1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học

63 432 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (Rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Tác giả Nguyễn Thị Phương Huyền
Người hướng dẫn Ths. Võ Anh Tú, Ths. Phạm Thị Thúy Nga
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Bệnh học Thủy sản
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 8,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình hình phát triển của nghề nuôi cá biển và dịch bệnh ngày càng gia tăng, Bộ Thủy sản đã giao cho Viện nghiên cứu NTTS 1 thực hiện đề tài “Nghiên cứu và sản xuất vắc xin phòng bệ

Trang 1

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 i Đại học Nha Trang

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô giáo Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường ĐH Nha Trang và các anh chị tại Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Cảnh báo Môi trường dịch bệnh Thủy sản khu vực miền Bắc (CEDMA) - Viện NCNTTS 1 Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Bộ môn Bệnh học Thủy sản, Phòng thí nghiệm CEDMA đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và tài trợ kinh phí để tôi hoàn thành tốt chương trình thực tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ts Phan Thị Vân, Ths Võ Anh Tú, Ks Đồng Thanh Hà và Ks Nguyễn Thị Thu Hà đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy trong suốt quá trình tôi thực tập tốt nghiệp và hoàn thành bài khóa luận Ths Võ Anh Tú là người hướng dẫn, người chị luôn theo sát, đóng góp ý kiến kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện đề tài Cảm ơn chị vì sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu trong suốt thời gian qua Đặc biệt tôi xin cảm ơn cô giáo hướng dẫn Ths Phạm Thị Thúy Nga đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian tôi học tập tại trường Đại học Nha Trang

Tập thể 49 Bệnh học đã cùng tôi đi suốt chặng đường 4 năm học với biết bao niềm vui, sự thương yêu chân thành Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo chủ nhiệm và các bạn vì những tình cảm đó và cho tôi học hỏi được rất nhiều điều từ cuộc sống

Cuối cùng, lời cảm ơn chân thành nhất xin được gửi tới bố mẹ và gia đình đã luôn bên cạnh, động viên, giúp tôi cố gắng vươn lên

Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Tôi rất mong được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô, anh chị và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn! Bắc Ninh, ngày 15 tháng 6 năm 2011

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 ii Đại học Nha Trang

Mục lục

Lời cảm ơn i

Danh mục hình iv

Danh mục từ viết tắt vi

Phần I: LỜI MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu .2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

Phần II: TỔNG QUAN 3

2.1 Tình hình nuôi cá Giò trên Thế giới và ở Việt Nam 3

2.1.1 Tình hình nuôi cá Giò trên Thế giới 3

2.1.2 Tình hình nuôi cá Giò tại Việt Nam 4

2.2 Tình hình bệnh vi khuẩn trên cá Giò 4

2.2.1 Tình hình bệnh vi khuẩn cá Giò trên Thế giới 4

2.2.2 Tình hình bệnh vi khuẩn trên cá Giò tại Việt Nam 5

2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng vắc xin trong nuôi trồng thủy sản 6

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng vắc xin trong NTTS trên thế giới 6

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng vắc xin trong NTTS ở Việt Nam 7

2.4 Cơ chế viêm trong đáp ứng miễn dịch ở cá 8

Phần III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu 10

3.3 Phương pháp nghiên cứu 11

3.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài 11

3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 12

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 iii Đại học Nha Trang

3.3.3 Phương pháp nghiên cứu mô học 14

Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17

4.1 Kết quả nghiên cứu 17

4.1.1 Đặc điểm mô học cơ cá Giò khỏe 17

4.1.2 Biến đổi mô học cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 18

4.1.3 Biến đổi mô bệnh học cá Giò sau khi tiêm vắc xin không có nhũ dầu 24

4.1.4 Biến đổi mô học cá Giò sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu 33

4.2 Thảo luận 47

4.2.1 Quá trình viêm 47

4.2.2 Sự tiến triển của ổ viêm sau khi tiêm nhũ dầu, vắc xin và vắc xin nhũ dầu 49

Phần V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Kiến nghị 54

Tài liệu tham khảo 55

Tài liệu tiếng Việt: 55

Tài liệu tiếng Anh: 56

Tài liệu Internet: 57

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 iv Đại học Nha Trang

Danh mục hình

Hình 1: Cá Giò (Rachycentroncanadum) 10

Hình 2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài 11

Hình 3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 12

Hình 4: Vắc xin bất hoạt vi khuẩn Vibrio và nhũ dầu 13

Hình 5: Các bể bố trí thí nghiệm 13

Hình 6: Các bước thực hiện của phương pháp mô bệnh học 14

Hình 7: Mô cơ cá Giò bình thường 17

Hình 8: Mô cơ cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 3 ngày, H&E; ×40 18

Hình 9: Ổ viêm hình thành trong mô cơ 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu 19

Hình 10: Biến đổi mô cá Giò tại ổ viêm 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu 20

Hình 11: Mô cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 7 ngày 22

Hình 12: Ổ viêm 14 ngày sau khi tiêm nhũ dầu 23

Hình 13: Mô cơ cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 21 ngày 24

Hình 14: Biến đổi mô cơ cá Giò 3 ngày sau khi tiêm vắc xin bất hoạt 25

Hình 15: Ổ viêm hình thành sau 7 ngày tiêm vắc xin 27

Hình 16: Ổ viêm hình thành trong cơ 14 ngày sau khi tiêm vắc xin, H&E; ×40 28

Hình 17: Hình thành 4 lớp tế bào tại ổ viêm 14 ngày tiêm vắc xin bất hoạt 29

Hình 18: Ổ viêm hình thành trong cơ 21 ngày sau khi tiêm vắc xin 31

Hình 19: Các lớp tế bào trong ổ viêm sau 21 ngày tiêm vắc xin, H&E;× 1000 32

Hình 20: Mô cơ 1 ngày sau khi tiêm vắc xin nhũ dầu, H&E;×100 33

Hình 21: Cấu trúc cơ bị biến đổi sau khi tiêm 1 ngày 34

Hình 22: Tiêu bản mô cơ 3 ngày sau sau khi tiêm vắc xin nhũ dầu, H&E 35

Hình 23: Mô cơ cá Giò 3 ngày sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu, H&E; ×40 35

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 v Đại học Nha Trang

Hình 24: Biến đổi mô học cá Giò 3 ngày sau khi tiêm vắc xin nhũ dầu 37

Hình 25: Tiêu bản mô cơ 7 ngày sau khi tiêm vắc xin nhũ dầu 38

Hình 26: Ổ viêm (khoanh tròn) sau 7 ngày tiêm vắc xin nhũ dầu 38

Hình 27: Biến đổi mô tại ổ viêm 7 ngày sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu 39

Hình 28: Các lớp tế bào hình thành sau 7 ngày tiêm vắc xin nhũ dầu, H&E; ×1000. 41

Hình 29: Tiêu bản mô cơ cá Giò 14 ngày 42

Hình 30: Ổ viêm sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu 14 ngày, H&E; ×100 42

