1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang

113 563 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với các đại gia trong ngành như: Nescafé, Vinacafé Biên Hòa, Trung Nguyên,…thì cà phê Mê Trang vẫn còn là một cái tên được ít người tiêu dùng biết đến, áp lực cạnh tranh đối với một D

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Th.S ĐẶNG HOÀNG XUÂN HUY

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau gần hơn 3 tháng thực hiện đề tài tốt nghiệp với sự cố gắng của mình cùng

sự giúp đỡ nhiệt tình của quí thầy cô và mọi người xung quanh Cuối cùng em đã hoàn thành xong đề tài thực tập của mình

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo Th.S Đặng Hoàng Xuân Huy

đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình làm đề tài, ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, các thầy cô khoa Kinh Tế, đặc biệt các thầy cô trong Bộ môn Kinh Tế Thủy Sản, các bạn sinh viên khóa 48, đặc biệt lớp 48KTTS cùng toàn thể các Anh/Chị trong Công ty cổ phần cà phê Mê Trang, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành tốt đề tài của mình

Mặc dù được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, Anh/Chị và bạn bè nhưng do hạn chế về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế và tài liệu tham khảo nên nội dung

đề tài còn nhiều vấn đề thiếu sót Rất mong sự góp ý kiến của các thầy cô, Anh/Chị

và bạn bè để nội dung đề tài được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn

Nha Trang, ngày…., tháng……,năm ……

Sinh viên thực hiện

MAI THỊ HUYỀN TH

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 5

1.1.Lý thuyết cạnh tranh 5

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 5

1.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh 7

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân 8

1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp 8

1.1.2.3 Đối với ngành 9

1.1.2.4 Đối với sản phẩm 9

1.1.3 Các hình thức cạnh tranh 10

1.1.3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh 10

1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh 10

1.1.3.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế 12

1.1.4 Các công cụ cạnh tranh 12

1.1.4.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm 13

1.1.4.2 Cạnh tranh bằng giá cả 14

1.1.4.3 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối 15

1.1.4.4 Cạnh tranh bằng chính sách Maketing 16

1.2 KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 16

1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh 17

1.2.2 Khái niệm về khả năng cạnh tranh 20

1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh 23

1.2.3.1 Các nhân tố chủ quan 23

1.2.3.2 Các nhân tố khách quan 26

Trang 4

1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh 29

1.2.4.1 Thị phần 29

1.2.4.2 Năng suất lao động 30

1.2.4.3 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 30

1.2.4.3 Uy tín của doanh nghiệp 31

1.2.4.4 Năng lực quản trị 32

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM CÀ PHÊ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÀ PHÊ MÊ TRANG 34

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CÀ PHÊ MÊ TRANG 34

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty 34

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 35

2.1.2.1 Chức năng 35

2.1.2.2 Nhiệm vụ 36

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất của công ty 37

2.1.3.1 Cơ cấu bộ máy quản lý 37

2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất 40

2.1.4 Môi trường kinh doanh công ty 42

2.1.4.1 Môi trường kinh doanh trong nước 42

2.1.4.2 Môi trường kinh doanh quốc tế 43

2.1.4.3 Môi trường cạnh tranh công ty 45

2.1.5 Phương hướng phát triển sản phẩm của Công ty trong thời gian tới 46

2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CÔNG TY TRONG THỜI GIAN QUA 47

2.2.1 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 47

2.3 THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM CÀ PHÊ CÔNG TY CỔ PHẦN CÀ PHÊ MÊ TRANG TRONG THỜI GIAN QUA 60

2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh sản phẩm 60

2.3.1.1 Nhân tố chủ quan 60

2.3.1.2 Nhân tố khách quan 66

Trang 5

2.3.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm cà phê tại công ty cổ phần cà phê

Mê Trang 68

2 3.2.1.Chất lượng sản phẩm 68

2.3.2.2 Chính sách giá cả 69

2.3.2.3 Hệ thống phân phối 70

2.3.2.4 Giao tiếp, khuếch trương 71

2.3.3 So sánh với các đối thủ cạnh tranh của công ty thông qua các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh 72

2.3.3.1 Thị phần 72

2.3.3.2 Năng suất lao động 75

2.3.3.3.Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 77

2.3.3.4 Uy tín của công ty 79

2.3.3.5 Năng lực quản trị 79

2.4.Những đánh giá chung về thực trạng cạnh tranh của công ty cổ phần cà phê Mê Trang 81

2.4.1 Những mặt đạt được 81

2.4.2 Những tồn tại 82

2.4.3 Nguyên nhân 84

2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 84

2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 85

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM CÀ PHÊ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÀ PHÊ MÊ TRANG 86

3.1 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 86

3.1.1 Sự cần thiết của biện pháp 86

3.1.2 Nội dung biện pháp 86

3.1.3 Hiệu quả mang lại của biện pháp 87

3.2 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 88

3.2.1 Sự cần thiết của biện pháp 88

3.2.2 Nội dung của biện pháp 88

Trang 6

3.2.3 Hiệu quả của biện pháp 89

3.3 NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG MARKETING 90

3.3.1 Sự cần thiết biện pháp 90

3.3.2 Nội dung biện pháp 90

3.3.3 Hiệu quả biện pháp 91

3.4 XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA CÔNG TY 91

3.4.1 Sự cần thiết biện pháp 91

3.4.1 Nội dung biện pháp 91

3.4.2 Hiệu quả biện pháp 92

3.5 LIÊN KẾT DỌC NHẰM CHỦ ĐỘNG NGUỒN NGUYÊN LIỆU 92

3.5.1 Sự cần thiết của biện pháp 92

3.5.2 Nội dung biện pháp 93

3.5.3 Hiệu quả biện pháp 94

3.6 GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT, HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 94

3.6.1 Sự cần thiết biện pháp 94

3.6.2 Nội dung biện pháp 95

3.6.3 Hiệu quả biện pháp 96

KIẾN NGHỊ 96

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh công ty năm 2007 – 2009 48

Bảng2.2: Doanh thu sản phẩm theo thị trường 51

Bảng 2.3: Cơ cấu sản phẩm theo sản lượng 54

Bảng 2.4 : Cơ cấu sản phẩm theo giá trị của công ty năm 2007 - 2009 58

Bảng 2.5: Tình hình nguồn vốn kinh doanh của công ty giai đoạn 2007 – 2009 61

Bảng 2.6: Tình hình máy móc thiết bị của công ty đến ngày 31/12/2009 63

Bảng 2.7: Tình hình nguồn lao động của công ty trong 3 năm (2007 -2009) 64

Bảng 2.8: Tương quan sản lượng tiêu thụ của công ty và các đối thủ 73

Bảng 2.9: Tình hình doanh thu của công ty và các đối thủ khác 74

Bảng 2.10 Năng suất lao động bình quân của công ty so với các đối thủ 76

Bảng 2.11 Chênh lệch Năng suất lao động bình quân của công ty so với đối thủ 76

Bảng 2.12: Tình hình lợi nhuận của công ty và các công ty khác 77

Bảng 2.13: Tương quan tỷ suất lợi nhuận của Công ty và các đối thủ 78

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty: 38

Sơ đồ 2 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất 42 Hình 2.1 :Hệ thống kênh phân phối toàn quốc của Công ty cổ phần cà phê Mê Trang 53 Biểu đồ 1: Thị phần thị trường ngành cà phê Việt Nam năm 2009 75

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPSS – MC : Cà phê siêu sạch – Me Trang coffee

HĐKD : Hoạt động kinh doanh

KCS : Bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm

NSLĐ bq : Năng suất lao động bình quân

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ và ĐTNH : Tài sản cố định và đầu tư ngắn hạn

TSLĐ Và ĐTDH : Tài sản lưu động và đầu tư dài hạn

QLDN : Quản lý doanh nghiệp

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cạnh tranh là một vấn đề sống còn của doanh nghiệp Và năng lực cạnh tranh là nhân

tố quan trọng để xác định sự thăng hoa, vị thế của DN Nó cho biết DN đó có duy trì được

sự canh tranh lâu dài trước các đối thủ trên thị trường hay không? Chính vì thế DN nếu muốn đứng vững trên thị trường thì bắt buộc DN phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì vấn đề này hơn bao giờ hết càng không thể xem nhẹ Vì vậy DN phải luôn tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường Cà phê Mê Trang mới thâm nhập vào thị trường chưa đầy mười năm, kinh nghiệm thị trường còn hạn chế, năng lực cạnh tranh còn ít ỏi, vị thế cạnh tranh trên thị trường còn mờ nhạt So với các đại gia trong ngành như: Nescafé, Vinacafé Biên Hòa, Trung Nguyên,…thì cà phê Mê Trang vẫn còn là một cái tên được ít người tiêu dùng biết đến, áp lực cạnh tranh đối với một DN mới gia nhập ngành càng trở nên khốc liệt hơn.Vấn đề của Mê Trang hiện nay là làm thế nào để có được ngày càng nhiều khách hàng mới biết đến, giữ được lượng khách hàng trung thành với sản phẩm và tiếp tục nâng cao tạo thế đứng vững chắc của thương hiệu trên thị trường Nói như vậy không có nghĩa là công ty không có khả năng cạnh tranh mà vấn đề ở đây là làm thế nào để công ty hoàn thiện hơn nữa chiến lược cạnh tranh của mình hiệu quả hơn, làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thời kì cạnh tranh bão lửa như hiện nay Với mong muốn được áp dụng các kiến thức có được từ trường đại học vào thực tiễn và nhu cầu thưc tế của công ty em đã thực hiện đề tài “ Một

số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê

Mê Trang” làm khóa luận tốt nghiệp Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Th.s Đặng Hoàng Xuân Huy và các Anh/Chị phía công ty em đã hoàn thành xong đề tài tốt nghiệp Vì kiến thức và thời gian còn hạn chế nên đề tài của em vẫn còn nhiều sai xót, mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô và các anh chị trong công ty để đề tài được hoàn thiện hơn Trong đề tài này em đi sâu vào tìm hiểu và phân tích thực trạng

Trang 11

cạnh tranh sản phẩm công ty bằng việc đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm cà phê thông qua các công cụ, chỉ tiêu trên cở sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của Công ty

Tình hình nghiên cứu đề tài

Mặc dù vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh rất quan trọng, nhưng theo sự hiểu biết của tác giả thì Công ty cổ phần cà phê Mê Trang hiện chưa có một báo cáo hay đề tài tập trung vào vấn đề này, trên thực tế chỉ có những kế hoạch, những đề xuất riêng lẻ Trong luận văn này, ngoài việc kế thừa có chọn lọc những kết quả, những đề xuất đã có, luận văn bổ sung thêm về lý luận, những kiến nghị mới, phù hợp với tình hình thực tiễn và xu hướng phát triển

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh nhằm định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê Mê Trang

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê thông qua các công cụ, chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh, đồng thời so sánh với các đối thủ hiện tại trên thị trường

- Trên cơ sở phân tích,đánh giá, so sánh khả năng cạnh tranh của sản phẩm dưa

ra một số biện pháp góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh doanh sản phẩm cà phê của công ty

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đánh giá về thực trạng khả năng cạnh tranh trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm cà phê tại Công ty cổ phần cà phê Mê

Trang

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu

- Không gian : Đề tài tập trung vào việc đưa ra biện pháp nâng cao khả năng của

sản phẩm cà phê tại công ty cổ phần cà phê Mê Trang trên cở sở phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của sản phẩm này

- Thời gian: Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê tại công ty

cổ phần cà phê Mê Trang giai đoạn 2007 – 2009

- Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu

Các báo cáo nội bộ Công ty cổ phần cà phê Mê Trang, các kết quả nghiên cứu thị trường của Công ty trong những năm gần đây, của nghành sản xuất và chế biến cà phê Việt Nam trong giai đoạn 2007 -2009 và một số số liệu do tác giả tự tìm hiểu thông qua

điều tra tại các quán cà phê có sử dụng sản phẩm của công ty tại Nha Trang

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập, phân tích, đánh giá, kết hợp khái

quát hóa vấn đề

Đóng góp của đề tài

Về mặt lý luận:

Đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong

sản xuất và kinh doanh sản phẩm cà phê tại Công ty cổ phần cà phê Mê Trang

Về mặt thực tiễn :

- Đề tài nêu được thực trạng khả năng cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng của sản phẩm cà phê tại công ty cổ phần cà phê Mê Trang

- Là cơ sở để Lãnh đạo công ty nhận định về tình hình cạnh tranh, đồng thời mang

tính tham khảo về những biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm cà phê

Mê Trang

Trang 13

- Các phân tích và biện pháp đưa ra có tính khả thi, có thể áp dụng ngay vào tại

công ty làm tham khảo cho các vấn đề nghiên cứu nâng cao hơn, hoặc vận dụng trực tiếp

và thực tế kinh doanh sản phẩm tại công ty

Hạn chế đề tài

Do hạn thời gian thực tập ngắn, phạm vi, đối tượng nghiên cứu hẹp, kiến thức và kinh nghiệm thực tế của bản thân còn hạn chế nên một số vấn đề trong đề tài chưa được phân tích sâu, rất mong sự góp ý của quý thầy cô cùng các Anh/Chị và câc bạn để đề tài hoàn thiện hơn

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm cà phê tại công ty cổ phần cà phê Mê Trang

Trang 14

CHƯƠNG I:

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG

CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.1.Lý thuyết cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Trong sự phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh tranh còn rất khác nhau Theo Mác “ cạnh tranh là sự phấn đấu ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu sạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng

“ cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho hơn các DN khác” ( Theo nhóm tác giả cuốn “Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo

hộ sản xuất trong nước”) Theo kinh tế học chính trị học “ Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách hàng cho DN mình” Để hiểu một cách khái quát nhất ta có thể khái niệm như sau :

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các DN trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh

Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện và len lỏi vào từng bước đi của các doanh nghiệp Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lúc này đầy sự biến động và vấn đề cạnh tranh đã trở nên cấp bách, sôi động trên cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, bất cứ hoạt động nào của con người cũng tồn tại vấn đề cạnh tranh Ví như các quốc gia cạnh tranh để giành lợi thế trong đối ngoại, trao đổi, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để lôi cuốn khách hàng về phía mình, để chiếm lĩnh những thị trường có nhiều

Trang 15

lợi thế và con người cạnh tranh nhau để vươn lên khẳng định những vị trí của mình cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để những người dưới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có

uy tín và vị thế trong quan hệ với các đối tác Như vậy, có thể cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đếm vĩ mô, từ một cá nhân đến tổng thể toàn xã hội Điều này xuất phát từ một lẽ đương nhiên nước ta đã và đang bước vào giai đoạn phát triển cao về lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, mà bên cạnh đó cạnh tranh vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự do là nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển Bởi vậy để giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên động não, tích cực nhạy bén và nằn động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm them thiết bị máy móc hiện đại, loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ và lạc hậu và điều quan trọng phải có phương pháp tổ chức, quản lý có hiệu quả người lao động Thực tế cho thấy, ở đâu thiếu sự cạnh tranh thường ở đó biểu hiện sự trì trệ và yếu kém sẽ dẫn doanh ngiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi quy luật vận động của nền kinh tế thị trường Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hành hóa các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng Do đó, cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn Cạnh tranh là một điều kiện đồng thời là một yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát triển Bên cạnh những mặt tích cực cạnh tranh để lại nhiều hạn chế và tiêu cực đó là sự phân hóa sản xuất hàng hóa, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanh gặp nhiều khó khăn

do vốn thiếu, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ thấp và có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp phải những rủi ro khách quan mang lại như thiên tai, hỏa hoạn… hoặc rơi vào những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi

Trang 16

Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát hóa một cách chung nhất đó là cuộc ganh đua gay gắt các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lãn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận Các doanh nghiệp cẩn nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để một mặt chấp nhận cạnh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu

tố nội lực nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, một mặt là tình trạng cạnh tranh bất hợp pháp làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng như là suy yếu chính mình

1.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu như không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanh nghiệp hầu như đã được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về Nhà nước Vì vậy, vô tình Nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỷ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp Chính điều đó đã không tạo được động lực cho doanh nghiệp phát triển Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung

Trang 17

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân

Đối với nền kinh tế quốc dân, cạnh không chỉ là môi trường và động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động

mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của những sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về chính trị,

về kinh tế và văn hoá Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu và rộng Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại những mặt hạn chế, không lành mạnh như tạo sự phân hoá giàu nghèo, lối làm ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, lậu hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm

1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững Để tồn tại

và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô Họ cạnh tranh để giành những lợi thế

về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp

đó mới có khả năng tồn tại và phát triển Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần

thiết

Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác maketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? Nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp xác định được nhu cầu thị trường

và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất những gì mà doanh nghiệp có Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Muốn vậy các doanh nghiệp phải áp dụng

Trang 18

những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, cử các cán bộ đi học để nâng cao trình độ chuyên môn Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho doanh nghiệp một vị trí xứng đáng trên thị trường tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện

mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh

tế

1.1.2.3 Đối với ngành

Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành chế biến cà phê nói riêng cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn lao động dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó

Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô hoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ mô hay vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh

1.1.2.4 Đối với sản phẩm

Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi ích của người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn Ngày nay các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót

ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội Bởi vậy cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng đoạn, xáo trộn thị trường

Trang 19

1.1.3 Các hình thức cạnh tranh

Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức khác nhau:

1.1.3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh

Cạnh tranh được chia thành ba loại:

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo

quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người mua muốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên

- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy

luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúc này hàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt cả về giá cả và chất lượng, nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó

- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay go

và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do vậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế và lợi thế cho mình

1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh

Theo tiêu thức này cạnh tranh được chia thành bốn loại:

- Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn giản của

cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn để tác động đên giá cả thị trường Nhóm người mua tham gia trên thị trường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả do thị trường quyết định

Trang 20

- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến

trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại các dịch vụ trong và sau khi bán hàng Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại:

+ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có ảnh

hưởng lớn, có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với giá rất cao và những người này có thể làm thay đổi giá cả thị trường Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua Độc quyền bán tức là trên thị trường có ít người bán và nhiều người mua, lúc này người bán có thể tăng giá hoặc ép giá khách hàng nếu họ muốn lợi nhuận thu được là tối đa, còn độc quyền mua tức là trên thị trường có ít người mua và nhiều người bán khi đó khách hàng được coi là thượng đế, được chăm sóc tận tình và chu đáo nếu không những người bán sẽ không lôi kéo được khách hàng về phía mình Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất và làm tổn hại đến người tiêu dùng Vì vậy phải có một Luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh

+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành sản

xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất Lúc này cạnh tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp Do vậy mọi doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của doanh nghiệp khác Những doanh nghiệp tham gia thị trường này là những người

có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu tư lớn Do vậy việc thâm nhập vào thị trường này của các đối thủ cạnh tranh thường là rất khó

Trang 21

1.1.3.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế

- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong

cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp

để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí

cá biệt của hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn

có thể bị phá sản

- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau

nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác Như vậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác khác nhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu

tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành Kết quả

là những ngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hoá có xu hướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này giảm, dẫn đến cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hoá tăng và làm tăng tỷ suất lợi nhuận

1.1.4 Các công cụ cạnh tranh

Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố, các kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu được lợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh

Trang 22

nghiệp Từ đó phát huy được hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuôn mẫu cứng nhắc nào Dưới đây là một số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệp thường phải dùng đến chúng

1.1.4.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình, cái

mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại Nếu nói rằng giá cả là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức thu nhập của mình Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả

Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng và sau khi tiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu

mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp Làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp nhất

là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hoá dịch vụ không được bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh

Trang 23

nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết

mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó

1.1.4.2 Cạnh tranh bằng giá cả

Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một

số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục

vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả Giá cả đã thể hiện như một

vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường

Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệp đánh giá

được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và

lợi sẽ thu được nhiều hơn

Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được áp dụng khi

cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn và lời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giá thấp Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu

Trang 24

có một chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở

rộng thị trường

Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán sản phẩm cao

hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để so sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng cao hơn các hàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá

Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thành công khi

sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng

1.1.4.3 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối

Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lực bởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng Để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng

Từ đó có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành 5 loại:

+ Kênh ngắn: Người sản xuất => Người bán lẻ => Người tiêu dùng

+ Kênh cực ngắn: Người sản xuất => Người tiêu dùng

+ Kênh dài: Người sản xuất=>Người buôn bán=>Người bán lẻ=>Người tiêu dùng + Kênh cực dài: Người sản xuất=>Đại lý=> Người buôn bán=> Người bán lẻ=> Người tiêu dùng

Trang 25

+ Kênh rút gọn: Người sản xuất=>Đại lý=> Người bán lẻ=> Người tiêu dùng Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo nhu cầu của người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả bởi nhiều khi kênh phân phối có tác dụng như những người môi giới nhưng đôi khi nó lại mang lại những trở ngại rườm rà

1.1.4.4 Cạnh tranh bằng chính sách Maketing

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách maketing đóng một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập thông tin thông qua sự phân tích và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất những gì? kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng Kết thúc quá trình bán hàng, để tạo được uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán

Như vậy chính sách maketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụng phụ để hỗ trợ các chính sách khác Do vậy chính sách maketing không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động của doanh nghiệp

1.2 KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Tuy nhiên để cạnh tranh được và cạnh tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ thuộc vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay một quốc gia, đó chính là khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, hay một ngành, một công ty xí nghiệp

Trang 26

1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Ở đâu có nền kinh

tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con người không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền” như trước kia mà còn cần “ăn ngon mặc đẹp”

Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy

đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Chính vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp:

- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh

doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay

- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là một yếu

tố kích thích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá sản xuất ra nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại

bỏ những công ty làm ăn kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp và ngược lại nó thúc đẩy những công ty làm ăn tốt, năng suất chất lượng cao Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng Các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lượng cao, giá cả phù hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của từng đối tượng khách hàng Có như vậy hàng hoá của doanh nghiệp

Trang 27

bán ra mới ngày một nhiều, tạo được lòng tin đối với khách hàng Muốn tồn tại và phát triển được thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng tồn tại, phát triển và thu được lợi nhuận cao

Trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranh luôn là mục tiêu của mỗi doanh nghiệp Cũng trong nền kinh tế đó khách hàng là người tự do lựa chọn nhà cung ứng và cũng chính là những người quyết định cho doanh nghiệp có tồn tại hay không Họ không phải tìm đến doanh nghiệp như trước đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ đợi để mua hàng hoá dịch vụ, mà đối ngược lại trong nền kinh tế thị trường khách hàng được coi là thượng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có những chương trình giới thiệu truyền bá và quảng cáo sản phẩm của mình để người tiêu dùng biết đến, để họ có sự xem xét, đánh giá và quyết định có nên tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp hay không? Ngày nay việc chào mời để khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình đã là vấn đề khó khăn nhưng việc giữ lại được khách hàng còn khó khăn hơn rất nhiều Bởi vậy mà doanh nghiệp nên có những dịch

vụ cả trước khi bán, trong khi bán và dịch vụ sau khi bán hàng hoá cho khách hàng để những khách hàng đó là những khách hàng truyền thống của doanh nghiệp, chính họ là những nhân tố quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu

Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có những mục tiêu nhất định Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau Trong giai đoạn đầu khi mới thực hiện hoạt động kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là muốn khai thác thị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giai đoạn này doanh nghiệp thu hút được càng nhiều khách hàng càng tốt Còn ở giai đoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí được coi là không cần thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của doanh nghiệp và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất Đến giai đoạn gần như bão hoà thì mục tiêu chủ yếu của

Trang 28

doanh nghiệp là gây dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách thực hiện trách nhiệm đối với Nhà nước, đối với cộng đồng, củng cố lại thêm niềm tin cho của khách hàng đối với doanh nghiệp Để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày càng tăng Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển

Trang 29

1.2.2 Khái niệm về khả năng cạnh tranh

Phải nói rằng thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, trong giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh doanh Nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khả năng cạnh tranh của công ty

*Theo cách tiếp cận khả năng cạnh tranh ở tầm quốc gia

+ Cách tiếp cận này dựa trên quan điểm diễn đàn kinh tế thế giới( gọi tắt là WEF)

Theo định nghĩa của WEF thì khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt được

và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững vàng tương đối và các đặc trưng kinh tế khác( WEF-1997)

Như vậy khả năng cạnh tranh của một quốc gia được xác định trước hết bằng mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc đân và sự có mặt ( hay thiếu vắng) các yếu tố quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã được thực hiện Ví

dụ điển hình là Nhật bản, sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản trở nên hoang tàn, nhân dân chìm trong cảnh mất mùa, thiếu thốn Vậy mà đến năm 1968 Nhật bản đã trở thành một nước có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới ( sau Mỹ) và được xếp hàng các cường quốc kinh tế lớn nhất, kỷ lục về sự tăng trưởng kinh tế này là một trong những đỉnh cao để xác định năng lực cạnh tranh lớn của nền kinh tế Nhật bản Cũng theo WEF thì các yếu tố xác định khả năng cạnh tranh được chia làm 8 nhóm chính bao gồm 200 chỉ số khác nhau, các nhóm yếu tố xác định khả năng cạnh tranh tổng thể chủ yếu có thể kể ra là:

Nhóm 1: Mức độ mở cửa nền kinh tế thế giới bao gồm các yếu tố thuế quan, hàng

rào phi thuế quan, hạn chế nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái

Nhóm 2: Nhóm các chỉ số liên quan đến vai trò và hoạt động của chính phủ bao gồm

mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính phủ, thuế và mức độ trốn thuế, chính sách tài khoá

Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính bao gồm các nội dung về khả năng thực hiện các

hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả và cạnh tranh, rủi ro tài chính đầy đủ và tiết kiệm

Trang 30

Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ bao gồm năng lực phát triển công nghệ trong

nước, khai thác công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển công nghệ thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác

Nhóm 5: Các yếu tố và kết cấu hạ tầng như giao thông liên lạc và kết cấu hạ tầng

khác

Nhóm 6: Quản trị bao gồm các chỉ số và quản trị nguồn nhân lực và các yếu tố quản trị không liên quan đến nguồn nhân lực

Nhóm 7: Các yếu tố về lao động bao gồm các chỉ số về trình độ tay nghề và năng

suất lao động, độ linh hoạt của thị trường lao động, hiệu quả của các chương trình xã hội , quan hệ lao động trong một ngành

Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế gồm các yếu tố về chất lượng, các thể chế về pháp

lý, các luật và văn bản pháp quy khác

Dựa vào các nhóm chỉ số này có thể đánh giá, xem xét để rút ra kết luận về việc định liệu các chính sách, biện pháp đã được sử dụng ở một Quốc gia có thực sự nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế không Chẳng hạn những năm qua chính phủ Việt Nam đã đưa ra chủ trương khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp hợp tác liên doanh, liên kết với nước ngoài nhằm học hỏi kinh nghiệm chuyển giao công nghệ và tăng trưởng kinh tế Thế nhưng hiệu quả kinh tế đem lại không lấy gì làm chắc chắn

+ Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của M.Poter về chỉ số năng suất

Ông cho rằng chỉ có chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về năng lực cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là yếu tố cơ bản cho việc nâng cao sức sống của một đất nước Xét về dài hạn chỉ số năng suất này phụ thuộc vào trình độ phát triển và tính năng động của các doanh nghiệp Do đó khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào việc các yếu tố nào trong nền kinh tế quốc dân, giữ vai trò quyết định cơ bản cho phép các công ty sáng tạo và duy trì và lợi thế cạnh tranh trên mọi lĩnh vực cụ thể Với cách nhìn nhận vấn đề như vậy M.Poter đã đưa ra một khuôn khổ các yếu tố tạo nên lợi thế canh tranh của một quốc gia và Ông gọi đó là “khối lượng kim cương các lợi thế cạnh tranh” bao gồm các nhóm được phân chia một cách tương đối

Trang 31

- Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất (thể hiện vị thế của một quốc gia về nguồn lao động được đào tạo, có tay nghề, về tài nguyên, kết cấu hạ tầng, tiềm năng khoa học và công nghệ)

- Nhóm các điều kiện về cầu: Phản ánh bản chất của nhu cầu thị trường trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ của một ngành

- Nhóm các yếu tố liên quan đến cơ cấu, chiến lược của doanh nghiệp và của đối thủ cạnh tranh

- Nhóm các yếu tố về các ngành phụ trợ và các ngành có liên quan có khả năng cạnh trạnh quốc tế

*Tiếp cận khả năng tranh ở cấp ngành, cấp công ty

+ Quan điểm của M.Poter

Dựa theo quan điểm quản trị chiến lược được phản ánh trong các cuốn sách của M.Poter, khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó Với cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài nước năng lực cạnh tranh được quy định bởi các yếu

Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh

Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với trong giai đoạn, thời kỳ phát triển thời kỳ phát triển của nền kinh tế

+ Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản phẩm

Quan điểm này dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống, đã xem xétkhả năng cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất Như vậy khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty được đánh giá cao hay thấp tuỳ

Trang 32

thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt hay không vì chi phí các yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh

+ Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Martin và R.Westgren

VarDwer, E.martin và R.Westgren là những đồng tác giả của cuốn “Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”- 1991 Theo các tác giả này thì khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty được thể hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong nước và nước ngoài Như vậy lợi nhuận và thị phần, hai chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao Ngược lại, lợi nhuận và thị phần giảm hoặc nhỏ phán ánh năng lực cạnh tranh của công ty bị hạn chế hoặc chưa cao Tuy nhiên chúng chỉ là những chỉ số tổng hợp bao gồm chỉ số thành phần khác nhau như:

- Chỉ số về năng suất bao gồm năng suất lao động và tổng năng suất các yếu tố sản xuất

- Chỉ số về công nghệ bao gồm các chỉ số về chi phí cho nghiên cứu và triển khai

- Sản phẩm bao gồm các chỉ số về chất lượng, sự khác biệt

- Đầu vào và các chi phí khác: giá cả đầu vào và hệ số chi phí các nguồn lực

Nói tóm lại có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh Song bài viết này không nhằm mục đích phân tích ưu nhược điểm của quan điểm đó mà chỉ mong muốn giới thiệu khái quát một số quan niệm điển hình giúp cho việc tiếp cận một phạm trù phổ biến nhưng còn nhiều tranh cãi về khái niệm được dễ dàng hơn

1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh

1.2.3.1 Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc yếu tố bên trong doanh nghiệp Các yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Công ty Bởi vậy mà nó được coi là các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của Công ty

Trang 33

a Khả năng về tài chính

Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Bất cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như

có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện để mua sắm, trang trải nợ

và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanh toán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với khách hàng Làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển được và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản Như vậy khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển

b Nguồn lực và vật chất kỹ thuật

Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối với thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quá trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Bởi vì:

Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng Có hệ thống máy móc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá có được bảo đảm hay không Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp thương mại Ngày nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất kỹ thuật Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề của toàn cầu

Trang 34

thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ cao thiết bị máy móc nhất định sẽ dành được

ưu thế trong cạnhh tranh

c Nguồn nhân lực

Con người là yếu tố quyết điịnh mọi thành bại của hoạt động kinh doanh Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân năng lực của cán bộ quản lý

Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất của doanh nghiệp Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu con người, chỉ có con người mới tạo được

uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp mà tất những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ những người lao động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền

Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề, có óc sáng tạo có trách nhiệm và có ý thức trong công việc Có như vậy họ mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia ban lãnh đạo có thể họ không có trình độ chuyên môn cao chỉ cần họ có thâm niên công tác lâu năm trong nghề là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo, và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp Ngày nay với quy luật đào của nền kinh tế thị trường nếu như nếu ban

Trang 35

lãnh đạo không có đủ trình độ chuyên môn cao, không có năng lực lãnh đạo thì trước sau họ cũng sẽ bị đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí mà họ đang nắm giữ

Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi, tài tình và sáng suốt thì ở đó công nhân viên rất yên tâm để cống hiến hết mình, họ luôn có cảm giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và phát triển, trách nhiệm và quyền lợi của họ được bảo đảm được nâng đỡ và phát huy Ở đâu có nhân viên nhiệt tình có trách nhiệm có sự sáng tạo thì ở có sự phát triển vững chắc, bởi những quyết định mà ban lãnh đạo đưa ra đã có người thực hiện Như vậy để sản phẩm có năng lực cạnh tranh thì những người trong doanh nghiệp đó phải có ý thức và trách nhiệm và nghĩa vụ về công việc của mình Muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đại nghộ nhân sự là vấn đề quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

1.2.3.2 Các nhân tố khách quan

Là hệ thống toàn bộ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, có liên quan và ảnh hưởng đến quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp Các yếu tố khách quan bao gồm:

a Nhà cung cấp

Nhà cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành ổn định theo kế hoạch đã định trước Trên thực tế nhà cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu: loại cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu, loại cung cấp nhân công, loại cung cấp tiền và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm Như vậy mỗi doanh nghiệp cùng một lúc có quan hệ với nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên Vấn đề đặt ra là yêu cầu của việc cung cấp phải đầy đủ về số lượng, kịp thời về thời gian, đảm bảo về chất lượng và ổn định về giá cả Mỗi sự sai lệch trong quan hệ với nhà cung cấp đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều đó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Để giảm tính độc quyền và sức ép từ phía các nhà cung cấp, các doanh nghiệp phải biết tìm đến các nguồn lực tin cậy, ổn định và giá cả hợp lý với phương châm là đa dạng hoá các nguồn cung cấp, thực hiện nguyên tắc “không bỏ tiền vào một ống” Mặt khác trong quan hệ này doanh nghiệp nên tìm cho mình một nhà cung cấp chính có đầy đủ sự

Trang 36

tin cậy, nhưng phải luôn tránh sự lệ thuộc, cần phải xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình Như vậy doanh nghiệp cần phải thiết lập mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp

để họ cung cấp đầy đủ về số lượng

b Khách hàng

Khách hàng là những người đang mua và sẽ mua hàng của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tính chất quyết định của khách hàng thể hiện ở các mặt sau: Khách hàng quyết định hàng hoá của doanh nghiệp được bán theo giá nào? Trên thực tế doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu dùng chấp nhận khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào? Phương thức bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường người mua có quyền lưạ chọn theo ý thích của mình và đồng quyết định phương thức phục của người bán Điều này cho thấy tính chất quyết định của khách hàng làm cho thị trường chuyển từ thị trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trở thành thượng

đế Do vậy doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố khách hàng, khách hàng có thể ganh đua với doanh nghiệp bằng cách yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơn, hoặc ép giảm giá xuống, mặt khác khách hàng còn làm cho các đối thủ cạnh tranh chống chọi lại nhau và dẫn đến làm tổn hao đến lợi nhuận của doanh nghiệp Nhóm khách hàng thường gây áp lực với doanh nghiệp là những nhóm khách hàng tập trung và mua với khối lượng lớn Nhóm khách hàng mua đúng tiêu chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt vì họ có thể tìm được nhà cung cấp khác một cách dễ dàng hoặc nhóm khách có đầy dủ thông tin

về sản phẩm, giá cả thị trường, giá thành của nhà cung cấp Điều này đem lại cho khách một lợi thế mạnh hơn trong cuộc mặc cả so với trường hợp họ chỉ có ít thông tin

Bên cạnh đó sự yêu cầu của khách hàng cũng sẽ gây áp lực làm tụt giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này thể hiện ở chỗ nếu doanh nghiệp không theo đuổi kịp những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng thì họ sẽ có xu hướng chuyển dịch sang những doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ Hiện tượng này dẫn đến lượng khách hàng sẽ giảm đi và ngày một thưa dần nếu doanh nghiệp không kịp thời đáp ứng nhu cầu của họ Và như vậy sức cạnh tranh sẽ giảm sút

Trang 37

Điều đó chứng tỏ yếu khách hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp

c Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn

Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh Vấn đề quan trọng ở đây là không được coi thường bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũng không nên coi đối thủ là kẻ địch Cách xử lý khôn ngoan nhất không phải là hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều khiển và hoà giải, lại vừa phải hướng suy nghĩ

và sự quan tâm của mình vào khách hàng có nghĩa là mình đã thành công một phần trong cạnh tranh Mặt khác cũng nên quan tâm tới việc dự đoán trong tương lai và định hướng tới khách hàng Trên thực tế cho thấy cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặt khác nhau nhưng có thể nói cạnh tranh với nhau chủ yếu là khách hàng Vì thế, trong cạnh tranh người được lợi nhất là khách hàng, nhờ có cạnh tranh mà khách hàng được tôn vinh là thượng đế Để có và giữ được khách hàng, doanh nghiệp cần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và rẻ hơn, không những thế còn phải chiều lòng khách hàng lôi kéo khách hàng bằng cách hoạt động quảng cáo, khuyến mãi và tiếp thị

Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác mới bắt đầu bước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác để gây dựng thị trường,

để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng Nhưng khi

có người khách hàng đầu tiên bước vào khu vực thị trường này, thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau, họ tìm mọi cách để lôi kéo khách hàng về phía mình

Trong những thời điểm và những giai đoạn khác nhau thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rút ra khỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt nổi trội hơn trên thị trường, doanh nghiệp nên đề phòng và lường trước các đối tác làm

ăn, các bạn hàng, bởi vì họ có thể trở thành những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Trang 38

Nếu ở trong một thị trường kinh doanh nhất định, doanh nghiệp vượt trội lên các đối thủ về chất lượng sản phẩm, về giá cả và chất lượng phục vụ thì doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh và sẽ có điều kiện để tiến xa hơn so với các đối thủ

d Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế

Những sản phẩm thay thế cũng là một trong các lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp cùng nghành Sự ra đời của sản phẩm mới là một tất yếu nhằm đáp ứng biến động của nhu cầu của thị trường theo hướng ngày càng đa dang, phong phú Chính nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế Các sản phẩm thay thế nó sẽ có ưu thế hơn và sẽ dần thu hẹp thị trường của sản phẩm thay thế nó

Để khắc phục tình trạng thị trường bị thu hẹp các doanh nghiệp phải luôn hướng tới những sản mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã hay nói cách khác doanh nghiệp phải luôn hướng tới khách hàng để tìm độ thoả dụng mới

1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh

Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau

1.2.4.1 Thị phần

Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh Hơn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và

sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng v.v Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường

Trang 39

hay được sử dụng Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định:

Thị phần của doanh nghiệp =

Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành

Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ ta dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đối thủ

1.2.4.2 Năng suất lao động

Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi thông qua năng suất lao động ta có thể đánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và trình độ công nghệ của doanh nghiệp

1.2.4.3 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùng vào

hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao và chi phí thấp Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể đánh giá được khả năng cạnh tranh của mình so với đối thủ Nếu

Doanh thu của doanh nghiệp

Tổng doanh thu toàn ngành

Trang 40

lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất khả quan

Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:

Tỷ suất lợi nhuận =

Chỉ tiêu này cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệp thấp Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao Đã có quá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh Nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc

độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là có hiệu quả Điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao Doanh nghiệp cần phát huy lợi thế cảu mình một cách tối đa và không ngừng

đề phòng đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp bất cứ lúc nào do sức hút lợi nhuận cao

Ngoại trừ các chỉ tiêu có thể đo lường được, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn được biểu hiện qua một số các chỉ tiêu định tính như:

1.2.4.3 Uy tín của doanh nghiệp

Uy tín của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có nhiều bạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách hàng rất lớn Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần và lợi nhuận v.v Nhưng để đạt được các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo được uy tín của mình trên thị trường, phải tạo được vị thế của mình trong con mắt của khách hàng Cơ sở, tiền đề để tạo được uy tín của doanh nghiệp đó là doanh nghiệp phải có một nguồn vốn đảm bảo để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, có một hệ thống máy móc, cơ sở hạ tầng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hoạt động kinh doanh Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên uy tín của doanh nghiệp đó là “ con người trong doanh

Tổng lợi nhuận

Tổng doanh thu

Ngày đăng: 30/07/2014, 02:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PTS Lê Dăng Doanh, Th.S Nguyễn Thị Kim Dung, PTS Trần Hữu Hân(1998), “Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”, Nxb Lao động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước
Tác giả: PTS Lê Dăng Doanh, Th.S Nguyễn Thị Kim Dung, PTS Trần Hữu Hân
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
2. TS Phạm Công Đoàn,TS Nguyễn Cảnh Lịch(1999), “Kinh tế doanh nghiệp thương mại", Nxb Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế doanh nghiệp thương mại
Tác giả: TS Phạm Công Đoàn,TS Nguyễn Cảnh Lịch
Nhà XB: Nxb Quốc gia
Năm: 1999
3. GS - TS Phạm Vũ Luận(2001), “Quản trị doanh nghiệp thương mại”, Nxb Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị doanh nghiệp thương mại
Tác giả: GS - TS Phạm Vũ Luận
Nhà XB: Nxb Quốc gia
Năm: 2001
4. Phillip Kotler (1999), “Quản trị Maketing”, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Maketing
Tác giả: Phillip Kotler
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1999
5. Michael E. Potter (1996), “Chiến lược cạnh tranh”,Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cạnh tranh
Tác giả: Michael E. Potter
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
7. Các website: metrang.com.vn, vicofa.org.vn và các website của câc doanh nghiệp sản xuất cà phê trong nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: metrang.com.vn, vicofa.org.vn
6. Các tài liệu có liên quan đến sản phẩm cà phê của Công ty cổ phần cà phê Mê Trang Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty: - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Sơ đồ 1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty: (Trang 47)
Sơ đồ 2 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất  2.1.4 Môi trường kinh doanh công ty - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Sơ đồ 2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất 2.1.4 Môi trường kinh doanh công ty (Trang 51)
Hình 2.1 :Hệ thống kênh phân phối toàn quốc của Công ty cổ phần cà phê Mê  Trang - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Hình 2.1 Hệ thống kênh phân phối toàn quốc của Công ty cổ phần cà phê Mê Trang (Trang 62)
Bảng 2.4 : Cơ cấu sản phẩm theo giá trị của công ty năm 2007 - 2009 - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Bảng 2.4 Cơ cấu sản phẩm theo giá trị của công ty năm 2007 - 2009 (Trang 67)
Bảng 2.5: Tình hình nguồn vốn kinh doanh của công ty giai đoạn 2007 – 2009 - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Bảng 2.5 Tình hình nguồn vốn kinh doanh của công ty giai đoạn 2007 – 2009 (Trang 70)
Bảng 2.6: Tình hình máy móc thiết bị của công ty đến ngày 31/12/2009 - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Bảng 2.6 Tình hình máy móc thiết bị của công ty đến ngày 31/12/2009 (Trang 72)
Bảng 2.7: Tình hình nguồn lao động của công ty trong 3 năm (2007 -2009) - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Bảng 2.7 Tình hình nguồn lao động của công ty trong 3 năm (2007 -2009) (Trang 73)
Bảng 2.8: Tương quan sản lượng tiêu thụ của công ty và các đối thủ - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Bảng 2.8 Tương quan sản lượng tiêu thụ của công ty và các đối thủ (Trang 82)
Bảng 2.10. Năng suất lao động bình quân của công ty so với các đối thủ - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Bảng 2.10. Năng suất lao động bình quân của công ty so với các đối thủ (Trang 85)
Bảng 2.11. Chênh lệch Năng suất lao động bình quân của công ty so với đối thủ - Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê mê trang
Bảng 2.11. Chênh lệch Năng suất lao động bình quân của công ty so với đối thủ (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w