thoại); hoặc gửi thư trực tiếp Tuy nhiên loại hình này đang dần dần ít đi trên thị trường bán lẻ Việt Nam

- Máy bán hàng tự động: Máy bán hàng tự động thường được đặt ở các nhà

máy, cơ quan, cửa hàng lớn, nơi có nhiều người qua lại Nó có thể nhận tiền xu hoặc tiền giấy và trả lại tiền thừa, đảm bảo sự thuận tiện cho người tiêu dùng nhờ bán suốt ngày đêm và tự phục vụ Tuy nhiên , đây là một kênh phân phối tương đối đắt, thường cao hơn 15-20% giá bán hàng hóa thông thường, nó chưa thực sự phổ biến ở Việt Nam

- Bán hàng lưu động: Là hình thức bán hàng theo nguyên tắc “đến từng

nhà” hoặc sắp xếp các “Cuộc hẹn mua bán tại nhà” Bán hàng theo hình thức này có thể mang lại cho khách hàng sự tiện lợi, nhưng giá bán thường tương đối đắt vì người bán phải trả thêm khoản hoa hồng cho nhân viên chào hàng, chi phí tổ chức, thuê nhân viên bán hàng

- Hệ thống bán hàng đa cấp: Đây là hoạt động kinh doanh bán hàng trực

tiếp đến tay người sử dụng và chỉ dành riêng cho hoạt động tiếp thị trên thị trường hàng hóa chứ không dành cho thị trường dịch vụ Theo đó, người bán hàng sẽ bán trực tiếp tại nơi ở của người mua hoặc ở một nơi khác chứ không phải là tại công ty cũng như tại các cửa hàng hay một địa diểm bán hàng cố định Bán hàng đa cấp là một hình thức kinh doanh tiến bộ được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng Tuy nhiên hiện nay lại xuất hiện những biến tướng của loại hình kinh doanh này và trở thành một hình thức lừa đảo; có không ít công ty đã làm sai quy chế của pháp

Trang 16

- Kinh doanh bán lẻ điện tử: Là hình thức mà việc bán hàng hóa được thực

hiện thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông đặc biệt là máy tính và Internet đến người tiêu dùng cuối cùng Ví dụ như vatgia.com, enbac.com,…

- TV Home shopping: TV Home Shopping là một hình thức mua bán, giao

dịch qua mạng Cable TV (truyền hình cáp) và Satellite Broadcasting (truyền hình

vệ tinh), một công ty Home Shopping sẽ xây dựng siêu thị trên tivi với đủ các loại mặt hàng Họ mua sóng hoặc hợp tác để lên sóng của một kênh truyền hình và phát chương trình mà mình sản xuất Đa phần những chương trình này là những chương trình giới thiệu về công dụng, tính năng của sản phẩm Khi muốn mua hàng, khách hàng có thể gọi điện thoại đến công ty để được hướng dẫn, tư vấn và đặt hàng Sau

đó, hàng sẽ được giao tận nhà Khách hàng mục tiêu của những công ty kinh doanh theo mô hình này là những người không có nhiều thời gian đi mua Hiện nay ở Việt Nam có nhiều kênh truyền hình đang phát những chương trình Home Shopping như VietHome Shopping phát trên HTVC+ và SCTV5, Home Shopping Network phát trên SCTV, Lotte Đất Việt phát trên VCTV14 Truyền hình cáp Việt Nam còn có hẳn kênh mua bán hàng hóa có tên TV Shopping trên VCTV

1.3.3 Bán lẻ dịch vụ

Theo loại hình này, hàng hóa ở đây là dịch vụ Ví dụ dịch vụ cho thuê phòng

ở, dịch vụ giặt là, dịch vụ cho thuê phương tiện…

Cùng sự phát triển của đời sống xã hội thì các loại hình bán lẻ không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ cũng ngày càng phổ biến hơn Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, viễn thông đặc biệt là thương mại điện tử (giới thiệu, bán hàng và thanh toán qua mạng) cộng với nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, đi lại… của người tiêu dùng ngày một cao đã làm cho các loại hình dịch vụ không ngừng tăng lên

Trang 17

1.4 Vai trò của thị trường bán lẻ

1.4.1 Thị trường bán lẻ là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng

Nhằm đảm bảo lợi nhuận, người sản xuất phải sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn Họ không ngừng cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn và công nghệ để xây dựng các xí nghiệp lớn, mở rộng dây chuyền sản xuất để đạt được hiệu quả sản xuất quy

mô Tuy nhiên, ngược với quy mô sản xuất lớn, người tiêu dùng lại có nhu cầu về nhiều loại hàng hóa với khối lượng nhỏ Sản xuất khối lượng lớn một số chủng loại sản phẩm mâu thuẫn với nhu cầu số lượng nhỏ nhưng chủng loại đa dạng của người tiêu dùng Bằng cách mua hàng hóa của nhiều nhà sản xuất khác nhau và bán lại cho nhiều người tiêu dùng tại một địa điểm, thị trường bán lẻ đã giải quyết tốt sự khác biệt này

