Kiểm toán viên đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động không hiệu quả trong việc ngăn ngừa và phát hiện các sai phạm thì sẽ phân bổ 100% yếu tố rủi ro cho rủi ro kiểm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH
&&&&&
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kế Toán
Đề tài: Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại công ty TNHH kiểm toán và tƣ vấn Phan Dũng (PDAC)
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 01
LỜI MỞ ĐẦU 02
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 04
1.1 Lý luận cơ bản về rủi ro kiểm toán 04
1.1.1 Kiểm toán và rủi ro 04
1.1.2 Các loại rủi ro kiểm toán 08
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro – Mô hình rủi ro kiểm toán 10
1.1.4 Mối quan hệ rủi ro và trọng yếu 15
1.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 17
1.2.1 Đánh giá chấp nhận hợp đồng kiểm toán BCTC 17
1.2.2 Đánh giá rủi ro tiềm tang trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 18
1.2.3 Đánh giá rủi ro kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TẠI PDAC 28
2.1 Giới thiệu công ty Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn Phan Dũng (PDAC)28 2.1.1 Khái quát về PDAC 28
2.1.2 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính với đánh giá rủi ro kiểm toán tại PDAC 34
2.2 Thực tế quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại PDAC 37
2.2.1 Tìm hiểu thông tin chi tiết và đặc điểm của khách hàng 37
2.2.2 Đánh giá rủi ro trên toàn bộ báo cáo tài chính 40
2.2.2.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng 40
2.2.2.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát trên toàn bộ BCTC 40
2.2.2.3 Đánh giá rủi ro phát hiện trên toàn bộ BCTC 42
2.2.3 Đánh giá rủi ro kiểm toán trên số dư các tài khoản nghiệp vụ 42
Trang 32.2.3.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên số dư các tài khoản, nghiệp vụ 42
2.2.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát trên số dư các tài khoản 45
2.2.3.3 Đánh giá rủi ro phát hiện đối với các khoản mục nghiệp vụ 45
2.2.3.4 Đánh giá rủi ro kiểm toán ảnh hưởng đến thủ tục kiểm toán được áp dụng 46
2.2.4 Nhận xét về quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch do PDAC thực hiện 47
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNHGIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TẠI PDAC 49
3.1 Tính tất yếu khách quan phải hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: 49
3.1.1 Nhu cầu hội nhập với khu vực và quốc tế trong thời đại mới 49
3.1.2 Định hướng chiến lược phát triển của PDAC 51
3.2 Giải pháp hoàn thiện ”quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại PDAC” 51
3.2.1 Hoàn thiện quy trình đánh giá Hệ thống kiểm soát nội bộ 51
3.2.2 Hoàn thiện phương pháp xác định rủi ro cho các khoản mục 54
3.2.3 Hoàn thiện giấy tờ làm việc đánh giá rủi ro kiểm toán 55
3.2.4 Nâng cao năng lực trình độ của kiểm toán viên 56
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện 57
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4Nguyễn Thị Thanh Hương Page 1
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy (cô) trường Đại Học Nha Trang trong thời gian qua đã giảng dạy tận tình, ân cần, chu đáo giúp em nắm bắt được lý thuyết, cũng như tạo điều kiện cho em tiếp xúc, tìm hiểu và làm quen thực tế để em hoàn thành tốt khóa luận này, và có kiến thức nền tảng cho tương lai sau này
Em xin chân thành cảm ơn thầy Phan Văn Dũng giáo viên trực tiếp hướng dẫn
và tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này
Cùng với sự giúp đỡ của quý thầy cô, em còn được sự hướng dẫn nhiệt tình của Ban giám đốc và các anh chị trong công ty TNHH kiểm toán và tư vấn Phan Dũng, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt khóa luận này Điều đó giúp
em hệ thống hóa được kiến thức đã học và tiếp thu được kinh nghiệm thực tế góp phần hoàn thiện bản thân và bổ sung kiến thức của mình
Sau cùng, em kính chúc quý thầy cô sức khỏe tốt để tiếp tục sự nghiệp cao cả của mình truyền đạt kiến thức cho mai sau Kính chúc Ban giám đốc và các anh chị trong công ty dồi dào sức khỏe và thành công trên con đường sự nghiệp của mình
Nha Trang, Ngày 30 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 5Nguyễn Thị Thanh Hương Page 2
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài:
Từ khi nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của các doanh nghiệp lớn nhỏ ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với sự đòi hỏi tính minh bạch của báo cáo tài chính, nhu cầu sử dụng các dịch vụ kiểm toán của các công ty và doanh nghiệp ngày càng cao
Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người, để phục vụ nhu cầu xã hội, những lĩnh vực và loại hình kiểm toán khác nhau đã lần lượt hình thành, trong đó hiện nay kiểm toán độc lập rất phát triển trong nền kinh tế thị trường
Hiện nay nhận thức về tầm quan trọng của kiểm toán ngày càng cao từ đó tạo ra môi trường rất thuận lợi cho các công ty kiểm toán phát triển mở rộng tầm hoạt động, nhất là ở nước ta hiện nay, kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới
Tuy nhiên, từ sau sự kiện ENRON thì yêu cầu đòi hỏi về chất lượng kiểm toán ngày càng chặt chẽ và khắt khe hơn Đó là một thách thức lớn cho các công ty kiểm toán Để chất lượng kiểm toán cao, đòi hỏi kiểm toán viên phải tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực chế độ kế toán, hiểu biết rõ về khách hàng, đánh giá rủi
ro tổng thể và chi tiết Vì vậy để có được một cuộc kiểm toán hữu hiệu và hiệu quả thì cần thiết phải tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro Việc thực hiện đánh giá rủi ro được thực hiện xuyên suốt trong quá trình kiểm toán Trong đó quan trọng nhất là giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Phan Dũng (viết tắt là PDAC) là Công ty kiểm toán trong nước, được thành lập trong thời gian chưa lâu nên việc xây dựng một quy trình chuẩn để đánh giá rủi ro còn nhiều hạn chế
Chính vì nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính nên Em đã chọn Đề tài Khóa luận tốt nghiệp của
mình là: "Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm Toán và Tư Vấn Phan Dũng "
Mục tiêu của đề tài:
Thông qua việc hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn, đi sâu vào phân tích rủi ro và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán do PDAC thực hiện,
đề tài hướng tới đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại PDAC
Nội dung của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung bài luận của em gồm có 3 nội dung chính sau:
Trang 6Nguyễn Thị Thanh Hương Page 3
Chương I: Lý luận chung về đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC;
Chương II: Thực trạng đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
tại PDAC;
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá
rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch trong kiểm toán tại PDAC
Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp
luận và sử dụng các phương pháp của các môn khoa học khác Ngoài ra kết hợp với
thực hành và quan sát thực tế tại Công ty để thực hiện đề tài
Hướng đóng góp của khoá luận:
Trong quá trình thực tập tại PDAC, thông qua nghiên cứu về quy trình đánh giá rủi
ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, em hệ thống hoá lí luận và vận dụng phân
tích thực trạng quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán Từ đó đưa ra phương hướng và giải
pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa quy trình đánh giá rủi ro do Công ty thực hiện Do thời
gian và kiến thức còn nhiều hạn chế nên Khóa luận của Em không thể tránh được
những sai sót nhất định Em rất mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để
Khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Trang 7Nguyễn Thị Thanh Hương Page 4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN
TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Lý luận cơ bản về rủi ro kiểm toán
1.1.1 Kiểm toán và rủi ro:
Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin
được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa thông tin đó với các
chuẩn mực đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm
toán viên đầy đủ năng lực và độc lập
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi nó chứa
đựng đầy đủ các sắc thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng như trong quá trình phát
triển Kiểm toán tài chính là quá trình sử dụng các phương pháp kĩ thuật nghiệp vụ và
các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán cần thiết làm cơ sở cho
việc xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lí của các BCTC đã lập so với
những chuẩn mực chung được chấp nhận Đối tượng trực tiếp của kiểm toán tài chính
là báo cáo tài chính Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 700 đoạn 07: “Ý kiến của
kiểm toán viên đưa ra trên báo cáo kiểm toán một sự đảm bảo chắc chắn rằng báo cáo
tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu; Nhưng không
đảm bảo tuyệt đối rằng không có bất kì một sai sót nào trên báo cáo tài chính đã được
kiểm toán Kiểm toán viên chỉ quan tâm đến các yếu tố trọng yếu của các báo cáo tài
chính”
Giới thiệu chu trình kiểm toán
Chu trình của một cuộc kiểm toán được chia thành 03 giai đoạn: (1) Kế hoạch kiểm
toán; (2) Thực hiện kiểm toán; và (3) Tổng hợp, kết luận và lập báo cáo
Các cột dọc màu xanh nhạt chỉ các hoạt động kiểm toán xuyên suốt toàn bộ giai đoạn
của cuộc kiểm toán Ô màu xanh da trời đậm là các bước kiểm toán và giấy tờ làm
việc của bước này bắt buộc phải được Giám đốc hoặc thành viên BGĐ phụ trách cuộc
kiểm toán ký soát xét Các ô màu hồng bao quanh là các yếu tố chi phối toàn bộ cuộc