Hình 31: Biến đổi mô tại ổ viêm sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu 14 ngày 43

Hình 32: Mô cơ sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu 21 ngày 45

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 vi Đại học Nha Trang

Danh mục từ viết tắt

BKD : Bacteria Kiney Disease (Bệnh vi khuẩn ở thận)

CFA : Complete Freund’s Adjuvant (Chất bổ trợ hoàn chỉnh)

e : erythrocyte ( Tế bào Hồng cầu)

ERM : Enteric Redmouth (Bệnh xuất huyết đường tiêu hóa)

FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc)

H&E : Hematocylin và Eosin

L : Lympho bào

M : Macrophago (Đại thực bào)

NTTS: Nuôi trồng thủy sản

O : Drop oil (Giọt dầu)

SRBC: Seep Red Blood Cells (Hồng cầu cừu)

WBC : White blood cell (bạch cầu)

Trang 7

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 1 Đại học Nha Trang

Phần I: LỜI MỞ ĐẦU

- -

1.1 Đặt vấn đề

Cá Giò (Rachycentron canadum) là một trong những đối tượng nuôi mới có giá trị

cao trong nghề nuôi cá biển Việt Nam Tuy nhiên đây cũng là đối tượng gặp rủi ro

về dịch bệnh, nhất là vào thời điểm tháng 4-5 và tháng 8-9 hàng năm là thời điểm cá Giò nuôi phát bệnh mạnh Trong số những tác nhân gây bệnh thì vi khuẩn chiếm tỷ

lệ khá lớn, đã phân lập được một số loài: Vibrio alginiticus, V.vulnificus, V.cholene, V.parahaemolyticus, V.anguillarum và một loài Pseudomonas sp (Phan Thị Vân và

ctv, 2006) Bệnh do vi khuẩn Vibrio gặp với tỉ lệ cao lên tới 100% ở cá nuôi lồng, 58,3% ở cá nuôi ao và mọi kích cỡ đều có thể nhiễm bệnh (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2008) Năm 2000, bệnh Vibriosis đã phát tán thành dịch trên cá Giò giống ở Đài Loan với tỉ lệ chết khoảng 45% gây thiệt hại khá lớn

Những nghiên cứu trước đây cho thấy phòng bệnh vi khuẩn cho cá bằng vắc xin

có hiệu quả cao, khắc phục được nhược điểm của việc sử dụng hóa dược trị bệnh như: bệnh Vibriosis, bệnh do Vibrio mùa lạnh, bệnh xuất huyết đường tiêu hóa (ERM), bệnh lở loét (furunculosis) (Ellis 1997; Gudding và ctv,1997) trên cá Hồi Trước tình hình phát triển của nghề nuôi cá biển và dịch bệnh ngày càng gia tăng,

Bộ Thủy sản đã giao cho Viện nghiên cứu NTTS 1 thực hiện đề tài “Nghiên cứu và sản xuất vắc xin phòng bệnh Vibriosis trên cá Giò” Đến nay đề tài đã đạt được

một số thành công bước đầu và đang tiến hành giai đoạn thử nghiệm vắc xin trên cá Giò tại một số tỉnh như Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hòa

Theo Robert R.J và ctv (2001), nhiều loại vắc xin chưa được sử dụng trong các sản phẩm thương mại do gây nên phản ứng viêm cục bộ tại vị trí dẫn truyền kháng nguyên Viêm là một đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu đầu tiên của cơ thể trước

sự tấn công của tác nhân gây bệnh Đặc điểm cơ bản của phản ứng viêm là tăng tính thấm thành mạch, hóa ứng động bạch cầu đến ổ viêm, tiết các chất nhằm tiêu diệt hoặc trung hòa các tác nhân gây tổn thương Khi viêm không lành sẽ có thể trở

Trang 8

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 2 Đại học Nha Trang

thành viêm mãn tính, sinh sản có giới hạn về không gian thời gian và ngừng lại khi hết kích thích

Nghiên cứu cơ chế viêm là một phần quan trọng trong nghiên cứu đáp ứng miễn dịch của cơ thể cá sau khi tiêm vắc xin Những nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu cơ chế viêm trên cá sau khi tiêm vắc xin còn hạn chế Do đó, Viện nghiên cứu NTTS 1

đã cho phép tôi thực hiện nội dung nghiên cứu nhỏ với tiêu đề “Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá Giò (Rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

 Nghiên cứu biến đổi mô học tại vùng tiêm kháng nguyên

 Bước đầu nghiên cứu khả năng gây đáp ứng miễn dịch của các thành phần chính trong vắc xin gồm nhũ dầu, vi khuẩn bất hoạt và nhũ dầu kết hợp với vi khuẩn bất hoạt

1.3 Nội dung nghiên cứu

 So sánh biến đổi mô học tại vị trí tiêm nhũ dầu, vi khuẩn bất hoạt và vắc xin nhũ dầu trên cơ cá Giò bằng phương pháp mô học ở 1, 3, 7, 14, 21 ngày sau khi tiêm

 Bằng phương pháp mô học có thể phát hiện được một số loại tế bào tham gia trong phản ứng viêm của cá Giò

Trang 9

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 3 Đại học Nha Trang

Phần II: TỔNG QUAN - - 2.1 Tình hình nuôi cá Giò trên Thế giới và ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình nuôi cá Giò trên Thế giới

Cá Giò (Rachycentron canadum) là đối tượng nuôi mới có nhiều triển vọng, đã

được nhiều nước trên thế giới từ Bắc Mỹ tới châu Á tiến hành nghiên cứu và đưa vào sản xuất Ở khu vực Bắc Mỹ đã cho sinh sản nhân tạo thành công bằng cách tiêm hooc môn sinh dục cho cá bố mẹ thu ngoài tự nhiên và tiến hành nuôi thương phẩm cá Giò (Arnold, 2002; Lê Xân và Nguyễn Quang Huy, 2005) Hiện nay, cá Giò được nuôi thương mại ở rất nhiều nước trên thế giới như Mexico, Mỹ, Trung Quốc, Philippin… (FAO, 2006)

Những năm gần đây, nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Châu Á phát triển mạnh, đặc biệt là nghề nuôi biển Cá Giò được xem là đối tượng mới với nhiều ưu điểm và tiềm năng để phát triển thành đối tượng nuôi thương phẩm, có giá trị kinh tế cao Cá Giò có thể trở thành ứng viên xuất sắc cho sự phát triển trong tương lai của ngành nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực này Mặc dù tình hình nuôi cá Giò hiện nay còn gặp không ít khó khăn, song theo đánh giá của Niels Svennevig (2001) thì những điều kiện phát triển ban đầu của cá Giò dường như còn tốt hơn so với cá hồi Đại Tây Dương

Tại Trung Quốc, từ năm 1992 đã bắt đầu tiến hành nuôi cá Giò (Yu, 1999) đến năm 1997 đã có được công nghệ sản xuất giống hàng loạt (Yeh, 1998) Cá Giò nhanh chóng chiếm ưu thế và trở thành loài nuôi công nghiệp trong hệ thống nuôi lồng xa bờ Đến năm 1999, Trung Quốc đã có 4 trại sản xuất cá bột và cá giống, riêng năm 1998 sản xuất được 1,4 triệu cá bột; năm 1999 sản xuất được trên 2 triệu

cá bột chuyển cho các vùng nuôi trong nước và xuất khẩu sang Việt Nam

Đài Loan là nước đầu tiên nghiên cứu về sinh sản nhân tạo giống cá Giò từ năm

1990 và đến năm 1997 đã đưa ra được quy trình công nghệ sản xuất con giống hàng

Trang 10

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 4 Đại học Nha Trang

loạt (Chang và ctv, 1999) Cho đến nay Đài Loan là nước dẫn đầu về sản xuất giống

và nuôi thương phẩm cá Giò, chiếm 80% lồng nuôi biển với sản lượng đạt 1.500 tấn năm 1999 (Su và ctv, 2000) và đạt 5.000 tấn năm 2004 (Nguyễn Quang Huy và ctv, 2008)

Ngoài ra, cá Giò đã và đang được sản xuất giống và nuôi thương phẩm tại một số nước như Nhật Bản, Mỹ, Austraylia, Trung Quốc, Malaysia, Singapo, Cu Ba, Hàn Quốc và Việt Nam…

2.1.2 Tình hình nuôi cá Giò tại Việt Nam

Việt Nam được xem là nước đứng “hàng thứ 3” trên thế giới về sản xuất giống và nuôi cá Giò (Niels Svennevig, 2001) Những năm gần đây, bên cạnh các đối tượng

nuôi biển khác như cá Song (Epinephelus spp), cá Hồng (Lutjanus spp), cá Cam (Seriola dummerili), tôm Hùm (Panurilus spp), Trai ngọc (Pinctada spp)…, cá Giò

là đối tượng nuôi hấp dẫn và được nuôi khá phổ biển ở các vùng kín sóng gió ở các tỉnh như Quảng Ninh, Hải phòng, Nghệ An ở phía Bắc và Vũng Tàu, Kiên Giang và nhất là khu vực phía Nam (Nguyễn Quang Huy, 2002) Cá Giò đã được các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Hải sản bắt đầu nghiên cứu từ năm 1995, đến nay công nghệ sản xuất giống đã và đang được hoàn thiện Đây được đánh giá là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, tỷ lệ sống, năng suất nuôi cao (KHCN&KT Thủy sản, 2004)

2.2 Tình hình bệnh vi khuẩn trên cá Giò

2.2.1 Tình hình bệnh vi khuẩn cá Giò trên Thế giới

Cá Giò được đánh giá là nhạy cảm với ba nhóm tác nhân chính là virus, vi khuẩn

và kí sinh trùng làm cản trở việc phát triển công nghiệp sản xuất giống thủy sản cũng như nuôi thương phẩm Các bệnh virus Lymphocystis và bệnh ký sinh trùng

Myxosporidosis do Trichodina spp, Neobenedenia spp và Amylodinium spp cũng có

thể ảnh hưởng đến cá Giò (Kaiser và Holt, 2005) Tuy nhiên, theo các báo cáo thì bệnh do vi khuẩn gây ra lại chiếm tỷ lệ khá lớn như bệnh Mycobacteriosis,

Trang 11

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 5 Đại học Nha Trang

Vibriosis và Streptococcosis do các tác nhân Mycobacterium marinum, Vibrio anguillarum và V ordalii, Pasteurella piscicida và Streptococcus spp (Liao và ctv,

2004; Lowery và Smith, 2006)

Năm 2000, bệnh Vibriosis phát tán thành dịch trên cá Giò giống ở Đài Loan, tỉ lệ

chết khoảng 45% V.alginolyticus đã thấy xuất hiện trên cá Giò ở kích thước

100-120g và 8-12 g và được phân lập, xác định là tác nhân gây bệnh chính, ngoài ra còn

có sự có mặt của V.vulnificus và V.parahaemolyticus (Rajan và ctv, 2001) với tỷ lệ

nhiễm tới 100% (Reed và Francis-Floyd, 2002) và tỷ lệ chết trên 80% (Liu và ctv, 2004) Theo Liu và ctv (2004) đã xác định vi khuẩn Vibrio là một tác nhân gây bệnh chính trên cá Giò với những biểu hiện như: xuất huyết mang, đầu, bụng và các gốc vây, đặc biệt là các vây ngực, xuất huyết trong gan và ruột, đôi khi có thể là viêm loét vây lưng và cơ bụng (Liu và ctv, 2006)

2.2.2 Tình hình bệnh vi khuẩn trên cá Giò tại Việt Nam

Ở nước ta mùa vụ dịch bệnh của cá Giò khá rõ ràng, xuất hiện vào các tháng 11 và

12 trong năm Tỷ lệ chết cao 50% - 60%, nhất là vào thời điểm cuối năm gắn với thời tiết lạnh và thường chết vào gần sáng Cá chết ở kích cỡ nhỏ hơn 0.6kg chiếm tới 65% (30.90% với cá kích cỡ nhỏ hơn 0.4kg và 35,95% với cá kích cỡ từ 0.4 đến 0.6kg) Tỷ lệ chết giảm dần theo kích cỡ cá từ nhỏ đến lớn, điều này có thể cho thấy

cá nhỏ nhạy cảm với tác nhân gây bệnh hơn

Đối với bệnh vi khuẩn đã phân lập được một số loài vi khuẩn sau: Vibrio alginiticus, V.vulnificus, V.cholene, V.parahaemolyticus, V.anguillarum và 1 loài Pseudomonas sp Hai nhóm vi khuẩn Vibrio spp và Pseudomonas sp luôn tồn tại

trong nước biển, khi điều kiện môi trường thay đổi xấu làm cá yếu, vi khuẩn sẽ xâm nhập và gây thành bệnh (Phan Thị Vân và ctv, 2006)

Theo Đỗ Thị Hòa và ctv (2008), bệnh Vibriosis đã được phát hiện trên cá Giò nuôi tại trang trại ở Khánh Hòa Cá bệnh xuất hiện các vết thương tổn trên bề mặt

cở thể, tróc vẩy và xuất huyết dưới da, nặng hơn có các vết loét sâu trên bề mặt cơ thể Cá bệnh bơi lờ đờ trên mặt nước, kém ăn hoặc bỏ ăn, chết lác đác và mọi kích

Trang 12

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 6 Đại học Nha Trang

thước cá đều có thể nhiễm bệnh Bệnh Vibriosis có tỷ lệ gặp cao ở cá nuôi lồng

(100%), cá nuôi ao gặp thấp hơn (58,3%) Một số loài vi khuẩn Vibrio spp đã phân lập được từ nội tạng cá bệnh, trong đó Vibrio anguillarum đã gây bệnh trong điều

kiện nhân tạo (60-80%) với liều tiêm 0,3ml huyền dịch có mật độ vi khuẩn 4.106 - 4.107 tb/ml sau 3 ngày tiêm