Bên cạnh đó, thị trường bán lẻ còn giúp giải quyết sự khác biệt và không trùng khớp về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng Trong nền kinh

tế, việc sản xuất hàng hóa được tổ chức ở một địa điểm, còn người tiêu dùng có mặt

ở khắp mọi nơi Mà ngay ở trên một khu vực thị trường, người tiêu dùng cũng sẽ khác nhau về nhu cầu, cách sử dụng, mục đích mua sắm,…cũng như khác nhau về yêu cầu số lượng, chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa, hoạt động dịch vụ Hơn nữa, đôi khi sản xuất lại không xảy ra cùng thời gian với nhu cầu tiêu dùng sản phẩm Nhiều hàng hóa sản xuất mang tính thời vụ còn tiêu dùng xảy ra quanh năm hoặc ngược lại Điều này đòi hỏi nhu cầu phải dự trữ hàng hóa Thị trường bán lẻ giúp giải quyết vấn đề này trong quá trình phân phối hàng hóa Nó đảm bảo việc cung cấp đủ

số lượng, đúng chất lượng và kịp thời gian so với nhu cầu của người tiêu dùng

1.4.2 Thị trường bán lẻ là kênh cung cấp thông tin từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng và ngược lại

Bán lẻ là khâu trung gian nối sản xuất và tiêu dùng Nhà bán lẻ là người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, nắm được nhu cầu, thị hiếu và thói quen mua sắm của khách hàng Trong quá trình bán hàng, nhà bán lẻ sẽ cung cấp các thông tin về hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Họ cũng chính là người trực tiếp thực hiện công việc tạo dựng và duy trì mối liên hệ với người tiêu dùng nói chung và với những khách hàng tiềm năng mà nhà sản xuất nhắm tới nói riêng

Trang 18

Ngược lại, thông qua nhà bán lẻ, doanh nghiệp sản xuất cũng sẽ thu nhận được các thông tin phản hồi từ thị trường, từ phía người tiêu dùng Các thông tin thu thập được sẽ giúp người sản xuất định hướng nhu cầu của thị trường, của khách hàng Điều này vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất, nhất là trong thời điểm tính cạnh tranh trên thị trường ngày càng tăng Am hiểu thị trường, am hiểu người tiêu dùng là vô cùng cần thiết Nhà sản xuất nào nắm bắt được nhu cầu của thị trường sẽ có được lợi thế trong kinh doanh.

1.4.3 Thị trường bán lẻ phản ánh tình hình sản xuất, kinh doanh và mức sống của người dân

Lĩnh vực dịch vụ phân phối đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây Thị trường bán lẻ không chỉ giải quyết đầu ra, tiêu thụ sản phẩm cho các ngành sản xuất

mà còn góp phần gia tăng GDP chung của cả nước Cụ thể, dịch vụ phân phối chiếm tỷ trọng lớn thứ 3 trong tổng mức GDP, khoảng 13%-14%, chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế biến và nông nghiệp Nhìn vào tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ, ta có thể xác định được mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân, xu hướng phát triển của nền kinh tế trong tương lai Hoạt động phân phối bán lẻ cũng góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, giảm thiểu áp lực lao động cho một nước đông dân như Việt Nam

Thị trường là điều kiện sống còn đối với sản xuất và kinh doanh Mục đích của sản xuất hàng hóa là để bán, để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Hàng hóa muốn đến tay người tiêu dùng đều phải thông qua hệ thống phân phối bán lẻ Vì vậy, một khi thị trường bán lẻ còn hoạt động thì sản xuất, kinh doanh mới tồn tại và phát triển được

Bên cạnh đó, mức tiêu dùng hàng hóa trên thị trường bán lẻ cũng phản ánh đời sống của người dân trong toàn xã hội Sức mua trên thị trường tăng chứng tỏ đời sống của người dân đã được cải thiện Thị trường bán lẻ phát triển sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu phong phú, đa dạng của người tiêu dùng; đưa hàng hóa tràn ngập trên thị trường dù ở bất kỳ vùng miền nào

1.4.4 Thị trường bán lẻ giữ vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã

Trang 19

Quá trình tái sản xuất bao gồm bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng TTBL đảm bảo một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất là khâu tiêu thụ Nó là khâu trung gian, nối sản xuất và tiêu dùng, do đó có tác dụng trở lại đối với sản xuất và tiêu dùng Không có phân phối bán lẻ thì quá trình tái sản xuất không thể tái diễn được.