kiểm toán Các ô màu càng đậm càng thể hiện vai trò quan trọng hơn trong suốt chu
trình của cuộc kiểm toán
Trang 8Nguyễn Thị Thanh Hương Page 5
Sơ đồ:
Trang 9Nguyễn Thị Thanh Hương Page 6
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau:
Lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán,
Thực hiện kế hoạch kiểm toán,
Hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lí cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán Theo Chuẩn
mực Kiểm toán Việt Nam Số 300: “Lập kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành đúng thời hạn”
Kế hoạch kiểm toán trợ giúp KTV phân công công việc cho trợ lí kiểm toán và phối hợp với KTV và chuyên gia khác về công việc kiểm toán Như vậy trên mức độ trọng yếu được xác định cho toàn bộ BCTC và phân bổ cho từng khoản mục, KTV cần đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu ở toàn bộ BCTC cũng như từng khoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình cho từng khoản mục Công việc này được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán Đánh giá rủi ro là vấn đề hết sức quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của mọi cuộc kiểm toán Để tìm hiểu về quy trình đánh giá rủi ro ta cần phải hiểu thế nào là rủi ro và việc nhận diện từng loại rủi ro
Rủi ro kiểm toán là rủi ro xảy ra khi KTV và Công ty kiểm toán đưa ra kết luận
về BCTC của khách hàng được trình bày trung thực và hợp lí trên các khía cạnh trọng yếu, qua đó KTV đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC của khách hàng Trên thực tế, BCTC của khách hàng vẫn luôn tiềm ẩn những sai sót trọng yếu Rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu kiểm toán là hai bộ phận quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán Rủi ro kinh doanh trong lĩnh vực kiểm toán là rủi ro xảy ra khi
đó KTV và công ty kiểm toán phải chịu thiệt hại trong mối quan hệ với khách hàng, do những sai phạm trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng Để kiểm soát được rủi ro kiểm toán công việc của các KTV đó là đánh giá rủi ro kiểm toán Việc đánh giá rủi ro kiểm toán cần được quan tâm và thực hiện ngay từ trước khi chấp nhận kiểm toán và đặc biệt là trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) giải thích về rủi ro kiểm toán như
sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp trong khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn chứa đựng những sai sót
Trang 10Nguyễn Thị Thanh Hương Page 7
trọng yếu Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng; rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
Cũng như các loại rủi ro khác, rủi ro kiểm toán cũng luôn tiềm ẩn và có nguy cơ xảy ra ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng Rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên nếu việc lập kế hoạch kém và thực hiện thiếu thận trọng Trong các văn bản hướng dẫn chỉ đạo quốc tế, rủi ro kiểm toán được xét trong mối quan hệ với kế hoạch kiểm toán, lấy mẫu kiểm toán và lựa chọn phép thử nên rủi
ro kiểm toán được hiểu là khả năng sai sót và việc đánh giá rủi ro được ước tính theo tỉ
lệ từ 0% đến 100% KTV không thể chắc chắn rằng 100% các BCTC đã kiểm toán không còn chứa đựng các sai phạm trọng yếu Vì vậy, KTV chỉ có thể kì vọng một mức kiểm toán có thể chấp nhận được đảm bảo rằng ở mức rủi ro đó sai sót trọng yếu không có cơ hội xảy ra Trong lĩnh vực kiểm toán không có một quy định chính thức nào về mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, loại trừ rằng rủi ro kiểm toán phải ở mức cho phép Vấn đề xác định rủi ro kiểm toán là hết sức cần thiết trong mọi cuộc kiểm toán Dựa trên mức rủi ro kiểm toán đã xác định, KTV có cơ sở để xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận Trong đoạn 08, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400
(VSA 400) “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” có quy định: “Rủi ro kiểm toán phải được xác định trước khi lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán” Như vậy rủi
ro kiểm toán luôn được KTV và Công ty kiểm toán xác định trước khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán Xác định được rủi ro kiểm toán góp phần giúp cho KTV và Công
ty kiểm toán xác định được chương trình kiểm toán cụ thể Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro kiểm toán, có thể do giới hạn về mặt quản lý, mà trực tiếp là chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập) Thậm chí, ngay cả khi bằng chứng kiểm toán đã đủ thì rủi ro kiểm toán vẫn có khả năng xảy ra Chi phí kiểm toán và rủi
ro kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau Ví dụ số lượng bằng chứng kiểm toán càng nhiều thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại Mối quan hệ giữa rủi ro
kiểm toán và chi phí kiểm toán được minh họa qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa chi phí kiểm toán và rủi ro kiểm toán
Rủi ro đạt tới
Rủi ro mong muốn
Bằng chứng kiểm toán (Chi phí)
Trang 11Nguyễn Thị Thanh Hương Page 8
1.1.2 Các loại rủi ro kiểm toán
Đối tượng của kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai đoạn bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại: Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi
ro phát hiện
Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk) – IR là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản chất các đối tượng kiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào kể cả kiểm soát nội bộ) Từng khoản mục và nghiệp vụ trên BCTC luôn chứa đựng những sai sót trọng yếu mặc dù có hay không có sự xuất hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ Mức rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh và cả năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán Kiểm toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro tiềm tàng mà
họ chỉ có thể đánh giá chúng Rủi ro tiềm tàng là một khái niệm quan trọng trong kiểm toán Để đánh giá rủi ro tiềm tàng KTV phải dựa vào kinh nghiệm và óc xét đoán của mình để từ đó dự đoán nơi nào trong BCTC chứa đựng sai sót nhiều nhất Những sai sót riêng lẻ hoặc kết hợp sẽ làm sai lệch thông tin trên BCTC và làm ảnh hưởng đến người sử dụng thông tin trên BCTC Sai sót đó có thể là cố ý hoặc vô ý song vẫn ảnh hưởng đến số dư các tài khoản
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) cho rằng: “ Rủi ro tiềm tàng là rủi
ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC chứa đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có
hệ thống kiểm soát nội bộ”
Như vậy, theo một cách chung nhất rủi ro tiềm tàng là sự nghi ngờ về một số dư tài khoản nào đó trong một khoản mục hay nghiệp vụ nào đó mà sai sót có thể xảy ra giả
sử rằng không có một bước kiểm soát nội bộ liên quan nào Rủi ro tiềm tàng có quy
mô lớn hay nhỏ phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh của khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh của khách thể kiểm toán
Trong thực tế, để đánh giá rủi ro tiềm tàng KTV có thể dựa vào nhiều nguồn thông tin khác nhau Chẳng hạn, KTV có thể dựa vào kết quả của cuộc kiểm toán trước Ví dụ, nếu kết quả cuộc kiểm toán năm trước chỉ ra rằng không phát hiện bất kì một sai phạm trọng yếu nào thì KTV nên đánh giá khả năng tiềm ẩn rủi ro tiềm tàng sẽ lớn và phải chú ý nhiều Hoặc thông qua việc thu thập các thông tin về ngành nghề kinh doanh của khách thể kiểm toán, về chính sách kinh tế, tài chính kế toán của đơn vị được kiểm toán, KTV có thể hiểu được bản chất kinh doanh của đơn vị, hiểu được tính chất phức tạp của các nghiệp vụ… và từ đó có thể đưa ra dự đoán của mình về rủi ro tiềm tàng
Rủi ro kiểm soát (Control Risk) – CR là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán không phát hiện ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả do đó
đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này Rủi ro kiểm soát có liên quan mật
Trang 12Nguyễn Thị Thanh Hương Page 9
thiết đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Cũng như rủi ro tiềm tàng, KTV không thể tạo ra và kiểm soát được rủi ro kiểm soát KTV chỉ có thể đánh giá
hệ thống kiểm soát của đơn vị được kiểm toán và từ đó đưa ra mức rủi ro kiểm soát dự kiến
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) cho rằng: “Rủi ro kiểm soát là rủi
ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng rẽ hoặc gộp lại mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn chặn hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”
Như vậy, một cách chung nhất rủi ro kiểm soát là sự đánh giá về cơ cấu của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng có hiệu quả với việc ngăn chặn, phát hiện các sai sót hay không Mục đích của KTV là đánh giá rủi ro kiểm soát của khách hàng ở một mức nhỏ hơn mức tối đa trong khi lập kế hoạch kiểm toán Kiểm toán viên đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động không hiệu quả trong việc ngăn ngừa và phát hiện các sai phạm thì sẽ phân bổ 100% yếu tố rủi ro cho rủi ro kiểm soát Kiểm toán viên xét thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động có hiệu quả thì yếu tố rủi ro được phân bổ cho rủi ro kiểm soát ở mức thấp
Rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro phát hiện Thí dụ, nếu KTV kết luận là hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động có hiệu quả, rủi ro phát hiện có thể tăng lên và do đó rủi ro kiểm soát giảm xuống Rủi ro kiểm soát giảm xuống thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ giảm xuống Kiểm toán viên có thể tăng mức rủi
ro phát hiện (tức là giảm rủi ro kiểm soát) khi xét thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động tốt, bởi vì khi hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt thì sẽ làm giảm các sai sót trong BCTC
