Việc làm này cho phép phác thảo một bức tranh chung về những yếu tố của mẹ trong khi mang thai và chuyển dạ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của con khi sinh.. Xác định một số đặc điểm
Trang 1Việc chăm sóc sơ sinh hiện nay trong các cơ sở sản khoa toàn quốc nói chung và các nhà hộ sinh khu vực thành phố Huế nói riêng thường là những chăm sóc thông thường của chuyên ngành sản khoa Trẻ được chuyển viện khi bệnh lý đã nặng vì bệnh không được phát hiện sớm tại tuyến cơ sở Tuyến trên thường không được cung cấp thông tin về quá trình chuyển dạ của mẹ và tình trạng sau sinh của con Nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ học của mẹ và con trong các cơ sở sản khoa là một việc làm cần thiết Việc làm này cho phép phác thảo một bức tranh chung về những yếu tố của mẹ trong khi mang thai và chuyển dạ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của con khi sinh Nghiên cứu về vấn đề này sẽ rèn luyện người bác sĩ thực hành trong công tác chăm sóc sơ sinh thói quen phỏng vấn tiền sử mang thai, chuyển dạ mẹ và những đặc điểm dịch tễ học của con như cân nặng, tuổi thai…để có hướng tư vấn cho cộng đồng về cách chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hợp lý trong tuần đầu sau đẻ Thay đổi được hành vi thực hành sẽ nâng cao chất lượng
Trang 2chăm sóc sơ sinh Đó là chìa khóa then chốt để giảm tỷ lệ tử vong giai đoạn
sơ sinh sớm trong cộng đồng
Hiện nay ít có tài liệu trong nước nghiên cứu về vấn đề này
Vì vậy, đề tài “Tìm hiểu một số đặc điễm dịch tễ học của mẹ và con sinh tại các nhà hộ sinh khu vực I, II, III Thành Phố Huế ” đã được thực hiện
nhằm các mục tiêu sau:
1 Xác định một số đặc điểm dịch tễ học của mẹ về trình độ văn hóa, nghề nghiệp, tiền sử sản khoa, tiền sử bệnh lý trong quá trình mang thai lần này của các bà mẹ mới sinh con tại các nhà hộ sinh khu vực thành phố Huế
2 Ghi nhận một số đặc điểm dịch tễ học về tuổi thai, cân nặng lúc sinh, giới tính và tình trạng sau sinh của các trẻ sơ sinh tại các nhà hộ sinh khu vực thành phố Huế và một số yếu tố liên quan giữa mẹ và cân nặng con
Trang 3- Dịch tễ học không phải chỉ có liên quan tới truyền nhiễm
- Không phải chỉ là khoa học của các vụ đại dịch
- Không phải chỉ là vi sinh học hay thống kê ứng dụng
- Và không phải chỉ là chính sách y tế hay chỉ quan tâm tới vấn đề tìm nguyên nhân Những ý nghĩ đó vẫn còn tồn tại trong không ít người
Dịch tễ học có tầm nhìn tổng quát, quan tâm tới tất cả các yếu tố sinh học, xã hội học liên quan tới con người Cần cố gắng hiểu rõ nó để tìm ra sự can thiệp tốt nhất có lợi cho cộng đồng [2]
1.2 Một số đặc điểm dịch tễ học mẹ:
Hàng năm trên thế giới có khoảng 500.000 phụ nữ tử vong liên quan đến thai nghén và sinh đẻ Tỷ lệ này cao nhất thuộc về các nước đang phát triển, nơi mà điều kiện nghèo đói, trình độ văn hóa thấp, hệ thống chăm sóc sức khỏe yếu kém là những yếu tố nguy cơ
Ở Việt Nam, tỷ lệ tử vong phụ nữ do thai nghén ước tính khoảng 1,4‰ theo WHO Nghiên cứu của viện bảo vệ bà mẹ - trẻ sơ sinh tại bệnh viện của
7 tỉnh đã nêu mỗi 1.000 trường hợp đẻ có 5,76 mẹ chết, ở một số tỉnh tỷ lệ này lên đến (9‰), Tây nguyên (1,8‰), miền núi (1,5‰)
Trang 4
Các nghiên cứu còn nêu rõ nguyên nhân chết mẹ:
do thai, tiền sản giật, nhau tiền đạo, bệnh béo phì, các bệnh nội khoa khác Những bất thường về nhiễm sắc thể có thể gặp ở trẻ sinh ra từ các bà mẹ lớn tuổi [1],[4]
- Theo nghiên cứu của Lý Mai Phương luận văn chuyên khoa I (2009), các bà mẹ của những trường hợp sơ sinh nhẹ cân có ở tất cả các độ tuổi Tỷ lệ các bà mẹ tuổi trên 39 là rất thấp (4,7%) và các bà mẹ tuổi dưới 20 là (10,6%), các bà mẹ tuổi từ 20-29 lại chiếm một tỷ lệ khá cao (60%) Một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy, mẹ lớn tuổi là một yếu tố quan trọng liên quan chặt chẻ đến cân
Trang 5nặng sơ sinh nhẹ cân, tuổi của các bà mẹ có con sơ sinh nhẹ cân (SSNC) tuổi
kế hoạch hóa gia đình: tuổi sinh đẻ tốt nhất và hợp lý nhất là 22-35 tuổi, bởi
vì lứa tuổi này là người phụ nữ đã phát triển về thể chất đầy đủ đã ổn định việc làm cũng như đã có những kiến thức về xã hội và trong cuộc sống gia đình [11]
1.3.2 Cân nặng mẹ:
Mẹ nhẹ cân: cân nặng dưới 40kg khi có thai có thể do thiếu dinh dưỡng, bệnh chán ăn Nguy cơ thiếu cân trong thai kỳ là sinh ra một em bé nhẹ cân hơn tuổi thai chậm phát triển trong tử cung, suy thai, ngạt thai sơ sinh, hạ đường máu, giảm thân nhiệt, tỷ lệ tử vong và bệnh lý cao
Mẹ béo phì: là những bà mẹ có cân nặng trên 70kg Các biến chứng thường gặp ở mẹ béo phì là rối loạn tăng huyết áp có từ trước và trong khi có thai, tần suất gặp từ (4-7%), biến chứng đái tháo đường cũng hay gặp Ngoài
ra còn gặp các biến chứng khác như viêm đường tiết niệu, viêm tĩnh mạch,
mẹ béo phì thường sinh một em bé cân nặng lớn, ngôi thế không rõ ràng, tỷ lệ
mổ lấy thai cao và dễ nhiễm trùng sau mổ [12]
Trang 61.3.3 Điều kiện về kinh tế xã hội:
Mức sống vật chất thấp, lao động quá nặng nhọc hoặc làm nghề chăn nuôi trồng trọt, sống ở nơi chật hẹp, thiếu vệ sinh, tinh thần căng thẳng thường làm thai kém phát triển gây tỷ lệ đẻ non cao Tình trạng nhà ở, tình trạng giáo dục, thu nhập kinh tế và lối sống khác nhau về điều kiện kinh tế,
xã hội, góp phần quan trọng làm ảnh hưởng đến sự phân bố của bệnh Sự đói nghèo kéo theo tình trạng dinh dưỡng kém, điều kiện sống thấp, nhà ở chật chội, chen chúc, vệ sinh không đảm bảo, không có khả năng sử dụng các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh Đó là lý do giải thích mô hình bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng ở các tầng lớp nghèo và các nước nghèo [4].[5]
1.3.4 Nghề nghiệp:
Tiếp xúc nghề nghiệp có ảnh hưởng rất rõ đến sức khỏe, đến sự phân
bố khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong thông qua các yếu tố:
+ Điều kiện vật lý: nóng lạnh thay đổi áp suất không khí
bà mẹ thuộc nhóm làm ruộng tỷ lệ đẻ con nhẹ cân cao nhất (70,5%) Nghiên cứu Cù Thị Minh Hiền (2002) cho thấy bà mẹ làm ruộng có nguy cơ đẻ con nhẹ cân cao gấp 3,7 lần các bà mẹ không làm ruộng [19]
Trang 7Môi trường lao động: ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đối với thai nghén đã được nhiều tác giả nghiên cứu Hóa chất bảo vệ thực vật không những ảnh hưởng trực tiếp làm giảm sức khỏe của người mẹ mà còn làm tăng nguy cơ sẩy thai, thai chậm phát triển và dị tật bẩm sinh Mẹ phơi nhiễm với các chất độc hóa học có trong môi trường lao động như hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón đều gây nguy hiểm đến sự phát triển của thai nhi [19].
1.3.5 Trình độ học vấn:
Một số nghiên cứu cho rằng có mối liên quan giữa trình độ học vấn và cân nặng lúc sinh của trẻ sơ sinh Trình độ học vấn mẹ thấp có liên quan đến việc sinh non và sinh con thấp cân [16]
Một số nghiên cứu tại Mỹ (2000) cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân ở các bà mẹ có trình độ học vấn dưới trung học là (9%), ở các bà mẹ có trình độ trung học là (7,9%) Còn các bà mẹ có trình độ từ cao đẳng trở lên là (6,5%) Theo Cù Thị Minh Hiền các bà mẹ có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống có nguy cơ đẻ non nhẹ cân cao gấp 2,77 lần so với các bà mẹ có trình
độ từ trung học trở lên [19]
1.3.6 Mối liên quan giữa các yếu tố văn hóa - xã hội và sức khỏe bệnh tật:
- Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự bất bình đẳng trong xã hội về sức khỏe Những kết quả nghiên cứu về sinh sản đã chỉ ra rằng những phụ nữ tầng lớp dưới thường bị sẩy thai tự nhiên nhiều hơn và con họ sinh ra có trọng lượng thấp và có tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao hơn [23]
- Trình độ văn hóa và sức khỏe mẹ: nguy cơ đối với sức khỏe của người phụ nữ đều xuất phát từ mang thai như: sinh đẻ, sẩy thai, nhiễm trùng hậu sản, và quan niệm phụ nữ chỉ nên quanh quẩn làm những việc trong nhà
là nguyên nhân của một số bệnh thường gặp khi mang thai [15]
Trang 81.3.7 Nội tiết học và thai nghén:
Trong thai kỳ có sự tác động tương hổ mạnh mẽ giữa các cơ quan của người mẹ và của bào thai về mọi phương diện kể cả quá trình điều hòa nội tiết Một mặt có rất nhiều yếu tố về phía mẹ đi sang bào thai, là một yếu tố rất cần thiết cho một cơ thể đang lớn lên Mặt khác còn có một quá trình trao đổi chất từ phía thai sang phía mẹ đó là sự vận chuyển chất cùng tham gia giữ vai trò quyết định để đảm bảo cho thai kỳ tiến triển [20]
1.3.8 Vệ sinh thai nghén:
Mang thai là một hiện tượng sinh lý bình thường của người phụ nữ Trong giai đoạn có thai, cơ thể có nhiều thay đổi không tốt cho sức khỏe chung, đồng thời người phụ nữ bị giảm sức đề kháng nên dễ bị bệnh hơn so với lúc không có thai, vì vậy vệ sinh trong thời kỳ thai nghén rất quan trọng cho cả mẹ lẫn con [14]
1.4 Nguy cơ trong lúc mang thai:
1.4.1 Tăng huyết áp thai kỳ:
Tăng huyết áp do thai được xác định khi huyết áp > 140/90 mmHg sau tuần thứ 20 của thai kỳ Đo huyết áp ít nhất 2 lần, không tiểu đạm (protein
<300mg/dl trong 24 giờ) hoặc không có thay đổi huyết áp trước đây Tăng huyết áp kết hợp với tiểu đạm, phù hoặc cả hai là biểu hiện tiền sản giật Tăng huyết áp trong thai kỳ làm giảm dòng máu qua nhau thai và dẫn đến tăng nguy cơ sinh non, sơ sinh nhẹ cân [19]
Phụ nữ mang thai sau tuổi 30: tăng huyết áp là chứng bệnh mạn tính phổ biến nhất ở phụ nữ mang thai lớn tuổi Khoảng 10% phụ nữ trải qua tình trạng này trong thời kỳ mang thai, tuy nhiên những phụ nữ ở độ tuổi 30-50 có nguy cơ mắc bệnh huyết áp tăng do mang thai cao hơn những phụ nữ trẻ tuổi hơn Phần lớn những phụ nữ bị tăng huyết áp trong thời kỳ mang thai đều có huyết áp ổn định khi không có thai, số còn lại bị tăng huyết áp trước khi mang thai.Chứng tăng huyết áp tác động đến hai mẹ con: các mạch máu trong
Trang 9tử cung, cung cấp dưỡng chất và oxy cho thai nhi Huyết áp tăng làm hẹp các mạch máu trong tử cung, làm chậm sự vận chuyển dưỡng chất và oxy từ người mẹ đến thai nhi, điều này lại làm chậm sự phát triển của thai nhi Chứng tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bong nhau thai (nhau thai tách khỏi thành tử cung trước khi sinh) Tình trạng này có thể gây chảy máu nhiều và gây sốc, rất nguy hiểm cho cả mẹ và con [18].
Theo hội nghị khoa học bệnh viện phụ sản Hùng Vương 2004: Tăng huyết áp (THA) và tiền sản giật (TSG) là tình trạng bệnh lý với nhiều nguy
cơ cho thai kỳ Tại Hoa Kỳ, (THA) được chẩn đoán trong 12-22% thai kỳ và
là nguyên nhân tử vong trực tiếp trong 17,6% trường hợp tử vong mẹ (THA) trong thai kỳ làm gia tăng các nguy cơ cho thai phụ như: nhau bong non, suy thận và các biến chứng tim mạch hay mạch máu não và thậm chí tử vong, đồng thời làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, bao gồm gia tăng bệnh tật và tử vong của thai nhi Theo nghiên cứu Trần Duy Tài, thai phụ tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình khoảng 30 với hơn 2/3 số bệnh nhân trong lứa tuổi từ 20-34 tuổi khoảng 50% số bệnh nhân là con so với nghề nghiệp đa số là nội trợ (41,81% so với 46,59%) tỷ lệ bệnh nhân có tiền căn THA hoặc TSG trong 2 nhóm ngiên cứu lần lượt là (7,1% và 5,7%)[21]
1.4.2 Bệnh đái tháo đường do thai nghén gây nên:
Một số phụ nữ bị bệnh đái tháo đường trong thời kỳ mang thai, gọi là
bệnh đái tháo đường do mang thai Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) xảy ra trong
thời kỳ mang thai có thể là vấn đề nghiêm trọng đối với phụ nữ lớn tuổi Bệnh đái tháo đường do mang thai tác động đến khoảng 10% phụ nữ mang thai Sau khi sinh gần như mọi phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường do mang thai
sẽ trở lại bình thường và căn bệnh biến mất Tuy nhiên có hơn một nữa số phụ nữ trải qua bệnh đái tháo đường trong thời gian mang thai sẽ mắc bệnh đái tháo đường khi về già Phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường do mang thai
Trang 10trong một lần mang thai rất có khả năng mắc bệnh đó trong lần mang thai tiếp theo Trong thời gian mang thai bệnh (ĐTĐ) có thể gây ra một vài biến chứng về thận, mắt, máu và huyết quản Bất kỳ biến chứng nào cũng có thể nguy hiểm cho cả mẹ và con Mọi dinh dưỡng của thai nhi đến từ người mẹ Nếu người mẹ có mức đường huyết cao, sản lượng Insulin của thai nhi sẽ tăng lên để cố điều hòa lượng đường dư thừa và tái thiết lập sự cân bằng Tuy nhiên Insulin của thai nhi không thể đi qua nhau thai vào máu của người mẹ, lượng Insulin phụ trội nằm trong túi ối và thai nhi có thể tăng trưởng nhanh trở nên quá lớn không thể được sinh an toàn qua âm đạo Sau khi sinh, có thể đứa bé vẫn có mức đường huyết rất thấp, gọi là giảm glucose huyết vì cơ thể đứa bé giờ đây kiểm soát được mức đường huyết của riêng mình Mọi trẻ sơ sinh đều được kiểm tra mức đường huyết ngay sau khi sinh Trẻ sơ sinh con những bà mẹ đái tháo đường có nguy cơ hạ đường máu tức thì sau sinh [18].
- Đường là năng lượng chính cung cấp cho thai nhi, phần lớn được tế bào não sử dụng Đường vận chuyển qua thai nhi nhờ cơ chế nồng độ thẩm thấu Những sản phụ tăng đường huyết tăng nguy cơ sơ sinh to gấp hai lần Mặt khác, sự dao động đường huyết lúc cao lúc thấp cũng làm tăng nguy cơ thai chậm phát triển trong tử cung, ngoài ra sản phụ tiểu đường cũng tăng nguy cơ sinh non và những biến chứng khác [19]
1.4.3 Bệnh lý thận và thai nghén:
-Theo sách sản phụ khoa viêm thận, viêm mủ bể thận, cao huyết áp, các bệnh này sẽ nặng lên lúc mang thai gây nhiều biến chứng như: rau bong non, sản giật do co thắt tiểu động mạch, lượng máu nhau thai ít, làm nhau thai bị xơ hóa, bánh rau nhỏ, thai kém phát triển, chết lưu Tăng tỷ lệ tử vong chu sinh, cần điều trị tích cực và có hệ thống hoặc phải đình chỉ thai nghén để cứu mẹ Nguy cơ cho mẹ Tăng huyết áp gia tăng mức độ thương tổn thận [4]
Trang 11- Bệnh lý thận mãn cũng như các bênh hệ thống ở phụ nữ có tổn thương mạch máu gây ra giảm tưới máu ở tử cung nhau Trong các bệnh thận tiến triển có liên quan chặt chẻ với chậm phát triển thai nhi trong tử cung như: viêm đài bể thận, xơ hóa cầu thận, bệnh lý cầu thận mạn, sự chậm phát triển của thai nhi liên quan đến sự mất đạm [19]
1.4.4 Các bệnh tim mạch:
- Chủ yếu là bệnh tim mắc phải thường nặng lên, cơ thể của thai nhi luôn trong tình trạng thiếu oxy làm thai kém phát triển Thiếu oxy cơ tử cung, gây đẻ non, sẩy thai, tử vong và bệnh lý thai tăng gấp 2 lần ở bệnh nhân có loạn nhịp hoàn toàn và gấp 5 lần ở tim mất bù Khi đẻ nếu có can thiệp bằng forceps thì dễ gây sang chấn cho thai hoặc đôi lúc phải đình chỉ thai nghén vì bệnh lý của mẹ quá nặng Nguy cơ trẻ bị tim bẩm sinh từ (10-24%), nếu mẹ hoặc bố cũng bị tim bẩm sinh Nguy cơ cho mẹ: suy tim, phù phổi cấp, tử vong mẹ tăng [4]
- Ảnh hưởng của thai nghén lên bệnh tim: khi có thai, nhu cầu nuôi dưỡng thai và oxy tăng lên vì vậy có các biến đổi sau ảnh hưởng lên hệ tuần hoàn tim-mạch, lưu lượng tim tăng Bình thường lưu lượng tim từ 3-5lít/phút
và tăng dần lên, đạt tối đa vào tháng thứ 7 Tỷ lệ tăng lên có thể từ (40-50%) sau đó giảm dần vào các tháng cuối và trở lại bình thường sau đẻ Lưu lượng tim tăng: Phần nhiều do nhịp tim tăng và khả năng co bóp tim tăng Tốc độ tuần hoàn tăng bình thường 7 giây đối với tiểu tuần hoàn và 14 giây đối với đại tuần hoàn, tăng từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 và giảm dần vào những tuần cuối Tốc độ tuần hoàn tăng nhưng áp lực ngoại biên hạ nên huyết áp động mạch không tăng Thay đổi lượng máu: Tăng nhanh vào tháng 4, 5, 6 và tăng song song với cung lượng tim, lượng máu tăng trung bình là (34%) chủ yếu là tăng huyết tương vì vậy Hematocrit hạ (còn 25-30%) Ngoài ra tư thế tim thay đổi do tử cung chèn vào
Trang 12- Ảnh hưởng của bệnh tim lên thai nghén: hậu quả của thiếu oxy và dinh dưỡng nên thai có thể bị sẩy thai, chết lưu, kém phát triển trong tử cung, suy thai mạn tính và có thể suy thai cấp trong chuyển dạ, có thể có dị tật [6]
- Như nhiễm độc chì, thủy ngân, các chất hóa học, phóng xạ, nghiện
rượu, thường gây ra dị dạng, sẩy thai, thai lưu hoặc đẻ non [4]
1.4.7 Các bệnh nhiễm trùng và thai nghén:
- Các bệnh nhiễm trùng khá phổ biến ở nước ta Thai nghén ít nhiều làm giảm sức đề kháng của người mẹ, nên bệnh thường nặng Ngược lại bệnh nhiễm trùng cũng gây nên nhiều nguy cơ cho thai nhi Song ảnh hưởng của người mẹ đối với thai nhi có liên quan chặt chẽ đến giai đoạn phát triển của thai nghén Mẹ nhiễm virút Rubeole, Dengue hoặc vi trùng như Listeriose, giang mai, một số ký sinh trùng như Toxoplasma … có thể gây nên dị tật bẩm sinh cho thai nhi như não úng thủy, quái thai, bụng cóc, sứt môi, hở hàm ếch cho thai [16]
- Trong giai đoan ổn định và hoàn chỉnh tổ chức: lớp nội bào của gai rau càng ngày càng mỏng, màng ngăn rau thai dễ thẩm thấu, các vi trùng, virus, ký sinh trùng, độc tố, kháng thể rất dễ dàng qua thai nhi Trong giai đoạn này thai nhi không biến dạng nữa Thai nhi có thể bị nhiễm trùng nên khi đẻ ra ta thấy trẻ bị viêm gan, viêm não, giang mai, viêm phúc mạc…mà ta thường gọi là bẩm sinh Như vậy thai nhi có thể bị bệnh nhiễm trùng, suy thai, suy dinh dưỡng và có khi chết đột ngột Trong tình hình của ta dịch cúm, sốt xuất huyết, Rubéole v.v…các bệnh viêm phổi, lao, giang mai, thương hàn, sốt rét, gây quá nhiều tác hại cho thai nhi [14]
Trang 13Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đã đươc thực hiện trên 179 bà mẹ và 179 trẻ sơ sinh, con những bà mẹ này sinh tại các nhà hộ sinh khu vực của Thành phố Huế Các
bà mẹ và con của họ được đưa vào nghiên cứu đã được thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu như sau:
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1.2 Tiêu chuẩn chọn về con:
- Con sinh ra sống trong 7 ngày đầu sau đẻ
- Giới tính nam hay nữ
- Sinh ra bình thường hay bệnh lý
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
2.1.2.1 Tiêu chuẩn loại trừ về mẹ:
- Mẹ bị rối loạn tâm thần không trả lời được các câu hỏi của phiếu điều tra
- Mẹ bị tật câm và / hoặc điếc
- Mẹ không hợp tác
2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ về con:
- Con sinh ra chết trong chyển dạ
Trang 142.1.3 Địa điểm nghiên cứu:
- Nhà hộ sinh khu vực I
- Nhà hộ sinh khu vực II
- Nhà hộ sinh khu vực III
2.1.4 Thời gian nghiên cứu:
Từ 01/09/2009 đến 01/03/2010
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu quan sát mô tả
2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu:
- Bước 1: lập phiếu nghiên cứu gồm 2 phần:
+ Nghiên cứu về mẹ+ Nghiên cứu về con
- Bước 2:
+ Phỏng vấn các bà mẹ theo phiếu nghiên cứu
+ Điều tra các đặc điểm của con theo phiếu nghiên cứu
- Bước 3:
+ Tập hợp số liệu
+ Viết luận văn
2.2.3 Các biến số nghiên cứu:
2.2.3.1 Các biến số nghiên cứu về mẹ:
- Tuổi mẹ
- Nghề nghiệp mẹ
- Địa chỉ
- Trình độ văn hóa
Trang 15- Tiền sử bệnh lý mẹ
+ Tiền sử bệnh lý trong quá trình thai nghén lần này:
Bệnh đái tháo đường Bệnh BasedowBệnh cao huyết áp Chuyển dạ kéo dài > 24 giờ ở người đẻ con rạ Chuyển dạ kéo dài > 36 giờ ở người đẻ con so
Thời gian ối vỡViêm thận – bể thận Sỏi thận
Nhiễm trùng đường tiểu Ngứa âm đạo – âm hộ Viêm nhiễm âm đạo – âm hộ Viêm cổ tử cung
Iả chảy
- Tiền sử sản khoa:
Con so – Con rạ
Số conSinh non Sinh đủ tháng 38- 42 tuầnSinh già tháng
Thai chết lưuSẩy thai
2.2.3.2 Các biến số nghiên cứu về con:
- Phân loai sơ sinh:
+ Cân nặng + Tuổi thai
- Giới tính
- Chỉ số Apgar
Trang 16- Các dấu hiệu bệnh lý giai đoạn sơ sinh sớm:
+ Rối lọan thân nhiệt+ Bú kém hoặc nôn mửa+ Vàng da
+ Co giật
+ Khó thở : > 60 lần/ phút+ Da tái hoặc kém hồng+ Viêm rốn
- Sơ sinh đủ tháng (SSĐT) : tuổi thai 38 - 42 tuần ( 259 - 293 ngày)
- Sơ sinh đẻ non (SSĐN) : < 37 tuần ( < 258 ngày )
- Sơ sinh già tháng (SSGT):
+ Hoặc tuổi thai ≥ 42 tuần ( ≥ 294 ngày ) có dấu hiệu bong da tự nhiên hoặc khi miết
+ Hoặc tuổi thai < 42 tuần nhưng có dấu hiệu bong da tự nhiên hoặc khi miết
- Tiêu chuẩn phân loại cân nặng lúc sinh :
Trong nghiên cứu cân nặng lúc sinh được phân các mức sau:
- < 2500 g
- 2500 g – 3500 g
- > 3500 g
- Các giai đoạn sơ sinh:
+ Giai đoạn sơ sinh sớm: từ khi sinh đến ngày thứ 7 sau sinh ( 7 ngày đầu sau đẻ)
+ Giai đoạn sơ sinh muộn: từ ngày thứ 8 đến 28 ngày sau đẻ
Trang 17- Rối loạn thân nhiệt: gồm tăng thân nhiệt hoặc hạ thân nhiệt
+ Tăng thân nhiệt khi nhiệt độ hậu môn > 37 độ 8 + Hạ thân nhiệt khi nhiệt độ hậu môn < 36 độ 5
- Khó thở: trẻ đuợc xem là khó thở khi tần số thở > 60 l/phút
- Thời gian chuyển dạ:
+ Chuyển dạ kéo dài ở người đẻ con so: > 36 giờ+ Chuyển dạ kéo dài ở người đẻ con rạ: > 24 giờ+ Chuyển dạ bình thường:
< 24 giờ ở người đẻ con rạ < 36 giờ ở người đẻ con so
- Thời gian ối vỡ:
+ Ối vỡ sớm: thời gian vỡ ối > 6 giờ+ Bình thường: thời gian vỡ ối < 6 giờ
2.2.5 Sơ đồ nghiên cứu:
Trang 19Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 TẦN SUẤT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA MẸ 3.1.1 Tuổi mẹ
Bảng 3.1 Tuổi mẹ của mẫu nghiên cứu
- Mẹ ở độ tuổi 26-35 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với 46,93%
- Chỉ có ít bà mẹ ở độ tuổi < 18 với tỉ lệ 1,68% ( 3 người)