TTBL là nơi quyết định khâu sản xuất nên sản xuất những mặt hàng nào, chủng loại và mẫu mã ra sao Chính những động thái trên TTBL sẽ buộc các nhà sản xuất phải tính toán kế hoạch và phương thức kinh doanh sao cho phù hợp nhất, đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng Còn đối với tiêu dùng, chính cách thức kinh doanh, phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp bán lẻ sẽ tác động đến cách thức mua sắm của người tiêu dùng Khách hàng sẽ bị chi phối bởi những thông tin về hàng hóa, dịch vụ mà các nhà bán lẻ đưa ra

Phân phối bán lẻ có tác dụng kìm hãm hoặc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng

Có thể nói, TTBL đang ngày càng củng cố vai trò là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển và đem lại lợi nhuận lớn cho người tiêu dùng

1.4.5 Thông qua TTBL, Nhà nước sẽ xây dựng những chính sách phù hợp để phát triển nền kinh tế và định hướng tiêu dùng

TTBL phản ánh bộ mặt của toàn bộ nền kinh tế do nó liên quan trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân Dựa vào cung cầu trên thị trường bán lẻ, Nhà nước sẽ xây dựng định hướng cho sản xuất và tiêu dùng, thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế để đảm bảo cho thị trường tăng trưởng ổn định

Nhà nước sẽ dẫn dắt nhà sản xuất tập trung vào nhu cầu thị trường, vào những ngành sản xuất đang được khuyến khích phát triển Về phía tiêu dùng, Nhà nước cũng sẽ định hướng tiêu dùng của dân cư vào các mặt hàng trọng điểm, những mặt hàng được sản xuất trong nước, từ đó nâng cao hình ảnh và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước

Ngoài ra, bằng cách nghiên cứu những diễn biến trên TTBL, Nhà nước cũng sẽ tạo ra hành lang pháp lý phù hợp để điều chỉnh các mối quan hệ trên thị trường, giúp cho thị trường ổn định và phát triển, thực hiện công bằng xã hội

2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ THẾ GIỚI

Trang 20

Năm 2011, chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) đã phản ánh những thay đổi đáng kể trong nền kinh tế toàn cầu và sự ảnh hưởng khác nhau lên các nền kinh tế phát triển và đang phát triển.

Cụ thể, một số thị trường mới nổi đang phát triển một cách mạnh mẽ và thay đổi cán cân quyền lực Gần đây, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, trong khi đó, Ấn Độ dự kiến sẽ tăng trưởng nhanh hơn so với Trung Quốc Suy thoái kinh tế toàn cầu và khủng hoảng nợ công Châu Âu đã đẩy nhanh sự thay đổi trong sản xuất và tiêu dùng toàn cầu từ phương tây sang phương đông, từ những nước phát triển sang những nước có nền kinh tế mới nổi và những nước đang phát triển

Trang 21

Bảng 1: Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2011

2011

rank

Country Region Market

Attractiveness(25%)

Country Risk (25%)

Market Saturatio

n (25%)

Time Pressur

e (25%)

GRDI Score

Change

in rank compared

Trang 22

Nhìn vào hình ta thấy, trong khi Châu Á dẫn đầu về tốc độ phục hồi kinh tế trên toàn cầu thì khu vực Nam Mỹ đã có một bước nhảy lớn trên bảng xếp hạng chỉ

số GRDI trong năm nay nhờ sự tăng trưởng liên tục Theo đó, Brazil đã dẫn đầu bảng xếp hạng với tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến là 5% trong vài năm tới, cơ cấu dân số lớn và chủ yếu sống ở đô thị, doanh số bán lẻ và đầu tư tăng lên đáng kể do

sự tác động của hai sự kiện Thế vận hội Olympic và World Cup Xếp thứ hai là Uruguay với 66,5 điểm, tăng lên 6 điểm so với năm 2010

Đối với khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA), tình trạng bất ổn về chính trị trong khu vực đã ảnh hưởng đáng kể Tuy vậy, các nước như Kuwait, Ả Rập Xê Út và các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) đã không gặp phải những biến động giống của các nước láng giềng và nằm trong top 10

Bên cạnh xu hướng khu vực hóa, các kênh mới như thương mại điện tử và thương mại qua điện thoại di động được chứng minh là một phần quan trọng của việc phát triển thương mại bán lẻ toàn cầu Những nhà bán lẻ hàng đầu hiểu được tầm quan trọng của những kênh bán lẻ này

