Chi ngân sách Nhà nước là hoạt động của Nhà nước nhằm mục đích phân tích và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo dự toán ngân sách Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết đị
Trang 1CHƯƠNG V PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I KHÁI NIỆM CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm chi ngân sách nhà nước:
Chi ngân sách nhà nước thể hiện chức năng phân phối tài chính ở khâu ngân sách nhà nước Chi ngân sách Nhà nước là hoạt động của Nhà nước nhằm mục đích phân tích và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo
dự toán ngân sách Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định Có thể nói, đó chính là quá trình phân phối và sử dụng vốn ngân sách nhà nước Do vậy, thực hiện các khoản chi ngân sách nhà nước luôn gắn liền với các quan hệ tiền tệ trong phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước là quỹ ngân sách nhà nước
Về phương diện vật chất, các khoản chi ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ số tiền từ ngân quỹ mà nhà nước sử dụng để đảm bảo cho chức năng, nhiệm vụ của mình Về phương diện kinh tế, chi ngân sách nhà nước là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế xã hội mà nhà nước phải thực hiện Do vậy, các khoản chi ngân sách nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia
Chi ngân sách nhà nước có những đặc điểm sau đây1:
-Chi ngân sách nhà nước gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ
1
Dương Thị Bình Minh, Vũ Thị Minh Hằng, Sử Đình Thành, Nguyễn Tiến Hùng, Luật Tài chính, NXB Giáo dục
1996, tr93
Trang 2-Cơ cấu, nội dung và mức độ dành cho các khoản chi ngân sách nhà nước do cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước là Quốc Hội quyết định
-Chi ngân sách nhà nước phải mang tính hiệu quả cao Tính hiệu quả của hoạt động chi ngân sách nhà nước phải được đánh giá ở tầm vĩ
mô
-Chi ngân sách nhà nước là hình thức cấp phát trực tiếp của nhà nước vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân Chi ngân sách nhà nước là hình thức cấp phát không hoàn lại
2 Cơ cấu các khoản chi ngân sách nhà nước:
2.1 Chi đầu tư phát triển:
Việc phân biệt chi đầu tư phát triển trong cơ cấu các khoản chi ngân sách nhà nước là căn cứ vào mục đích kinh tế-xã hội của việc sử dụng các khoản chi ngân sách nhà nước Theo đó, các khoản chi ngân sách nhà nước được phân biệt thành 2 nhóm lớn: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Trong đó, chi đầu tư phát triển mang tính chất của khoản chi tích luỹ Chi thường xuyên còn được hiểu là chi có tính chất tiêu dùng
Chi có tính chất tích lũy hay còn gọi là chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, gắn liền với việc xây dựng, mở rộng cơ sở hạ tầng kinh tế Có thể nói, chi đầu tư phát triển là khoản chi tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nhằm phát triển năng lực sản xuất, tăng tích luỹ tài sản của nền kinh tế quốc dân Việc nhà nước thực hiện chi đầu tư phát triển chính là việc ngân sách nhà nước bỏ vốn vào các hoạt động kinh tế xã hội để hướng đến những lợi ích kinh tế xã hội lớn hơn trong tương lai Đây là những khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhưng ít phát sinh lợi ích ngay lập tức Điều này làm
Trang 3cho các khoản chi đầu tư phát triển ít thu hút tư nhân tham gia đầu tư Chính vì vậy mà vai trò của nhà nước rất quan trọng trong việc thực hiện các khoản chi này Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng, chi đầu tư phát triển thường có những khoản chi lớn hay được kể đến là:
-Chi đầu tư xây dựng cơ bản Khoản chi này được ngân sách nhà nước dùng để chi cho việc đầu tư, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội mà không có khả năng thu hồi vốn Khoản chi này nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
-Chi đầu tư, hỗ trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, lĩnh vực quan trọng mà cần thiết phải có sự tham gia của nhà nước Nhà nước Những khoản chi này góp phần quan trọng để nhà nước thực hiện vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội theo đúng múc tiêu đã đề ra trong từng thời kỳ