2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng vắc xin trong nuôi trồng thủy sản

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng vắc xin trong NTTS trên thế giới

Vắc xin là một chế phẩm có tính kháng nguyên từ toàn bộ hoặc một phần chiết từ sinh vật nhiễm bệnh, được sử dụng để tăng cường phản ứng miễn dịch đặc trưng của vật chủ mẫn cảm Vắc xin phòng bệnh trong NTTS được bắt đầu nghiên cứu và phát triển từ năm 1973, đến cuối những năm 1987 thì được đưa vào sử dụng (Newman và ctv, 1993) Tháng 7 năm 2005, đã có 35 loại vắc xin phòng bệnh vi khuẩn và 2 loại vắc xin phòng bệnh virus được đăng ký bản quyền và sử dụng cho 6 đối tượng nuôi phổ biến trên 41 quốc gia trên thế giới bao gồm cá Hồi, cá Chẽm Châu Âu, cá Chẽm Châu Á, cá Rô phi, cá Turbot, và cá Bơn đuôi vàng Tại Na Uy, việc sử dụng vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn gây ra tỏ ra rất có hiệu quả Những nghiên cứu trước đây cho thấy phòng bệnh cho cá bằng vắc xin ở quy mô thương mại đã được thực hiện rất hiệu quả trong nghề nuôi cá hồi nhằm phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn: Bệnh do Vibrio (vibriosis), bệnh do Vibrio mùa lạnh (cold water vibriosis), bệnh xuất huyết đường tiêu hóa (enteric redmouth-ERM), bệnh lở loét (furunculosis) (Ellis 1997; Gudding và ctv, 1997)

Hiện nay, có nhiều phương pháp sử dụng vắc xin trong NTTS khác nhau như: tiêm, cho ăn, ngâm, tắm, phun… Tuy nhiên, phương pháp tiêm được áp dụng khá phổ biến nhất là trong nghề nuôi cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar) Tiêm vắc xin

có thể tiêm xoang bụng hoặc tiêm cơ Nhiều tác giả thông báo rằng việc tiêm kháng nguyên vào cơ tạo nên lượng kháng thể lớn hơn so với tiêm vào xoang bụng Cá giống được tiêm vắc xin vào xoang bụng nhiều tháng trước khi đưa cá ra nuôi lồng

ở biển Đây là phương pháp có hiệu quả nhất để kích thích sản xuất kháng thể toàn

Trang 13

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 7 Đại học Nha Trang

thân cũng như tạo được hiệu quả bảo vệ tốt nhất Phương pháp này cũng cho phép việc sử dụng chất bổ trợ nhằm gia tăng đáp ứng miễn dịch VD: Tiêm SRBC (sheep red blood cell) vào cơ cá chép tạo nên lượng kháng thể cao hơn so với tiêm vào tĩnh mạch (Rijkers và ctv 1980) Ngoài ra còn phải kể đến các nhân tố khác tác động tới

hiệu quả sử dụng vắc xin ở cá như tuổi cá, mùa vụ, nhiệt độ

Chất bổ trợ là chất làm tăng đáp ứng miễn dịch, bao gồm nhiều chất khác nhau, cơ chế tác dụng của chúng rất đa dạng và nhiều trường hợp vẫn chưa được làm rõ Trong đáp ứng miễn dịch dịch thể, đặc biệt với kháng nguyên phụ thuộc tuyến ức,

có thể được tăng cường khi kết hợp kháng nguyên với chất bổ trợ như trường hợp vắc xin phòng bệnh Aeromonas (Paterson và ctv, 1981), hoặc BKD (Klonz và ctv, 1983) Trong các trường hợp này có lẽ có vai trò tăng cường đáp ứng miễn dịch của kháng nguyên hoặc có tác dụng kích hoạt đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu hoặc

cả hai vai trò này Do hiệu quả bảo vệ khi sử dụng chất bổ trợ mang lại trong các loại vắc xin hiện hành mà mọi thử nghiệm đánh giá hiệu quả vắc xin hiện hành đều

sử dụng kết hợp với chất bổ trợ Tuy nhiên, một số chất bổ trợ mang lại hiệu quả bảo vệ cao trong thử nghiệm vẫn chưa được sử dụng trong các sản phẩm thương mại do các chất này gây nên phản ứng viêm cục bộ tại vị trí dẫn truyền kháng nguyên và gây ra các tác dụng phụ khác Nhìn chung kháng nguyên hòa tan cần phải được sử dụng phối hợp với chất bổ trợ mới có thể tạo nên đáp ứng miễn dịch dịch thể

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng vắc xin trong NTTS ở Việt Nam

Tại Việt Nam việc nghiên cứu và phát triển vắc xin trên cá còn hạn chế Đến nay,

ở nước ta chưa có bất kỳ một loại vắc xin nào đã phát triển và ứng dụng thành công trong NTTS và thích ứng được với nhu cầu thị trường Năm 2006, Bộ Thủy sản cũng đầu tư một dự án sản xuất vắc xin cho các đối tượng cá Tra, cá Basa, cá Mú,

cá Giò, cá Hồng nuôi công nghiệp nhưng cũng chưa có kết quả Những nghiên cứu

về miễn dịch học, trong đó có tìm hiểu cơ chế viêm trên đối tượng thủy sản ở nước

Trang 14

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 8 Đại học Nha Trang

ta còn ở giai đoạn sơ khởi và chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu cơ chế viêm ở cá sau khi tiêm vắc xin

2.4 Cơ chế viêm trong đáp ứng miễn dịch ở cá

Viêm là hiện tượng xảy ra ở tổ chức tế bào, là phản ứng phòng vệ của sinh vật trước sự tấn công hay kích thích từ bên ngoài lên cơ thể thông qua phản xạ của hệ thống thần kinh Đây là một quá trình bệnh lý cơ bản, bao gồm một số quá trình nhỏ sau:

 Biến đổi về chất của tổ chức tế bào tại vùng viêm

Tại vùng viêm, dưới tác dụng của tác nhân gây bệnh gây ra một số tế bào sẽ bị chết Khi chứng viêm bắt đầu, biến đổi về chất của tế bào xảy ra ưu tiên ở chính giữa ổ viêm, còn xung quanh biến đổi về chất không rõ ràng Nguyên nhân làm thay đổi về chất của tế bào do trao đổi chất bị rối loạn, thiếu chất dinh dưỡng cung cấp đến và do những kích thích cơ và hóa học cục bộ của tác nhân gây bệnh Mặt khác,

hệ thống tuần hoàn bị rối loạn, làm tế bào phát sinh những biến đổi gây hoại tử Kết quả của quá trình này tạo ra các chất phân giải như protein và các axit hữu cơ