Trang 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ SAU

5 NĂM GIA NHẬP WTO

1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM

Theo Bộ Công Thương, sau 5 năm gia nhập WTO, ngành bán lẻ Việt Nam phát triển với tốc độ khá nhanh, bước đầu tạo được vị thế trên thị trường, cũng như khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế Việt Nam

1.1 Quy mô, tốc độ và cơ cấu của thị trường bán lẻ VN

Quy mô tổng mức bán lẻ:

Tổng mức bán lẻ (TMBL) của Việt Nam có dung lượng khá, điều này được thể hiện ở quy mô tuyệt đối của TMBL và tỷ lệ giữa TMBL so với tổng tiêu dùng cuối cùng và so với GDP theo giá thực tế

Cụ thể, tỷ lệ giữa TMBL so với tổng tiêu dùng cuối cùng và so với GDP theo giá thực tế qua một số năm như sau:

(Nguồn: Báo Kinh tế 2011-2012 Việt Nam và Thế giới)

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, quy mô TMBL của Việt Nam có 3 điểm đáng chú ý Thứ nhất, quy mô TMBL của VN đã có quy mô khá Dung lượng thị trường đang tăng lên nhanh chóng cả về lượng hàng hóa, dịch vụ và chủng loại, mẫu mã,

Trang 24

trong nước cần tận dụng để tránh nhập siêu, khắc phục sự lệ thuộc vào bên ngoài khi xuất khẩu gặp khó khăn.

(Nguồn: Báo Kinh tế 2011-2012 Việt Nam và Thế giới)

Thứ hai, tỷ lệ TMBL so với tiêu dùng cuối cùng cũng đã tăng lên nhanh chóng và hiện đang ở mức cao Sự tăng lên nhanh chóng của tỷ lệ TMBL/tiêu dùng cuối cùng là kết quả của việc chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang cơ chế thị trường Tiêu dùng thông qua mua bán trên thị trường tăng, thể hiện tính tự cấp, tự túc giảm, tính hàng hóa, tính thị trường của sản xuất, tiêu dùng tăng Đây là sự chuyển đổi quan trọng, không chỉ có tác động ở trong nước mà còn góp phần chuyển đổi vị thế của VN được công nhận là nền kinh tế thị trường theo cam kết khi gia nhập WTO Tổ chức thương mại thế giới vào năm 2017

Trang 25

(Nguồn: Báo Kinh tế 2011-2012 Việt Nam và Thế giới)

Thứ ba, tỷ lệ TMBL so với GDP cũng đã tăng lên Tỷ lệ trên đặc biệt tương đối nhanh Điều đó càng củng cố thêm sự đúng đắn việc coi trọng thị trường trong nước, đặc biệt khi xuất khẩu có những khó khăn về giá cả, thị trường

• Tốc độ tăng

(Nguồn: Báo Kinh tế 2011-2012 Việt Nam và Thế giới)

Thời kỳ 2001-2005, TMBL tăng khác cao Đặc biệt giai đoạn 2006-2010 tăng cao nhất, chủ yếu do 3 năm liền (từ 2005 đến 2007) Việt Nam có tăng trưởng

Trang 26

dân cư có thu nhập cao, trong điều kiện mở cửa hội nhập rộng hơn, có nhu cầu tiêu dùng hàng cao cấp, hàng ngoại nhập; cộng với tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao…Năm 2011, tốc độ tăng TMBL có 3 điểm đáng lưu ý Thứ nhất là, thấp xa so với tốc độ tăng của năm trước cũng như tốc độ tăng bình quân của 5 năm trước Thứ hai, tốc độ tăng TMBL đã chậm lại nhanh qua các tháng trong năm 2011 Thứ ba, lần đầu tiên sau 20 năm, tốc độ tăng TMBL thấp hơn tốc độ tăng GDP (4,7% so với

5,89%) Như vậy, TMBL năm 2011 đã co lại Nguyên nhân làm cho TMBL chậm

lại chủ yếu là do tăng trưởng kinh tế năm 2011 bị chậm lại so với những năm trước (5,89% so với 6,78%), từ đó thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán bị co lại Lạm phát tính chung trong cả nước khá cao (18,13%) làm cho người tiêu dùng, nhất

là người nghèo, người có thu nhập thấp, người có thu nhập cố định bằng tiền, tự điều chỉnh lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cho phù hợp

Trang 27

(Nguồn: Báo Kinh tế 2011-2012 Việt Nam và Thế giới)

Cơ cấu TMBL theo loại hình kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực

Tỷ trọng trong TMBL của loại hình kinh tế nhà nước có xu hướng giảm nhanh (1985 chiếm 40,7%, năm 1995 chiếm 22,6%, 2005 còn 12,9%, năm 2011 còn 10,9%) Sự sụt giảm tỷ trọng và hiện còn ở mức thấp của loại hình kinh tế như trên

là đúng hướng

Bên cạnh đó, cơ cấu TMBL theo ngành thương mại và dịch vụ có sự dịch chuyển theo hướng tích cực Tính tích cực thể hiện ở chỗ: tỷ trọng ngành thương nghiệp (hàng hóa thuần túy) giảm xuống, tỷ trọng của ngành khách sạn, nhà hàng

và tỷ trọng của ngành du lịch, dịch vụ tăng lên Điều đó chứng tỏ, cơ cấu tiêu dùng đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chi tiêu dịch vụ giảm tỷ trọng chi tiêu mua hàng hóa thuần túy

1.2 Các loại hình kinh doanh bán lẻ phong phú, đa dạng

TTBL Việt Nam nhìn chung là thị trường phân tán và quy mô còn khá khiêm tốn nếu xét trên quy mô dân số Chợ và các cửa hàng gia đình vẫn chi phối cả thị trường Đặc biệt ở khu vực nông thôn nơi có 70% dân số việt nam đang sinh

Trang 28

Đến cuối năm 2011, cả nước có 638 siêu thị tại 59/63 tỉnh, thành phố, tăng 12,52% so với năm 20102 và 117 trung tâm thương mại tại 32/63 tỉnh, thành phố (tăng 23,15% so với năm 2010) Số lượng siêu thị thành lập mới 5 năm sau khi gia nhập WTO (2007- 2011) so với giai đoạn 2002- 2006 tăng hơn 20% (303/251 siêu thị) Số trung tâm thương mại thành lập mới tăng hơn 72% (62/36) Ngoài ra, còn

có hàng nghìn cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện lợi (theo mô hình hiện đại của các nước tiên tiến) phân bố rộng khắp cả nước Thị trường nội địa phát triển đã làm thay đổi diện mạo của thương mại bán lẻ, làm thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng theo hướng văn minh, hiện đại và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của kinh tế, xã hội Ước tính chung, thị phần các loại hình bán lẻ hiện đại chiếm khoảng 20% tổng mức bán lẻ, gấp đôi thời điểm trước khi gia nhập

Thông qua đầu tư trực tiếp, góp vốn liên doanh, nhượng quyền thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng mạng lưới bán hàng, khai thác và kết hợp nguồn lực của nhiều doanh nghiệp nhỏ để trở thành hệ thống có quy mô lớn và trình

độ tổ chức cao đang ngày một phát triển Một số nhà bán lẻ đã tổ chức được mô hình bán hàng theo chuỗi với số lượng cửa hàng tăng lên hàng năm, như Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) với gần 60 siêu thị mang thương hiệu Co.opMart và 30 cửa hàng Co.opFood; Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) với 3 trung tâm thương mại, hơn 40 siêu thị, cửa hàng tiện ích HaproMart, 36 cửa hàng, điểm kinh doanh thực phẩm an toàn; Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Intimex với 14 siêu thị và 1 trung tâm thương mại…

1.3.Các tập đoàn kinh doanh bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam

Trước khi Việt Nam gia nhập WTO, chưa có nhiều doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tham gia vào TTBL Việt Nam, tiêu biểu là tập đoàn Metro Cash & Carry của Đức, tập đoàn Bourbon của Pháp (Big C) và tập đoàn Lion của Malaysia(Parkson) Nhưng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngày càng có nhiều các tập đoàn phân phối nước ngoài tiếp cận và thâm nhập vào thị trường Việt Nam như tập đoàn Lotte (Hàn Quốc), Dairy Farm (Singapore) Họ đã nhanh chóng tạo

ra những thay đổi góp phần hình thành nên một thị trường thương mại, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ phân phối nội địa Việt Nam phong phú, đa dạng và có tính cạnh tranh cao Đối với các doanh nghiệp đã gia nhập vào thị trường bán lẻ trước

Trang 29

sở doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng Ta có thể kể đến hệ thống Metro Cash & Cary mở thêm 10 trong tổng số 17 trung tâm đang hoạt động, hệ thống siêu thị Big

C mở thêm 13 trong số 18 đại siêu thị Big C, Parkson mở thêm 7 trung tâm mua sắm

1.3.1 Tập đoàn Metro Cash & Carry

Metro Cash & Carry là một tập đoàn bán lẻ có mặt ở 30 quốc gia, 3 lục địa,

11 múi giờ; Metro Cash & Carry thực sự là một công ty hàng đầu trong lĩnh vực bán sỉ tự phục vụ Với sự nhạy bén trong kinh doanh và tinh thần tiên phong, Metro Cash & Carry là một trong số công ty đa quốc gia đầu tiên có mặt và góp phần cho

sự phát triển của cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng hiện đại ở các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ Đến năm 2002, tập đoàn này đã bắt đầu đầu tư vào Việt Nam Tính trên cả nước, đến cuối năm 2011, hệ thống phân phối và bán sỉ của Metro Cash & Carry đang sử dụng hơn 3.500 lao động Việt Nam

Mô hình kinh doanh của Metro là cửa hàng dạng nhà kho và đối tượng khách hàng chủ yếu là đối tượng chuyên nghiệp như nhà hàng, khách sạn, canteen, các công ty dịch vụ và văn phòng, cửa hàng bán lẻ có quy mô vừa và nhỏ Tuy nhiên với mô hình mới lạ, giá cả hấp dẫn khi mua với số lượng lớn, tập đoàn Metro không chỉ thu hút đối tượng mua sỉ mà một số lượng lớn người tiêu dùng lẻ cũng đến mua hàng Bởi vậy Metro cũng có thể được coi là một trong những nhà bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam Hệ thống trung tâm Metro cung cấp các chủng loại sản phẩm đa dạng và toàn diện, với hơn 25.000 mặt hàng với các sản phẩm thực phẩm

và phi thực phẩm Thế mạnh của tập đoàn này là các loại thực phẩm tươi sống như rau quả, các tươi, các sản phẩm từ thịt và bơ sữa Tính đến tháng 1/2012, Metro Cash & Carry Việt Nam đang điều hành 17 trung tâm bán sỉ hoạt động rộng khắp toàn quốc: 03 tại thành phố Hồ Chí Minh, 02 ở thủ đô Hà Nội, và 01 trung tâm ở các thành phố Biên Hòa, Bình Dương, Vũng Tàu, Cần Thơ, Long Xuyên, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Hải Phòng, Vinh, Hạ Long, Nha Trang và mới nhất là Buôn Ma Thuột Bên cạnh đó, Metro Cash & Carry còn lập 4 trạm trung chuyển phân phối và kho trung tâm tại Việt Nam bao gồm trạm trung chuyển rau quả tại Đà Lạt, trạm trung chuyển thực phẩm và sản phẩm khô tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Đối với nhà cung cấp, Metro Cash & Carry có những yêu cầu cơ bản đối với

Trang 30

biệt, hệ thống vận chuyển của Metro khá hiện đại, khép kín với các xe lạnh nhiều ngăn có trọng tải lớn và các kho lạnh trung chuyển chính là một trong những ưu thế khác biệt của hệ thống cung ứng Metro Cash & Carry tại Việt Nam Cam kết đầu tư lâu dài ở Việt Nam, Metro đặt ra mục tiêu phát triển phải bền vững và góp phần phát triển kinh tế địa phương Không chỉ dừng lại ở đó, Metro còn vạch ra chiến lược gắn liền với nông dân, hỗ trợ và hợp tác cùng phát triển Nhờ đó, Metro đã giúp nông dân giảm thiểu chi phí, sản phẩm có giá bán tốt hơn trong khi Metro có thể cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chất lượng cao, an toàn và có nguồn gốc rõ ràng.

Về trang thiết bị bán hàng, Metro Cash & Carry cũng đã đầu tư hàng triệu USD để nâng cấp toàn bộ hệ thống tiền sảnh và thanh toán bằng máy tính tiền hiện đại, máy in tốc độ nhanh hơn

1.3.2 Big C (tập đoàn Bourbon – Pháp)

Big C được coi là một trong số tập đoàn bán lẻ lớn nhất đang hoạt động tại Việt Nam Năm 1998, tập đoàn đã khai trương siêu thị đầu tiên tại Đồng Nai Hệ thống siêu thị Big C hoạt động kinh doanh theo mô hình Trung tâm thương mại hay đại siêu thị bao gồm siêu thị Big C và hành lang thương mại siêu thị Big C - hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại đang được Tập đoàn Casino (Tập đoàn mẹ của siêu thị Big C) triển khai Casino là một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới, với hơn 200.000 nhân viên làm việc tại hơn 11.000 chi nhánh, tại Việt Nam, Thái Lan, Argentina, Uruguay, Brazil, Columbia, Pháp, Madagascar và Mauritius

