ĐẶT VẤN ĐỀ Vấn đề dinh dưỡng trẻ em trong các cộng đồng người nghèo được xem là vấn đề toàn cầu và được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm, nghiên cứu để tìm ra giải pháp cải thiện tình trạn
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề dinh dưỡng trẻ em trong các cộng đồng người nghèo được xem
là vấn đề toàn cầu và được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm, nghiên cứu để tìm
ra giải pháp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Chăm lo cải thiện đời sống nhân dân là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Trong những năm qua với sự hỗ trợ rất lớn của các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành Y tế, nhiều chương trình chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Nhờ đó, tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ của nhân dân được nâng lên, có nhiều tiến bộ đáng kể, tỷ
lệ suy dinh dưỡng hàng năm trên toàn quốc có giảm [32]
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách toàn diện và khách quan thì vấn đề dinh dưỡng và sức khoẻ cộng đồng ở nước ta đang còn nhiều thách thức cần được giải quyết Thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng, thiếu các vi chất ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn đang là vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng và cấp bách hiện nay Theo số liệu điều tra năm 1990 của Tổ chức Y tế Thế giới ở trẻ dưới 5 tuổi có 44% trẻ suy dinh dưỡng protein-năng lượng, 50% thiếu máu [22] [30] Viện Dinh dưỡng thông báo năm 1995: suy dinh dưỡng chiếm 44,9%, năm 1999 là 36,7%, năm 2000 là: 33,1 % Tại Thừa Thiên Huế năm
2000 là 34,4%, 2001 : 32% Một kết quả điều tra khác ở một xã nghèo (Bùi Đăng) tỉnh Bình Phước năm 2000: tỷ lệ suy dinh dưỡng là 36,6%, thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi là 62,9% [55]
Tình trạng dinh dưỡng của một cá thể, của một quần thể không chỉ do
ăn uống, mà nó còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, như sự thiếu kiến thức nuôi con của bà mẹ, bệnh tật, cân nặng lúc sinh Mà các yếu tố này luôn thay đổi theo thời gian và không gian vì vậy việc đánh giá, giám sát tình trạng dinh dưỡng là cần thiết Điều này không chỉ do mục tiêu hạ thấp tỷ
Trang 2lệ suy dinh dưỡng trẻ em mà còn có ý nghĩa đánh giá kết quả tổng hợp sự phát triển của mỗi cộng đồng
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người cần phải
có sức khoẻ để đáp ứng nhu cầu của xã hội, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hơn ai hết, trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, cơ thể trẻ phát triển nhanh về thể chất và tinh thần, do đó nhu cầu các chất dinh dưỡng đòi hỏi rất lớn, trẻ vô cùng nhạy cảm với sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi [44]
Trong điều kiện một nền kinh tế kém phát triển, thiếu lương thực - thực phẩm (LTTP), hoàn cảnh môi trường kém, phần lớn các bà mẹ thiếu kiến thức nuôi con Trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu tác động của tình trạng đó mà hậu quả của nó là suy dinh dưỡng [10]
Để góp phần tìm hiểu tình hình dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe của trẻ
em tại các cộng đồng dân nghèo ở Huế, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001- 2010, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tình hình nuôi dưỡng trẻ dưới 5 tuổi tại một quần thể dân
cư sống trên thuyền ở phường Phú Bình Thành phố Huế” với các mục
tiêu:
(1) Đánh giá tình hình dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi;
(2) Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình suy dinh dưỡng của trẻ sinh sống trong một quần thể dân cư sống trên thuyền
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ DINH DƯỠNG HỌC
1.1.1 Điều trị và phòng bệnh về dinh dưỡng bằng chế độ ăn
Trong y học từ thời kỳ xa xưa người ta đã biết mối liên quan giữa thực phẩm và sức khoẻ Năm 1600 Cartier người Pháp đã biết điều trị bệnh Scorbut bằng cách dùng nước sắc lá thông, mà ngày nay người ta biết nó chứa nhiều Vitamin C Hypocrate, ông tổ của ngành y đã rất quan tâm đến vấn đề điều trị bằng ăn uống Ông cho rằng: "Thức ăn cho bệnh nhân phải là một phương tiện điều trị và trong phương tiện điều trị của chúng ta phải cóì các chất dinh dưỡng" [ 22 ]
Từ cuối thế kỷ XII đến cuối thế kỷ XIII, vấn đề ăn điều trị ngày càng được các nhà y học chú ý Sidengai người Anh có thể coi là người kế thừa những di chúc của Hypocrate, đã vạch ra là: "Để nhằm mục đích phòng bệnh cùng như điều trị trong nhiều bệnh chỉ cần cho ăn những chế độ ăn kiêng thích hợp và sống một đời sống có tổ chức hợp lý" Sidengai chống lại sự mê tín thuốc men và yêu cầu phải: "Lấy bếp thay thế phòng bào chế"
Năm trăm năm trước đây Tuệ Tĩnh đã cho rằng: "Thức ăn là thuốc, thuốc là thức ăn" và ông đã viết bộ Nam dược thần hiệu trong đó có rất nhiều
vị thuốc là thức ăn Tuệ Tĩnh là người đặt nền móng có thể coi là rất sớm trong việc trị bệnh bằng ăn uống ở nước ta Ngoài những vấn đề bổ dưỡng chung trong các đơn thuốc, như một nhà dinh dưỡng hiện đại, Tuệ Tĩnh còn liệt kê các món ăn để chữa bệnh cụ thể các chứng bệnh như cảm, bị ho, lao, ỉa chảy, lỵ, phù, đau lưng Tuệ Tĩnh đã chỉ định dùng gan gà, gan lợn, cá, đậu
Trang 4xị, hành để điều trị chứng bệnh mờ mắt Hiện nay chúng ta biết đó là bệnh khô mắt do thiếu vitamin A
Lê Hữu Trác (1720 - 1790) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, được coi là một trong những nhà bác học uyên thâm, là nhà y học có học vấn sâu rộng về mặt dinh dưỡng, Hải Thượng Lãn Ông đã xác định được rõ tầm quan trọng của vấn đề ăn uống so với thuốc Theo ông "có thuốc mà không có ăn uống thì cũng đi đến chỗ chết" Do thấy rõ được vai trò ăn uống nên ông rất chú ý tới việc chế biến thức ăn Trong chế biến thực phẩm, ông cũng chú ý hướng dẫn cách sử dụng thức ăn thông thường, rẻ tiền nhưng hiệu quả dinh dưỡng cao như quả khế, quả sấu, các loại đậu , ngoài ra Hải Thượng Lãn Ông còn đặc biệt chú ý tới vấn đề dinh dưỡng thực phẩm Theo ông, thức ăn phải là chất bổ dưỡng cho cơ thể chứ không được là nguồn gây bệnh
Trong vài thập kỷ gần đây, các yếu tố dinh dưỡng đã được xem xét và nghiên cứu rất nhiều và mặc dù còn nhiều điều chưa được sáng tỏ, nhưng các chuyên gia y tế cũng đã rút ra được nhiều khuyến nghị quan trọng về chế độ
ăn uống để phòng và chữa bệnh mãn tính [5]
Một tiểu ban dinh dưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) đã đề nghị phân loại các bệnh thuộc dinh dưỡng như sau:
- Bệnh do thiếu dinh dưỡng gồm thiếu protein-năng lượng, thiếu chất khoáng, thiếu vitamin A, B, C
- Bệnh thừa dinh dưỡng gồm: béo phì, bệnh thừa vitamin A, B, C Như vậy, cách thức dinh dưỡng và tình trạng sức khoẻ có liên quan mật thiết với nhau Cả thiếu ăn lẫn thừa ăn nên hiểu là thừa về số lượng và thiếu
về chất lượng đều có thể gây bệnh Một chế độ ăn uống cân đối, hợp lý là cần thiết để con người sống khỏe mạnh và lâu
Trang 51.1.2 Lịch sử nghiên cứu suy dinh dƣỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý do nhu cầu dinh dưỡng bình thường của cơ thể không được đáp ứng đầy đủ [16] Hay nói cách khác suy dinh dưỡng là hậu quả của tình trạng thiếu ăn Thiếu ăn ảnh hưởng trước tiên đến các đối tượng có nguy cơ cao nhất đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi Sức khoẻ của trẻ em gắn liền với tình trạng dinh dưỡng
Trong lịch sử y học đã có rất nhiều tên đặt ra để chỉ tình trạng suy dinh dưỡng protein-năng lượng ở trẻ em Năm 1908 Cotrea gọi suy dinh dưỡng là bệnh "rắn nhỏ" vì trẻ em mắc bệnh có thể nhỏ bé, dự án có lằn sẫm lẫn nâu nhạt như dự án rắn Năm 1927 tác giả Keller gọi là bệnh suy thái của trẻ ăn bột Năm 1926 Normet bác sỹ người Pháp đã mô tả bệnh sưng phù Annam gặp nhiều ở Trung Nam bộ Việt Nam Các tác giả Autret và Behar gọi suy dinh dưỡng là hội chứng đa khiếm khuyết ở trẻ em, vì thấy rằng đứa trẻ bị thiếu nhiều chất dinh dưỡng [10] [64] Cho đến đầu năm 1930 nữ bác sỹ Cicely Williams đã gặp nhiều trẻ suy dinh dưỡng ở vùng Châu Phi, đã dùng thuật ngữ "Kwashiokor" [54] theo ngôn ngữ của người địa phương (Ghana)
có nghĩa là "Bệnh của đứa trẻ bị tách mẹ sớm" và đến nay vẫn được dùng trong y văn
Vào năm 1959, một số tác giả dùng danh từ "suy dinh dưỡng calo" để chỉ những đứa trẻ vừa đói protein, vừa đói năng lượng Năm 1962 trong bản phúc trình tại khóa họp thứ sáu, tiểu ban dinh dưỡng FAO/WHO đã chọn danh từ "suy dinh dưỡng protein calo" Năm 1966, Jellife đã đề nghị tên gọi: "Suy dinh dưỡng protein-năng lượng (protein-energy-malnutrition) để chỉ tình trạng thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng ở mức độ nặng hơn, vì mối liên quan giữa thể phù và thể đét Từ đó suy dinh dưỡng protein-năng lượng (PEM) thay thế các thuật ngữ trước" [7]
Trang 6protein-1.2 TÌNH HÌNH DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI VÀ CÁC YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG
1.2.1.Tình hình dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi
1.2.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện vấn đề sức khoẻ dinh dưỡng hoặc cả hai Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng [3]
Cơ thể trẻ em là cơ thể đang lớn, trẻ tăng nhanh cả cân nặng và chiều cao Trong năm đầu tiên, khi trẻ được 12 tháng cân nặng tăng gấp 3 lúc đẻ (9,5 kg) chiều cao tăng gấp rưỡi lúc đẻ (75cm) Sang năm thứ hai trở đi, mỗi năm cân nặng tăng trung bình 1,5kg chiều cao tăng trung bình 5cm [3] Do đó nhu cầu dinh dưỡng đòi hỏi cao cả về số lượng lẫn chất lượng Nếu thiếu ăn, nhu cầu dinh dưỡng không thỏa mãn, sẽ dẫn đến tình trạng dinh dưỡng kém Sau đây là bảng nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cho từng lứa tuổi (<5 tuổi)
Bảng 1.1 Nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng [6]
Lứa tuổi
(năm)
Năng lượng Kcal
Protei
n (g)
Ca (mg)
Sắt (mg)
A (mcg)
D (UI)
B1 (mg)
B2 (mg)
PP (mg)
C (mg)
0,3 0,4
0,3 0,5
5 5,4
30
30 2-3 tuổi 1300 28 500 6 400 10,0 0,8 0,8 9,0 35 4-6 tuổi 1600 36 500 7 400 10,0 1,1 1,1 12,1 45
Trang 7Ghi chú :
1 Protein : tính theo khẩu phần có hệ số sử dụng protein = 60
2 Vitamin A : tính theo đơn vị Retinol
1.2.1.2 Diễn biến tình hình suy dinh dưỡng trẻ em hiện nay
* Trên thế giới
Theo ước tính mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em có xu hướng giảm đi [4] Mức giảm suy dinh dưỡng có sự khác nhau giữa các khu vực trên thế giới Mức giảm suy dinh dưỡng ở Châu Á mạnh hơn so với các vùng khác trên thế giới và có ý nghĩa quan trọng, vì Châu Á có
tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất cùng với số lượng dân số tập trung đông nhất [8]
Trang 8Nhìn chung xu hướng giảm tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em còn chậm Hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em là một thách thức có tính chất toàn cầu Trong những năm tới, những năm đầu của thế kỷ mới
* Ở Việt Nam
Hiện nay cùng với những thành tựu bước đầu của một nền kinh tế đang trên đà đổi mới và phát triển, các ngành khoa học cũng đang phát huy tác dụng, đặc biệt là ngành y tế đóng một vai trò rất quan trọng, đã cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu: nâng cao kiến thức thực hành dinh dưỡng hợp lý, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu vitamin A, thiếu iot
Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đã giảm nhiều nếu tính từ năm 1985 (51,5%) đến năm 1995 (44,9%), mỗi năm giảm trung bình 0,66% Từ năm bắt đầu kế hoạch quốc gia về dinh dưỡng (1995), chỉ sau 4 năm tỷ lệ suy dinh dưỡng đã giảm xuống còn 36,7% (1999), 33,1% (2000) trung bình mỗi năm giảm 2%,
là tốc độ được quốc tế công nhận là giảm nhanh Như vậy, mỗi năm khoảng 200.000 trẻ em dưới 5 tuổi thoát khỏi suy dinh dưỡng Tình trạng suy dinh dưỡng nặng đã giảm hẳn (0,8%), hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nước ta vẫn ở mức rất cao so với quy định của
Tổ chức Y tế Thế giới Nhiều nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam, tỷ lệ suy dinh dưỡng liên quan đến vấn đề sinh thái và mang tính đặc thù, luôn luôn có
sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ suy dinh dưỡng giữa vùng núi cao và vùng đồng bằng, vùng nông thôn cao hơn vùng thành thị, vùng dân tộc ít người cao hơn các vùng dân tộc khác Theo thống kê của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi thấp nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh (18,1%) và
Hà Nội (21%), sau đó là vùng đồng bằng sông Cửu Long (32,3%); vùng đồng bằng sông Hồng (33,8%); vùng duyên hải Nam Trung Bộ (39,2%), vùng Bắc
Trang 9Trung Bộ (39,2%); vùng Đông Bắc (40,9%), vùng Tây Bắc (41,6%) và cao nhất là vùng Tây Nguyên (49,1%) Ở Việt Nam không có sự khác biệt rõ ràng
về giới đối với mức độ suy dinh dưỡng Nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là
6-24 tháng tuổi Đây là nhóm tuổi bắt đầu chuyển từ bú mẹ sang chế độ ăn sam; nếu chế độ ăn sam không đúng sẽ tác động rất lớn đến tình trạng dinh dưỡng
ở nhóm tuổi này [9] [11]
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình suy dinh dưỡng:
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình hình suy dinh dưỡng của trẻ như: cân nặng lúc sinh, dinh dưỡng của bà mẹ khi có thai, tình hình ăn uống (sữa mẹ và các loại thức ăn bổ sung), bệnh tật của trẻ, phong tục tập quán, các yếu tố kinh tế, môi trường, văn hóa xã hội [18] [55]
Đối với trẻ nhỏ đang còn bú sữa mẹ hậu quả của việc thiếu sữa mẹ là kém phát triển và nhiễm khuẩn gây nên một vòng luẩn quẩn giứa suy dinh dưỡng và nhiễm khuẩn Vai trò của sữa mẹ đối với trẻ là vô cùng to lớn Trong sữa mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần cho sự phát triển của trẻ, mặt khác trong sữa mẹ có các chất dinh dưỡng cân đối và phù hợp với sinh lý tiêu hóa và hấp thụ của trẻ Ngoài ra trong sữa mẹ còn kể đến các yếu tố kháng khuẩn giúp trẻ tránh mắc bệnh nhiễm trùng nhất là tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp [50]
Đối với trẻ lớn hơn ở lứa tuổi ăn bổ sung vì lý do khác nhau trẻ dễ bị suy dinh dưỡng do cách cho ăn không thích hợp như không biết lựa chọn thực phẩm thích hợp có sẵn tại địa phương, thay đổi chế độ ăn đột ngột, không biết giữ vệ sinh cho trẻ và chăm sóc khi trẻ bị bệnh
Như vậy, việc thiếu thực phẩm cho trẻ liên quan nhiều đến bà mẹ và người chăm sóc Nếu bà mẹ và người chăm sóc hiểu biết tốt về dinh dưỡng thì việc cung cấp đầy đủ thực phẩm cho trẻ là việc có thể làm được Nhiều công trình nghiên cứu chi thấy chế độ ăn của trẻ chủ yếu là gạo và rau, thiếu về số
Trang 10lượng và mất cân đối về chất lượng chiếm tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn [10] Gần đây tổng kết của Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách dinh dưỡng quốc tế (IFPRI) cho thấy học vấn của bà mẹ đóng góp 43% đối với suy dinh dưỡng Trong khi an ninh thực phẩm đóng góp 26,1% đối với suy dinh dưỡng Điều này cho thấy yếu tố về cách nuôi dưỡng, cách chăm sóc trẻ (qua trình độ học vấn của người mẹ) có vai trò quan trọng đến tình hình dinh dưỡng của trẻ [9] Nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về vấn đề các bà mẹ thiếu kiến thức nuôi con, thiếu hiểu biết về dinh dưỡng và sức khoẻ đặc biệt là các bà mẹ trẻ, các bà mẹ ở vùng xa xôi hẻo lánh, vùng nông thôn, những gia đình khó khăn có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự
đã chỉ rõ sự khác biệt về trình độ văn hóa cũng như kiến thức dinh dưỡng giữa nhóm bà mẹ có con suy dinh dưỡng với nhóm khác Trong số trẻ em suy dinh dưỡng vào nhập viện có tới 60-70% là nguyên nhân do ăn uống mà chủ yếu
là mẹ thiếu kiến thức, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm dưới 3 tháng là 76,7% [10] [ 35] [37]
Các nghiên cứu của Nguyễn Đức Huệ, Phạm Thị Liên Hoa và cộng sự cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em ở tỉnh Thừa Thiên Huế năm 1999 sau khi triển khai dự án 3844/1 PAM có cải thiện rõ rệt, trẻ nhẹ cân giảm từ 49,6% xuống còn 37,6%; còi cọc giảm từ 56,5% xuống còn 45,7% [27] Nghiên cứu của các tác giả Vũ Hoàng Việt [49], Phan Thị Kim Ngân [38], Đỗ Văn Dũìng [14], Đinh Thị Bích Thủy [43], Hoàng Thị Liên [35], Vũ Huy Chiến [10] cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ là cân nặng lúc sinh, chế độ ăn bổ sung
Theo số liệu điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2000, có đến 40% bà
mẹ không được chăm sóc thai sản, không được theo dõi cân nặng trong quá trình mang thai Thực hành nuôi con có nhiều tiến bộ hơn Tuy nhiên mới chỉ
Trang 11có 31,7% bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu và 20,2% bà mẹ có kiến thức thực hành nuôi dưỡng hợp lý khi trẻ bị bệnh [9]
Nhiễm trùng và ký sinh trùng cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Mối quan hệ này song hành với nhau và quan hệ như một vòng xoắn bệnh lý [16] Từ nhiễm trùng và ký sinh trùng trẻ bị mất
đi các chất dinh dưỡng do phải huy động vào việc chống đỡ, hay do chính bản thân vi sinh vật sử dụng , chúng gián tiếp tác động lên cơ thể làm cho trẻ chán ăn, rối loạn tiêu hóa và hấp thu các chất Hậu quả là suy dinh dưỡng
Ngược lại khi trẻ bị suy dinh dưỡng, hệ thống miễn dịch giảm sút, giảm sức đề kháng của cơ thể nên dễ bị nhiễm trùng và hậu quả là tình trạng suy dinh dưỡng nặng thêm Theo Nguyễn Tấn Viên, có đến 95% bệnh nhân bị suy dinh dưỡng vào viện có nhiễm trùng và tỷ lệ tử vong do suy dinh dưỡng là 12,2% [5] [48]
Ngoài những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng đã nêu ở trên thì yếu tố về điều kiện kinh tế xã hội cũng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ và được nhiều tác giả đề cập đến Theo Lê Thị Bạch Mai, nghiên cứu tại 2 xã phường ngoại thành Hà Nội cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ suy dinh dưỡng (chiều cao/tuổi) ở trẻ
<5 tuổi ở các gia đình có kinh tế khá giàu (16,4%) và kinh tế nghèo (59,3%) Nghiên cứu của Lê Thị Khánh Hòa ở quận Hoàn Kiếm Hà Nội cũng cho thấy những trẻ ở những gia đình có thu nhập thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn các
hộ gia đình có thu nhập cao [22]
Chỉ số suy dinh dưỡng là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự phát triển và chất lượng cuộc sống của cộng đồng Trẻ em bị suy dinh dưỡng sẽ để lại hậu quả nặng nề, nghiêm trọng và gây tổn thất kinh tế cho quốc gia về trước mắt cũng như lâu dài Những trẻ em bị suy dinh dưỡng về sau thường học kém, thể lực yếu, những bà mẹ bé nhỏ, ảnh hưởng đến sức lao động xã