 Tăng cường sự thẩm thấu của các tế bào máu và dịch thể

Khi cơ thể sinh vật có chứng viêm, dịch thể và các tế bào máu thẩm thấu qua thành mạch máu, đi vào tổ chức tế bào đang bị viêm Tại ổ viêm, đầu tiên mạch máu có sự thay đổi, do kích thích, động mạch nhỏ co lại, thời gian co rất ngắn sau

đó lại được nở ra các mao quản trong vùng viêm cũng nở ra, lúc này một lượng máu lớn hơn bình thường được đưa đến mạch máu gần ổ viêm Tính thẩm thấu qua vách mạch máu cũng tăng lên, đặc biệt khi ổ viêm nặng Nhiều thành phần máu được thẩm thấu gồm: Globulin miễn dịch, hồng cầu thẩm thấu qua thành mạch máu một cách bị động, các loại bạch cầu thẩm thấu một cách chủ động Tại tổ chức tế bào bị viêm, bạch cầu tiêu diệt tác nhân và các loại tế bào chết bằng cách bao vây và tiết men để tiêu hóa, đây là hiện tượng thực bào Các thể Globulin miễn dịch có nhiệm

vụ kết hợp với các kháng nguyên trung hòa độc tố Như vậy, kết quả của quá trình

Trang 15

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 9 Đại học Nha Trang

thẩm thấu qua thành mạch máu là tiêu diệt tác nhân, trung hòa độc tố và làm sạch vết thương

 Tăng sinh tế bào

Cùng với hiện tượng tăng quá trình thẩm thấu của các thành phần máu qua vách mạch máu, tới ổ viêm, các tế bào xung quanh ổ viêm có hiện tượng tăng sinh tế bào, với mục đích phục hồi lại các tế bào đã chết của tổ chức, bao vây cô lập tác nhân Bất kỳ một chứng viêm nào của cơ thể sinh vật cũng xảy ra 3 quá trình nêu trên và

có quan hệ mật thiết với nhau Đây cũng là một trong nhiều bản năng tự vệ của cơ thể trước sự xâm nhập của tác nhân lạ

Đến nay, trên thế giới đã có một số nghiên cứu về cơ chế viêm của cá sau khi tiêm vắc xin nhằm nâng cao hiệu quả của vắc xin trong phòng bệnh Cơ chế hình thành phản ứng viêm ở cá, nhìn chung tương tự như ở động vật có vú Ngoại trừ điểm khác biệt là cá không có histamine, chức năng xúc tác của histamine được thay thế bởi 5-hydroxytryptamin (serotonin) (Nilsson & Holmgren 1992) Đáp ứng tế bào trong phản ứng viêm trải qua 2 giai đoạn, thoạt đầu là sự gia tăng số lượng bạch cầu trung tính từ máu chuyển đến, tiếp sau là sự xuất hiện của bạch cầu đơn nhân và đại thực bào tại ổ viêm Bạch cầu trung tính tập trung khoảng 1 giờ sau khi tiêm tác nhân gây viêm và số lượng sẽ đạt cực đại sau 48 giờ (Afonso ctv,1998) Phản ứng viêm được kích ứng và kiểm soát bởi một số yếu tố, bao gồm các amin gây giãn mạch, các bổ thể, eicosanoid và cytokine được giải phóng trong đáp ứng đối với tổn thương mô hoặc sản phẩm của các tác nhân gây bệnh Các amin gây giãn mạch (5-hydroxytryptamin) là các nhân tố tiền phát, phản ứng nhanh Sau đó các yếu tố mới được tổng hợp như eicosanoid và cytokine sẽ thu hút và hoạt hóa các bạch cầu Sau khi tới ổ viêm, bạch cầu sẽ giải phóng các yếu tố nhằm điều hòa phản ứng viêm (Secombes 1996)

Trang 16

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 10 Đại học Nha Trang

Phần III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- - 3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện từ 20/02/2010 tới 18/06/2010

 Địa điểm:

+ Tiến hành bố trí thí nghiệm và thu mẫu tại Cam Ranh - Khánh Hòa

+ Tiến hành phân tích và xử lý mẫu tại: Phòng bệnh cá, Trung tâm Nghiên cứu

Quan trắc và Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa dịch bệnh Thủy sản khu vực miền Bắc - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 (Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh)

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Ngành: Chordata

Lớp: Actinopterygii

Bộ: Perciformes

Họ: Rachycentridae

Giống: Rachycentron (Kaup, 1826)

Loài: Rachycentroncanadum (Linnaeus, 1766)

Hình 1: Cá Giò (Rachycentroncanadum)

(Nguồn: Trung tâm khuyến ngư Quốc gia)

Trang 17

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 11 Đại học Nha Trang

Tên tiếng Việt: Cá Giò, cá Bớp, cá Bóp

Tên tiếng Anh: Cobia, Black Kingfish, lemonfish

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài

Hình 2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 18

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 12 Đại học Nha Trang

3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Vắc xin bất hoạt vi khuẩn Vibrio: PAH 3: 3: 3 (Do Viện Nghiên cứu NTTS 1 sản xuất)

Hình 3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Trang 19

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 13 Đại học Nha Trang

Hình 4:Vắc xin bất hoạt vi khuẩn Vibrio và nhũ dầu

Hình 5:Các bể bố trí thí nghiệm

Trang 20

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 14 Đại học Nha Trang

3.3.3 Phương pháp nghiên cứu mô học

Áp dụng phương pháp mô bệnh học ( Histopathological method ) truyền thống, phương pháp này đã được ứng dụng cho nghiên cứu ở động vật thủy sản và được giới thiệu bởi D.V Lightner (1996)

Sơ đồ khối các bước thực hiện của phương pháp mô bệnh học

Hình 6: Các bước thực hiện của phương pháp mô bệnh học

Cố định và bảo quản mẫu: Dùng dụng cụ giải phẫu cắt lấy một miếng nhỏ

(khoảng 0,5cm3) mô từ cơ để cố định trong dung dịch fomalin 10%: 100ml; Distilled water 900ml; Acidsodiumphosphate monohydrate (NaH2PO4.H2O) 0,4 g; Anhydrous disodiumphosphate (Na2HPO4) 6,5g, tỷ lệ về thể tích giữa mẫu và dung dịch cố định là 1/10 Mẫu này được giữ trong dung dịch cố định từ 24-48 giờ tùy thuộc vào khối mẫu lớn hay nhỏ mà thời gian cố định khác nhau Sau thời gian cố

Trang 21

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 15 Đại học Nha Trang

định, mẫu được bảo quản trong cồn Etanol 70% Thời gian để bảo quản trong cồn Etanol không giới hạn Tuy vậy, mẫu càng nhanh xử lý các bước tiếp theo càng tốt Khi cố định và bảo quản cần ghi nhãn để tránh nhầm lẫn