Do những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ nên rủi ro kiểm soát luôn xuất hiện và khó tránh khỏi
Rủi ro phát hiện (Detection Risk) – DR là khả năng mà các thủ tục kiểm toán không phát hiện được các sai phạm trọng yếu Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số
25 cho rằng: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro mà kiểm toán không phát hiện ra các sai sót hiện có trong các số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ Các sai sót này có thể là các sai sót nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với các sai sót trong số dư các nghiệp vụ khác Mức rủi ro phát hiện có quan hệ trực tiếp với những phương pháp của KTV”
Chuẩn mực Kiểm toán Số 400 (VSA 400) cho rằng: “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ và từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng
rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán không phát hiện được”
Ngược lại với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các thủ tục thu thập các bằng chứng kiểm toán nhằm quản lý và kiểm soát rủi ro phát
Trang 13Nguyễn Thị Thanh Hương Page 10
hiện Rủi ro phát hiện phụ thuộc vào: mức độ thích hợp của các bước kiểm toán; tính hợp lí của việc thực hiện quy trình kiểm toán cho mỗi phần hành; mối quan hệ giữa bằng chứng kiểm toán với nhận thức hoặc nhận định và đưa ra kết luận về phần hành
đó cũng như về báo cáo tài chính; khả năng phát hiện ra sai sót do có sự thông đồng nhất trí bên trong doanh nghiệp để thực hiện không đúng các chế độ chính sách do Ban giám đốc đề ra Nói cách khác, mức độ rủi ro phát hiện có quan hệ mật thiết với những phương pháp kiểm toán và các bằng chứng mà KTV thu thập được Trong thực tế rủi
ro phát hiện vẫn có thể xuất hiện cho dù KTV đã thực hiện kiểm tra 100% số dư các tài khoản và các nghiệp vụ phát sinh Nguyên nhân chính xảy ra tình trạng này là do các phương pháp kiểm toán mà KTV áp dụng là không phù hợp, hoặc áp dụng sai phương pháp kiểm toán đã chọn, hoặc khi đã có kết quả thực tế của cuộc kiểm toán thì KTV lại đưa ra các đánh giá và nhận xét sai lầm Các nguyên nhân xảy ra rủi ro phát hiện có thể khái quát như sau:
Thứ nhất: Kiểm toán viên áp dụng các bước kiểm toán không phù hợp Điều
này xảy ra với các KTV mới vào nghề, thiếu kinh nghiệm hoặc quá trình lập kế hoạch kiểm toán không được thực hiện một cách đúng đắn, khiến cho việc thực hiện các quy trình kiểm toán đối với mỗi phần hành trở nên không hợp lí
Thứ hai: Kiểm toán viên đã tìm được bằng chứng, nhưng không tìm được
nguyên nhân gây sai sót dẫn đến kết luận sai về bản chất của khoản mục hoặc nghiệp vụ đó cũng như BCTC
Thứ ba: Các BCTC bản thân cũng chứa đựng các sai sót, nhưng sự sai sót đó là
do bên trong doanh nghiệp đó có sự thông đồng để làm sai các chính sách và chế độ của Ban quản trị đề ra nên KTV rất khó phát hiện ra gian lận và sai sót
Như vậy thông qua các định nghĩa trên có thể rút ra: rủi ro phát hiện là mức độ
mà KTV sẵn sàng chấp nhận do không thể tìm ra các sai sót nghiêm trọng trong các BCTC bằng các phương pháp kiểm toán, với giả định rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng có hoạt động nhưng không thể phát hiện và sữa chữa các sai sót Thông qua mức rủi ro phát hiện xác định kiểm toán viên có thể xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập Khi rủi ro phát hiện là thấp, KTV không chấp nhận những rủi ro của những bằng chứng không phát hiện ra sai sót và cần phải thu thập một số lượng bằng chứng đáng kể Khi KTV chấp nhận rủi ro phát hiện tăng lên thì số lượng bằng chứng kiểm toán sẽ giảm đi
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro - Mô hình rủi ro kiểm toán
Trong kiểm toán thường đề cập đến ba loại rủi ro chính là rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Ba rủi ro này là những bộ phận cấu thành rủi ro kiểm toán và giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là hai loại rủi ro tồn tại độc lập khách quan, KTV không tạo ra và cũng không thể kiểm soát được chúng KTV chỉ có thể thông qua thu thập bằng chứng kiểm toán tại đơn vị khách hàng và bằng kinh nghiệm của mình để đánh giá mức độ của chúng Rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mức độ lớn hay nhỏ phụ thuộc rất lớn vào ngành
Trang 14Nguyễn Thị Thanh Hương Page 11
nghề kinh doanh cũng như môi trường pháp lí mà khách hàng đang hoạt động Không những thế, hai loại rủi ro này còn phụ thuộc vào bản chất của các số dư tài khoản và nghiệp vụ kinh tế đặc thù tương ứng với ngành nghề kinh doanh của khách hàng Rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ nghịch nên trong các cuộc kiểm toán, KTV thường kết hợp cùng một lúc đánh giá mức độ của hai loại rủi ro này Trái với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện là loại rủi ro mà KTV phải sử dụng những phương pháp kiểm toán phù hợp để phát hiện, kiểm soát và quản lí
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán
Quan hệ giữa các loại rủi ro trên có thể phản ánh qua hai mô hình rủi ro sau:
AR = IR * CR * DR (1)
DR = AR/(IR*CR) (2)
Trong đó:
AR: Mức rủi ro kiểm toán mong muốn
IR: Mức rủi ro tiềm tàng do KTV đánh giá
CR: Mức rủi ro kiểm soát do KTV đánh giá
DR: Mức rủi ro phát hiện
RỦI RO KIỂM TOÁN
Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro kiểm soát Khả năng có sai sót trong BCTC
Rủi ro phát hiện Sai sót không được KSNB phát hiện
Rủi ro kiểm toỏn Sai sót không được KTV phỏt hiện
Trang 15Nguyễn Thị Thanh Hương Page 12
Mô hình (1) biểu thị mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán Mô hình này được kiểm toán viên sử dụng để điều chỉnh mức rủi ro phát hiện để có mức rủi ro kiểm toán mong muốn Hay nói cách khác, mô hình (1) dùng để đánh giá tính hợp lí của kế hoạch kiểm toán đã được lập Thí dụ: KTV muốn thực hiện một cuộc kiểm toán cụ thể
và muốn rủi ro kiểm toán đạt được ở mức tương đối thấp (ví dụ là 0.05 có nghĩa là bình quân có khoảng 5% các quyết định kiểm toán là không chính xác) Tất cả các rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều được đánh giá dựa trên kinh nghiệm và nhận định nghề nghiệp của kiểm toán viên và có minh chứng cụ thể Giả sử trong trường hợp này, KTV cho rằng rủi ro tiềm tàng đối với đối tượng kiểm toán là rất lớn (KTV đánh giá mức rủi ro tiềm tàng là 0.9) Qua nghiên cứu, KTV cho rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động không hiệu quả lắm nên KTV đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát ở mức 0.7 Nếu như, KTV muốn đạt được mức rủi ro kiểm toán ở mức thấp như mong muốn (AR= 0.05) thì các thủ tục kiểm toán cần phải được KTV thiết lập hợp lí sao cho rủi ro phát hiện không được vượt quá 0.08
Theo mô hình rủi ro (1), với những dự kiến đã nêu ta có kết quả như sau:
AR = IR * CR * DR
0.05 = 0.9 * 0.7 * DR DR = 0.08
Nếu KTV nhận thấy mức rủi ro phát hiện là cao thì KTV có thể điều chỉnh mức rủi ro kiểm toán mong muốn để giảm mức rủi ro phát hiện xuống, nhưng rủi ro kiểm toán phải ở mức thấp cho phép
Trên thực tế, rủi ro kiểm toán mong muốn thường được xác định từ khi lập kế hoạch kiểm toán Mức rủi ro kiểm toán thường khó thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán
Mô hình (2) DR là đối tượng quan tâm của KTV Thông qua việc xác định DR, KTV
sẽ xác định các thủ tục kiểm toán và số lượng bằng chứng cần thu thập Mặc dù đây là
mô hình có tính chất giản đơn nhưng có ý nghĩa rất lớn cho KTV trong lập kế hoạch
và thực hiện kiểm toán sao cho hợp lí và đủ để duy trì rủi ro phát hiện ở mức thấp cho phép Cũng với thí dụ trên, nếu IR và CR được giữ nguyên và mức rủi ro kiểm toán mong muốn được kiểm toán viên xác định ở mức 0.03 thì mức rủi ro phát hiện sẽ là:
DR = 0.03 / (0.9*0.7) = 0.063
DR= 0.063 có nghĩa là để đạt được mức rủi ro kiểm toán mong muốn là 0.03 thì kiểm toán viên phải xây dựng thủ tục kiểm toán thích hợp và thu thập số lượng bằng chứng kiểm toán hợp lí để mức rủi ro phát hiện không vượt quá là 0,063
Hiện nay tại các Công ty kiểm toán, mức rủi ro kiểm toán mong muốn luôn được xác định trước khi tiến hành kiểm toán theo mô hình sau:
DR= AR / (CR*IR)
Trong đó:
AR: Mức rủi ro kiểm toán mong muốn
Trang 16Nguyễn Thị Thanh Hương Page 13
Mức rủi ro kiểm toán mong muốn phụ thuộc vào: mức độ quan tâm của người sử dụng bên ngoài đến báo cáo tài chính và khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được công bố Như vậy, qua các mô hình rủi ro KTV có thể xác định mức rủi ro phát hiện và qua đó KTV sẽ xác định số lượng bằng chứng cần thiết
để mức rủi ro phát hiện không duy trì ở mức thấp cho phép Tuy nhiên, khi sử dụng
mô hình rủi ro kiểm toán, KTV cần chú ý một số điểm sau:
Thứ nhất, KTV không thể giả sử rằng rủi ro tiềm tàng là bằng 0 để không cần đến các
bước thu thập bằng chứng kiểm toán
AR = IR ( = 0) *CR*DR = 0
Thứ hai, KTV không thể đặt niềm tin tuyệt đối vào hệ thống kiểm soát nội bộ để
không cần đến các bước thu thập bằng chứng kiểm toán:
AR = IR*CR (=0)*DR =0
Thứ ba, KTV không thể được xem là đã thận trọng nghề nghiệp thích đáng nếu như rủi
ro của việc không phát hiện các sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán ở mức quá cao
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro còn được minh họa bằng bảng sau:
Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Rủi ro phát hiện được KTV
Trung bình Thấp Trung bình Cao
Trong bảng trên:
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được chia thành ba mức: thấp, trung bình và cao Rủi ro phát hiện được chia ra làm năm mức: thấp nhất, thấp, trung bình, cao và cao nhất Tương ứng với mỗi mức độ đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, thì KTV sẽ đánh giá được rủi ro phát hiện sao cho mức rủi ro kiểm toán mong muốn ở mức thấp nhất