Hiện nay các cửa hàng của Big C hiện diện trên hầu hết các tỉnh, thành phố lớn của Việt Nam như… Big C đang có kế hoạch mở rộng mạng lưới siêu thị, đưa

hệ thống Big C vào năm 2015 lên tới 35 cửa hàng với mục tiêu có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố lớn của Việt Nam Tính đến tháng 6/2011, hệ thống siêu thị Big C

có 17 đại siêu thị tại Việt Nam Hệ thống siêu thị Big C trên toàn quốc tính đến nay

sử dụng đến hơn 8.000 lao động, cung cấp khoảng hơn 40.000 mặt hàng để đáp ứng cho nhu cầu của Khách hàng Tại các trung tâm thương mại và đại siêu thị Big C, phần lớn không gian được dành cho hàng tiêu dùng và thực phẩm với giá rẻ và chất lượng cao, trong đó có tới 95% mặt hàng được sản xuất tại Việt Nam Sản phẩm kinh doanh tại các siêu thị Big C có thể được chia ra thành 5 ngành chính, như sau:

Trang 31

Thực phẩm tươi sống: thịt, hải sản, trái cây và rau củ, thực phẩm chế biến,

thực phẩm đông lạnh, thực phẩm bơ sữa, bánh mì

Thực phẩm khô: Gia vị, nước giải khát, nước ngọt, rượu, bánh snack, hóa

phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm cho thú cưng và những phụ kiện

Hàng may mặc và phụ kiện: thời trang nam, nữ, trẻ em và trẻ sơ sinh, giày

dép và túi xách

Hàng điện gia dụng: các sản phẩm điện gia dụng đa dạng bao gồm thiết bị

trong nhà bếp, thiết bị giải trí tại gia, máy vi tính, các dụng cụ và các thiết bị tin học

Vật dụng trang trí nội thất: bàn ghế, dụng cụ bếp, đồ nhựa, đồ dùng trong

nhà, những vật dụng trang trí, vật dụng nâng cấp, bảo trì và sửa chữa, phụ kiện di động, xe gắn máy, đồ dùng thể thao và đồ chơi

Hành lang thương mại siêu thị Big C là không gian cho thuê bên trong và ngoài đại siêu thị Big C để các doanh nghiệp có thể tự kinh doanh tại đây Tuy nhiên, những hàng hóa và dịch vụ kinh doanh trong khu vực này khác biệt với những sản phẩm được bày bán trong các đại siêu thị Big C Nhờ đó, Khách hàng đến mua sắm tại siêu thị Big C có thể lựa chọn mỗi sản phẩm và dịch vụ tiện ích chỉ tại một nơi nhất định Hoạt động kinh doanh tại các Hành lang thương mại siêu thị Big C có thể chia ra thành 4 nhóm chính:

Ăn – uống: nhà hàng, khu ẩm thực.

Giải trí: rạp chiếu phim, quầy karaoke, và sân chơi dành cho thiếu nhi.

Những cửa hàng khác: nhà sách, cửa hàng quần áo, cửa hàng điện thoại,

điện tử

Dịch vụ: Máy rút tiền tự động (ATM)

Bên cạnh đó, Siêu thị Big C có bộ phận xuất khẩu đặt tại tỉnh Đồng Nai Công việc chính của bộ phận này là thu mua và xuất khẩu hàng hóa nội địa sang thị trường nước ngoài Hướng đến mục tiêu xây dựng hình ảnh công dân gương mẫu, sau 13 năm hoạt động tại Việt Nam, siêu thị Big C đã thực sự hòa mình vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đã triển khai nhiều chương trình và hoạt động xã hội như:

Trang 32

• Tham gia ngày hội tái chế chất thải, tháng sử dụng sản phẩm tái chế

• Hỗ trợ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân chất độc da cam

• Tham gia các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế ở vùng sâu vùng xa

• Tham gia các hoạt động hỗ trợ phát triển hệ thống bán lẻ tại Việt Nam

Đồng thời, Siêu thị Big C Việt Nam cũng đã nhận được nhiều giải thưởng

• Thương hiệu Việt yêu thích nhất 2010

• Top 40 Saigon Times 2009

• Chứng chỉ HACCP…

1.3.3 Trung tâm thương mại Parkson (tập đoàn Lion Group- Malaysia)

Parkson là thành viên của tập đoàn Lion, một tập đoàn quốc tế được thành lập từ năm 1930 tại Malaysia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau bao gồm sản xuất sắt thép, xe hơi, sản phẩm nông nghiệp, kinh doanh bán lẻ, bất động sản, công nghệ thông tin truyền thông Kể từ khi thành lập, tập đoàn Lion đã mạnh dạn đầu tư và thiết lập các hoạt động không chỉ ở Malaysia mà còn mở rộng phạm vi đa dạng trên nhiều lĩnh vực và nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam, Hồng Kông, Indonesia, Mexico, Singapore và Hoa Kỳ

Ngày 30/06/2005, tập đoàn Lion Group và Parkson Corporation chính thức khai trương Trung tâm thương mại Parkson Saigontourist Plaza tại Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư ban đầu là 7 triệu USD Hiện tại, với 8 trung tâm thương mại cao cấp tại Việt Nam trong đó 05 TTTM tại Thành phố Hồ Chí Minh, 02 TTTM tại

Hà Nội và 01 TTTM tại Hải Phòng với hơn 300 nhãn hàng bao gồm các thương hiệu quốc tế cũng như các nhãn hiệu nổi tiếng trong khu vực trong đó có nhiều thương hiệu lần đầu tiên xuất hiện tại thị trường Việt Nam như Coach, Christian

Trang 33

Guess, CK Jeans, Lancel, Esprit, Levis, Lewré, Bonia, Ecco, Geox, Addidas, Nike đến các nhãn hiệu lớn trong nước như Vera, Nino Maxx, N&M, An Phuoc… Ngoài

ra, Parkson còn cung cấp các dịch vụ giải trí, khu vực ăn uống, khu siêu thị phục vụ cho tất cả khách hàng

Nhờ vào nỗ lực trong kinh doanh, Parkson đã nhận được sự tín nhiệm của người tiêu dùng và liên tiếp đạt danh hiệu “ Thương hiệu được yêu thích nhất” trong

4 năm liên tiếp 2006, 2007, 2008 và 2009 được trao bởi Báo Sài Gòn Giải Phóng và

Sở Du Lịch Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra Parkson còn đạt danh hiệu “ Thương hiệu nổi tiếng nhất” tại Việt Nam năm 2008 theo số liệu thống kể của AC Niesel và Phòng Thương Mại & Công Nghiệp Việt Nam, 1 trong 10 điểm mua sắm thú vị tại Thành phố Hồ Chí Minh do người tiêu dùng trong và ngoài nước bình chọn, 1 trong

10 điểm mua sắm có chất lượng dịch vụ tốt nhất Việt Nam 2009 do chương trình Giải thưởng du lịch Việt Nam của Tổng Cục Du Lịch Việt Nam bình chọn Năm

2009, Parkson vinh dự được nhận giải sản phẩm tiêu biểu 1000 năm Thăng Long do Cục Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam tổ chức, và giải thưởng Doanh Nghiệp TMDV Tiêu biểu 2009 do Bộ Công Thương tổ chức Năm 2011, Parkson còn vinh dự nhận được giải thưởng "Thương hiệu du lịch Việt hàng đầu TP.HCM năm 2010" do Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du lịch bình chọn

1.3.4 Công ty TNHH Trung tâm thương mại Lotte Việt Nam

Lotte là tập đoàn lớn thứ 5 của Hàn Quốc, hoạt động trên nhiều lĩnh vực như Phân phối, Thực phẩm, Hóa dầu, Xây dựng, Giải trí, Du lịch, v.v… Tính đến năm 2008, tập đoàn Lotte có tổng cộng 52 công ty thành viên, trong đó có 19 công

ty thuộc lĩnh vực Thực phẩm - Tín dụng, 27 công ty thuộc lĩnh vực Hóa chất nặng, Xây dựng, Du lịch và lĩnh vực kinh doanh trọng tâm là phân phối với 6 công ty thành viên Trong đó, Lotte Shopping là công ty đóng vai trò cốt lõi của tập đoàn và

sở hữu toàn bộ các loại hình kinh doanh trong ngành phân phối như Trung tâm thương mại, siêu thị cao cấp, siêu thị, cửa hàng liện lợi, home-shopping, internet-shopping, … đồng thời được đánh giá là doanh nghiệp đứng đầu trong ngành phân phối của Hàn Quốc Doanh số năm đạt 14 tỉ USD, chiếm 35% tổng doanh số của tập đoàn, Lotte Shopping tự hào là doanh nghiệp có hệ thống tài chính vững mạnh

Ngày đăng: 30/07/2014, 18:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ - thực trạng thị trường bán lẻ việt nam sau 5 năm gia nhập wto
Sơ đồ 1 Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ (Trang 8)
Sơ đồ 2: Các kênh phân phối từ người sản xuất đến người tiêu dùng - thực trạng thị trường bán lẻ việt nam sau 5 năm gia nhập wto
Sơ đồ 2 Các kênh phân phối từ người sản xuất đến người tiêu dùng (Trang 10)
Bảng 1: Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2011 - thực trạng thị trường bán lẻ việt nam sau 5 năm gia nhập wto
Bảng 1 Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2011 (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w