-Chi dự trữ Nhà nước là khoản chi để mua hàng hoá, vật tư dự trữ nhà nước có tính chiến lược của quốc gia hoặc hàng hoá, vật tư dự trữ mang tính chuyên ngành
-Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình, mục tiêu quốc gia,
dự án nhà nước chẳng hạn như cho chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch nông thôn, phủ xanh đồi trọc…
Chi đầu tư phát triển có những đặc điểm như sau:
-Chi đầu tư phát triển là khoản chi lớn như không có tính ổn định
do thứ tự và tỉ trọng ưu tiên trong chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước cho từng nội dung chi, từng lĩnh vực kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn
là khác nhau
Trang 4-Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ
2.2 Chi thường xuyên:
So với nhóm các khoản chi có tính chất tích lũy hay còn gọi là chi đầu tư phát triển, nhóm các khoản chi có tính chất tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước thể hiện quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước Chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm chi chủ yếu được xác định:
- Chi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng: bao gồm chi quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước ở các cấp Nhà nước ngày càng có xu hướng giảm thiểu đến mức tối đa có thể được các khoản chi năm trong nhóm này, nhằm mục đích tăng thu và tiết kiệm chi cho ngân sách nhà nước, tiến đến tinh gọn bộ máy quản lý hành chính nhà nước các cấp sao cho hiệu suất làm việc đạt mức cao nhất
- Chi cho các hoạt động sự nghiệp: Bao gồm chi cho các hoạt động kinh tế, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, đào tạo, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, trợ cấp chính sách xã hội và bảo hiểm xã hội… Chi hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp Đây là nhóm chi chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số chi có tính chất tiêu dùng của ngân sách Nhà nước
- Chi cho quốc phòng và an ninh: Là khoản chi hết sức cần thiết của quốc gia, nhăm bảo đảm điều kiện vật chất cho sự nghiệp quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
Trang 5- Chi khác: bao gồm chi trợ giá theo chính sách của nhà nước, phần chi thường xuyên trong các chương trình, mục tiêu quốc gia
Chi thường xuyên có đặc điểm sau:
-Những khoản chi thường xuyên có tính chất ổn định, bởi vì, có nhiều chức năng của nhà nước là không thay đổi như chức năng bảo vệ công dân, chức năng quản lý kinh tế Mặt khác, nhà nước luôn phải đảm bảo những khoản chi mang tính chất ổn định mà không phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội thay đổi, chẳng hạn như khoản chi lương của công chức, viên chức
-Các khoản chi thường xuyên có hiệu lực tác động trong thời gian ngắn và mang tính tiêu dùng xã hội Chi thường xuyên chủ yếu đáp ứng cho các nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước về quản lý kinh tế xã hội trong từng năm ngân sách Đây là khoản chi chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước, quốc phòng an ninh, các hoạt động sự nghiệp
-Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước gắn liền với cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng các hàng hoá công cộng Một quốc gia với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước càng gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả thì khoản chi thường xuyên càng được tiết kiệm và ngược lại
-Chi thường xuyên cần được quản lý theo dự toán và được sử dụng theo nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả Trong quá trình phân bổ và lập kế họach chi để đưa vào trong dự toán phải luôn tính toán sao cho chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả tốt nhất Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi nhận vào dự toán và được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua sẽ được xem là chỉ tiêu pháp lệnh Các đơn vị quản lý tài chính và chủ thể thụ hưởng ngân sách nhà nước có nghĩa vụ chấp hành