Trang 12hội và chất lượng thế hệ tương lai Để có khái niệm cơ bản về chăm sóc dinh dưỡng, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em Năm 1997 UNICEF đã đưa ra
sơ đồ sau [8]
Sơ đồ : Chăm sóc dinh dưỡng
1.3 VAI TRÒ CỦA CÁC VI CHẤT DINH DƯỠNG VÀ SỨC KHOẺ 1.3.1.Vitamin A và bệnh khô mắt:
Vitamin A đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể đặc biệt đối với các
cơ thể đang phát triển [2] [15] Vitamin A giúp cho quá trình biệt hóa các tế bào biểu mô, đặc biệt là biểu mô trụ, bảo vệ sự toàn vẹn của giác mạc và các
TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ SỐNG CÒN CỦA TRẺ
EM
GIÁO DỤC, TRUYỀN THÔNG, THÔNG TIN
CẤU TRÚC CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI
CÁC NGUỒN TIỀM NĂNG
CÁC NGUỒN LỰC VÀ GIÁM SÁT Ở CỘNG ĐỒNG VÀ GIA ĐÌNH
An ninh thực phẩm
ở hộ gia đình
Dịch vụ Y tế và môi trường sạch
Đầu ra
Chăm sóc phụ nữ Nuôi con bằng sữa mẹ/ăn bổ sung Chăm sóc tâm lý xã hội Chế biến thực phẩm Thực hành về dinh dưỡng Thực hành chăm sóc sức khỏe
tại nhà
Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân tiềm tàng
Nguyên nhân
cơ bản
Trang 13tổ chức biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa chống thoái hóa và chống nhiễm trùng [57]
Hiện nay thiếu vitamin A và bệnh khô mắt đang là vấn đề dinh dưỡng
có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng ở nhiều nước đang phát triển Theo Tổ chức Y
tế Thế giới hằng năm có khoảng 500.000 trẻ em bị mù do thiếu vitamin A Trong đó 2/3 số trẻ bị chết, 6-7 triệu trẻ bị thiếu vitamin A thể nhẹ, vừa Cảm nhiễm với bệnh nhiễm trùng: viêm phổi, ỉa chảy, sởi Theo số liệu của Viện Mắt trung ương, có tới 50% nguyên nhân mù ở trẻ em là do di chứng của thiếu vitamin A Hiện nay thiếu vitamin A đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu [19] [33] Theo Nguyễn Tấn Viên trong tổng kết tình hình tử vong
ở trẻ em bị suy dinh dưỡng nằm điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế (1994) thì suy dinh dưỡng kèm theo thiếu vitamin A dẫn đến tử vong chiếm 33,3% các trường hợp tử vong Các nghiên cứu khác đánh giá tình trạng thiếu vitamin A và đã đánh giá hiệu quả của việc bổ sung vitamin A trong viêm phổi và bệnh tiêu chảy [19] [20] [51] [53]
Các nghiên cứu gần đây cho thấy mối liên quan giữa thiếu vitamin A với bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu hóa Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hà năm 2000 cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin A ở nhóm trẻ bị viêm phổi chiếm 62,5%, nhóm trẻ bị tiêu chảy chiếm 65% và nguy cơ thiếu vitamin A cao ở trẻ ăn ít khi bị bệnh chiếm 87,3% so với nhóm ăn bình thường khi bị bệnh là 20% [19]
Tuy nhiên nếu lượng vitamin A được đưa vào cơ thể quá nhiều thì nó được tích lũy trong gan Một số bệnh lý đặc trưng cho hiện tượng này như: buồn nôn, nôn, đau đầu, nhìn đôi, đau xương, da khô, rụng tóc và tổn thương gan Ngoài ra vitamin A có nhiều trong cơ thể có thể gây ra hiện tượng quái thai ở những tháng đầu tiên của thời kỳ mang thai [40]
Trang 141.3.2 Vitamin D và bệnh còi xương:
Vitamin D (calciferol) là tên của một họ hợp chất có hoạt tính chống còi xương, thuộc họ steroid Hai dạng chính được sử dụng là vitamin D2 và vitamin D3 Vitamin D tham gia vào quá trình calci hóa mô xương, do đó nó
là loại vitamin chống còi xương Vitamin D làm tăng khả năng hấp thụ Ca và
p và dẫn đến làm tăng nồng độ của chúng trong máu và xương Do đó quá trình khoáng hóa của mô xương xảy ra dễ dàng Trong cùng thời gian đó, tăng nồng độü Ca trong máu làm giảm sự bài tiết hormon tuyến cận giáp và hạn chế sự hòa tan calci phosphat trong xương Theo những đánh giá mới đây, vitamin D có vai trò trong đời sống tế bào và bảo vệ hệ miễn dịch [40]
Còi xương là kết quả của sự thiếu vitamin D, bệnh không những chỉ làm chậm sự phát triển thể chất hoặc biến dạng xương mà còn ảnh hưởng đến
tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của trẻ với một số bệnh nhất là bệnh về hô hấp Theo điều tra của Viện Nhi Hà Nội tỷ lệ còi xương của trẻ em trung bình 9,4%, trẻ dưới 3 tuổi chiếm 34 - 35% [1] [13] [16]
Tuy nhiên nếu thừa vitamin D dẫn đến nôn, bồn chồn, giảm khả năng hoạt động của thận, lâu ngày sẽ dẫn đến hiện tượng kết tủa calci trong cơ thể [40]
1.3.3 Sắt và bệnh thiếu máu dinh dưỡng trong thiếu sắt
Sắt đóng vai trò rất quan trọng đối với cơ thể, cơ thể thiếu sắt sẽ gây thiếu máu Hiện nay thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt là vấn đề thiếu dinh dưỡng lưu hành rộng rãi khắp thế giới, kể cả các nước đang phát triển, trước hết là phụ nữ có thai và trẻ em Theo số liệu điều tra năm 1990 của Tổ chức Y
tế Thế giới trẻ < 5 tuổi có đến 44% trẻ suy dinh dưỡng protein-năng lượng, 50% có thiếu máu [22] [58] Ở Việt Nam, năm 1995, Viện Dinh dưỡng phối hợp với Viện Sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng đã tiến hành một cuộc điều tra toàn quốc về thiếu máu dinh dưỡng với sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của UNICEF và Trung tâm giám sát bệnh tật ở Hoa Kỳ Kết quả cho thấy tỷ
Trang 15lệ thiếu máu ở trẻ em lứa tuổi: 6-24 tháng chiếm 60%, 24-60 tháng chiếm 29,8% Trung bình trẻ em dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ 45,3% [34] [56]
Một trong những vai trò quan trọng khác đối với cơ thể, sắt còn tham gia vào vai trò miễn dịch đối với cơ thể Sắt rất cần thiết cho tổng hợp DNA trong quá trình phân bào, sắt còn tham gia vào nhiều enzym can thiệp vào các quá trình phân giải các vi khuẩn trong tế bào Khi thừa sắt, tính nhạy cảm đối với nhiễm khuẩn tăng
Thiếu sắt thường đi kèm với thiếu protein-năng lượng, tuy vậy khi bổ sung sắt cho trẻ suy dinh dưỡng cần khéo léo vì sắt cần được kết hợp với các protein vận chuyển đúng tiêu chuẩn, nếu không sắt tự do sẽ là yếu tố thuận lợi cho phát triển vi khuẩn Vì thế, người ta khuyên chỉ nên bổ sung sắt từ ngày thứ 5 hoặc thứ 7 của quá trình phục hồi dinh dưỡng [5]
+ Thiếu pyridoxin (vitamin B6) làm chậm trễ các chức phận miễn dịch, cả dịch thể lẫn trong gian tế bào
- Vitamin C đóng vai trò rất quan trọng đối với cơ thể Trong cơ thể vitamin C có nhiều ở vỏ thượng thận, nó tham gia tổng hợp hormon corticosteroid, vitamin C rất cần thiết đối với quá trình hấp thu sắt trong tá tràng, thiếu Vitamin C dẫn đến thiếu máu Thiếu viatmin C, quá trình chuyển hóa tyrosin bị dừng lại Một vai trò quan trọng khác đối với cơ thể là chống nhiễm trùng, khi bị nhiễm trùng cơ thể sử dụng nhiều chất oxy hóa, trong đó
có acid ascorbic để tổng hợp kháng thể (gamma-globulin) Khi bị thiếu
Trang 16vitamin C, sự nhạy cảm đối với bệnh nhiễm khuẩn tăng lên, mặt khác ở những người đang có nhiễm khuẩn, mức vitamin C trong máu thường giảm [5] [40] Qua một số nghiên cứu thử nghiệm cho thấy chế độ ăn đủ vitamin C, các globulin miễn dịch IgA và IgM tăng, tính cơ động và hoạt tính các bạch cầu tăng, kích thích sự chuyển dạng các lympho bào và giúp đỡ tạo thành một trong các thành phần của bổ thể: yếu tố C3 [5]
1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH DINH DƯỠNG
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và sinh hóa, nó phản ảnh mức độ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [22]
Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em hiện nay người ta kết hợp các phương pháp nhân trắc, điều tra khẩu phần ăn, lâm sàng, xét nghiệm và các tỷ
lệ bệnh tật tử vong [17] Trong đó hai phương pháp được sử dụng nhiều nhất
là nhân trắc và điều tra khẩu phần ăn
1.4.1 Nhân trắc
Sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng là phương pháp phổ thông, thông dụng và rộng rãi Với các kỹ thuật, dụng cụ và được huấn luyện có thể thu được các số đo một cách chính xác Vấn đề ở đây
là làm sao chọn lựa được các số đo nhân trắc có độ nhạy cao để đánh giá tình trạng dinh dưỡng Các số đo nhân trắc phản ánh ảnh hưởng của tình trạng dinh dưỡng tới sự phát triển của cơ thể Cũng như phản ảnh kết quả cuối cùng của việc cung cấp thực phẩm ăn vào, hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng của cơ thể
Các số đo nhân trắc thường dùng để phát hiện các trường hợp suy dinh dưỡng và thừa dinh dưỡng Đồng thời, chúng cũng phản ánh các thông tin và lịch sử dinh dưỡng của các cá thể hay của cộng đồng [34]
Để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng protein-năng lượng ở trẻ em được đánh giá theo nhiều cách như: sự mất lớp mỡ dưới da, chu vi vùng cánh
Trang 17tay (trẻ từ 1 đến 5 tuổi), tiêu chuẩn cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới thì các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là: cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao, lấy quần thể NCHS (National Center for Health Statistic) của Hoa kỳ làm quần thể tham chiếu [34][60][61][63] Ngày nay việc thống nhất sử dụng phương pháp phân loại suy dinh dưỡng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng và so sánh các nguồn số liệu trên toàn cầu
1.4.1.1 Cân nặng theo tuổi
Đây là chỉ tiêu được dùng sớm nhất và phổ biến nhất Tổ chức Y tế Thế giới (OMS năm 1981) đề nghị lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS để coi là nhẹ cân Từ đó có thể chia các mức độ sau đây [3] [34]
- Suy dinh dưỡng độ I: cân nặng dưới -2SD đến -3SD, tương đương với cân nặng còn 70-80% so với cân nặng trẻ bình thường
- Suy dinh dưỡng độ II: cân nặng dưới -3SD đến -4SD, tương đương với cân nặng còn 60-70% so với cân nặng trẻ bình thường
- Suy dinh dưỡng độ III: cân nặng -4SD, tương đương với cân nặng còn
<60% so với cân nặng trẻ bình thường
- Những trẻ có cân nặng ở mức -2SD trở lên là bình thường
Wellcome (1970) đã đưa ra cách phân loại theo các thể dinh dưỡng độ III [15] [34]:
Bảng 1.1 Cách phân loại các thể SDD độ III theo Wellcome
Trang 18Cách phân loại dựa vào cân nặng theo tuổi tiện dụng cho phép nhận định tình hình dinh dưỡng nói chung, nhưng không phân biệt được tình trạng dinh dưỡng mới gần đây hay kéo dài đã lâu
Để khắc phục nhược điểm đó Waterlow đã đề nghị cách phân loại như sau:
Bảng 1.2 Cách phân loại Waterlow
(-Chiều cao theo
tuổi
Trên 90% (-2SD) Dưới 90% (-2SD)
Bình thường Gầy mòn Còi cọc Gầy mòn + còi
- Thể gầy mòn + còi cọc: suy dinh dưỡng mãn tính
1.4.1.2 Chiều cao theo tuổi:
Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm trẻ dễ bị còi cọc (stunting) Thường lấy điểm ngưỡng ở -2SD và -3SD so với quần thể tham chiếu NCHS [34]
1.4.1.3 Cân nặng theo chiều cao:
Cân nặng theo chiều cao thấp phản ảnh tình trạng thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại, gần đây, làm cho trẻ ngừng lên cân hoặc sút cân (wasting) Các điểm ngưỡng giống như 2 chỉ tiêu trên
Gần đây, tình trạng thừa cân ở trẻ em đang là vấn đề được quan tâm ở nhiều nước Trong các điều tra sàng lọc, giới hạn "ngưỡng" có thể coi là thừa
Trang 19cân khi số cân nặng theo chiều cao trên +2SD Để xác định "béo", cần đo thêm bề dày lớp mỡ dưới da Tuy vậy, các điều tra cộng đồng, chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao là đủ đánh giá, vì đa số cá thể cân nặng theo chiều cao trên + 2SD đều là béo [1] [34]
1.4.2 Điều tra khẩu phần ăn:
Nếu thiếu ăn sẽ giảm cân, thiếu máu, tăng khả năng mắc bệnh Ngược lại ăn quá nhiều, ăn không cân đối hoặc cơ thể quá yếu, khả năng tiêu hóa, hấp thu, sử dụng các chất dinh dưỡng không tốt sẽ dẫn đến rối loạn chức phận, thay đổi các chỉ số sinh hóa, dẫn đến sự phát triển các bệnh mãn tính Như vậy, một chế độ ăn hợp lý, cân đối là vô cùng cần thiết
Việt Nam đang bước vào thời kỳ chuyển tiếp từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, sang nền kinh tế nhiều thành phần, đang hình thành một diện mạo mới cho nền kinh tế Sự khác nhau về thu nhập giữa người giàu và người nghèo đã hình thành và có chiều hướng gia tăng nhanh Cách ứng xử và ăn uống của những nhóm xã hội thay đổi Vì vậy việc theo dõi tiêu thụ thực phẩm là một biện pháp rất quan trọng không những góp phần đánh giá các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn nhằm mục đích quản lý và lập kế hoạch về dinh dưỡng [3 ]
Đánh giá khẩu phần ăn là một phần quan trọng của đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em Mục đích của đánh giá khẩu phần ăn là tìm hiểu các thông tin về mức tiêu thụ lương thực thực phẩm ở mức cá thể, nhóm, cộng đồng để xác định mức tiêu thụ lương thực thực phẩm đủ hay thiếu, cân bằng hay không cân bằng các chất dinh dưỡng, giúp giải thích những hậu quả về sức khoẻ, chỉ ra các nhóm có nguy cơ cao ở cộng đồng Ngoài ra, đánh giá khẩu phần ăn còn được dùng để đánh giá ảnh hưởng của các loại dự án can thiệp dinh dưỡng, các kế hoạch, đường lối giải quyết các vấn đề dinh dưỡng, giáo dục dinh dưỡng [ 3][45]
Có nhiều phương pháp để đánh giá khẩu phần ăn Cái chính là phải nói
rõ sử dụng phương pháp nào để thu thập số liệu Tuy nhiên không có phương pháp nào hiện nay có thể tránh hết được các sai số Điều tra khẩu phần ăn,
Trang 20người ta thường hai phương pháp: định lượng bằng hỏi ghi khẩu phần ăn 24 giờ qua và phương pháp bán định tính hỏi tần suất xuất hiện thực phẩm với các ưu điểm và kỹ thuật đơn giản, ít tốn kém mà độ chính xác vẫn đảm bảo [3] [22]
1.4.2.1 Phương pháp nhớ lại 24 giờ qua [3] [34] [45]
Trong phương pháp này, đối tượng kể lại tỉ mỉ những gì đã ăn ngày hôm trước Người phỏng vấn phải được huấn luyện kỹ để thu được các thông tin giá trị, thường là tiếp xúc trực tiếp Người phỏng vấn cần sử dụng các dụng cụ có kích thước khác nhau (cốc, chén, thìa ) thuộc các kích cỡ thích hợp để đối tượng có thể trả lời số lượng một cách chính xác tất cả các loại thực phẩm và ghi chép tỉ mỉ trên phiếu điều tra, sau đó cán bộ điều tra có thể quy đổi ra đơn
vị trọng lượng các thực phẩm một cách hợp lý dựa vào album "Các món ăn thông dụng" được xây dựng của Viện Dinh dưỡng Nói chung, phương pháp nhớ lại 24 giờ qua cho số liệu trung bình đáng tin cậy về tiêu thụ thực phẩm Khi cần biết sự giao động theo ngày giữa các cá thể thì nên làm thêm một số ngày khác nhau (không liên tục) Nếu muốn biết giao động theo mùa thì nên chọn mỗi mùa một ngày Nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp hỏi ghi 24 giờ rất tốt để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, can thiệp dinh dưỡng
Tuy nhiên sự thành công của phương pháp hỏi ghi 24 giờ phụ thuộc vào trí nhớ của người được hỏi Vì vậy phương pháp hỏi ghi 24 giờ nên kết hợp với cân đong và các dụng cụ mẫu để tiện cho việc quy đổi thành trọng lượng Thời gian phỏng vấn nên kéo dài 15-20 phút Trong hỏi ghi 24 giờ nên chú ý các ngày lễ, tết, ngày ốm dễ làm sai lệch số liệu điều tra
1.4.2.2 Điều tra tần xuất của thực phẩm [3] [34]
Thông qua hỏi trực tiếp từ mẫu điều tra có nêu các câu hỏi để đối tượng trả lời và ghi số lần gặp thức ăn cụ thể trong một tuần lễ
Trang 21Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu tính thường xuyên của các loại thực phẩm trong thời gian nghiên cứu Nhờ phương pháp này người ta có thể biết:
- Những thức ăn phổ biến nhất
- Những thức ăn có số lần sử dụng cao nhất hay ít nhất
- Những giao động về thực phẩm theo mùa
1.5 ĐÓI NGHÈO, NGUYÊN NHÂN QUAN TRỌNG GÂY SUY DINH DƢỠNG [45]
Năm 1978 Robert MC Namara, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã khẳng định: nghèo khổ cùng cực là một điều kiện sống bị hạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường ô nhiễm, tỷ lệ tử vong sơ sinh cao và tuổi thọ thấp cuộc sống bất ổn và dễ bị tổn thương
Năm 1995 Ngân hàng Thế giới đưa ra mức nghèo chung với 1 USD một người sống trong 1 ngày (tính theo mức ăn), với Mỹ La Tinh và Caribe là
2 USD, Đông Âu và Liên Xô cũ là 4USD, với Mỹ La Tinh 14,4USD
Dựa trên những khái niệm do tổ chức quốc tế đưa ra, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước, ngày 5/1/1995 Bộ Lao động và Thương binh Xã hội xây dựng các định nghĩa và tiêu chuẩn sau để nhận dạng nghèo đói như sau:
- Nghèo: Tình trạng của bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống
- Đói: Tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu, chỉ đủ khả năng đảm bảo có được số lương thực bữa đói, bữa no
- Nhu cầu tối thiểu: Những đảm bảo ở mức độ tối thiểu ba nhu cầu tối thiểu của cuộc sống con người gồm: ăn, mặc, ở và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, giáo dục, đi lại giao tiếp
- Thước đo đói nghèo: Để đánh giá đói nghèo, căn cứ vào các chỉ tiêu: + Thu nhập: Tổng thu nhập từ tất cả các nguồn chính tính theo đầu người bình quân trên tháng
Trang 22+ Nhà ở và tiện nghi sinh hoạt: Những người nghèo đói thường sống trong những ngôi nhà tồi tàn, nhà tranh vách đất Đồ dùng sinh hoạt không có
gì ngoài giường tre, gỗ, phản, chõng và vài thứ khác ở dưới mức trung bình
về lượng và tồi tàn về chất
Tuy nhiên, có một số người tuy nghèo đói nhưng vẫn có thể có nhà xây,
có vài thứ đồ dùng khá, đó là tài sản của cha ông để lại hoặc đó là tài sản có của thời kỳ khá giả còn lại và hiện tại rơi vào nghèo đói
+ Tư liệu sản xuất: Những người nghèo đói ít có tư liệu sản xuất, phần lớn thô sơ, đất đai ít, đôi khi thiếu ruộng để sản xuất
+ Vốn liếng để dành: Những người nghèo đói không có vốn để dành,
họ thường phải vay nợ và có những người đói rất gay gắt thường phải vay nợ chỉ để mua lương thực cứu đói
- Ngày 20/5/1997 Bộ Lao động-Thương binh Xã hội đã đưa ra cách tính nghèo đói như sau:
Ngoài ra, hộ đói nghèo còn phải sống trong những căn nhà tồi tàn, tạm
bợ, đồ dùng sinh hoạt, tư liệu sản xuất sơ sài, thô sơ Không có vốn để dành, luôn có nguy cơ bị đói
Trang 23- Ngày 01/01/2000 Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội đã đưa ra quyết định điều chỉnh hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005: Theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ theo từng vùng cụ thể như sau :
* Vùng nông thôn miền núi, hải đảo < 80.000đ/tháng
* Vùng nông thôn đồng bằng < 100.000đ/tháng
* Vùng thành thị < 150.000đ/tháng
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1- Đối tượng nghiên cứu
Quần thể dân cư sống trên thuyền tại phường Phú Bình - Thành phố Huế
- Tất cả các hộ gia đình, bà mẹ có con dưới 5 tuổi
- Tất cả trẻ em dưới 5 tuổi
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.2.1- Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại 3 tổ 11, 12 và 14 phường Phú Bình - Thành phố Huế
- Đặc điểm chung về địa điểm nghiên cứu:
Phú Bình là một phường nằm ở phía Bắc sông Hương, có một nhánh nhỏ của dòng sông đi qua cách trung tâm thành phố Huế khoảng 2km Địa phận của phường kéo dài từ cầu Thanh Long đến cầu Bạch Yến với diện tích khoảng 2,5km2
Trong địa bàn phường có 01 trường Tiểu học, 01 trường Mẫu giáo và trung tâm giao dịch buôn bán ở phường là chợ Phú Bình (Chợ Đồn)
Dân số trong địa bàn phường là 1.430 hộ có 10.250 người, trong đó trẻ
em dưới 5 tuổi là 969 Nhân khẩu của phường được chia thành 14 tổ, trong đó
có 3 tổ 11, 12 ,14 có khoảng 1.300 người dân nghèo sinh sống trên thuyền Trẻ dưới 5 tuổi khoảng 250 trẻ
Mạng lưới Y tế cơ sở ở phường :
- Trạm Y tế : 02 Bác sĩ, 02 Y sĩ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của trung tâm Y tế thành phố và UBND phường Phú Bình
Trang 25- Thuyền Y tế lưu động : 01 Bác sĩ, 02 Y tá dưới sự lãnh đạo trực tiếp của trung tâm Y tế thành phố tham gia khám chữa bệnh định kỳ cho những người dân sống trên thuyền một ngày trong tuần
- Học sinh trường Trung học Y tế thường xuyên đến thực tập tại Trạm
Y tế
Tuy cách trung tâm thành phố Huế không xa, nhưng chất lượng cuộc sống của những người dân ở đây còn rất thấp, 2 đến 3 thế hệ cùng sống trên một chiếc thuyền hoặc trong khu nhà tạm chật hẹp khoảng 10m2 xung quanh
bờ thành Mang Cá Phong tục tập quán vẫn còn lạc hậu
Trong những năm qua với sự nỗ lực quan tâm rất lớn của các cấp chính quyền, các ngành, đặc biệt là mạng lưới Y tế cơ sở, các hoạt động văn hóa xã hội và chăm sóc sức khỏe đều được triển khai ở phường nhưng vấn đề sức khỏe của người dân ở đây đang là điều đáng quan tâm
Một số hình ảnh tại quần thể dân cư sống trên thuyền phường Phú Bình
Ảnh 2.1 : Quang cảnh Tổ 14, phường Phú Bình, thành phố Huêú
Trang 26Ảnh 2.2 : Quang cảnh Tổ 12, phường Phú Bình, thành phố Huế
Ảnh 2.3 : Bữa ăn đơn giản của trẻ trong môi trường thiếu vệ sinh
Trang 27Ảnh 2.4 : Bữa ăn của một gia đình nghèo đông con
Ảnh 2.5 : Nước sông bẩn là nơi sinh hoạt vui chơi của trẻ
Ảnh 2.5 : Nước sông bẩn là nơi sinh hoạt vui chơi của trẻ
Trang 282.1.2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2001 đến tháng 4/2002
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo thiết kế ngang mô tả, có phân tích
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu
+ Đánh giá tình hình dinh dưỡng:
- Nhân trắc (nhóm tuổi, giới): cân nặng, chiều cao
Dựa vào tiêu chuẩn của WHO để đánh giá suy dinh dưỡng protein-năng lượng
- Đánh giá khẩu phần ăn thực tế của trẻ dưới 5 tuổi
+ Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình suy dinh dưỡng:
- Các yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội gia đình
- Nghề nghiệp mẹ và chủ hộ
- Số con trong gia đình
- Điều kiện môi trường sống
- Cân nặng sơ sinh
Trang 29- Kiến thức thực hành chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, chăm sóc khi bà mẹ
có thai và sau khi sinh
- Các yếu tố bệnh tật của trẻ (nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, tiêu chảy cấp)
2.2.3.2 Các phương pháp thu thập số liệu:
Trước khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát thực địa, gặp gỡ Trưởng trạm Y tế, Chủ tịch UBND phường Phú Bình và tổ trưởng của
ba tổ 11, 12, 14 để có kế hoạch cụ thể cho việc nghiên cứu
+ Công cụ sử dụng:
- Mẫu phiếu điều tra: Dựa vào mẫu điều tra của Viện dinh dưỡng kết hợp với điều kiện thực tế và mục tiêu nghiên cứu
Phiếu điều tra nhân trắc (Xem phụ lục)
Phiếu điều tra khẩu phần ăn (Xem phụ lục)
Phiếu điều tra hộ gia đình Bà mẹ có trẻ dưới 5 tuổi (Xem phụ lục)
- Công cụ điều tra nhân trắc:
Cân xách tay Trung Quốc, được điều chỉnh trước khi cân
Thước đo chiều cao:
Dùng thước gỗ đóng sẵn để đo chiều dài nằm cho trẻ ( 2 tuổi Dùng thước dây Trung quốc để đo chiều cao đứng cho trẻ > 2 tuổi + Phương pháp thu thập số liệu
Bàn cân xách tay, thước đo
Các mẫu điều tra có in sẵn
Danh sách trẻ dưới 5 tuổi của 3 tổ 11,12,14 phường Phú Bình
Trang 30* Bước 2 : Tiến hành cân, đo chiều cao cho toàn bộ trẻ dưới 5 tuổi ở 3
tổ 11,12,14
+ Phương pháp cân trẻ [34] [59]
Sử dụng cân đồng hồ có độ chính xác cao 0,1kg để cân trẻ, cân được kiểm tra và chỉnh trước khi cân trẻ Trẻ phải được cởi áo quần hoặc mặc quần
áo mỏng, nếu trẻ quấy khóc có thể cân mẹ trẻ, sau đó cân mẹ bế trẻ Cần chú
ý trừ ngay để lấy số cân thực tế của trẻ
+ Phương pháp đo chiều cao [34] [61]
Đo chiều cao đứng với trẻ > 2 tuổi
Trẻ đi chân không đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai, đầu theo một dường thẳng, áp sát vào thước đo đứng Dùng thước vuông góc
áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo
Kết quả được ghi vào mẫu được in sẵn theo cm với 1 số lẻ
Đo chiều dài nằm đối với những trẻ ( 2 tuổi
Để thước đo nằm trên mặt phẳng ngang
Đặt trẻ nằm ngửa mắt nhìn lên trần nhà, gót chân áp sát với mặt phẳng nằm ngang Mảnh gỗ chỉ số 0 của thước áp sát đỉnh đầu, một người ấn thẳng đầu gối và đưa mảnh gỗ thứ hai áp sát vào gót bàn chân, gót chân sát mặt phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng
Kết quả được ghi vào mẫu in sẵn theo cm với 1 số lẻ
+ Phương pháp tính tuổi [3] [26] [35]
Tuổi của trẻ được xác định từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong sổ tiêm chủng của Trạm Y tế Tuy nhiên khi tiếp xúc với bà mẹ cần xác định tuổi thật của trẻ Nếu tuổi khai sinh không đúng với tuổi thật hoặc đứa trẻ không có tờ khai sinh, bà mẹ xác định ngày sinh dương lịch hoặc âm lịch, sau đó qua bảng tính tuổi quy ra ngày dương lịch (trong trường hợp này cần phải đối chiếu từ
âm lịch sang dương lịch)
Trang 31Dựa vào ngày tháng năm sinh của trẻ và ngày điều tra để tính ra tuổi của trẻ theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới là cách quy về tháng hay năm gần nhất Ví dụ đứa trẻ sinh ngày 01/05/1993 được coi là 13 tháng trong khoảng thời gian từ 01/05/1994 đến 30/05/1994 kể cả 2 ngày trên
* Bước 3 : Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng protein-năng lượng: Chủ yếu dựa vào 3 chỉ tiêu: cân nặng theo tuổi (W/A), chiều cao theo tuổi (H/A), cân nặng theo chiều cao (W/H) như đã trình bày ở phần tổng quan Quần thể tham khảo là NCHS (National Center of Health Statistic)
- Cân nặng theo tuổi:Từ - 2SD trở lên: bình thường
Từ dưới - 2SD đến -3SD: suy dinh dưỡng độ I
Từ dưới - 3SD đến -4SD: suy dinh dưỡng độ II Dưới - 4SD: suy dinh dưỡng độ III
Tuy nhiên đánh giá cân nặng theo tuổi và phối hợp với triệu chứng phù
ở thể SDD nặng dựa vào phân loại theo Wellcome như đã trình bày ở phần tổng quan
Chiều cao theo tuổi:
Khi cả 2 chỉ tiêu chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao thấp dưới -2SD: trẻ bị suy dinh dưỡng phối hợp vừa gầy còm vừa còi cọc (wasting + stunting)
Trang 32- Điều tra khẩu phần ăn:
* Bước 1 : Chuẩn bị
Tập huấn cho cộng tác viên
Chuẩn bị các dụng cụ đo lường có kích thước khác nhau: cốc, chén, thìa để bà mẹ có thể trả lời một cách chính xác
Mẫu điều tra in sẵn (xem phần phụ lục)
* Bước 2: Tiến hành phỏng vấn người trực tiếp cho trẻ ăn
Tần xuất tiêu thụ lương thực thực phẩm [3] [34]
Thu thập các thông tin về chất lượng khẩu phần, số lần gặp Các thức
ăn cụ thể trong thời gian ngày, tuần
Khẩu phần ăn cụ thể của trẻ 24 giờ qua:
Yêu cầu đối tượng kể tỉ mỉ những gì đã ăn ngày hôm trước
Người phỏng vấn sử dụng các dụng cụ có kích thước khác nhau (cốc, thìa, chén ) thuộc các kích cở thích hợp để đối tượng trả lời một cách chính xác
* Bước 3 : Đối chiếu với album "Các món ăn thông dụng" của Viện dinh dưỡng và quy đổi ra đơn vị trọng lượng các thực phẩm một cách hợp lý
* Bước 4 : Đánh giá khẩu phần ăn :
- Tần suất tiêu thụ lương thực - thực phẩm:
Xác định những thức ăn sử dụng phổ biến, ít phổ biến
- Mức sử dụng lương thực thực phẩm (LTTP) bình quân 1 trẻ/ngày Dựa vào bảng thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam tính ra nếu tiêu thụ/ngày [46]
- Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần/ngày/trẻ
Giá trị dinh dưỡng, đặc điểm cân đối của khẩu phần các nhóm đối tượng trên so sánh với bảng nhu cầu dinh dưỡng thức ăn Việt Nam [6] để tính nhu cầu thực tế đã đạt được với nhu cầu khuyến nghị
Trang 33Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ
Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình suy dinh dưỡng của trẻ
em chúng tôi tiến hành phỏng vấn bà mẹ, gia đình về một số thông tin
- Các yếu tố kinh tế-văn hóa-xã hội của gia đình
- Nghề nghiệp của mẹ và chủ hộ
- Số con trong gia đình
- Điều kiện môi trường sống
- Cân nặng sơ sinh
- Kiến thức thực hành chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, chăm sóc sức khỏe bà
mẹ khi có thai và sau khi sinh
- Các yếu tố bệnh tật của trẻ (NKHHCT, tiêu chảy cấp)
Để kiểm tra và đảm bảo mức độ chính xác cho phỏng vấn tiến hành phỏng vấn trực tiếp bà mẹ, chủ hộ phối hợp với quan sát thực địa
Xác định tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính:
- Một đứa trẻ được xác định là tiêu chảy khi trẻ đi cầu nhiều lần (>3 lần/ngày), phân lỏng, nhiều nước
- Một đứa trẻ được xác định là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính khi có triệu chứng ho, sốt
Thông tin tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được thu thập bằng cách hỏi trong vòng 1 tháng qua hoặc khám trực tiếp khi điều tra
Phân loại hộ đói - nghèo
Dựa vào Thông tư số 1751/LĐTBXH ngày 20/05/1997 về việc thông báo xác định chuẩn mực đói nghèo năm 1997 - 1998 và Quyết định của Bộ trưởng của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc điều chỉnh hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 đưa ra cách tính nghèo đói như sau:
- Hộ đói: Thu nhập bình quân đầu người ( 45.000 đồng/tháng
- Hộ nghèo: Vùng đồng bằng, thành thị: Thu nhập bình quân đầu người < 150.000 đồng/tháng
- Hộ đủ ăn: Thu nhập bình quân đầu người > 150.000 đồng/tháng
Trang 34Ngoài ra, hộ nghèo đói còn phải sống trong những căn nhà tồi tàn, tạm
bợ Đồ dùng sinh hoạt, tư liệu sản xuất sơ sài, thô sơ, không có vốn để dành
có nguy cơ bị đói
2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm chương trình :
- EPI - INFO 6.04 : Nhập số liệu và tính tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi với quần thể tham chiếu theo NCHS của Tổ chức Y tế thế giới : cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân nặng/chiều cao
- FOXPRO : Phân tích các thành phần thức ăn theo bảng thành phần thức ăn Việt Nam của VDD
- SPSS : Xử lý, phân tích các mối liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM HỘ GIA ĐÌNH
3.1.1 Trình độ văn hóa của mẹ
Bảng 3.1: Trình độ văn hóa của mẹ Trình độ văn hóa Số bà mẹ (n) Tỉ lệ (%)
Biểu đồ 3.1.: Trình độ văn hóa của mẹ
Bảng trên cho thấy trình độ văn hóa của mẹ rất thấp, chủ yếu là mù chữ
Trang 36- Nghề nghiệp của mẹ chủ yếu là nội trợ (34,2%), tiếp theo là buôn bán nhỏ và làm thuê (29,7% và 25,3%), có đến 5,7 bà mẹ cũng tham gia đánh bắt
cá như nam giới
Trang 373.1.3 Số con trong gia đình
Bảng 3.3 : Số con trong gia đình
Hầu hết gia đình có từ 3 con trở lên chiếm tỷ lệ 69,6%; gia đình có từ 1
- 2 con chiếm tỷ lệ 30,4%, có đến 13,3% gia đình có trên 5 con
3.1.4 Thu nhập bình quân đầu người trong tháng
Bảng 3.4 : Thu nhập bình quân đầu người trong tháng
Trang 383.1.5 Tài sản sinh hoạt trong gia đình
Bảng 3.5 : Tài sản sinh hoạt trong gia đình Tài sản sinh hoạt có giá trị Số hộ Tỉ lệ (%)
- Kết quả cho thấy có 58,2% hộ gia đình có tài sản sinh hoạt có giá trị
Có 41,7% hộ gia đình không có tài sản sinh hoạt có giá trị
3.1.6 Vệ sinh môi trường
Bảng 3.6 : Vệ sinh môi trường Nhóm yếu tố Nhóm chỉ tiêu Số hộ (n) Tỷ lệ (%)
Trang 393.2 TÌNH HÌNH DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI
3.2 1 Tình hình suy dinh dưỡng protein và năng lượng
3.2.1.1 Tình hình suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi
Bảng 3.7 : Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em theo nhóm tuổi
% suy dinh dưỡng nhẹ cân
(CN/T)
% còi cọc (CC/T)
% gầy mòn (CN/CC) SDD độ I SDD độ II SDD độ III Tổng