Xử lý mẫu: Mẫu được lấy ra khỏi cồn 70% và được làm mất nước bằng cách

ngâm trong dung dịch cồn etanol với liều lượng tăng dần (70%, 95% và 100%) trong 4 giờ cho mỗi nồng độ cồn Sau đó tiếp tục ngâm mẫu trong dung dịch Methyl salicylate từ 12-24h để làm mềm mẫu, rồi thấm parafin vào mẫu bằng cách ngâm các mẫu này trong parafin nóng chảy (600C) với thời gian ít nhất là 6h

Đúc mẫu trong Parafin: Lấy mẫu đã ngâm trong parafin, phân bố vào các

khuôn, ghi nhãn để không bị nhầm lẫn, sau đó đổ parafin nóng chảy vào khuôn, dùng panh để sắp xếp mẫu vào chính giữa khuôn, chuyển vào dàn lạnh để khối mẫu nhanh chóng đông cứng thành khối parafin chứa mẫu ở trong

Cắt và sấy mẫu: Mẫu sau khi đúc parafin xong, được gọt thành khối hình

thang cân hoặc hình chữ nhật Sau đó, gắn lên máy Microtom và tiến hành cắt mẫu

với độ dày lát cắt 4-5µ Lát cắt được đưa vào nước ấm 40-500C trong khoảng 1-2 phút có thể lâu hơn để mẫu giãn hết cỡ không bị nhăn, trong nước ấm có bổ sung lòng trắng trứng gà Tiếp theo, dùng lam sạch lấy lát cắt ra khỏi nước và đặt lên máy sấy ở nhiệt độ 45-600C trong 1-4 giờ

Phương pháp nhuộm Hematoxyline và Eosin (H&E): Nhằm để phát hiện

những biến đổi trong tổ chức mô và tế bào khi nhiễm bệnh Quy trình thực hiện nhuộm H&E như sau:

Trang 22

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 16 Đại học Nha Trang

 Etanol 95% 2-3 phút

 Etanol 95% 2-3 phút

 Etanol 75% 2-3 phút

 Etanol 50% 2-3 phút

 Rửa nước: nhúng trong nước từ 1-3 phút

 Nhuộm Hematoxyline – Mayer từ 4-6 phút

 Rửa qua nước chảy nhẹ từ 4-6 phút

 Đậy lamel bằng Bomcanada

Đọc các tiêu bản nhuộm H &E dưới kính hiển vi quang học ở các độ phóng đại:

×40, ×100, ×400 và ×1000 để phát hiện các biến đổi trong tế bào và trong mô cá ở

1, 3, 7, 14, 21 sau khi tiêm nhũ dầu vắc xin không kết hợp với nhũ dầu và vắc xin

có nhũ dầu

Trang 23

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 17 Đại học Nha Trang

Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

- - 4.1 Kết quả nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm mô học cơ cá Giò khỏe

Tiến hành tiêm cá Giò vào vị trí cơ lưng, cấu tạo chủ yếu là mô cơ vân

Hình 7: Mô cơ cá Giò bình thường

(sợi vân ngang (vùng B) và vân dọc (vùng C), H&E; A(×40), B(×100), C(×400), D(×1000)).

Hình 7 là tiêu bản mô cơ cá Giò khỏe ở các độ phóng đại khác nhau ×40, ×100,

×400, ×1000 Mô cơ vân bao gồm rất nhiều các sợi cơ liên kết với nhau, xếp song

Trang 24

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 18 Đại học Nha Trang

song thành từng bó đều đặn, cấu trúc liên kết chặt chẽ, rất ít bắt gặp các tế bào máu trong cơ và bắt màu hồng của thuốc nhuộm Eosin Quan sát được cơ vân cắt ngang

và cơ vân cắt dọc vì chúng sắp xếp theo nhiều hướng khác nhau (Hình 7A)

Mỗi sợi cơ vân là một tế bào có dạng hình thoi do các tơ cơ, tương cơ và màng

sợi cơ tạo thành Trên tiêu bản sợi cơ cân cắt ngang (Hình 7B) và sợi cơ vân cắt dọc

ở độ phóng đại lớn: sợi cơ được bao bọc bởi một màng liên kết gọi là màng ngoài

sợi cơ, sát mặt trong màng có một hay nhiều nhân hình trứng, bầu dục (Hình 7C) Bên trong sợi cơ dọc theo chiều dài là các tơ cơ giống như sợi chỉ xếp song song với nhau và ít bắt gặp các tế bào máu (Hình 7D)

4.1.2 Biến đổi mô học cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu

1 ngày sau khi tiêm: Mô cơ xuất hiện những không bào (O) Tuy nhiên, cấu trúc cơ không bị biến đổi so với mô bình thường

3 ngày sau khi tiêm

- Quan sát trên tiêu bản mô học

cơ cá Giò 3 ngày sau khi tiêm nhũ

dầu ở vật kính nhỏ ×40 (Hình 8)

nhận thấy xuất hiện vùng viêm

rộng ( ) nằm ngay dưới da, làm

cấu trúc cơ bị biến đổi khá nhiều

so với vùng mô bình thường bên

Da

O

Trang 25

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 19 Đại học Nha Trang

những giọt dầu sau khi tiêm vào cơ lưng cá Giò được phân tán rải rác xen kẽ giữa

những sợi cơ (Hình 8)

Hình 9: Ổ viêm hình thành trong mô cơ 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu

(H&E; ×100, Giọt dầu(O), vùng cơ bị hoại tử (khoanh tròn),vùng cơ chưa bị hoại tử ( ))

Vùng cơ rộng lớn đang bị hoại tử nghiêm trọng nằm ngay dưới lớp da cá Giò, bắt

màu thuốc nhuộm không đồng đều (Hình 9) Trung tâm ổ viêm có nhiều giọt dầu và

mô cơ đang dần bắt màu của thuốc nhuộm Hematocylin Bên cạnh đó là những vùng cơ bình thường chưa bị biến đổi (hình mũi tên), bắt màu hồng của thuốc nhuộm Eosin Vùng cơ bị hoại tử (khoanh tròn) có các sợi cơ bị phá hủy, rách nát, nhất là quanh những giọt dầu (O) hầu như không còn nhìn thấy cấu trúc của cơ Liên kết trong mô lỏng lẻo, thưa dần tạo ra những khoảng rỗng lớn bắt màu thuốc

nhuộm không được rõ ràng khi quan sát ở độ phóng đại nhỏ Điều này cho thấy hiện

tượng hoại tử diễn ra mạnh nhất tại trung tâm ổ viêm, mức độ giảm dần ra vùng ngoại vi của ổ viêm

Trang 26

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 20 Đại học Nha Trang

Hình 10: Biến đổi mô cá Giò tại ổ viêm 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu

(H&E; A(×400); B, C, D (×1000) Vùng cơ bị hoại tử ( ),sợi cơ đang bị hoại tử ( ), hồng

cầu (e),bạch cầu (WBC))

Quan sát trên kính hiển vi ở các độ phóng đại lớn hơn (Hình 10) có thể thấy rõ sự

biến đổi mô học cũng như phản ứng của cơ thể trước tác nhân lạ Tại vùng viêm

(Hình 10A), nhất là quanh những giọt dầu không còn sự hiện diện của sợi cơ, thay

vào đó là sự một vùng cơ bị hoại tử ( ) bắt màu tím đậm của Hematocylin Rải rác có những mảnh vụn của sợi cơ ( ) chưa bị hoại tử hoàn toàn, do có cấu trúc