Trang 17Nguyễn Thị Thanh Hương Page 14
Từ các mô hình rủi ro, các KTV có thể xác định được mối quan hệ giữa các loại rủi ro Nhưng việc sử dụng mô hình kiểm toán cũng gặp nhiều hạn chế:
Thứ nhất: Việc đánh giá của KTV về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát vẫn mang
tính chủ quan Nếu KTV đánh giá quá trình kiểm soát nội bộ và các rủi ro thấp hơn so với thực tế, thì khi đó rủi ro phát hiện sẽ cao ở mức thích hợp và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ giảm Để giải quyết vấn đề này KTV thường sử dụng các mức như thấp, trung bình và cao Bảng 1.2 cho ta biết cách KTV sử dụng đánh giá ban đầu để quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập
Bảng 1.2: Mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thập
Rủi ro kiểm soát (CR)
Rủi ro phát hiện (DR)
SLBằng chứng cần thu thập
4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
Thứ hai: Mô hình rủi ro kiểm toán vẫn chỉ mang tính kế hoạch Một khi các loại rủi ro
đã được đánh giá theo kế hoạch thì mức độ của chúng sẽ ít bị thay thế dựa trên các bằng chứng được thu thập khi tiến hành kiểm toán Giả sử KTV lập kế hoạch kiểm toán dựa trên mô hình rủi ro sau:
Trong lập kế hoạch kiểm toán, cần sử dụng mô hình kiểm toán để đánh giá các loại rủi ro từ đó thiết kế các thử nghiệm cơ bản thích hợp để rủi ro kiểm toán nằm
trong giới hạn được phép
1.1.4 Mối quan hệ giữa rủi ro và trọng yếu:
Trang 18Nguyễn Thị Thanh Hương Page 15
Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS) số 320 mục 2 có ghi: “Khi tiến hành một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải quan tâm đến tính trọng yếu của thông tin và mối quan hệ của nó với rủi ro kiểm toán”
Do đó để biết được trọng yếu có quan hệ với rủi ro như thế nào, ta cần biết trọng yếu và ảnh hưởng của trọng yếu với rủi ro
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS) số 400 đoạn 9 : Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin hoặc một số liệu trong báo cáo tài chính
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thông tin
đó thiếu chính xác thì sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét
cả trên tiêu chuẩn định lượng và định tính
Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét đến các nhân tố có thể làm phát sinh những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính Đánh giá của kiểm toán viên về mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản và các loại giao dịch chủ yếu
sẽ giúp kiểm toán viên xác định được các khoản mục cần được kiểm tra và quyết định nên áp dụng thủ tục chọn mẫu hay thủ tục phân tích Việc đánh giá mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản và các loại giao dịch chủ yếu sẽ giúp kiểm toán viên lựa chọn được những thủ tục kiểm toán thích hợp và việc kết hợp các thủ tục kiểm toán thích hợp đó với nhau sẽ làm giảm được rủi ro kiểm toán tới mức độ có thể chấp nhận được
Trong một cuộc kiểm toán, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau: mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại Kiểm toán viên phải cân nhắc đến mối quan hệ này khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp, như: khi lập kế hoạch kiểm toán, nếu kiểm toán viên xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được là thấp thì rủi
ro kiểm toán sẽ tăng lên Trường hợp này kiểm toán viên có thể:
Giảm mức độ rủi ro kiểm soát đã được đánh giá bằng cách mở rộng hoặc thực hiện thêm thử nghiệm kiểm soát để chứng minh cho việc giảm rủi ro kiểm soát; hoặc giảm rủi ro phát hiện bằng cách sửa đổi lại nội dung, lịch trình và phạm vi của những thủ tục kiểm tra chi tiết đã dự kiến
Trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong đánh giá bằng chứng kiểm toán
Kết quả đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán của kiểm toán viên ở thời điểm lập kế hoạch kiểm toán ban đầu có thể khác với kết quả đánh giá ở các thời điểm khác nhau trong quá trình kiểm toán Sự khác nhau này là do sự thay đổi tình hình thực tế hoặc sự thay đổi về sự hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị được kiểm toán dựa trên kết quả kiểm toán đã thu thập được, như: trường hợp lập kế hoạch kiểm toán trước khi kết thúc năm tài chính, kiểm toán viên đã đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Trang 19Nguyễn Thị Thanh Hương Page 16
căn cứ trên dự tính trước kết quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp Nếu tình hình tài chính thực tế và kết quả hoạt động của doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể so với dự tính, thì việc đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán sẽ có thay đổi Hơn nữa, trong khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường ấn định mức trọng yếu có thể chấp nhận được thấp hơn so với mức sử dụng để đánh giá kết quả kiểm toán nhằm tăng khả năng phát hiện sai sót
Như vậy, trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nếu mức trọng yếu có thể chấp nhận được tăng lên thì rủi ro kiểm toán có thể giảm xuống, vì khi giá trị sai sót có thể bỏ qua tăng lên thì khả năng có thể xảy ra sai sót có thể giảm xuống
và ngược lại, nếu giảm mức trọng yếu có thể chấp nhận được xuống, rủi ro trong kiểm toán tăng lên Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung, phạm vi, thời gian các thủ tục kiểm toán Chẳng hạn, sau khi lập xong chương trình kiểm toán chi tiết, kiểm toán viên xác định rằng mức trọng yếu phải thấp hơn, do đó rủi ro trong kiểm toán phải tăng lên, để bù lại, kiểm toán viên phải mở rộng phạm vi kiểm toán, thực hiện các phương án kiểm toán hữu hiệu, hiệu quả hơn để giảm mức rủi
ro phát hiện xuống mức có thể chấp nhận được
Việc nắm vững khái niệm rủi ro và trọng yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc lập kế hoạch kiểm toán Từ những vấn đề nêu trên, có thể tóm tắt mối quan hệ giữa kiểm toán
và rủi ro theo bảng sau:
Trang 20Nguyễn Thị Thanh Hương Page 17
Bảng số 1.3 : Quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro
Xem xét rủi ro trong kiểm
toán trên từng khoản mục
trên BCTC
Từ mức độ rủi ro trong kiểm toán chấp nhận được cho từng khoản mục với kết quả đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát làm cơ sở thiết lập các thủ tục kiểm toán
1.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
1.2.1 Đánh giá chấp nhận hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính
Trước khi chấp nhận cung cấp dịch vụ cho một khách hàng các công ty kiểm toán đều phải tiến hành điều tra về khách hàng và đánh giá khả năng cung cấp dịch vụ Bên cạnh đó công ty kiểm toán còn đánh giá vị trí tương lai của công ty khách hàng trong giới kinh doanh, trạng thái ổn định về mặt tài chính và các mối quan hệ của công
ty khách hàng với công ty kiểm toán trước đây (nếu có) KTV có thể liên lạc với KTV tiền nhiệm để thu thập thông tin về khách hàng Mục đích của việc liên lạc là giúp cho KTV có cơ sở chắc chắn để đưa ra quyết định có chấp nhận hợp đồng kiểm toán hay không KTV phải là người chủ động liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm và phải được sự cho phép của khách hàng KTV phải xem xét một cách nghiêm túc khả năng thỏa đáng của việc chấp nhận hợp đồng kiểm toán
Trong trường hợp khách hàng không đồng ý cho KTV liên lạc với KTV tiền nhiệm hoặc KTV tiền nhiệm không đáp ứng được nhu cầu của KTV thì KTV phải thu
Trang 21Nguyễn Thị Thanh Hương Page 18
thập thông tin về khách hàng từ các nguồn thông tin khác để đưa ra quyết định là có cung cấp dịch vụ hay không
Nguồn thông tin về khách hàng KTV có thể thu thập từ các công ty luật ở địa phương nơi Công ty khách hàng đặt trụ sở, từ ngân hàng, và từ các Công ty kiểm toán khác… KTV có thể thuê một số nhà điều tra chuyên nghiệp để thu thập thông tin về khách hàng Thông qua việc điều tra sơ bộ về khách hàng, KTV có thể thu thập được các thông tin về khách hàng như: tính chính trực của ban giám đốc; mức độ chính xác của các thông tin được trình bày trên BCTC, sự phù hợp trong công tác tổ chức bộ máy quản lý…từ đó đưa ra đánh giá ban đầu về tình hình tài chính của khách hàng
Công việc đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán là công việc hết sức quan trọng và khó khăn, là điều kiện tiên quyết của cuộc kiểm toán Thông thường công việc này thường được giao cho những người có trình độ chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm đảm nhận
1.2.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Đánh giá rủi ro tiềm tàng là công việc hết sức quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Mức độ rủi ro tiềm tàng được xác định có ảnh hưởng đến các thủ tục kiểm toán, khối lượng công việc, thời gian và các nguồn lực cần huy động để phục vụ cho cuộc kiểm toán
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) Mục 15 “ Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” có quy định cụ thể về việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán như sau: “Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán Khi lập chương trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định
cụ thể mức độ rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng
cơ sở dẫn liệu, trường hợp không thể xác định cụ thể được thì kiểm toán viên phải giả định rằng rủi ro tiềm tàng là cao cho cơ sở dẫn liệu đó”
Các phương pháp mà KTV thường sử dụng để đánh giá rủi ro tiềm tàng đó là
“phương pháp từ đỉnh đến đáy” và “phương pháp từ đáy lên đỉnh’ Phương pháp đánh giá rủi ro tiềm tàng từ đỉnh xuống đáy đòi hỏi phải thực hiện tuần tự từ trên xuống Đầu tiên mức rủi ro tiềm tàng tổng thể được đưa ra, tiếp đó mức rủi ro tiềm tàng cho từng khoản mục, từng nghiệp vụ sẽ được xác định Các bước đánh giá rủi ro tiềm tàng
từ đỉnh đến đáy được minh họa ở sơ đồ 1.3 dưới đây Phương pháp đánh giá rủi ro tiềm tàng từ đáy lên đỉnh đòi hỏi đánh giá rủi ro tiềm tàng ngay từ đầu cho các khoản mục nghiệp vụ Khi có kết quả đánh giá rủi ro tiềm tàng từ các khoản mục nghiệp vụ,
Trang 22Nguyễn Thị Thanh Hương Page 19
KTV tiến hành lập bảng tổng hợp cho toàn bộ báo cáo Mức rủi ro tiềm tàng trên toàn
bộ BCTC là mức rủi ro tiềm tàng tổng hợp từ các khoản mục nghiệp vụ
Sơ đồ 1.3: Phương pháp đánh giá từ đỉnh đến đáy
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV dựa vào các yếu tố có thể ảnh hưởng sau:
Một là, Bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro tiềm tàng thường bị tăng
lên bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh Những ngành nghề có đặc thù khác biệt có thể tạo nên khó khăn cho KTV hoặc những khoản không chắc chắn do đó có thể làm tăng những gian lận hoặc sai sót trên BCTC Ví dụ: Khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm sẽ đặc biệt khó khăn trong hạch toán doanh thu, do đó việc kiểm toán doanh thu sẽ khó khăn hơn đối với các xí nghiệp sản xuất thông thường
Hai là, Tính chính trực của Ban Giám đốc: BGĐ không thể xem là trung thực
trong mọi trường hợp Khi ban giám đốc bị kiểm soát bởi một hoặc một số ít cá nhân thiếu tính trung thực thì khả năng các BCTC bị báo cáo sai nghiêm trọng sẽ tăng lên rất cao, khi
đó rủi ro tiềm tàng được đánh giá ở mức cao
Ba là, Động cơ của khách hàng: Trong nhiều trường hợp, ban giám đốc tin
tưởng rằng họ sẽ có lợi nếu báo cáo sai lệch các thông tin tài chính Tức là ban giám đốc có động cơ không tốt trong việc lập BCTC
Bốn là, Kết quả các lần kiểm toán trước: Đối với tài khoản được phát hiện có
sai sót trong các lần kiểm toán năm trước, rủi ro tiềm tàng được xác định ở mức cao Bởi các sai sót này có nhiều khả năng xảy ra trong lần kiểm toán lần này Lý do là vì
Công ty A
Chi nhánh A1 Chi nhánh A2 Chi nhánh A3
Khoản mục tiền Phải thu Doanh thu
Phải thu nội bộ Phải thu người mua Dự phòng nợ phải thu
khó đòi
Trang 23Nguyễn Thị Thanh Hương Page 20
nhiều sai phạm có tính chất hệ thống và các đơn vị thường chậm chạp không tiến hành các biện pháp sửa chữa chúng
Năm là, Hợp đồng kiểm toán năm đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn: Trong
các hợp đồng kiểm toán năm đầu, KTV thường thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các sai sót của đơn vị khách hàng nên họ thường đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với hợp đồng kiểm toán dài hạn
Sáu là, Các bên liên quan: các nghiệp vụ giữa Công ty mẹ và Công ty con, và
các nghiệp vụ giữa ban quản trị với việc sát nhập là những ví dụ về các nghiệp vụ kinh
tế giữa các bên liên quan Những nghiệp vụ này xảy ra giữa hai thành phần độc lập với nhau, do đó khả năng tồn tại các báo cáo sai phạm giữa họ tăng, rủi ro tiềm tàng sẽ tăng lên
Bảy là, Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: các nghiệp vụ này có khả
năng bị số sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày do khách hàng thiếu kinh nghiệm trong hạch toán các nghiệp vụ đó Do đó, rủi ro tiềm tàng đối với các tài khoản chứa các nghiệp vụ này được đánh giá cao
Tám là, Các ước tính kế toán: Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh các
ước tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho,…) thường được đánh giá là cao Nguyên nhân là do việc vào sổ các khoản mục này không những đòi hỏi sự hiểu biết về bản chất các khoản mục, lý thuyết liên quan
mà còn cả kinh nghiệm và sự phán đoán chủ quan của người thực hiện
Chín là, Số lượng tiền của các số dư tài khoản: KTV thường đánh giá các tài
khoản có số dư bằng tiền lớn sẽ tồn tại rủi ro tiềm tàng cao hơn so với tài khoản có số
dư bằng tiền nhỏ
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 quy định: “Kiểm toán viên phải dựa vào việc xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện báo cáo tài chính và trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ”
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên toàn bộ báo cáo tài chính
Mục đích của việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên toàn bộ BCTC là KTV đi xem xét khả năng xảy ra các sai phạm trong quá trình khách hàng lập báo cáo tài chính Các nhân tố có ảnh hưởng đến việc lập BCTC của đơn vị đó là: tính chính trực của ban giám đốc, kinh nghiệm, trình độ của bộ máy kế toán, những thay đổi trong niên độ kế toán, đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,…đánh giá rủi ro tiềm tàng trên toàn bộ BCTC mang tính khái quát cao, KTV không những phải thu thập thông tin bên trong doanh nghiệp mà còn phải thu thập thông tin bên ngoài doanh nghiệp để tìm hiểu
Trang 24Nguyễn Thị Thanh Hương Page 21
các nhân tố ảnh hưởng đến ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến việc lập BCTC của doanh nghiệp
Mục 16 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 có quy định về việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên toàn bộ BCTC trên những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau:
“Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lí xảy ra trong niên độ kế toán;
Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ;
Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban Giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày BCTC không trung thực;
Đặc điểm hoạt động của đơn vị, như: Quy trình công nghệ, cơ cấu vốn, các đơn
vị phụ thuộc, phạm vi địa lí, hoạt động theo mùa vụ;
Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị như: các biến động
về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, bán và sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị”
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV tiến hành đánh giá rủi ro tiềm tàng trên lần lượt các yếu tố trên, sau đó tiến hành xác định mức rủi ro thích hợp tương ứng với từng khoản mục trờn BCTC của đơn vị được kiểm toán
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên số dư các tài khoản nghiệp vụ
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên số dư các tài khoản nghiệp vụ giúp cho KTV tìm
ra các khoản mục, nghiệp vụ có khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu Kiểm toán viên thường quan tâm đến các vấn đề như: Bản chất của số dư các tài khoản; các sai sót có thể xảy ra đối với từng nhóm tài khoản; quy mô của số dư tài khoản, tỷ trọng của số dư tài khoản trong tổng tài sản; kết quả kiểm toán lần trước đối với từng tài khoản; mức biến động số dư so với năm trước; tài khoản có chứa đựng nhiều ước tính kế toán; tài khoản có chứa đựng nhiều nghiệp vụ phức tạp Các nghiệp vụ kinh tế phức tạp, các nghiệp vụ kinh tế xảy ra bất thường ở năm trước nhưng vẫn có số dư liên quan đến năm nay là mối quan tâm hàng đầu của các KTV
Trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 đoạn 16 có quy định việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên số dư các tài khoản nghiệp vụ trên những nhân tố chủ yếu sau:
Trang 25Nguyễn Thị Thanh Hương Page 22
“Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước; báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán;
Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế, như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá TSCĐ, ;
Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài, ;
Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, ;
Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ; Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác”
Nếu sổ sách của khách hàng không cung cấp đầy đủ thông tin hoặc có một sự sai lệch đáng kể giữa sổ sách của đơn vị khách hàng với số liệu kiểm toán viên thu được từ bên thứ ba độc lập, khi đó KTV đánh giá mức rủi ro tiềm tàng là cao đối với các khoản mục có chứa thông tin chênh lệch đó
1.2.3 Đánh giá rủi ro kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo
tài chính
Đánh giá rủi ro kiểm soát là một khâu trong quy trình tìm hiểu và đánh giá về
hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành có hiệu quả thì mức độ rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức thấp Khi hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế không phù hợp, hay hoạt động không có hiệu quả thì khi đó rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao Mức rủi ro kiểm soát không bao giờ bằng
“không” bởi hệ thống kiểm soát nội bộ lúc nào cũng tồn tại những hạn chế nhất định
Đoạn 18 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 có ghi: “Hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo hoàn toàn đạt được mục tiêu quản lý là
do những hạn chế tiềm tàng của hệ thống đó, như: Yêu cầu thông thường là chi phí cho hệ thống kiểm soát nội bộ không được vượt quá những lợi ích mà hệ thống đó mang lại; Phần lớn các thủ tục kiểm soát nội bộ thường được thiết lập cho các nghiệp
vụ thường xuyên, lặp đi, lặp lại, hơn là các nghiệp vụ không thường xuyên; Sai sót bởi con người thiếu chú ý, đãng trí khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, hoặc do không hiểu
rõ yêu cầu công việc; Khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện được sự thông đồng của thành viên trong Ban quản lý hoặc nhân viên với những người khác trong hay ngoài đơn vị; Khả năng người chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục kiểm soát
Trang 26Nguyễn Thị Thanh Hương Page 23
nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình; Do thay đổi cơ chế và yêu cầu quản lý làm cho các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị vi phạm”.
Để đánh giá rủi ro kiểm soát, KTV phải hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán Quy trình tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán thể hiện ở sơ đồ sau (sơ đồ 1.4 trang bên) Qua chu trình ta thấy việc đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ gồm có bốn bước chính như sau:
Bước thứ nhất: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết
hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc
KTV tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ (bao gồm thiết kế về quy chế kiểm soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát); hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểm soát nội bộ Tìm hiểu về HTKSNB trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán giúp cho KTV đánh giá xem liệu các BCTC có thể kiểm toán được hay không; và đưa ra mức đánh giá thích hợp về rủi ro kiểm soát Kiểm toán viên phải thu thập thông tin về tính chính trực của Ban giám đốc với bản chất và phạm vi của sổ sách kế toán để được thỏa mãn là bằng chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên BCTC Qua đó KTV có thể nhận diện
và đánh giá các sai phạm tiềm tàng; có mức đánh giá thích hợp về rủi ro kiểm soát ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện từ đó ảnh hưởng đến quyết định số lượng bằng chứng cần thu thập, và có kế hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp Có hai phương pháp tiếp cận để đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ đó là: Phương pháp tiếp cận theo khoản mục và phương pháp tiếp cận theo chu trình nghiệp vụ
Trang 27Nguyễn Thị Thanh Hương Page 24
Sơ đồ 1.4: Khái quát việc nghiên cứu HTKSNB và quá trình đánh giá rủi
ro kiểm soát
Đạt được sự hiểu biết về HTKSNB của khách
hàng đủ để lập kế hoạch kiểm toán BCTC
Đánh giá xem liệu các BCTC
có thể kiểm toán được hay
không
Ý kiến từ chối
hoặc rút ra khỏi hợp đồng
Quá trình đánh giá rủi
Xác định liệu mức đánh giá về rủi ro kiểm soát có
được giảm hơn từ kết quả của các thử nghiệm
kiểm soát hay không
Lập kế hoạch & thực
hiện các thủ tục kiểm
soát
Mở rộng sự hiểu biết
nếu thấy cần thiết
Rủi ro kiểm soát tăng hơn so
với mức đánh giá ban đầu
hoặc ở mức tối đa Rủi ro phát
hiện giảm xuống và phải lập
kế hoạch các trắc nghiệm để
thỏa mãn mức rủi ro phát hiện
thấp hơn này
Rủi ro kiểm soát giảm
xuống, rủi ro phát hiện tăng lên và phải lập kế hoạch các trắc nghiệm kiểm toán để thỏa mãn mức rủi ro phát hiện tăng lên này
Không
thể
ki ể
m to ỏ
n
Có thể kiểm toán được
3 khả năng
Trang 28Nguyễn Thị Thanh Hương Page 25
Có nhiều phương pháp tiếp cận để thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội
bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát, trong đó có hai cách phổ biến đó là:
Theo phương pháp tiếp cận theo chu trình, nghiệp vụ: KTV sẽ xem xét các chính sách, thủ tục kiểm soát được thiết lập tác động đến từng chu trình Phương pháp này cho phép các KTV phân chia các nghiệp vụ và các số dư tài khoản thành từng loại
rõ ràng sau đó KTV có những hiểu biết về cách thức kiểm soát cho các cơ sở tiêu chí liên quan tới từng loại nghiệp vụ và số dư tài khoản trong chu trình đó Các phương pháp KTV thường áp dụng khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ:
Một là, Dựa vào kinh nghiệm trước đây của KTV với khách hàng;
Hai là, Phỏng vấn nhân viên của Công ty khách hàng;
Ba là, Xem xét các sổ tay về thủ tục và chế độ của công ty khách hàng;
Bốn là, Kiểm tra các chứng từ và sổ sách đã hoàn tất của đơn vị;
Năm là, Quan sát các mặt hoạt động và quá trình hoạt động của công ty khách
hàng;
Sau khi đã thu thập được thông tin, KTV sẽ mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy
tờ làm việc Kiểm toán viên có thể sử dụng một trong ba phương pháp hoặc cả ba phương pháp sau tùy thuộc đặc điểm đơn vị được kiểm toán và quy mô kiểm toán phương pháp: vẽ Lưu đồ, lập Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ; hoặc lập Bảng tường thuật về kiểm soát nội bộ Việc sử dụng kết hợp Bảng câu hỏi và Lưu đồ hoặc với Bảng tường thuật sẽ giúp KTV hiểu biết hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
Bước thứ hai: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho các
khoản mục trên BCTC
Theo Chuẩn mực Kiểm Toán Việt Nam Số 400 : ”Sau khi hiểu được hệ thống
kế toán và kiểm toán nội bộ, KTV phải thực hiện đánh giá ban đầu về rủi ro kiếm soát theo các cơ sở dẫn liệu cho số dư của mỗi tài khoản trọng yếu”
“ Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát là việc đánh giá hiệu quả hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị trong việc ngăn ngừa hoặc phát hiện và sửa chữa những sai sót trọng yếu ”
Như vậy, sau khi thu thập được một sự hiểu biết về cách thiết kế và sự vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV sẽ đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát cho từng khoản mục, nghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong từng chu trình nghiệp vụ theo các bước sau:
Trang 29Nguyễn Thị Thanh Hương Page 26
Đầu tiên là nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá rủi
ro kiểm soát được vận dụng Trong bước này KTV sẽ vận dụng các mục tiêu kiểm soát nội bộ cụ thể cho từng loại nghiệp vụ chủ yếu của công ty
Tiếp theo là việc nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù Bước này, KTV không cần thiết phải xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ phải nhận diện và phân tích các quá trình kiểm soát dự kiến có ảnh hưởng lớn nhất đến việc thỏa mãn mục tiêu kiểm soát mà
sẽ mang lại hiệu quả cho cuộc kiểm toán
Sau nữa, nhận diện và đánh giá các nhược điểm của HTKSNB Nhược điểm của HTKSNB được hiểu là sự vắng mặt của các quá trình kiểm soát thích đáng Sự vắng mặt này sẽ làm tăng khả năng rủi ro tồn tại các sai phạm trên BCTC của khách hàng
Cuối cùng là việc đánh giá rủi ro kiểm soát Khi đã nhận diện được quá trình kiểm soát và các nhược điểm của HTKSNB, KTV tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát cho từng loại nghiệp vụ kinh tế KTV có thể đánh giá rủi ro theo yếu tố định tính thấp, trung bình, cao hoặc theo tỉ lệ phần trăm
Trong kiểm toán BCTC, việc đánh giá rủi ro kiểm soát có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định các phép thử nghiệm cần áp dụng Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức tối đa (khi KSNB không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu lực, không phát hiện và ngăn chặn các gian lận và sai sót trọng yếu) thì KTV không thể dựa vào KSNB của đơn vị để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ Trái lại, KTV phải tăng cường các thử nghiệm cơ bản để phát hiện những hành vi gian lận và sai sót Khi đó KTV không cần thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Bước thứ ba: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát Mục đích của thử nghiệm này là
thu thập bằng chứng về sự hiện hữu của các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 đoạn 37: “KTV phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để chứng minh cho việc đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ không cao Việc đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát càng thấp thì KTV càng phải chứng minh rõ là hệ thống kế toán và HTKSNB đó được thiết kế phù hợp và hoạt động hiệu quả”
Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện với những phương pháp khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể Bao gồm: Kiểm tra tài liệu; thực hiện lại các thủ tục kiểm soát; phỏng vấn và quan sát thực tế
Bước thứ tư: Lập bảng đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 30Nguyễn Thị Thanh Hương Page 27
Dựa vào kết quả ở các bước trên, KTV sẽ đưa ra đánh giá cuối cùng về HTKSNB thông qua “Bảng đánh giá kiểm soát nội bộ” Trước khi rút ra kết luận kiểm toán, kiểm toán viên phải dựa vào kết quả các thử nghiệm cơ bản và những bằng chứng kiểm toán khác để khẳng định lại quá trình đánh giá của mình về rủi ro kiểm soát Mức rủi ro kiểm soát sẽ không thay đổi khi mà các thử nghiệm chi tiết của KTV thực hiện chứng minh được HTKSNB của khách hàng hoạt động như nhận định mà KTV đánh giá ban đầu
1.2.4 Đánh giá rủi ro phát hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo
ro kiểm soát để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản để giảm rủi ro phát hiện và giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
Ví dụ: khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là cao thì rủi ro phát hiện
có thể được đánh giá ở mức độ thấp để giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá
là thấp thì có thể chấp nhận mức độ rủi ro phát hiện cao hơn nhưng vẫn đảm bảo giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được
Trang 31Nguyễn Thị Thanh Hương Page 28
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP
KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TẠI PDAC
2.2 Giới thiệu công ty Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn Phan Dũng (PDAC) 2.2.1 Khái quát về PDAC:
Quá trình hình thành và phát triển:
PDAC là một công ty chuyên ngành tài chính - kế toán – kiểm toán, hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp giấy phép kinh doanh số 4102042818, đăng kí lần đầu vào ngày 11 tháng 09 năm 2006, đăng kí thay đổi lần hai vào ngày 07 tháng 11 năm 2007
do sở kế hoạch và đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp
Hiện nay, PDAC là một trong những công ty kiểm toán có uy tín, chuyên cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn trong lĩnh vực tài chính - kế toán - thuế, đối tượng phục vụ là các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Với mô hình kiểm toán – tư vấn – đào tạo, PDAC mong muốn mang đến cho khách hàng một dịch vụ hoàn hảo, trong đó có các loại hình dịch vụ sẽ có tác dụng tương hỗ và phát huy thế mạnh tuỳ thuộc vào yêu cầu và đối tượng của khách hàng
Trụ sở chính 108/E7, Cộng Hoà, Phường 4, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh Văn phòng đại diện: Trà Vinh và Cần Thơ
Logo công ty:
Trang 32Nguyễn Thị Thanh Hương Page 29
Bảng số 1.4: Một số chỉ tiêu doanh thu, nộp thuế, thu nhập bình quân của người
lao động tại PDAC
2.605.419.419
3.060.511.934
2.352.919.785
455.092.515
2 Vốn chủ sở hữu
2.000.000.000
2.000.000.000
2.000.000.000
2.815.068.764
2.814.384.983
1.038.017.513
(683.781)
4 Chi phí
1.787.240.536
2.830.245.367
2.719.909.529
1.043.004.831
(110.335.838)
5 Lợi nhuận
(10.189.285)
(15.176.603)
94.485.454
(4.987.318)
109.662.057
Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn và đầu tư
Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án
Kiểm toán thông tin tài chính
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của PDAC được xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kiếm toán độc lập và chuẩn mực chế độ kế toán hiện hành của
Việt Nam, đồng thời lựa chọn những chuẩn mực và thông lệ chung của quốc tế trong
lĩnh vực nghề nghiệp trên cơ sở phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh và quản lý
kinh tế ở Việt Nam để đảm bảo BCTC không chứa đựng những sai sót trọng yếu
Quá trình kiểm toán của PDAC luôn gắn liền với việc hỗ trợ thông tin và tư vấn hoàn thiện hệ thống kiểm soát kiểm soát nội bộ, hoàn thiện công tác tổ chức kế toán,
Trang 33Nguyễn Thị Thanh Hương Page 30
quản lý tài chính của doanh nghiệp và trong trường hợp giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp và lợi ích chính đáng của mình
Dịch vụ kế toán
Kiểm tra chi phí hợp lý làm sổ sách kế toán
Dịch vụ quyết toán thuế
Thủ tục khác :
Dịch vụ đánh lại tài sản
Dịch vụ soát xét BCTC
Dịch vụ bồi dưỡng kiến thức Tài chính - Kế toán - Thuế
Tổ chức bộ máy quản lý công ty:
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ tổ chức PDAC:
Đứng đầu công ty là giám đốc, chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động của công
ty, giám đốc còn phụ trách bộ phận kiểm toán báo cáo tài chính, điều hành phòng kiểm toán
Kiểm toán viên chính là người được cấp giấy phép hành nghề (CPA) hoặc một giấy chứng nhận có giá trị tương đương Người này sẽ đảm nhiệm những trọng trách bao gồm việc giám sát của các trợ lý, nhân viên thực hiện hợp đồng kiểm toán với khách
Bộ phận kiểm toán
Kiểm toán
viên
Trợ lý kiểm toán
Trang 34Nguyễn Thị Thanh Hương Page 31
hàng Kiểm toán viên chính sẽ phải báo cáo trực tiếp cho người phụ trách một vụ việc kiểm toán
Trợ lý chịu trách nhiệm đối với công việc kiểm toán (ngay tại thực địa) không đòi hỏi quá 5 người Trợ lý chịu trách trước người kiểm toán viên chính hoặc người quản lý công việc về tất cả các vấn đề liên quan đến việc thực hiện một công việc kiểm toán Người trợ lý phải tiếp tục học để nâng cao trình độ chuyên môn Trước khi tiến hành kiểm toán khoản mục, trưởng nhóm (KTV) sau khi phân tích và phán đoán sai sót có thể xảy ra ở từng khoản mục Sau đó giao cho từng trợ lý kiểm toán thực hiện từng khoản mục cụ thể như tiền, nợ phải thu hàng tồn kho, tài sản cố định, chi phí Trợ lý kiểm toán sau khi hoàn thiện từng khoản mục được giao, phải đưa cho trưởng nhóm kiểm toán kiểm tra lại nhằm sữa chữa phát hiện và sữa chữa sai sót
Trợ lý là người đó có kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán cả về các vấn
đề lý luận cũng như thực tiễn để có thể đảm nhiệm việc xem xét các bước của những công việc kiểm toán, phải có năng lực soạn thảo sơ bộ các phần, mục của các bức thư của ban lãnh đạo và các báo cáo kiểm toán Trợ lý mới vào nghề theo quy định là những người mới tốt nghiệp các trường kinh doanh và những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kế toán kiểm toán Dưới sự giám sát chặt chẽ của người có trách nhiệm, người trợ lý mới vào nghề sẽ hoàn tất những yêu cầu kiểm toán
cụ thể trong các lĩnh vực như: tiền mặt, hàng tồn kho, các khoản phải thu… Những công việc cụ thể đó sẽ được người chịu trách nhiệm giảng giải cặn kẽ và được nêu trong chương trình kiểm toán trình bày dưới dạng văn bản Người trợ lý mới vào nghề phải có ý thức nâng cao trình độ chuyên môn của mình
Trước khi tiến hành kiểm toán khoản mục, trưởng nhóm (KTV) sau khi phân tích và phán đoán sai sót có thể xảy ra ở từng khoản mục Sau đó giao cho từng trợ lý kiểm toán thực hiện từng khoản mục cụ thể như tiền, nợ phải thu hàng tồn kho, tài sản
cố định, chi phí Trợ lý kiểm toán sau khi hoàn thiện từng khoản mục được giao, phải đưa cho trưởng nhóm kiểm toán kiểm tra lại nhằm sữa chữa phát hiện và sữa chữa sai sót
Phương pháp quản lý chất lượng kiểm toán viên:
Đội ngũ nhân viên PDAC đều tốt nghiệp cử nhân tại các trường đại học có chất lượng cao ở Việt Nam chuyên ngành tài chính - kế toán – kiểm toán Đội ngũ nhân viên của PDAC thường xuyên cập nhật các thông tư, nghị định, quy phạm pháp luật chuyên ngành mới nhất và được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp từ các khoá học
Trang 35Nguyễn Thị Thanh Hương Page 32
của bộ tài chính thuộc các chuyên đề kế toán, kiểm toán, phân tích tài chính, thẩm định
dự án đầu tư
PDAC thực hiện quản lý chất lượng nhân viên theo phương pháp COMPASS:
C (conduct) – tư cách đạo đức mỗi thành viên PDAC luôn tận tâm, tuân thủ pháp luật
và các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
O (objectivity and skepticism) – tính khách quan và sự thận trọng : mỗi thành viên PDAC luôn đưa ra đánh giá của mình dựa trên những thông tin liên quan đầy đủ đáng
và tin cậy, thực hiện với thái độ hoài nghi nghề nghiệp xác đáng tránh những mâu thuẫn về lợi ích và luôn bảo mật thông tin khách hàng
M ( methodology and procedure ) – phương pháp và quy trình: mỗi thành viên PDAC
áp dụng thống nhất phương pháp và quy trình đã được PDAC thiết kế phù hợp với công việc đang thực hiện
P ( professional advisement ) – tham khảo ý kiến: trước khi đưa ra kết luận cuối cùng các thành viên PDAC đều phải tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia PDAC cũng như các nhà tư vấn trong các lĩnh vực liên quan
A ( alertness and vigilance ) – sự tỉnh táo và thận trọng: mỗi thành viên PDAC đều cảnh giác trước mọi rủi ro trong công việc đánh giá khách hàng và những rủi ro có thể gặp để có thể kiểm soát được
S ( scope ) – phạm vi công việc: mỗi thành viên PDAC đều hiểu phạm vi công việc mà
họ được giao
S ( skill) – kĩ năng và năng lực chuyên môn: mỗi thành viên PDAC đều có trách nhiệm phát huy hết năng lực chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm để ứng dụng vào công việc và xây dựng một tập thể vững mạnh
Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, chất lượng dịch vụ cung cấp, uy tín công ty là những tiêu chuẩn hàng đầu mà mọi nhân viên PDAC luôn thực hiện Chính vì vậy trong quá trình phục vụ khách hàng thì bản lĩnh nghề nghiệp, hiệu quả công việc và tận tụy của nhân viên công ty đã thiết lập nên mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa PDAC và khách hàng
Phương châm hoạt động và phương hướng phát triển:
Phương châm hoạt động:
Với phương châm ” chuyên nghiệp để phát triển ” PDAC tập hợp nguồn nhân lực có tâm huyết nhất
Cam kết của PDAC:
Đem đến cho khách hàng những dịch vụ có chất lượng bằng sự chuyên nghiệp
Trang 36Nguyễn Thị Thanh Hương Page 33
Tuân thủ đúng pháp luật và các chuẩn mực đạo đức
Bảo vệ thông tin khách hàng và doanh nghiệp
Làm việc với tinh thần độc lập, trung thực, khách quan đem đến lợi ích cao nhất cho khách hàng
Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của một doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện phát huy kĩ năng và kiến thức cho nhân viên
Công việc có chất lượng, tác phong chuyên nghiệp và phương pháp tiếp cận bao gồm
sự chính trực, khách quan, tính bảo mật và tuân thủ những chuẩn mực đạo đức là những nhân tố để PDAC đạt được và giữ được sự tin cậy của khách hàng
Phương hướng phát triển sắp tới:
PDAC quyết tâm và nỗ lực trở thành một trong những công ty kiểm toán hàng đầu ở Việt Nam, với chất lượng chuyên môn cao, phong cách chuyên nghiệp, một trung tâm
tư vấn hàng đầu hiệu quả gắn liền lý luận với thực tiễn
Trang 37Nguyễn Thị Thanh Hương Page 34
2.2.2 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính với đánh giá rủi ro kiểm toán tại PDAC:
Sơ đồ 1.6: Quy trình kiểm toán tại PDAC
Công việc thực
hiện trước kiểm
toán
Đánh giá, kiểm soát và xử lý rủi ro cuộc kiểm toán
Lựa chọn nhóm kiểm toán Thiết lập các điều khoản của hợp đồng kiểm toán
Lập kế hoạch
kiểmtoán tổng quát
Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng
Tìm hiểu môi trường kiểm soát Tìm hiểu các chu trình kế toán
Thực hiện các bước phân tích tổng quát Xác định mức độ trọng yếu Xây dựng kế hoạch phục vụ và giao dịch khách hàng
Xây dựng kế hoạch
kiểm toán
Đánh giá rủi ro tiềm tàng và số dư tài khoản
Tổng hợp và liên kết với kế hoạch kiểm toán Thực hiện kế hoạch
kiểm toán
Thực hiện các bước kiểm tra hệ thống và đánh giá Thực hiện các bước kiểm tra chi tiết Thực hiện việc soát xét báo cáo tài chính
Kết thúc kiểm toán
Soát xét các sự kiện xảy ra sau ngày lập báo cáo Thu thập thư giải trình của ban giám đốc khách hàng
Lập bảng tổng hợp kết quả kiểm toán
Lập báo cáo kiểm toán
Trang 38Nguyễn Thị Thanh Hương Page 35
Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán
Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng
Khách hàng gửi thư mời đến công ty bằng điện thoại, fax, bằng thư mời hoặc tiếp xúc trực tiếp Trong mọi trường hợp yêu cầu của khách hàng phải được báo trực tiếp cho Giám đốc Xác định mục đích kiểm toán của khách hàng là gì: theo luật định, cổ phần hóa hay đấu thầu để từ đó đánh giá được rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán
Tiếp đến thực hiện khảo sát sơ bộ về khách hàng, đánh giá môi trường kinh doanh, môi trường kiểm soát của khách hàng
Các kiểm toán viên cần phối hợp với ban giám đốc và các phòng ban liên quan nêu rõ trách nhiệm và các công việc cần sự hỗ trợ hoặc giải trình từ phía Ban lãnh đạo và nhân viên của khách hàng Khi được phân công khảo sát yêu cầu và hồ sơ khách hàng, người đi khảo sát cần xác định các vùng trọng điểm cần kiểm tra, phân tích và thực hiện các nội dung sau:
Thu thập đầy đủ các thông tin theo mẫu khảo sát chung của công ty: đó là các thông tin về hoạt động kinh doanh, môi trường kiểm soát, các chu trình kế toán…
Thu thập thêm các thông tin khác căn cứ vào địa điểm và yêu cầu riêng của khách hàng
Đánh giá chung về hồ sơ và sổ sách của khách hàng
Các thông tin quan trọng như: khách hàng đang bị kiện tụng, khách hàng đang phá sản, tranh chấp nội bộ cần phải chú ý và ghi nhận vào mẫu khảo sát
Kết quả khảo sát phải được ghi chép rõ ràng, đánh giá về mức độ phức tạp của hồ sơ, thời gian dự kiến sẽ thực hiện, nhân sự Trong trường hợp xét thấy công việc kiểm toán có thể gặp nhiều rủi ro, người được phân công có thể đề xuất không ký hợp đồng với khách hàng nhưng phải nêu rõ lý do trong báo cáo khảo sát Kết quả khảo sát được trình cho trưởng phòng kiểm toán trước khi đệ trình cho Giám đốc
Gửi thư báo giá
Căn cứ vào báo cáo khảo sát, Giám đốc sẽ xem xét và quyết định giá phí Ý kiến của Giám đốc sẽ được ghi trực tiếp vào báo cáo khảo sát.Giá phí và thời gian dự kiến thực hiện kiểm toán được quy định chi tiết trong Biên bản chấp nhận cung cấp dịch vụ và được gửi cho khách hàng Nội dung cần đảm bảo các yêu cầu: Tóm lược lại yêu cầu của khách hàng; Phạm vi công việc, phương pháp làm việc, những giới hạn trong công tác kiểm toán; Các loại báo cáo sẽ gửi đến khách hàng; Giá phí đề nghị
Lập hợp đồng kiểm toán
Trang 39Nguyễn Thị Thanh Hương Page 36
Kế toán căn cứ vào thư báo giá tiến hành lập hợp đồng theo mẫu thống nhất của công
ty Hợp đồng được lập thành 4 bộ để gửi đến khách hàng ký trước Trong Hợp đồng kiểm toán chỉ rõ công ty đã tuân thủ Chuẩn mực kiểm toán số 210 về Hợp đồng kiểm toán, quyền hạn trách nhiệm của bên A, bên B Hợp đồng được khách hàng ký và gửi lại sẽ được chuyển cho kế toán đệ trình cho Giám đốc ký
Tổ chức nhóm kiểm toán
Nhóm kiểm toán do Giám Đốc trực tiếp phân công, chỉ định người tham gia sau khi có
ý kiến chỉ đạo của Giám đốc dựa trên những đánh giá về yêu cầu của công việc và kinh nghiệm nghề nghiệp của nhóm nhân viên
Lập kế hoạch kiểm toán
Nhóm trưởng có trách nhiệm lập kế hoạch kiểm toán theo chương trình mẫu công ty.( tuỳ theo khách hàng chương trình mẫu có thể thay đổi phù hợp)
Một bước rất quan trọng khi xây dựng kế hoạch kiểm toán đó là việc đánh giá rủi ro Trước hết là đánh giá rủi ro tiềm tàng thông qua các thông tin đã thu thập được khi khảo sát sơ bộ về khách hàng, ứng với mức rủi ro chi tiết xác định được, KTV tiếp tục dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ đế đánh giá rủi ro kiểm soát
Giai đoạn 2: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Nhóm trưởng có trách nhiệm thông báo cho khách hàng ngày giờ và nội dung dự định kiểm toán sau khi xin ý kiến giám đốc (thường thông báo qua điện thoại)
Nhóm trưởng có nhiệm vụ phân công và giám sát toàn bộ công việc của nhóm theo kế hoạch kiểm toán đã được duyệt Sau khi hoàn tất công việc tại khách hàng, Nhóm trưởng có trách nhiệm thông báo cho khách hàng trước khi về văn phòng công ty để tổng hợp hồ sơ Nhóm trưởng có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ tại văn phòng công ty
Để công việc kiểm toán đáp ứng nhu cầu về thời gian, Nhóm trưởng có trách nhiệm soạn thảo thư đề nghị các bút toán điều chỉnh hoặc đề nghị giải thích, cung cấp thêm
hồ sơ (nếu cần thiết) Đính kèm văn thư này là các biểu mẫu báo cáo kế toán đã được điều chỉnh theo đề nghị của Nhóm trưởng Thư đề nghị được trình cho giám đốc cùng với hồ sơ kiểm toán đã được hoàn tất Bảng tổng hợp bút toán điều chỉnh sau khi được Giám Đốc xem xét, được gửi cho khách hàng Khách hàng đồng ý với bút toán điều chỉnh, trưởng nhóm tiến hành tổng hợp lại kết quả kiểm toán; Soát xét và lập dự thảo báo cáo kiểm toán
Giai đoạn 3: Lập báo cáo kiểm toán
Sau khi hoàn tất công việc kiểm toán phải tiến hành lập báo cáo kiểm toán Các bước công việc cần thực hiện ở giai đoạn này bao gồm:
Thu thập thư giải trình của Ban Giám Đốc công ty khách hàng (Phụ lục 2 trang 3/PL)
Trang 40Nguyễn Thị Thanh Hương Page 37
Soát xét các sự kiện xảy ra sau ngày lập báo cáo, tổng hợp số liệu trên từng phần hành làm việc, lập dự thảo BCKT
Gửi bản dự thảo để lấy ý kiến: Sau khi khách hàng có ý kiến đối với các đề nghị được
nêu trong thư, dự thảo Báo cáo tài chính đã được kiểm toán sau khi được điều chỉnh lại (nếu có) sẽ được gửi đến cho khách hàng để lấy ý kiến Bản thảo khi gửi đi phải đóng thành tập và đóng dấu “dự thảo” lên từng trang Bản dự thảo được lưu một bộ vào hồ
sơ kiểm toán.( xem Phụ lục 3 trang 5/PL)
Hoàn chỉnh báo cáo lần cuối: Báo cáo tài chính đã được kiểm toán sau khi đã có ý
kiến của khách hàng sẽ được hoàn chỉnh và gửi đến khách hàng ký trước, sau đó đệ trình cho Giám Đốc ký duyệt Báo cáo tài chính đã được kiểm toán phải bao gồm đầy
đủ các báo biểu theo quy định hiện hành
Phát hành báo cáo chính thức (Phụ lục 1 trang 1/PL)
Sau khi xem xét, Giám đốc sẽ ký duyệt báo cáo kiểm toán chính thức Trong trường hợp xét thấy chưa thể phát hành Báo cáo kiểm toán chính thức, Giám đốc sẽ chỉ đạo
có những thay đổi cho thích hợp
2.2 Thực tế quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại PDAC
2.2.1 Tìm hiểu thông tin chi tiết và đặc điểm của khách hàng (đánh giá rủi ro chấp
Trước khi đưa ra quyết định ký hợp đồng cung cấp dịch vụ cho khách hàng mới, các KTV có trách nhiệm đánh giá rủi ro kinh doanh mà các Công ty có thể gặp phải khi ký hợp đồng cung cấp dịch vụ Trong quá trình trao đổi với khách hàng mới Ban Giám đốc được biết công ty ACD đã được Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn quốc tế kiểm toán BCTC
Để đánh giá rủi ro kinh doanh khi ký hợp đồng cung cấp dịch vụ, KTV tiến hành thu thập các thông tin ban đầu về khách hàng Đó là đặc điểm về loại hình kinh doanh;