Trang 6tuyệt đối Yêu cầu này nhằm hướng đến việc đảm bảo mục tiêu cân đối ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó, chi ngân sách nhà nước còn bao gồm chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư, chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính và chi bổ sung cho ngân sách nhà nước cấp dưới
2.3 Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư:
Khoản nợ gốc thực chất đó là số tiền nhà nước đã vay của các chủ
nợ trong và ngoài nước đến hạn phải thanh toán Chi trả nợ bao gồm:
-Trả nợ trong nước: đây là những khoản nợ mà nhà nước đã vay của các tầng lớp dân cư, đoàn thể xã hội, tổ chức thông qua hình thức phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu, công trái…) Ở đây, Chính phủ là chủ thể đứng ra vay và phải đảm bảo thanh toán đầy đủ, đúng hạn cả gốc, lãi cho người chủ sở hữu công trái, trái phiếu của Chính phủ Việc thanh toán chi trả sẽ đựoc thực hiện tại kho bạc nhà nước Nguồn vốn thanh toán sẽ do ngân sách nhà nước đảm nhận Cụ thể là, ngân sách nhà nước ở trung ương có trách nhiệm chi trả các loại giấy tờ có giá phát hành phục vụ cho các công trình trung ương Hàng năm, Bộ Tài chính có trách nhiệm lập kế hoạch thanh toán trái phiếu trình Chính phủ phê duyệt và đưa vào dự toán ngân sách nhà nước Căn cứ vào kế hoạch được duyệt, cơ quan tài chính chuẩn bị nguồn vốn để kho bạc nhà nước thanh toán trái phiếu, công trái đến hạn Trường hợp công trái, trái phiếu
đã đến hạn thanh toán mà chủ sở hữu chưa đến thanh toán thì trái phiếu, công trái đó sẽ được bảo lưu cả gốc lẫn lãi trong thời gian phát hành và được hưởng lãi suất ngang bằng lãi suất gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2002, ngân sách địa phương cũng có thể được bổ sung bằng nguồn vốn thu đựoc từ việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu
Trang 7Trường hợp ngân sách cấp tỉnh có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh, thuộc danh mục đầu
tư trong kế hoạch 5 năm đã được hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh năm dự toán thì ngân sách cấp tỉnh đó được phép huy động vốn trong nước bằng việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương Việc huy động vốn bằng hình thức này phải tuân thủ yêu cầu cân đối ngân sách cấp tỉnh hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến hạn Mức tổng dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh
-Trả nợ nước ngoài: đây là những khoản nợ nước ngoài mà nhà nước đã vay của chính phủ các nước, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế Chính phủ sẽ lập kế hoạch trả nợ theo hàng năm
và kế hoạch trả nợ 5 năm Hàng năm, Bộ Tài chính có trách nhiệm lập
kế hoạch tổng hạn mức trả nợ nước ngoài của Chính phủ trình lên cho Chính phủ duyệt Thủ tướng Chính phủ sẽ uỷ quyền cho Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ theo hạn mức được duyệt Nguồn vốn để thanh toán
nợ nước ngoài do ngân sách trung ương đảm nhận Bộ Tài chính chịu trách nhiệm bố trí nguồn vốn hàng năm theo kế hoạch được duyệt để trả
nợ nước ngoài khi đến hạn Việc trả nợ theo kế hoạch có thể được tiến hành theo phương thức trả nợ thông qua hàng hoá hoặc bằng tiền
Theo xu hướng đổi mới chính sách tài chính quốc gia, quan điểm mới về cân đối ngân sách và bù đắp bội chi ngân sách nhà nước Các khoản vay trong nước, nước ngoài của Chính phủ đều phải được thực hiện cho mục đích đầu tư và phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế Đối với vốn vay để đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước tiến hành cấp phát vốn và thực hiện thu hồi vốn thông qua tu phí, giá dịch vụ Đồng thời, nhà nước sẽ là chủ thể trực tiếp trả nợ Đối với
Trang 8vốn cho vay mục đích đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà nước là người vay sau đó sẽ cho tổ chức kinh tế trong nước vay lại Các
tổ chức này sau một thời gian nhất định và với một tỷ lệ lãi suất được xác định trên thị trường vốn ở trong nước, phải hoàn trả số vốn vay cho nhà nước để nhà nước thanh toán nợ cho chủ thể đã cho vay
2.4 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính:
Quỹ dự trữ tài chính của quốc gia là khoản tích luỹ từ ngân sách nhà nước, hình thành nên nguồn dự trữ chiến lược do nhà nước thống nhất quản lý và sử dụng Quỹ dự trữ quốc gia được sử dụng với 2 mục đích:
-Nhằm tạm ứng cho ngân sách nhà nước trong trường hợp ngân sách nhà nước cần thực hiện nhu cầu chi để đảm bảo nhiệm vụ, yêu cầu kinh tế xã hội của quốc gia nhưng nguồn thu cho ngân sách nhà nước chưa tập trung kịp Trường hợp quỹ dự trữ tài chính tạm ứng cho ngân sách nhà nước thì ngân sách nhà nước phải hoàn trả trong năm ngân sách
-Nhằm xử lý cân đối ngân sách nhà nước Việc sử dụng quỹ dự trữ tài chính cho mục đích xử lý cân đối ngân sách được thể hiện trong các trường hợp như: cần nguồn ngân sách nhà nước để phòng chống, khắc phục hậu quả của thiên tai, tai nạn trên diện rộng, thực hiện các nhiệm
vụ quan trọng về quốc phòng an ninh, hoặc các nhiệm vụ cần thiết, cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán để tránh không làm ảnh hưởng, xáo trộn đến sản xuất, đời sống xã hội Ngoài ra, nếu nguồn thu ngân sách nhà nước, kể cả từ vay nợ nhằm mục đích bù đắp bội chi cho ngân sách nhà nước không đạt mức bội chi mà dự toán ngân sách nhà nước đã tiên liệu theo quyết định của cơ quan quyền lực ở trung ương và địa phương, trường hợp này quỹ dự trữ tài chính sẽ được sử dụng nhằm đảm bảo yêu cầu cân đối ngân sách trong năm ngân sách
Trang 9Quỹ dự trữ quốc gia được hình thành từ ngân sách nhà nước, do cơ quan quyền lực cao nhất (Quốc hội) quyết định Quỹ dự trữ quốc gia được quản lý chuyên trách bởi Cục dữ trự quốc gia-một cơ quan được tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương Hàng năm, ngân sách nhà nước sẽ bố trí những nguồn tăng thu từ ngân sách nhà nước, thu kết dư và dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm (tối đa không vượt quá 25% tổng dự toán chi) để bổ sung cho quỹ dự trữ tài chính
Về thẩm quyền quyết định sử dụng quỹ dự trữ tài chính, Bộ trưởng
Bộ Tài chính hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định đối với việc tạm ứng cho ngân sách nhà nước từ quỹ dự trữ tài chính Trường hợp xử lý cân đối ngân sách, đối với quỹ dự trữ tài chính ở trung ương, Thủ tướng Chính phủ sẽ có thẩm quyền quyết định Đối với quỹ
dự trữ tài chính ở địa phương sẽ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định Nếu không xét đến trường hợp tạm ứng từ quỹ dự trữ tài chính phải được hoàn trả ngay trong năn ngân sách, việc sử dụng quỹ dự trữ tài chính cho các mục đích khác cần phải đảm bảo yêu không bảo toàn số
dư của quỹ dự trữ tài chính Theo đó, không được sử dụng vượt quá 30%
số dư của Quỹ dự trữ tài chính tại thời điểm bắt đầu năm ngân sách
Ngoài ra, quỹ dự trữ tài chính phân biệt với quỹ dự phòng ngân sách-một khoản chi được bố trí từ nội dung chi đầu tư phát triển
2.5 Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới:
Mục đích của khoản chi này nhằm đảm bảo tính công bằng, yêu cầu phát triển cân đối giữa các vùng địa phương Luật Ngân sách nhà nước 2002 đã có sự mở rộng hơn so với trước đây Trước khi Luật Ngân sách nhà nước 2002 có hiệu lực, ngân sách cấp trên chỉ được phép bổ sung cho ngân sách nhà nước cấp dưới để đảm bảo yêu cầu cân đối thu chi cho cấp ngân sách được thụ hưởng Hình thức cho bổ sung này đựơc gọi là cho bổ sung để cân đối ngân sách và thể hiện tính chất tài trợ vô
Trang 10điều kiện Hiện nay, loại hình chi bổ sung cân đối thu, chi này vẫn được duy trì nhằm tạo đìêu kiện cho chính quyền cấp dưới cân đối nguồn ngân sách để hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh được giao Ngoài ra, pháp luật ngân sách nhà nước hiện hành còn cho phép ngân sách cấp trên chi bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới để
hỗ trợ một phần cho những cấp ngân sách có khó khăn khi phát sinh các nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết mà sau khi đã tận dụng mọi khả năng về kinh phí của cấp mình chẳng hạn như đã sử dụng nguồn quỹ dự phòng, quỹ dự trữ tài chính mà vẫn chưa đáp ứng được.2 Hình thức chi bổ sung
có mục tiêu mang bản chất của những khoản tài trợ bất đối ứng
II PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
1 Khái niệm:
Tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chi ngân sách nhà nước giữa các chủ thể tạo thành pháp luật về chi ngân sách nhà nước Như vậy, pháp luật về chi ngân sách Nhà nước là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước
Đặc điểm quan trọng của quan hệ pháp luật chi ngân sách Nhà nước là Nhà nước luôn luôn là một bên chủ thể Còn các chủ thể khác có thể là pháp nhận hoặc thể nhân thụ hưởng vốn ngân sách Nhà nước
Căn cứ vào nội dung điều chỉnh, các quy phạm pháp luật về chi ngân sách Nhà nước, có thể phân ra các bộ phận sau:
+ Các quy phậm pháp luật quy định những vấn đề cơ bản về hoạt động chi ngân sách Nhà nước như các nguyên tắc, điều kiện, phương thức chi ngân sách Nhà nước
2
Xem điểm 4 Mục II Thông tư 59/2003/TT-BTC 23-6-03 Hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/ NĐ-CP 06-06-2003 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước
Trang 11+ Các quy phạm pháp luật quy định nội dung pháp lý các khoản chi ngân sách Nhà nước Bộ phận quy phạm pháp luật này thường được gọi là chế độ pháp lý các khoản chi ngân sách Nhà nước
+ Các quy phạm pháp luật quy định về tổ chức quản lý, phân phối các khoản chi ngân sách Nhà nước
2 Các nguyên tắc, điều kiện, phương thức chi ngân sách nhà nước 2.1 Các nguyên tắc và điều kiện chi ngân sách Nhà nước:
2.1.1 Các nguyên tắc chi ngân sách Nhà nước:
Hoạt động chi ngân sách Nhà nước là một mặt hoạt động của ngân sách Nhà nước Chính vì vậy chi ngân sách Nhà nước phải tuân thủ nguyên tắc chung của quản lý ngân sách Nhà nước Luật ngân sách Nhà nước quy định: ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, có phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật quy định về chi ngân sách Nhà nước còn thể hiện những tư tưởng mang tính chất chỉ đạo của Nhà nước đặt ra phương châm và mục đích của hoạt động chi ngân sách Nhà nước Các nguyên tắc đó bao gồm:
- Nguyên tắc cân bằng thu, chi
- Nguyên tắc chi theo kế hoạch và đúng mục đích
- Nguyên tắc tăng cường thu và tiết kiệm chi
2.1.1.1 Nguyên tắc cân bằng thu, chi:
Mối tương quan giữa hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước tác động trực tiếp tới tình trạng ngân sách Nhà nước và toàn xã hội Bởi vậy, trong quản lý ngân sách Nhà nước, cân bằng giữa thu và chi ngân sách Nhà nước là một trong những nguyên tắc quan trọng trong chi ngân sách
Trang 12nhà nước Nguyên tắc này cần phải được quán triệt trong toàn bộ quá trình ngân sách, đặc biệt là khâu chấp hành ngân sách Theo nguyên tắc này, các khoản thu, chi thể hiện trong dự toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo tính cân đối Các khoản chi chỉ được xây dựng trên cơ sở nguồn thu đã được xác định Ngược lại, các nguồn thu cho ngân sách nhà nước sẽ nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu đã được hoạch định Ngân sách nhà nước sẽ được cân bằng theo cách xác định tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên của ngân sách và góp phần tích lũy ngày càng cao để phục vụ cho nhu cầu chi đầu tư phát triển Trường hợp ngân sách nhà nước bội chi, số bội chi phải nhỏ hơn
số chi đầu tư phát triển, tạo điều kiện tiến đến cân bằng ngân sách nhà nước Trên thực tế, đôi khi khả năng nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm trong khi các khoản chi lại tăng nhanh hơn nên tình trạng bội chi ngân sách luôn có thể xảy ra Để xử lý bội chi ngân sách nhà nước, một trong những giải pháp là đi vay trong hoặc ngoài nước Trong trường hợp này, việc sử dụng nguồn vay để bù đắp bội chi chỉ nhằm mục đích đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng chi trả nợ của nhà nước, mà tuyệt đối không được sử dụng các khoản vay để thực hiện những khoản chi mang tính chất tiêu dùng
2.1.1.2 Nguyên tắc chi theo kế hoạch và đúng mục đích:
Tính kế hoạch của ngân sách Nhà nước đòi hỏi hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước đều phảo dựa trên cơ sở kế hoạch Sự thiếu ăn khớp giữa thu, chi ngân sách Nhà nước đều tạo ra những khó khăn cho hoạt động quản lý ngân sách Nhà nước và hạn chế hiệu quả trong thực tế Do
đó, để bảo đảm sự ăn khớp giữa thu và chi ngân sách Nhà nước đòi hỏi chúng phải được thực hiện theo kế hoạch
Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi ngân sách Nhà nước chỉ được thực hiện với điều kiện khoản chi đó đã được ghi trong dự toán
Trang 13ngân sách được duyệt, trừ các trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định Mặc khác việc cấp phát và sử dụng vón ngân sách Nhà nước phải đúng với đối tượng thụ hưởng, và đúng nội dung, mục đích của khoảng chi được xác định trong dự toán ngân sách được duyệt
2.1.1.3 Nguyên tắc tiết kiệm chi và tăng cường thu:
Trong cơ chế thị trường, việc nhà nước cắt bỏ một vài khoản chi tiêu không đồng nghĩa với việc gánh nặng chi tiêu của ngân sách nhà nước sẽ được giảm bớt Trong điều kiện nền kinh tế của nước ta nguồn thu ngân sách Nhà nước hạn hẹp, nhu cầu chi tiêu rất lớn, chỉ có tiết kiệm chi thì mới có thể đủ nguồn tài chính trang trải được các nhu cầu cấp bách Quá trình hoạch định chính sách, hình thành và thực hiện ngân sách Nhà nước cũng không thể dự liệu trước được từ đầu năm Thêm vào đó, các thông tin để xây dựng kế hoạch ngân sách không đủ mức chính xác cần thiết, nên mặc dù trong các dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm, người ta đã luôn bố trí một khoản dự phòng khoảng 2– 5% tổng số dự toán chi ngân sách Nhà nước, nhưng số dự phòng trên cũng không thể bảo đảm cho quá trình điều hành ngân sách Nhà nước Vì vậy, tiết kiệm chi và đẩy mạnh thu là một trong 3 nguyên tắc phải được quán triệt ngay từ đầu khi bắt đầu một chu trình ngân sách
Tiết kiệm chi không phải là đơn thuần cắt bỏ các khoản chi ngân sách Nhà nước một cách tùy tiện, mà là chi tiêu đúng theo các định mức, đúng tiêu chuẩn và đúng chế độ mà Nhà nước đã quy định cho từ đơn vị
sử dụng ngân sách, cơ quan có lập dự toán thu chi
Tăng cường thu không chỉ đơn thuần tìm các giải pháp để thu ngay vào quỹ ngân sách càng nhiều càng tốt, chống thất thu, mà ngay cả trong
bố trí chi ngân sách Nhà nước cũng phải thể hiện được việc nuôi dưỡng chăm sóc nguồn thu
2.1.2 Điều kiện thực hiện chi ngân sách Nhà nước:
Trang 14Hoạt động chi ngân sách Nhà nước được thực hiện dựa trên các nguyên tắc đồng thời để thực hiện chi ngân sách Nhà nước trong các trường hợp cụ thể Pháp luật quy định các điều kiện chi ngân sách Nhà nước Các điều kiện đó bao gồm:
Thứ nhất, khoản chi đã được xác định trong dự toán ngân sách được duyệt Điều kiện này không áp dụng trong trường hợp vào đầu năm ngân sách dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định cơ quan tài chính các cấp được phép cấp kinh phí cho các nhu cầu chi không thể trì hoãn được cho tới khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách đượ quyết định
Điều kiện này cũng không được áp dụng trong trường hợp có sự thay đổi về thu, chi mà sự thay đổi đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận và quyết định
Thứ hai: Khoản chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
Thứ ba: Khoản chi đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn
vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền chuẩn chi
Thứ tư: khoản chi được thực hiện trên cơ sở có đầy đủ các chứng
từ có liên quan
Tùy theo tính chất từng khoản chi, pháp luật quy định cụ thể những loại hồ sơ, chứng từ thanh toán bắt buộc phải có là điều kiện thực hiện các khoản chi ngân sách Nhà nước
Ngoài các điều kiện trên đây đối với những khoản chi cho công việc cần phải đấu thầu thì việc chi ngân sách chỉ được thực hiện trên cơ
sở kết quả đấu thầu theo quy định của Chính phủ
2 2 Phương thức cấp phát ngân sách từ ngân sách Nhà nước:
Trang 15Phương thức cấp phát tài chính từ ngân sách Nhà nước là cách thức thực hiện phân phối vốn ngân sách Nhà nước cho các đơn vị thụ hưởng theo quy định của pháp luật Trên cơ sở nguồn kinh phí đã được phân bổ, kế hoạch sử dụng ngân sách đã được xây dựng và thông qua theo trình tự, thủ tục luật định, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước ra quyết định chi, yêu cầu cơ quan kho bạc nhà nước chuyển giao kinh phí
Hiện nay, ở nước ta việc cấp phát ngân sách từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo hai phương thức chủ yếu là phương thức cấp phát theo dự toán kinh phí và phương thức cấp phát theo lệnh chi tiền Ngoài ra, các chủ thể có liên quan đến ngân sách nhà nước còn có thể được cấp phát theo phương thức cấp phát trực tiếp, phương thức cấp phát kinh phí ủy quyền và cấp phát gán thu bù chi, cấp phát ghi thu, ghi chi
Để thực hiện cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách Nhà nước theo các phương thức thanh toán trên đây, pháp luật quy định hai hình thức thanh toán là hình thức cấp tạm ứng và hình thức cấp phát thanh toán là chủ yếu Cấp tạm ứng là việc ngân sách nhà nước sẽ ứng trước một số tiền cho đối tượng có nhu cầu sử dụng ngân sách khi đối tượng này chưa có đủ điều kiện để nhận chính xác số tiền phục vụ cho hoạt động xin tạm ứng Trong trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách có nhu cầu thực tế, đơn vị này sẽ phát hành “Giấy đề nghị rút kinh phí (tạm ứng)” cùng với bộ chứng từ có liên quan đến khoản xin tạm ứng gửi đến kho bạc nhà nước Mức tạm ứng tuỳ thuộc vào tính chất, tiến độ thực hiện từng khoản chi nhưng không quá tổng số kinh phí đã được phân bổ theo lệnh chi tiền Kho bạc nhà nước sau khi kiểm tra hồ sơ hợp lệ sẽ tiến hành tạm ứng Đối với cấp phát kinh phí dưới hình thức thanh toán, khi đảm bảo đủ điều kiện để được thanh toán từ ngân sách nhà nước, đơn vị sử dụng ngân sách lập giấy đề nghị rút kinh phí cùng với các
Trang 16chứng từ phù hợp gửi kho bạc đề nghị thanh toán Các hình thức cấp phát đều phải thực hiện thông qua hệ thống kho bạc nhà nước
Trong các phương thức cấp phát, thù trưởng đơn vị sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm cá nhân về quyết định sử dụng ngân sách nhà nước của mình Đồng thời, kho bạc nhà nước cũng có trách nhiệm trong việc quản lý thanh toán các khoản ngân sách nhà nước được cấp phát
2.2.1 Phương thức cấp phát theo dự toán kinh phí:
Đây là phương thức để cấp phát kinh phí thường xuyên cho các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước-vốn là những đối tượng thường xuyên sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ đuợc giao Các đối tượng này bao gồm: các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp hoạt động dưới hình thức thu đủ, chi đủ hoặc gán thu bù chi, các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp được nhà nước đảm bảo kinh phí Như vậy, cấp phát theo
dự toán kinh phí là phương thức áp dụng đối với các khoản chi mà cơ quan tài chính không trực tiếp cấp phát Trong đó, dự toán kinh phí được hiểu là khả năng tối đa mà đơn vị thụ hưởng có thể nhận từ ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của mình Kinh phí
sử dụng thực tế của những đối tượng thụ hưởng không được phép vượt quá giới hạn đã được phân bổ chi tiết theo từng hạng, mục, tháng, quý được gọi là hạn mức cấp phát Theo phương thức này, định kỳ hàng tháng, hàng quý, cơ quan tài chính cấp hạn mức kinh phí vốn cho các cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước Nếu phát sinh nhu cầu cần thiết, cấp bách, đơn vị sử dụng ngân sách có thể yêu cầu kinh phí vượt hơn dự toán kinh phí quý cho đơn vị nhưng không được vựơt quá dự toán tổng thể
Quyết định chi của đơn vị sử dụng ngân sách có hình thức là “Giấy rút dự toán ngân sách nhà nước” Khi có nhu cầu thực tế, căn cứ vào hạn