ưa acid, chủ yếu là các protein nên bắt màu hồng của Eosin

Trang 27

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 21 Đại học Nha Trang

Ở độ phóng đại lớn (×1000) có thể quan sát được các tế bào tham gia đáp ứng viêm Xuất hiện nhiều tế bào máu hồng cầu (e) và bạch cầu (WBC) di chuyển xen

kẽ giữa các sợi cơ đang bị phá hủy tới trung tâm vùng viêm (Hình 10B,C) Chủ yếu

là các tế bào bạch cầu có nhân, hình dạng, kích thước rất khác nhau tuỳ từng loại và rải rác có các tế bào hồng cầu Bạch cầu khác hồng cầu ở chỗ không có Hemoglobin nên không có màu, nhân ưa kiềm bắt màu tím của Hematocylin Có 2 loại bạch cầu là: bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân) và bạch cầu không hạt (bạch cầu đơn nhân) Tại trung tâm ổ viêm, tập trung lượng lớn bạch cầu có hạt tới tham gia làm nhiệm vụ

thực bào, bao vây và tiêu diệt tác nhân lạ (Hình 10D)

Nhìn chung, sau khi tiêm nhũ dầu 3 ngày có sự biến đổi trong mô khá rõ rệt so với

1 ngày sau khi tiêm Đã hình thành ổ viêm rộng lớn nằm ngay dưới da và còn tiếp tục lan rộng ra vùng mô lân cận Trong khi đó 1 ngày sau khi tiêm chỉ xuất hiện giọt dầu, ngoài ra không có hiện tượng hoại tử hay biến đổi nào khác Biến đổi về chất của tế bào xảy ra ưu tiên ở chính giữa ổ viêm, xung quanh biến đổi không rõ ràng Dịch thể và các tế bào máu quan sát được như hồng cầu, bạch cầu thẩm thấu qua thành mạch máu, đi vào tổ chức tế bào đang bị viêm Lượng bạch cầu tăng đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn, cho thấy phản ứng nhanh chóng của cơ thể khi có tác nhân lạ xâm nhập Tuy nhiên không quan sát được rõ hình dạng, nhất là nhân tế bào nên không thể xác định chính xác đó là loại bạch cầu gì tham gia trong phản ứng viêm sau khi tiêm nhũ dầu Đa số các bạch cầu này có nhân lớn, không tròn, hơi lệch về một phía và bắt màu tím đậm của Hematocylin

Trang 28

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 22 Đại học Nha Trang

7 ngày sau khi tiêm

Hình 11: Mô cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 7 ngày

(A:×400; B, C, D:×1000 Giọt dầu, các tế bào máu ( ))

Qua quan sát trên tiêu bản mô cơ 7 ngày sau khi tiêm nhũ dầu (Hình 11), nhận

thấy ít có sự biến đổi, hoại tử hơn so với 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu Mô cơ bắt màu hồng của Eosin, các sợi cơ xếp song song, một số ít bị đứt gãy và không có hiện tượng hoại tử nghiêm trọng Trong cơ chỉ còn xuất hiện rải rác rất ít giọt dầu,

lượng tế bào máu tập trung tới đây cũng ít hơn (Hình 11A) Các tế bào máu xen kẽ

giữa các sợi cơ như hồng cầu, bạch cầu cũng giảm đáng kể so với 3 ngày sau khi

tiêm nhũ dầu (Hình 11B,C) Tại quanh giọt dầu các tế bào bạch cầu tạo thành lớp

O

O

Trang 29

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 23 Đại học Nha Trang

bao vây và làm nhiệm vụ thực bào, không nhìn rõ hình dạng các tế bào này và

chúng bắt màu khá đậm của Hematocylin so với những vùng cơ khác (Hình 11D)

14 ngày sau khi tiêm

Hình 12: Ổ viêm 14 ngày sau khi tiêm nhũ dầu

((H&E, A (×40); B (×100); C(×400); D(×1000) Giọt dầu (O), hồng cầu (e), bạch cầu (WBC))

Sau 14 ngày tiêm nhũ dầu, mô cơ vẫn còn hiện diện rải rác một số giọt dầu (O)

nhỏ (Hình 12A,B) Các sợi cơ và tơ cơ bị nát, xơ rách và xen kẽ với các tế bào máu

Tuy nhiên, các loại tế bào máu không còn tạo thành đám dày đặc bao quanh giọt

Trang 30

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 24 Đại học Nha Trang

dầu như 3 và 7 ngày sau khi tiêm nhũ dầu (Hình 12C) Ở độ phóng đại lớn hơn có

thể quan sát thấy lượng rất ít các tế bào như hồng cầu, các bạch cầu xen kẽ giữa

những sợi cơ (Hình 12D)

21 ngày sau khi tiêm

Hình 13: Mô cơ cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 21 ngày

(H&E; A(×400),B(×1000))

Không còn thấy sự xuất hiện của giọt dầu nằm trong cơ, cơ bắt màu đồng nhất của

thuốc nhuộm Eosin (Hình 13) Các sợi cơ xếp song song, không có sự xuất hiện của

các tế bào máu Tổ chức cơ đã không còn dấu hiệu thương tổn, hoàn toàn không có

sự xuất hiện của ổ viêm Quan sát trên các độ phóng đại lớn nhỏ khác nhau thấy cấu trúc cơ giống với mô cá khỏe

4.1.3 Biến đổi mô bệnh học cá Giò sau khi tiêm vắc xin không có nhũ dầu

1 ngày sau khi tiêm: Không có biến đổi gì so với mô cơ bình thường, các sợi

cơ vẫn xếp sít nhau, liên kết khá chặt chẽ

3 ngày sau khi tiêm

Trang 31

Khóa luận tốt nghiệp - 2011 25 Đại học Nha Trang

Hình 14: Biến đổi mô cơ cá Giò 3 ngày sau khi tiêm vắc xin bất hoạt

(H&E; A (×40), B (×100), C(×400), D(×1000))

Quan sát trên tiêu bản mô sau 3 ngày tiêm vắc xin ở độ phóng đại nhỏ (Hình 14A)

không thấy hiện tượng hoại tử nghiêm trọng, không xuất hiện những không bào lớn như khi tiêm có nhũ dầu Mô cơ có nhiều sợi cơ xếp song song, một số ít sợi cơ bị

rách nát, đứt gãy, liên kết rời rạc (Hình 14B)

A

D

C

B

Ngày đăng: 30/07/2014, 03:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Hòa, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội, 2004, Bệnh học thủy sản, Nhà xuất bản nông nghiệp Tp.Hồ Chí Minh, 2004, trang 130,131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học thủy sản
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Tp.Hồ Chí Minh
2. Phạm Văn Thư, Sử dụng vắc xin trong nuôi trồng thủy sản, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng vắc xin trong nuôi trồng thủy sản
3. PGS.TS. Đỗ Thị Hòa, Ths.Trần Vỹ Hích, Ks.Nguyễn Thị Thùy Giang, Ths.Phan Văn Út, Ks.Nguyễn Thị Nguyệt Huê,2008, Các loại bệnh thường gặp trên cá biển nuôi ở Khánh Hòa, Tạp chí khoa học – Công nghệ thủy sản – Số 02/2008, trang 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại bệnh thường gặp trên cá biển nuôi ở Khánh Hòa
4. TS. Bùi Quang Tề, 2006 Bệnh học thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học thủy sản
5. Nguyễn Thị Hồng, 2007, Nghiên cứu ảnh hưởng của việc kết hợp Atemia bung dù với thức ăn công nghiệp trong ương nuôi ấu trùng cá Giò (Rachycentron cândum, Linnaeus, 1766), Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Tr:19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc kết hợp Atemia bung dù với thức ăn công nghiệp trong ương nuôi ấu trùng cá Giò (Rachycentron cândum, Linnaeus, 1766
6. Huy, N.Q. 2002. Tình hình sinh sản và nuôi cá Giò (Rachycentron canadum). Tạp chí Thuỷ sản số 7-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rachycentron canadum
7. Phan thị Vân, 2006. Nghiên cứu tác nhân gây bệnh phổ biến đối với cá Mú, cá Giò nuôi và đề xuất các giải pháp phòng trị bệnh, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác nhân gây bệnh phổ biến đối với cá Mú, cá Giò nuôi và đề xuất các giải pháp phòng trị bệnh
9. John W. Machen, 2008, Vibrio spp disinfection and immunization of Cobia ( Rachycentron canadum) for the prevention of disease in aquaculture facilities, Master of science in Biomedical Veterinary science Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vibrio spp disinfection and immunization of Cobia ( Rachycentron canadum) for the prevention of disease in aquaculture facilities
10. Liu P-C., Lin J-Y and Lee K-K. (2003). Virulence of Photobacterium damselae subsp. piscicida in cultured cobia Rachycentron canadum. J. Basic Microbiol.43 (2003) 6, 499-507 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rachycentron canadum
Tác giả: Liu P-C., Lin J-Y and Lee K-K
Năm: 2003
11. Lopez C., Rajan P.R., Lin J.H-Y., Kuo T.Y & Yang H-L. (2002). Disease outbreak in seafarmed Cobia (Rachycentron canadum) associated with Vibrio Spp., Photobacterium damselae ssp.piscicida, monogenean and myxosporean parasites. Fish Pathol, 22 (3) 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rachycentron canadum)" associated with "Vibrio Spp., Photobacterium damselae " ssp."piscicida
Tác giả: Lopez C., Rajan P.R., Lin J.H-Y., Kuo T.Y & Yang H-L
Năm: 2002
12. Mutoloki S, Alexandersen S, Evensen ỉ. Sequential study of antigenpersistence and concomitant inflammatory reactions relative to sideeffects and growth of Atlantic salmon (Salmo salar L.) followingintraperitoneal injection with oil-adjuvanted vaccines. Fish Shellfish Immunol 2004;16; 45-633 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salmo salar L
16. Stephen Mutoloki, 2006, A comparative immunopathological study of injection site reactions in salmonids following intraperitoneal injection with oil – adjuvanted vaccines, Norwegian School of Veterinary Science Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stephen Mutoloki, 2006", A comparative immunopathological study of injection site reactions in salmonids following intraperitoneal injection with oil – adjuvanted vaccines
18. Mutoloki S, Brudeseth B, Reite OB, Evensen ỉ. The contribution of Aeromonas salmonicida extracellular products to the induction of inflammation in Atlantic salmon (Salmo salar L.) following vaccination with oil-based vaccines. Fish Shellfish Immunol 2006;20(1):1–11Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: The contribution of Aeromonas salmonicida extracellular products to the induction of inflammation in Atlantic salmon (Salmo salar L.) following vaccination with oil-based vaccines." Fish Shellfish Immunol 2006;20(1):1–11
13. OIE, 2009. Manual of Diagnostic Tests for Aquatic Animals 2009. Chapter 2.3.7 Khác
14. Poppe TT, Breck O. Pathology of Atlantic salmon Salmo salarintraperitoneally immunized with oil-adjuvanted vaccine. A case report.Dis Aquat Org 1997;p29;26-219 Khác
15. Robert R.J.,2001; Fish pathology, 3rd edn. W.B.Saunders, Philadelphia,PA chapter 4 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Cá Giò (Rachycentroncanadum). - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 1 Cá Giò (Rachycentroncanadum) (Trang 16)
3.3.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
3.3.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài (Trang 17)
Hình 3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 18)
Hình 5: Các bể bố trí thí nghiệm - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 5 Các bể bố trí thí nghiệm (Trang 19)
Hình 4: Vắc xin bất hoạt vi khuẩn Vibrio và nhũ dầu. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 4 Vắc xin bất hoạt vi khuẩn Vibrio và nhũ dầu (Trang 19)
Sơ đồ khối các bước thực hiện của phương pháp mô bệnh học - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Sơ đồ kh ối các bước thực hiện của phương pháp mô bệnh học (Trang 20)
Hình 7: Mô cơ cá Giò bình thường. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 7 Mô cơ cá Giò bình thường (Trang 23)
Hình 8: Mô cơ cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 8 Mô cơ cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu (Trang 24)
Hình 9: Ổ viêm hình thành trong mô cơ 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 9 Ổ viêm hình thành trong mô cơ 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu (Trang 25)
Hình 10: Biến đổi mô cá Giò tại ổ viêm 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 10 Biến đổi mô cá Giò tại ổ viêm 3 ngày sau khi tiêm nhũ dầu (Trang 26)
Hình 11: Mô cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 7 ngày. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 11 Mô cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 7 ngày (Trang 28)
Hình 12: Ổ viêm 14 ngày sau khi tiêm nhũ dầu. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 12 Ổ viêm 14 ngày sau khi tiêm nhũ dầu (Trang 29)
Hình 13: Mô cơ cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 21 ngày. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 13 Mô cơ cá Giò sau khi tiêm nhũ dầu 21 ngày (Trang 30)
Hình 14: Biến đổi mô cơ cá Giò 3 ngày sau khi tiêm vắc xin bất hoạt. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 14 Biến đổi mô cơ cá Giò 3 ngày sau khi tiêm vắc xin bất hoạt (Trang 31)
Hình 15: Ổ viêm hình thành sau 7 ngày tiêm vắc xin. - Bước đầu nghiên cứu cơ chế viêm của cá giò (rachycentron canadum) sau khi tiêm vắc xin có nhũ dầu và không có nhũ dầu bằng phương pháp mô học
Hình 15 Ổ viêm hình thành sau 7 ngày tiêm vắc xin (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm