Xu hướng phát triển chung hiện nay là phát triển kinh tế với phát triển con người, vì vậy chính sách dân số luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những giải pháp quan trọng tron
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Mối quan hệ giữa dân số và phát triển là một vấn đề rất khăng khít được mọi quốc gia và quốc tế quan tâm nghiên cứu Thực tế chứng minh rằng, sự biến đổi dân số sẽ dẫn đến hàng loạt những biến đổi khác, trong đó
có tình trạng nghèo đói, chất lượng dân số và sự phát triển chung của cả đất nước Bắt nguồn từ điều này, chính sách dân số đã trở thành một bộ phận hết sức quan trọng trong việc hoạch định chiến lược kinh tế-xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Xu hướng phát triển chung hiện nay là phát triển kinh tế với phát triển con người, vì vậy chính sách dân số luôn được Đảng và Nhà nước
ta coi là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Nghị quyết 47- NQ/ TW Ngày 23 tháng 03 năm 2005 của Bộ Chính trị
về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đã
khẳng định “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh
thần, cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [4] Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ X khẳng
định: “Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần Phấn đấu
đạt chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) ở mức trung bình tiên tiến trên Thế giới vào năm 2010” [17], [18], [19], [32], [41], [44], [51], phân bổ
dân cư hợp lý giữa các vùng Chiến lược dân số Việt Nam cũng xác định:
“Nâng cao chất lượng dân số trong quá trình đổi mới, lấy sự nghiệp phát triển con người làm nền tảng của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, coi công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước” Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hòa quan hệ
giữa số lượng với chất lượng dân số; Giữa dân số và phát triển có một mối quan hệ khắng khít vừa ràng buộc, vừa thúc đẩy hổ trợ lẫn nhau Muốn tăng cường và phát triển kinh tế xã hội thì phải dựa vào yếu tố cơ bản là nguồn
Trang 2nhân lực [4], [11], [17], [51] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Thực hiện nghiêm chính sách và pháp luật
về dân số, duy trì mức sinh hợp lý, quy mô gia đình ít con Có chính sách cụ thể đảm bảo tỷ lệ cân bằng giới tính khi sinh Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công tác dân số kế hoạch hoá gia đình Làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ
bà mẹ và trẻ em, giảm mạnh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng dân số”.[55]
Mục tiêu của chính sách dân số là mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai
con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ 21 [18], [41] Các giải pháp
cụ thể của chiến lược được xác định địa bàn trọng điểm là vùng khó khăn có mức sinh cao, các đối tượng tác động chủ yếu là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ [17]; Đặc biệt chú trọng đến các đối tượng sinh hai hoặc ba con trở lên [9], [27], [30], [42] Mà lực lượng nòng cốt là hệ thống các tổ chức dân số-kế hoạch hoá gia đình cấp cơ sở và nhấn mạnh hệ thống đồng bộ các giải pháp; Trong đó giải pháp về dịch vụ kế hoạch hoá gia đình có ý nghĩa quyết định, đảm bảo kịp thời, đầy đủ và đa dạng hóa các phương tiện tránh thai chất lượng cao, đặc biệt là các biện pháp tránh thai hiện đại (mang tính khoa học,
an toàn và bền vững) nhằm đảm bảo mục tiêu giảm sinh để đạt đến mức sinh thay thế một cách vững chắc [5], [6], [7], [8], [29], [32]
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tình hình sinh đẻ và thực hiện kế hoạch hóa gia đình tại Thị
xã Quảng Trị-tỉnh Quảng Trị năm 2010”, với mục tiêu:
1 Khảo sát tình hình sinh đẻ và thực hiện kế hoạch hoá gia đình của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại các phường, xã- Thị xã Quảng Trị tỉnh Quảng Trị.
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả thực hiện kế hoạch hoá gia đình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH 1.1.1 Tình hình chung về dân số
Vấn đề dân số đã trở thành một trong những vấn đề toàn cầu từ khi
người công dân thứ 5 tỷ ra đời vào năm 1987 tại Nam Tư Nhiều Quốc gia trên thế giới ngày càng có sự thống nhất về mặt nhận thức, chương trình, giải pháp để giải quyết vấn đề dân số và phát triển Ngày 12/10/1999, dân số thế giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỷ người và đến nay đã gần 7 tỷ người Ngày 26 tháng 12 trở thành một mốc lịch sử quan trọng của Chương trình dân số Việt Nam, ngày được coi là Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia chương trình dân số toàn cầu, ngày đánh dấu sự khởi đầu về nhận thức được ý nghĩa của mối quan hệ giữa dân số và phát triển trong tiếng chuông báo động về tình hình gia tăng dân số quá nhanh trên thế giới [48], [52]
Sự gia tăng dân số ở Việt Nam là vấn đề đáng báo động, nếu chỉ tính từ
1975 đến năm 1990, dân số nước ta tăng khoảng 18,6 triệu người, trong khi
đó cả Châu Âu chỉ tăng thêm 20 triệu người Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở vào ngày 01 tháng 4 năm 1999 dân số Việt Nam là 76,3 triệu người đến nay đã trên 89 triệu người, xếp hàng thứ 2 ở Đông Nam Á và hàng thứ 13 trong tổng số hơn 224 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Có thể nói rằng, sự gia tăng dân số nhanh trong những năm trước đây với tốc độ trên 2% năm đã có những ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội Theo các nhà nghiên cứu dự báo dân số Việt Nam sẽ tăng lên 94 triệu người vào năm 2015 cùng với số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tăng từ 24 lên 26 triệu người và có khoảng 1,2 lên 1,8 triệu phụ nữ mang thai và sinh con mỗi năm, [41], [46], [47], [48]
Trang 41.1.2 Các khái niệm cơ bản
1.1.2.1 Khái niệm dân số
- Dân số (DS): Là một cộng đồng dân cư (hay cộng đồng người) sống
trong một địa phương, một quốc gia hay một lãnh thổ nhất định, được xác định tại một thời điểm cụ thể Sự hình thành của dân số mang tính lịch sử trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của con người
- Các đặc trưng cơ bản của dân số:
+ Dân số luôn được tái sinh nhờ quá trình thay thế liên tục các thế hệ cũ bằng thế hệ mới do sinh đẻ và tử vong, gọi là “tái sản xuất dân số”
+ Dân số luôn biến động, có thể tăng hoặc giảm do tác động các yếu tố sinh đẻ, chết, chuyển đi và chuyển đến
+ Dân số vừa là lực lượng sản xuất lại vừa là lực lượng tiêu dùng những sản phẩm do chính con người làm ra Vì vậy, dân số là chủ thể của xã hội và là động lực của sự phát triển
* Quy mô dân số: Là tổng số dân của địa phương, một quốc gia, một
vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định Quy mô dân số là chỉ tiêu dân số học cơ bản Những thông tin về quy mô dân số cần thiết cho việc tính toán phân tích, so sánh với các chỉ tiêu kinh tế xã hội góp phần xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển Quy mô dân số là đại lượng không thể thiếu được trong việc xác định các thước đo chủ yếu như mức sinh, chết, di dân
* Cơ cấu dân số: Cơ cấu dân số là sự phân loại dân số dựa trên các đặc
trưng về giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân
* Chất lượng dân số: Chất lượng dân số là đặc trưng về thể chất, trí
tuệ, tinh thần của toàn bộ dân số Các đặc trưng cơ bản chia thành 5 nhóm gồm:
1) Thu nhập và phúc lợi;
2) Sức khỏe và dinh dưỡng;
Trang 53) Giáo dục và phát triển trí tuệ;
4) Giải trí văn hóa và tinh thần;
5) Môi trường sống
* Biến động dân số:
- Biến động dân số tự nhiên: Là những thay đổi của dân số xảy ra theo khoảng thời gian xác định mang tính quy luật tự nhiên do tác động của quá trình sinh đẻ và tử vong
- Biến động dân số cơ học: Là sự thay đổi nơi cư trú (chuyển đi hay chuyển đến) trong hoặc ngoài phạm vi thuộc một nước, một vùng hay một địa phương trong nước (xã, huyện, tỉnh…) của dân số
* Công tác dân số: Là quản lý tổ chức thực hiện các hoạt động tác
động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư và nâng cao chất lượng dân số
* Chính sách dân số: Là những chủ trương, biện pháp, hướng dẫn, quy
định của Đảng, Nhà nước, cơ quan tổ chức có thẩm quyền nhằm làm thay đổi
xu hướng hiện tại của dân số theo mục đích, mục tiêu đề ra [16], [41]
1.1.2.2 Kế hoạch hóa gia đình [12], [42], [50], [54]
* Khái niệm: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì kế
hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) bao gồm những vấn đề để thực hiện giúp cho các cá nhân hay cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu Tránh những trường hợp sinh không mong muốn; Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh; chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ
Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con KHHGĐ không những chỉ bao hàm việc lựa chọn các biện pháp để tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con
Trang 6* Các biện pháp tránh thai hiện đại: Triệt sản; đặt vòng tránh thai;
thuốc tránh thai; bao cao su
* Các biện pháp tránh thai truyền thống:
Phương pháp giao hợp định kỳ (phương pháp vòng kinh);
Phương pháp giao hợp ngắt quãng (xuất tinh ngoài âm đạo)
* Những phép đo cơ bản về KHHGĐ
• Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai (CPR) là
tỷ lệ phụ nữ trong tuổi sinh đẻ (15- 49) có chồng đang sử dụng (hoặc chồng của họ đang sử dụng) một hoặc nhiều biện pháp tránh thai (BPTT) nào đó (DCTC, bao cao su, các loại thuốc tránh thai, hoặc các loại tránh thai khác) trên tổng số phụ nữ từ 15- 49 tuổi hiện đang có chồng thuộc khu vực nào đó trong một thời gian xác định
Thuốc tránh thai bao gồm các loại uống, tiêm, cấy Tỷ lệ này cũng có thể tính riêng cho từng biện pháp
Số PN có chồng từ 15- 49 tuổi dùng BPTTCPR % = x 100
Tổng số PN có chồng từ 15- 49 tuổi Phụ nữ có chồng là những người được luật pháp hoặc phong tục thừa nhận, bao gồm cả những phụ nữ sống chung với người khác như vợ chồng
• Tỷ số hút điều hoà kinh nguyệt (HĐHKN) (hoặc nạo thai, sẩy thai)
so với trẻ đẻ ra sống là số lần HĐHKN (hoặc nạo thai, sẩy thai) tính trung bình cho một trẻ đẻ sống Chỉ số này rất quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác KHHGĐ
Số lần HĐHKN (hoặc nạo, sẩy thai)
Số lần HĐHKN =
(nạo, sẩy/ lần đẻ) Tổng số trẻ đẻ sống
Trang 7• Tỷ lệ bà mẹ sinh con lần thứ 3 trở lên: Là tỷ lệ các bà mẹ sinh con
thứ 3 trở lên trên tổng số các bà mẹ sinh con
Số BM sinh con lần thứ 3 trở lên
Tổng số PN sinh con
1.1.2.3 Các chỉ số đánh giá chương trình dân số-KHHGĐ [54]
- Mức sinh: Là biểu hiện thực tế của khả năng sinh sản Chẳng hạn con
người có khả năng sinh sản trung bình khoảng 12 con, song thực tế trung bình người ta chỉ sinh 3 con Mức sinh là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình
biến động tự nhiên dân số Nó không chỉ ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu, tốc
độ gia tăng dân số mà còn ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội
- Mức sinh thay thế: Là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình
có vừa đủ số con gái để thay thế mình trong dân số Một tỷ suất sinh sản thực bằng 1,0 thì bằng mức sinh thay thế Khi đạt mức sinh thay thế, số sinh sẽ dần dần cân bằng với số chết và nếu không có nhập cư, di cư thì qui mô dân số đi vào ổn định Tổng tỷ suất sinh có thể được sử dụng để chỉ mức sinh thay thế bằng cách biểu thị số con trung bình đủ để thay thế cả cha mẹ trong dân số Tổng tỷ suất sinh đạt 2,1 thì được coi là đạt mức sinh thay thế
- Mức chết: Cũng là yếu tố tác động rất lớn đến quy mô, cơ cấu và tốc
độ tăng dân số Chết là hiện tượng không thể tránh khỏi đối với mọi cơ thể sống Tuy nhiên, trong mọi thời kỳ phát triển, giảm mức chết là nhiệm vụ hàng đầu của các quốc gia Mức chết được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như tỷ suất chết thô, tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi, tỷ suất chết trẻ em dưới
01 tuổi, triển vọng sống trung bình
- Di dân: Là một quy luật của quá trình phát triển dân số, một hiện
tượng mang tính khách quan, phản ánh trình độ phát triển và sự biến động cơ học của các quốc gia Một trong những biểu hiện của sự phát triển không
Trang 8đồng đều giữa các vùng và lãnh thổ là hiện tượng di dân Sự chênh lệch về giá
cả, dịch vụ xã hội, đất đai, việc làm, thu nhập…là tác động chính cho hiện tượng di dân phát triển Di dân có thể được thực hiện theo kế hoạch của nhà nước, người dân nhận được sự hổ trợ tài chính và những chính sách khác từ phía chính quyền Di dân tự phát là một hình thức biểu hiện khác, không nhận được sự trợ giúp của nhà nước và là vấn đề nhạy cảm trong xã hội hiện nay
Số liệu thống kê cho thấy số người di dân tự phát đến các đô thị lớn một phần lớn là từ các vùng nông thôn và một phần từ các đô thị nhỏ khác [16]
- Kế hoạch hoá gia đình:
Những thập niên trước KHHGĐ được coi là hạn chế sinh đẻ và chỉ chú trọng tuyên truyền vận động phụ nữ áp dụng các BPTT như đình sản, đặt dụng cụ tử cung, uống hoặc tiêm thuốc tránh thai hoặc vận động nam giới đình sản và dùng bao cao su Thế nhưng ngày nay người ta đã có quan niệm rộng hơn về KHHGĐ và từ đó công tác tuyên truyền vận động được thực hiện một cách toàn diện chứ không chỉ chú trọng các BPTT
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) KHHGĐ bao gồm những thực hành giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu sau:
- Tránh những trường hợp mang thai không mong muốn
- Đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn sinh khi nào, sinh bao nhiêu lần trong đời
- Điều hoà khoảng cách giữa các lần sinh
- Chủ động chọn thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố mẹ
Vì vậy KHHGĐ được hiểu là chủ động quyết định số con của mỗi cặp
vợ chồng và khoảng cách giữa các lần sinh thông qua việc sử dụng các BPTT
để xây dựng cuộc sống gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến bộ và hạnh phúc Thực hiện KHHGĐ vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ trách nhiệm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng Họ có quyền tự do quyết định KHHGĐ với ý thức
Trang 9trách nhiệm đầy đủ về số con trên cơ sở những thông tin và những hiểu biết cần thiết để thực hiện KHHGĐ [12], [42], [50], [54].
- Sức khoẻ sinh sản:
Là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc không tàn phế của hệ thống sinh sản Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS, các biện pháp KHHGĐ an toàn,
có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, đảm bảo cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp
vợ chồng cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh (Theo Tổ chức Y
tế thế giới) [6], [7], [48]
1.2 PHÁT TRIỂN DÂN SỐ- KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
1.2.1 Tình hình phát triển DS-KHHGĐ trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Tình hình DS-KHHGĐ trên thế giới
Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) cho biết, dân số thế giới đang tăng 78 triệu người/ năm, kéo theo những hậu quả nặng nề về bệnh tật, nghèo đói và thảm hoạ môi trường Vì thế Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) tổ chức tại Amsterdam (Thủ đô Hà Lan) tháng 9 năm 1989 đã quyết định lấy ngày 11/7 hàng năm làm ngày dân số thế giới nhắc nhở các quốc gia và mọi người trên trái đất về nguy cơ này
Theo báo cáo của Liên hiệp quốc, tổng dân số thế giới sẽ tăng từ 6,7 tỷ người năm
2004 lên 9,2 tỷ người vào năm 2050 Trong khi đó, Cục điều tra dân số của Mỹ vừa dự báo, dân số toàn cầu sẽ lên tới 7 tỷ người vào năm 2012 Hiện nay, Mỹ đứng thứ ba với
311 triệu người, sau Trung Quốc và Ấn Độ "Người ta có thể dễ dàng nhận thấy những tác động của việc gia tăng dân số nhanh chóng ở những nước đang phát triển”.
Hiện nay, dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%
năm Cục điều tra dân số Mỹ dự báo, tốc độ này sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050 Khi
đó, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới Đồng thời, dân số
Trang 10thế giới cũng sẽ già đi nhanh chóng Đến năm 2050, số người từ 80 tuổi trở lên sẽ chiếm 5% dân số, so với 1,5% hiện nay Theo ông William Frey, nhà dân số học thuộc Viện nghiên cứu Brookings (Mỹ), cho đến nay chưa có một điều tra nào về việc liệu trái đất có thể cưu mang được bao nhiêu con người, nhưng điều đó phụ thuộc vào việc con người sử dụng các tài nguyên thiên nhiên của trái đất như thế nào.
Nguy cơ nghèo đói gia tăng
Cùng với việc dân số tăng nhanh, nhu cầu về tài nguyên, lương thực, nước ngọt và đô thị hoá cũng tăng theo, đặt nhân loại trước nhiều thách thức lớn Hãng tin Reuters dẫn một báo cáo Liên hiệp quốc cho biết, vào cuối năm
nay, phân nữa dân số thế giới sẽ sống ở các thành phố
Đến năm 2050, có 6,4 tỷ người sống ở các đô thị Các khu vực phát triển nhất thế giới, châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương, hiện có nhiều người sống ở đô thị Châu Phi và châu Á là những ngoại lệ khi dân số đô thị ít hơn nông thôn, nhưng lại là nơi có dân số đông nhất thế giới Khi quá trình đô thị hóa mở rộng, dân số nông thôn được dự đoán sẽ bắt đầu giảm trong vòng 1 thập kỷ và sẽ giảm từ 3,4 tỷ người năm 2007 xuống 2,8 tỷ người năm 2050.
Để có đủ lương thực và nhiều nhu cầu khác cho số người ngày càng tăng, nhiều diện tích rừng đã bị phá huỷ; diện tích đất bạc màu gia tăng do bị khai thác quá mức Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO) và một số tổ chức khác vừa cho biết: Hơn 20% diện tích đất canh tác, 30% diện tích rừng và 10% diện tích đồng cỏ đang bị xuống cấp, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống khoảng 1,5 tỷ người, tức là 1/4 dân số toàn cầu [23], [48]
Trang 111.2.1.2 Tình hình DS- KHHGĐ tại Việt Nam
Bảng 1.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số theo tỉnh năm 2009
Tỉnh/ thành phố Diện tích
(km2)
Dân số (nghìn người)
Mật độ dân số (Người/km 2 )
Trang 13Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009 [47]
1.2.1.3 Tình hình sinh lần thứ 3 trở lên và mức giảm sinh ở Việt Nam
Theo số liệu tổng điều tra dân số thời kỳ 1979- 1989, dân số nước ta tăng thêm 11,9 triệu người, tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,75%, đến giai đoạn 1989- 1999 là 1,70%, tuy có giảm nhưng dân số tăng trung bình vẫn còn cao, mỗi năm tăng từ 01 triệu đến 1,1 triệu người, tỷ lệ sinh con thứ
ba trở lên giảm chậm và vẫn còn cao Năm 1999 vẫn chiếm khoảng 1/3 tổng số sinh trong năm [10], [12], [15], [18], [27], [29], [30] Cần tiếp tục quán triệt và cương quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương khóa VII, phấn đấu sớm đạt dược mục tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời nâng cao chất lượng dân số Việt Nam [1]
Bảng 1.2: Tỷ lệ sinh con thứ 3 các năm
Trang 14Chia theo thành thị/nông thôn, 2005-2010 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (%)
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên
Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên ở Việt Nam từ năm
2005 đến 2010 chia theo thành thị và nông thôn Số liệu cho thấy, trong thời gian qua tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước giảm từ 20,8% năm 2005 xuống 15,1% năm 2010 Trải qua nửa thập kỷ, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên ở nông thôn cao hơn hai lần so với ở thành thị, tỷ lệ này có
xu hướng ở nông thôn mức giảm nhiều hơn ở thành thị Hay có thể nói, tỷ lệ phụ nữ thôi không sinh thêm con sau khi có từ 1 đến 2 con ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng lên, góp phần tích cực làm giảm mức sinh ở Việt Nam, đưa nước ta trở thành một nước đạt mức sinh dưới mức thay thế Xu hướng này giúp Việt Nam có cơ hội ổn định dân số, giảm bớt gánh nặng phụ thuộc trẻ, tạo thời cơ thuận lợi cho Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và chất lượng
Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm 2010 phụ thuộc rất chặt chẻ vào trình độ học vấn của phụ nữ Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm 2010 của những phụ nữ chưa đi học tới 45,0%, giảm dần xuống còn 28,8% đối với phụ nữ chưa tốt nghiệp tiểu học, 18,4% đối với phụ nữ tốt nghiệp tiểu học, 13,8% đối với phụ nữ tốt nghiệp
Trang 15trung học cơ sở và chỉ còn 5,1% đối với phụ nữ có trình độ học vấn từ trung
học phổ thông trở lên [46]
1.2.2 Các biện pháp tránh thai [10], [39], [40]
- Thực hiện tốt công tác KHHGĐ nhằm giảm tỷ lệ sinh hàng năm là bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em (BMTE), sử dụng BPTT để tránh xảy ra những trường hợp có thai ngoài ý muốn là hết sức cần thiết
Các BPTT có thể chia thành các nhóm chính theo sơ đồ sau
ĐỐI VỚI NỮ
* Thắt/ cắt vòi tử cung
ĐỐI VỚI NAM
* Thắt/cắt ống dẫn tinh
Trang 16Hiện nay có nhiều BPTT, mỗi biện pháp đều có ưu nhược điểm riêng
và cần lựa chọn thích hợp cho từng người, tuỳ theo hoàn cảnh tâm lý, trình
độ cũng như sức khoẻ để có thể lựa chọn thích hợp cho mỗi phụ nữ Để giúp cho các phụ nữ thực hiện KHHGĐ lựa chọn những BPTT thích hợp nhất thì các nhà quản lý, cũng như các nhà chuyên môn cả chương trình phải nắm được dữ liệu mới nhất về hiệu quả và độ an toàn các biện pháp
1.2.2.1 Dụng cụ tử cung (DCTC)
Dụng cụ tử cung hay thường gọi là vòng tránh thai Ở Việt Nam, vào những năm 1990 trở về trước hay dùng các loại vòng lyp, vòng Dana (vòng số 8), Tcu 200 Hiện nay có các vòng như: Tcu 380A, vòng Multiload…
Thuận lợi và không thuận lợi:
* Thuận lợi:
+ Hiệu quả tránh thai cao (97- 98%)
+ Có tác dụng tránh thai trong nhiều năm
+ Có thể lấy ra khỏi cổ tử cung dễ dàng và dễ có thai lại sau khi DCTC
đã được lấy ra
+ Sau khi đặt ít cần đến sự chú ý của cán bộ y tế
+ Hiếm khi bị các tai biến trầm trọng
* Không thuận lợi:
+ Đặt và lấy cần có cán bộ y tế được đào tạo và phải đến cơ sở y tế để đặt.+ Sau khi đặt DCTC thường có một số tác dụng phụ (như ra khí hư, rong kinh, đau bụng, hoặc có thể có biến chứng tuy không nhiều nhưng cũng gây khó chịu trong sinh hoạt lao động, có khi phải điều trị tại nhà hay ở bệnh viện)
1.2.2.2 Thuốc tránh thai
Bao gồm: thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc cấy
* Viên thuốc tránh thai kết hợp
+ Là biện pháp tránh thai tạm thời có chứa 2 loại hocmon Estrogen
và Progestin
Trang 17+ Hiệu quả: nếu sử dụng đúng và liên tục hiệu quả tránh thai > 99%.
* Viên thuốc tránh thai chỉ có Progestin
+ Giống như viên thuốc ngừa thai kết hợp, ngoài ra còn dùng được cho phụ nữ cho con bú, những người lớn tuổi hút thuốc lá, bị tiểu đường, béo phì
và cao huyết áp
* Thuốc tiêm tránh thai DMPA
+ Là loại thuốc tránh thai có progestin liều 150 mg, tiêm 1 mũi có tác dụng ngừa thai trong 3 tháng
+ Là phương thức tránh thai có hiệu quả cao
+ Ưu điểm:
• Hiệu quả tránh thai cao (99,6%)
• Có tác dụng lâu dài (tiêm 1 mũi giúp tránh thai 3 tháng)
• Có những ưu điểm tương tự như thuốc viên tránh thai chỉ có progestin
• Giống như viên thuốc ngừa thai kết hợp, ngoài ra còn dùng được cho phụ nữ cho con bú, những người lớn tuổi hút thuốc lá, bị tiểu đường, béo phì và cao huyết áp
• Sử dụng được cho phụ nữ cho con bú
+ Nhược điểm:
• Do thuốc có tác dụng lâu dài, sau khi ngừng dùng DMPA sẽ chậm
có thai (chậm hơn 2- 4 tháng so với các thuốc tránh thai khác)
• Có những thay đổi kinh nguyệt thường xuất hiện mất kinh sau 9- 12 tháng sử dụng
• Đôi khi kinh nhiều hoặc kéo dài sau khi sử dụng 1- 2 tháng
* Thuốc cấy tránh thai
+ Đây là loại thuốc tránh thai dài hạn 3- 5 năm Những nang thuốc (1 hoặc 6 nang) được đặt ở dưới da, thường là mặt trong cánh tay trái
Trang 18+ Thuốc là progestin đơn thuần không có estrogen được phóng thích qua nang dần dần.
+ Hiện có 2 loại thuốc cấy là Norplant và Implan
- Triệt sản nam không có ảnh hưởng đến sức khoẻ và sinh hoạt tình dục
- Là một phẫu thuật nhỏ nhưng cũng không hoàn toàn tránh được một
số biến chứng do phẫu thuật Do đó đòi hỏi thầy thuốc phải được huấn luyện đạt được một kỹ năng nhất định
1.2.2.5 Triệt sản nữ bằng phương pháp thắt và cắt vòi tử cung
Triệt sản nữ bằng phương pháp thắt và cắt vòi tử cung là một phẫu thuật làm gián đoạn vòi tử cung không cho tinh trùng gặp noãn để thực hiện thụ tinh
- Triệt sản nữ là phương pháp tránh thai vĩnh viễn, thực hiện một lần có tác dụng tránh thai suốt đời
- Hiệu quả tránh thai rất cao, trên 99% Tỷ lệ thất bại khoảng 0,5% Triệt sản nữ không có ảnh hưởng đến sức khoẻ, không ảnh hưởng đến kinh nguyệt, không ảnh hưởng đến giới tính và sinh hoạt tình dục
- Hiện nay số cặp vợ chồng áp dụng biện pháp này còn ít
Trang 19- Là một phẫu thuật nhỏ nhưng cũng không hoàn toàn tránh được một
số biến chứng do phẫu thuật Do đó đòi hỏi thầy thuốc phải có kỹ năng nhất định và phải có trang bị cơ sở vật chất để phục vụ cho phẫu thuật
1.2.2.6 Các biện pháp tránh thai truyền thống (tự nhiên)
- Đây là những biện pháp tránh thai không cần dụng cụ, thuốc hay thủ thuật tránh thai nào để ngăn cản thụ tinh
* Biện pháp tính theo vòng kinh
- Là biện pháp dựa vào ngày có kinh, chọn giao hợp vào những ngày xa giai đoạn phóng noãn để không thụ thai
- Chỉ định:
+ Tất cả các cặp vợ chồng chưa muốn sinh con đều có thể áp dụng
- Chống chỉ định:
+ Không có chống chỉ định, nhưng hiệu quả tránh thai không cao
* Biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo
Là biện pháp cổ xưa nhất mà loài người đã biết tránh thai ngoài ý muốn
và vẫn tồn tại đến ngày nay Riêng điều này cũng cho thấy đây là BPTT không hề gây hại gì cho cặp vợ chồng áp dụng
Cơ chế của biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo là tinh trùng không vào đường sinh dục nữ nên không có thụ tinh
* Biện pháp tránh thai cho bú vô kinh
Ở các nước đang phát triển, cho bú vô kinh đóng một vai trò quan trọng trong việc kéo dài khoảng cách sinh và làm giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ em Phương pháp này có hiệu quả tránh thai cao với các điều kiện sau:
+ Cho bú mẹ hoàn toàn
+ Chưa có kinh trở lại
+ Con dưới 6 tháng tuổi
Hiệu quả:
- Có thể đạt đến 98% hoặc cao hơn nữa nếu áp dụng đúng [17],[44]
Trang 201.3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
1.3.1 Tình hình thực hiện các BPTT trên thế giới
- Người ta ước tính, vào 1994 số lượng người áp dụng các BPTT trên thế là khoảng 899 triệu, hoặc là 57% số cặp vợ chồng có nguy cơ có thai Tỷ
lệ sử dụng các biện pháp cụ thể như sau: [48]
- Các biện pháp cần được cung cấp khác: 2% (*)
- Các biện pháp không phải cung cấp khác: 8% (**)
* Các biện pháp cần được cung cấp khác gồm có DMPA, Noplat,
Implanon, thuốc diệt tinh trùng.
** Gồm tất cả các biện pháp được gọi là “biện pháp tự nhiên”.
Dựa theo: World Contraceptive Use 1994 (ban dân số LHQ 1994) United Nation, Population Divition
1.3.2 Tình hình thực hiện BPTT khu vực.
- Giữa các khu vực có sự khác nhau đáng kể về tỷ lệ chấp nhận tránh thai và các mô hình sử dụng BPTT Tổng tỷ lệ sử dụng BPTT ở các khu vực phát triển cao hơn nhiều so với khu vực đang phát triển (72% so với 52%)
- Ở các khu vực phát triển, người ta dựa nhiều hơn vào thuốc uống tránh thai (TUTT), BCS và các BPTT khác như: Vật ngăn âm đạo hay biện pháp KHHGĐ tự nhiên, so với khu vực đang phát triển, nơi người ta tin cậy nhiều hơn vào biện pháp triệt sản nữ và DCTC
- Trong các khu vực đang phát triển, tỷ lệ chấp nhận tránh thai và các
mô hình sử dụng biện pháp cũng khác nhau một cách đáng kể Tổng tỷ lệ sử dụng cao nhất là Đông Á (kể cả Trung Quốc) và Mỹ La Tinh, thấp nhất là ở
Trang 21Nam Á và Châu Phi Đông Á tin cậy nhiều vào triệt sản nữ, triệt sản nam và DCTC, trong khi Mỹ La Tinh, người ta lại nhấn mạnh vào triệt sản nữ và thuốc tránh thai mà hầu như không dùng triệt sản nam Những khác biệt trong
mô hình sử dụng biện pháp giữa khu vực có thể là do những yếu tố chương trình (đặc biệt là sự sẵn có của biện pháp), mà cũng có thể do yếu tố khách hàng, như sự ưa chuộng vì lý do văn hóa chẳng hạn
Ví dụ: Tại nhiều khu vực tỷ lệ chấp nhận thấp trong sử dụng BCS và
biện pháp thắt ống dẫn tinh có thể phần nào là hậu quả của định kiến văn hoá đối với các biện pháp dùng cho nam giới [48]
- Ở nhiều nước và trong nhiều chương trình, mô hình sử dụng các BPTT đã thay đổi đáng kể theo thời gian Một số chương trình đã đưa ra một
cơ cấu biện pháp hạn chế để khởi đầu, và sau đó khi đã có thể thực hiện được việc cung cấp các biện pháp bổ sung, thì dần dần mở rộng khả năng lựa chọn cho khách hàng Chẳng hạn vào giữa những năm 60 ở Hàn Quốc, DCTC là BPTT được sử dụng rộng rãi nhất, các loại TUTT dần dần được chấp nhận vào những năm cuối của thập niên 60, và triệt sản là một biện pháp được giới thiệu vào những năm 70 Những thay đổi theo thời gian đó có các yếu tố như:
Sự sẵn có các BPTT, sự hiện hữu của các phương tiện y tế và cán bộ có tay nghề cao, sử dụng các chỉ tiêu phấn đấu hoặc các chế độ khen thưởng, mở ra các chiến dịch để vận động những biện pháp cụ thể và sự thay đổi trong sự ưa thích của người sử dụng
1.3.3 Tình hình thực hiện biện pháp tránh thai ở Việt Nam [9]
Trong những năm 90, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các BPTT tăng lên đáng kể từ 53% năm 1988 lên 65% năm 1994, lên 75,3% năm 1997 và 76,9% năm 2002, năm 2007 thực hiện 1.396.119 trường hợp đạt 81.8% kế hoạch năm (theo Báo cáo giao ban Bộ Y tế- Tổng cục dân số)
Trang 22Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai.
Thực hiện kế hoạch hóa gia đình cho những phụ nữ 15-49 tuổi hiện đang có chồng Kết quả cuộc điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình 01/4/2010 cho thấy, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai bất kỳ đạt 78,0%, giảm 1,5 điểm phần trăm so với kết quả điều tra 01/4/2008 Bước vào thế kỷ 21, số liệu của các cuộc điều tra mẫu biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình ngày 01 tháng 4 hàng năm cho thấy, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai bất kỳ của Việt Nam ngày càng cao Năm 2003, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai bất kỳ giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2002 và tăng dần trở lại qua các năm và đạt cực đại vào thời điểm 1/4/2008 (79,5%)
Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tại thời điểm 01/4/2010 đạt mức 67,5%, giảm 1,3 điểm phần trăm so với kết quả điều tra 01/4/2008 Trong khi đó, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai truyền thống vẫn tiếp tục giảm đi, tuy không nhiều
Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai bất kỳ ở khu vực nông thôn cao hơn
ở thành thị 2,8 điểm phần trăm Trong đó, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị 5,9 điểm phần trăm (69,2% so với 63,3%), còn tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống ở khu vực nông thôn thì thấp hơn thành thị 3,1 điểm phần trăm (9,6% so với 12,7%) Xu hướng này diễn ra trong suốt thập kỷ vừa qua Số liệu này cho thấy, trong thập kỷ vừa qua, các chương trình kế hoạch hóa gia đình đã được Nhà nước tập trung tuyên truyền và thực hiện có hiệu quả ở khu vực nông thôn, các Chương trình này đã góp phần làm giảm mức sinh ở khu vực nông thôn, qua
đó làm giảm mức sinh chung của cả nước trong hơn 10 năm qua.[46]
Nói chung tỷ lệ sử dụng BPTT rất cao và tăng nhanh trong khoảng thời gian năm 1988 - 1997 Sự lựa chọn các BPTT hiện đại ngày càng tăng thay thế cho các BPTT truyền thống Tỷ lệ sử dụng BPTT tăng vượt mức so với chỉ tiêu phấn đấu là 2% mỗi năm, qua đó đã quyết định việc giảm nhanh mức sinh
Trang 23Có thể rút ra 2 đặc điểm về cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Nam: Ưu thế của DCTT trong các BPTT hiện đại và tỷ lệ sử dụng biện pháp tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo trong toàn bộ các biện pháp khá cao Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất tại thời điểm 3 cuộc điều tra 1997, 2001,
2005 vẫn là DCTT vào năm 2005 có khoảng một nữa (55.3%) tăng về sử dụng BPTT hiện đại là kết quả của việc gia tăng các BPTT không phải chỉ là DCTT, mà đặc biệt là TUTT, BCS và triệt sản nữ
Quyết định số 147/2000/QĐ- TTg ngày 22/12/2000 của thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 [17]
Chỉ thị số 10/2001/QĐ- TTg ngày 04/05/2001 của thủ tướng Chính phủ về việc triển khai chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã định hướng cơ bản về chính sách dân số
Nghị định 94/ 2002/ NĐ- CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, và cơ cấu tổ chức của UBDS, gia đình và Trẻ em
Pháp lệnh dân số được chủ tịch nước công bố ngày 22/01/2003 Mục tiêu tổng quát của chính sách dân số là: Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng cao chất lượng dân số Từ khi chính thức được hình thành hệ thống mạng lưới Chăm sóc sức khỏe- Bảo vệ Bà mẹ- Trẻ em/ KHHGĐ (CSSK- BVBM- TE/ KHHGĐ), [10], tr.93- 109, đã trở thành một lĩnh vực không thể thiếu của ngành y tế, đã vững vàng hòa nhập cùng thế giới và khu vực về lĩnh vực CSSK, đã đem lại những kết quả to lớn trong cải thiện sức khỏe PN- TE và Chính sách dân số
Trang 24Bảng 1.3 Tình hình sinh con thứ ba
Đơn vị
hành chính
Số PN 15-49 tuổi sinh con trong 12 tháng
trước điều tra
Số PN 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên trong 12 tháng
trước điều tra
Tổng số Thành
thị
Nông thôn Tổng số
Thành thị
Nông thôn
2 Tỉ suất sinh thô (CBR) ‰ 15,48 14,90 14,40
3 Tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên % 22,82 21,50 19,65
4 Tỉ lệ sử dụng các BPTT hiện đại % 74,00 75,00 75,20
Nguồn: Chi cục dân số-kế hoạch hoá gia đình tỉnh Quảng Trị 2010 [15]
Bảng 1.5 Các chỉ số dân số tỉnh Quảng Trị
Trang 25Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Trị, niên giám thống kê 2010 [22] Theo Báo cáo Tổng kết dân số tỉnh Quảng Trị năm 2010 [15].
Bảng 1.6 Thực hiện các BPTT hiện đại trong hoạt động thường quy
Trang 26Riêng ở Quảng Trị năm 2000 dân số chỉ có 577.607 người, đến cuối
năm 2010 lên đến 600.462 người, qua 10 năm chỉ tăng 22.855 người, bình quân mỗi năm tăng 2.286 người Với mức tăng dân số như hiện nay thì cứ mỗi giờ trôi qua, toàn tỉnh có gần 3 đứa trẻ được sinh ra đời Với tình hình trên trong những năm tới nếu không có sự nổ lực hướng tới việc giảm mức sinh tích cực và tiến tới ổn định qui mô dân số thì tình hình gia tăng dân số sẽ làm ảnh hưởng không ít đến vấn đề phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh và thị
xã Quảng Trị
1.3.5 Tình hình thực hiện DS-KHHGĐ tại Thị xã Quảng Trị [2], [3], [34]
Trang 271.3.5.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế- văn hóa- xã hội 2010
Thị xã Quảng Trị hiện nay đơn vị hành chính thuộc tỉnh Quảng Trị, là một
đô thị có bề dày lịch sử hơn 200 năm Thị xã Quảng Trị thuộc vùng đồng bằng nằm ở phía Đông nam tỉnh Quảng Trị Trung tâm thị xã nằm cách thành phố Đông
Hà về phía Bắc 12km Có toạ độ địa lý từ 160 37,10" đến 160 46,30" vĩ độ Bắc và từ
1070 03,30" đến 1070 14, 10" kinh độ Đông
Nằm ven châu thổ sông Thạch Hãn, Thị xã Quảng Trị cách cố đô Huế khoảng 60km về phía Bắc, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Triệu Phong, phía Đông giáp huyện Hải Lăng và phía Nam giáp huyện Đakrông và Hải Lăng Thị xã Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 7.402,78ha, dân số 22.804 người, 5.782 hộ, 5 đơn vị hành chính phường xã: (Phường 1, phường 2, phường 3, phường An Đôn và xã Hải Lệ)
Địa hình Thị xã Quảng Trị chia thành 2 vùng rõ rệt Phía Nam là vùng đồi núi Phía Bắc là vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng Hai con sông Thạch Hãn và Vĩnh Định chảy qua Thị xã hình thành các con đường thuỷ nối liền Thị xã Quảng Trị về với Cửa Việt, Hội Yên, Đông Hà
Nằm trên trục đường giao thông chiến lược của quốc gia: Quốc lộ 1, tuyến đường sắt Bắc- Nam, địa bàn Thị xã Quảng Trị giao thông ra Bắc vào Nam hết sức thuận lợi Thị xã cũng là đầu mối xuất phát của các con đường tỉnh lộ như đường 64 (Thị xã Quảng Trị- Cửa Việt), đường 68 (Thị xã Quảng Trị-đồng bằng Triệu Hải- Phong Hải) và nhiều con đường khác: Thị xã Quảng Trị- La vang- Phước Môn, Thị xã Quảng Trị-Thượng Phước-Trấm- Cùa Với
hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và trung tâm Thị xã có thể mở rộng phát triển khắp các vùng, tiện lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa Thị xã Quảng Trị với các huyện, thị trong tỉnh, trong nước Vì vậy, Thị xã Quảng Trị có một vị trí quan trọng không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội
Trang 28Bảng 1.7 Diện tích dân số mật độ dân số năm 2010
Phường, xã Diện tích
Lao động trong
độ tuổi
Số hộ cuối kỳ
Một số kết quả đạt được trong năm 2009
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,63% Trong đó:
Trang 29+Tốc độ tăng trưởng ngành Nông-Lâm-Ngư nghiệp tăng 7,45%
+Công nghiệp-Xây dựng tăng 12,35%
+Thương mại-Dịch vụ tăng 11,81%
-Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước tính đạt 68,34 tỷ đồng; trong đó thu nội địa 20,25 tỷ đồng, thu hỗ trợ từ Trung ương 46,01 tỷ đồng, thu khác 2,07 tỷ đồng
-Tổng giá trị sản xuất 236,20 tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo KTXH năm 2009 của UBND thị xã Quảng Trị [2].
Bảng 1.9 Các chỉ số về dân số-KHHGĐ thực hiện tại Thị xã Quảng Trị
Trang 30CÁC CHỈ SỐ Đơn vị Tổng cộng
1.3.5.2 Hoạt động nâng cao chất lượng thông tin dân số-KHHGĐ tại Thị xã Quảng Trị năm 2010.
Công tác DS-KHHGĐ được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm với mục tiêu:
1 Tiếp tục giảm sinh 1 cách vững chắc
2 Thực hiện mới và duy trì hiệu quả số người sử dụng các BPTT hiện đại
Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai:
- DCTC (vòng) : 295/280 đạt 105,3% Kế hoạch năm
- Thuốc tiêm TT : 21/20 đạt 105,0% Kế hoạch năm
- Thuốc uống TT : 385/450 đạt 85,0% Kế hoạch năm
- Bao cao su : 800/800 đạt 100,0% Kế hoạch năm
Hầu hết các BPTT đều đạt và vượt chỉ tiêu Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 vẫn còn cao 20,0% năm 2010, tuy có giảm 5,40% so với năm
2009 song đây là vấn đề cần chú ý quan tâm [10]
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU