1.3.4 Kinh nghiệm của một số địa phương rất thành công về cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :.... Khoá
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH v
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
LỜI CẢM ƠN vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Một số khái niệm : 5
1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh : 5
1.1.2 Năng lực cạnh tranh quốc gia : 6
1.1.3 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 7
1.1.4 Năng lực cạnh tranh ngành : 10
1.1.6 Năng lực cạnh tranh sản phẩm : 12
1.1.7 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ 12
1.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 13
1.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): 13
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI: 13
1.2.1.2 Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 15
1.2.1.3 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 21
1.2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 24
1.3 Chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 26
1.3.1 Khái niêm : 26
1.3.2 Vai trò của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 27
1.3.3 Các chỉ tiêu và cách đo lường chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian : 27
Trang 21.3.4 Kinh nghiệm của một số địa phương rất thành công về cải thiện chỉ
số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 31
Chương II: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ CHI PHÍ THỜI GIAN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH KHÁNH HÒA GIAI ĐOẠN 2005-2011 37
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên-xã hội tỉnh Khánh Hoà: 37
2.1 1 Đặc điểm tự nhiên : 37
2.1.1.1 Vị trí địa lý: 37
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên : 38
2.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 39
2.1 2 Đặc điểm kinh tế-xã hội : 40
2.1.2.1 Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế : 40
2.1.2.2 Cơ cấu lao động: 41
2.1.2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng chủ yếu của nền kinh tế: 43
2.2 Thực trạng xếp hạng chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2005-2011: 50
2.2 1 Phân tích biến động của chỉ số PCI : 50
2.2 2 Phân tích biến động của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước từ kết quả công bố của VCCI: 52
2.2.2.1 Phân tích biến động chung qua các năm : 52
2.2.2.2 So sánh chỉ số với cả nước : 57
2.2.2.3 So sánh chỉ số với các tỉnh Duyên hải miền Trung : 58
2.2.2.4 So sánh với các tỉnh/TP tương đồng với Khánh Hòa : 66
Chương III:GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ CHI PHÍ THỜI GIAN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH KHÁNH HÒA 82
3.1 Quan điểm phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Khánh Hòa : 82
3.2 Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011-2020 : 83
Trang 33.2.1 Mục tiêu phát triển : 83
3.2.2 Định hướng phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 : 84
3.2.2.1 Định hướng và mục tiêu phát triển ngành công nghiệp: 84
3.2.2.2 Định hướng và mục tiêu phát triển dịch vụ-du lịch : 85
3.2.2.3 Định hướng và mục tiêu phát triển thủy sản : 85
3.3 Giải pháp nâng cao chỉ số chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà Nước tại tỉnh Khánh Hòa : 86
3.3.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và trình độ cán bộ công chức trong cải cách thủ tục hành chính : 86
3.3.2 Tiếp tục rà soát và cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết, tích cực thực hiện cơ chế một cửa hiện đại và đồng bộ : 88
3.3.3 Thiết lập và đẩy mạnh hơn nữa những ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính: 90
3.3.4 Tiếp tục rút ngắn thời gian thanh kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp của các sở ban ngành : 91
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động 42 Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả chỉ số PCI tỉnh Khánh Hòa : 50 Bảng 2.3: Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2005- 2011 54 Bảng 2.4: Xếp hạng điểm số chỉ số chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà nước trong cả nước năm 2006-2011: 57 Bảng 2.5: Xếp hạng chỉ số chi phí thời gian giữa các tỉnh/ thành phố trong khu vực Duyên hải miền Trung giai đoạn 2009-2011 59 Bảng 2.6: Điểm số và các chỉ tiêu đánh giá chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh khu vực Duyên hải miền Trung năm 2009 61 Bảng 2.7: Điểm số và các chỉ tiêu đánh giá chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh khu vực Duyên hải miền Trung năm 2010 63 Bảng 2.8: Điểm số và các chỉ tiêu đánh giá chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh khu vực Duyên hải miền Trung năm 2011 65
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Hình 1.1 : Mô hình 3 bước xây dựng PCI 24 Biểu đồ 2.1 : Điểm số và xếp hạng PCI của Khánh Hòa giai đoạn (2005-2011) 50 Biểu đồ 2.2 : Xếp hạng chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước qua 5 năm 2006 -2011 52 Biểu đồ 2.3 : Điểm số và xếp hạng chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh trong khu vực Duyên hải miền Trung năm 2009 60 Biểu đồ 2.4 : So sánh chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh trong khu vực năm 2010 62 Biểu đồ 2.5 : So sánh chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh trong khu vực năm 2011 64 Biểu đồ 2.6: %DN sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện quy định của NN của 3 Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và trung vị qua các năm 68 Biểu đồ 2.7: % đồng ý số ngày làm việc với chính quyền địa phương giảm sau khi có luật DN của tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và Trung vị giai đoạn 2005-2011 70 Biểu đồ 2.8: Số giờ trung vị làm việc với thanh tra thuế của 3 tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và Trung vị giai đoạn 2005-2011 71 Biểu đồ 2.9: % đồng ý “các cán bộ nhà nước làm việc hiệu quả hơn sau khi thực hiện CCHCC của tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và trung vị qua 3 năm73 Biểu đồ 2.10: % đồng ý số lần đi xin dấu và xin chữ ký của DN giảm sau khi thực hiện CCHCC của các tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và trung vị giai đoạn 2009- 2011 74 Biểu đồ 2.11: % đồng ý thủ tục giấy tờ giảm sau khi thực hiện CCHCC của các tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và trung vị giai đoạn 2009- 2011 75 Biểu đồ 2.12: % đồng ý phí và lệ phí của nhiều thủ tục giảm sau khi CCHCC của 3 tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và trung vị giai đoạn 2009-2011 77
Trang 6nghiệp Việt Nam
Vietnam Champer of Commerce and Industry
Trang 7
LỜI CẢM ƠN
Mọi sự tiến bộ và thành công của học trò đều nhờ vào thầy cô và những người đi trước Khoá luận tốt nghiệp với đề tài về những giải pháp cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh này mới chỉ dừng lại ở mức độ học hỏi và mạnh dạn đưa ra một
số giải pháp đóng góp trên cơ sở phân tích về điểm số của chỉ số dựa trên số liệu do phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam(VCCI) kết hợp với dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam(VNCI) xây dựng và gợi ý của giáo viên hướng dẫn
Do vậy, khi khoá luận tốt nghiệp này hoàn thành đã được sự giúp đỡ của rất nhiều người
Trước tiên tôi muốn gửi lời cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn tôi, Thầy Lê Kim Long về những gợi ý và chỉ bảo nhiệt tình trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt đợt thực tập cuối khoá này
Lời cảm ơn cũng xin được gửi tới các thầy giáo các anh chị tại sở Kế hoạch
và Đầu tư đã cùng nhau hợp tác trong nhóm nghiên cứu
Cuối cùng, tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những anh (chị ), bạn bè đã giúp đỡ
tôi hoàn thành đợt thực tập và khoá luận tốt nghiệp thời gian qua
Trương Thị Tường Vy
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, do đó khi Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang KTTT cũng không tránh khỏi quy luật đó Sự gia nhập của Việt Nam vào các tổ chức kinh tế như diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), tổ chức thương mại thế giới (WTO)…đã tạo ra cho nền kinh tế Việt Nam những cơ hội lớn nhưng cũng không thể tránh khỏi những thách thức mới Một trong những thách thức hiện nay của Việt Nam là làm sao tạo ra môi trường kinh doanh và đầu tư hiệu quả nhất, tức là mang
lại năng suất cao nhất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào năng lực xác định mục tiêu, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách của chính phủ Bên cạnh
đó, việc triển khai thực hiện các kế hoạch chính sách còn phụ thuộc vào các cấp chính quyền địa phương Sự phân cấp trong quản lý kinh tế giữa các cấp chính quyền đã nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong quản lý điều hành phát triển kinh tế - xã hội, từ thế thụ động sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên cơ sở chính sách, pháp luật của TW và điều kiện cụ thể của địa phương Sự tự chủ đã giúp các chính quyền tỉnh không ngừng nổ lực cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiên thuận lợi cho các DN và nhà đầu tư trên địa bàn Bằng những chính sách và cách làm đúng đắn mà một số tỉnh đã thành công trong thu hút đầu tư, phát triển DN
và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Những thành công đó khiến các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm đến vai trò của cấp tỉnh, mà cụ thể là cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam
Cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam là sự ganh đua giữa các chính quyền cấp tỉnh nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao năng lực cạnh tranh một tỉnh luôn gắn liền với mục tiêu phát triển chung của vùng và cả nước, nhằm khai thác thế mạnh, phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương dựa trên sự hợp tác liên
Trang 9kết ngành liên kết giữa các địa phương và sự khác biệt của mỗi tỉnh trong điều kiện tuân thủ những nguyên tắc chung của chính quyền TW
Hiện nay nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đang được chính quyền các tỉnh quan tâm, trong đó có tỉnh Khánh Hòa Khánh hòa là tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ có điều kiện tự nhiên thuận lợi và hạ tầng tương đối tốt Kinh tế của tỉnh cũng đang trên đà phát triển, tuy vậy kết quả đánh giá xếp hạng thông qua chỉ
số NLCT cấp tỉnh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam(VCCI) cho thấy Khánh Hòa chưa phải là tỉnh có điểm số và thứ hạng cao Trong những năm qua một trong chín chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước của tỉnh Khánh Hòa nhìn chung chỉ giao động quanh mức trung bình khá Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh chung của địa phương
Chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước có nội dung quan trọng trong nghiên cứu về các nền kinh tế đang chuyển đổi Câu châm ngôn
“thời gian là tiền bạc” đặc biệt phù hợp với bối cảnh các tỉnh ở Việt Nam Các nhà quản lý doanh nghiệp thường phải bỏ dỡ công việc kinh doanh để xoay sở và đương đầu với những vấn đề sự vụ giấy tờ liên quan đến quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước- thời gian mà lẽ ra đã có thể dành cho hoạt động quản lý kinh doanh Xuất phát từ thực tế trên kết hợp với hiện nay chưa có một nghiên cứu nào tại Khánh Hòa thực hiện khảo sát và đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Vì thế việc chọn đề tài nghiên cứu “ Các giải pháp cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa” đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn Do đó em quyết định chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước
Trang 10- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh Hòa trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Chỉ số chi phí thời gian thực hiện các quy định của Nhà Nước của tỉnh Khánh Hòa và một số địa phương
- Một số cơ quan chính quyền trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Trên phạm vi toàn tỉnh Khánh Hòa
- Trong thời gian từ 2/2012 đến 6/2012
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận, nghiên cứu này dự kiến sẽ áp dụng một số phương pháp cụ thể như:
(1) phương pháp nghiên cứu lý thuyết (hệ thống lại các lý thuyết liên quan đến năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (đi vào 01 chỉ số cụ thể), các nhân
tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(2) phương pháp thu thập thông tin (nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập các thông tin thứ cấp cũng như sơ cấp), thông tin thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý ngành, từ VCCI, từ websites PCI, thông tin sơ cấp được điều tra phỏng vấn
từ các doanh trên địa bàn tỉnh
5 Ý nghĩa của đề tài :
- Ý nghĩa khoa học : vận dụng những lý thuyết về cạnh tranh và những nghiên cứu về NLCT để làm rõ về vấn đề NLCT cấp tỉnh từ đó áp dụng nó vào thực tiễn các tỉnh
- Ý nghĩa thực tiễn : Mỗi chỉ số thành phần trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh phản ánh một khía cạnh cụ thể của môi trường chính sách phát triển
Trang 11kinh tế tư nhân của tỉnh Do đó,từ kết quả đánh giá chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước của tỉnh Khánh Hòa, so sánh với một số địa phương khác đề tài đưa ra trước mắt là những biện pháp cải thiện chỉ số này nhằm giúp chính quyền tỉnh nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.Từ đó thu hút đầu tư
và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương Đồng thời góp phần cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư để tìm kiếm địa bàn đầu tư hoặc mở rộng hoạt động đầu tư hiện tại
6 Nội dung của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được chia làm 3 chương :
Chương 1: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực canh tranh Chương 2 : Thực trạng chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước của tỉnh Khánh Hòa từ năm 2005 – 2011
Chương 3: Một số giải pháp cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Khánh Hòa trong thời gian tới
Trang 12
Chương I:NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ SỐ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1 Một số khái niệm :
1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh :
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền KTTT Đó là một quy luật tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của cuộc sống từ vi mô đến vĩ mô, từ cá nhân đến toàn thể xã hội
Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan và khách quan của nền KTTT, cũng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người bởi tự do là nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và quản lý kinh doanh sử dụng một số thuật ngữ như “năng lực cạnh tranh” “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh”, trong tiếng anh nó thường được sử dụng là “Competitiveness Capability”
Liên quan đến quá trình cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được hình thành thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, chính phủ quốc gia, các doanh nhân và cả các nhà nghiên cứu Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các cấp độ khác nhau như : năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh ngành; năng lực cạnh tranh doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh sản phẩm và dịch vụ
Theo định nghĩa của đại từ điển tiếng Việt thì “năng lực” là những điều kiện
đủ hoặc vốn có để làm một việc gì hoặc là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc
Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) định nghĩa năng lực canh tranh là
“khả năng của các công ty, các ngành, các vùng các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (porter, Salai-Martin, Schwab 2007), năng lực cạnh tranh là tập hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quy định mức năng suất của một thanh phố hay một vùng lãnh thổ Sử dụng năng suất là thước đo cơ bản, khái
Trang 13niệm năng lực cạnh tranh vì vậy sẽ bao gồm cả mức tăng trưởng kinh tế và khả năng tăng trưởng bền vững
Tóm lại, NLCT là tập hợp những điều kiện vốn có hoặc khả năng đủ để giành thắng lợi, tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh ( cá nhân hay tổ chức) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó Mục tiêu đó phải có tính khái quát, hiệu quả rõ ràng và phải hướng đến sự phát triển bền vững Như vậy năng lực cạnh tranh có thể được phát biểu như là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao và bền vững
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp
độ : quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất : Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu, phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp này đều do một
số Giáo sư đại học Havard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng
1.1.2 Năng lực cạnh tranh quốc gia :
Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của diễn đàn kinh tế thế giới WEF(1997) đã nêu : Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác
Ủy ban Châu Âu (European Commission) định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của thị trường quốc tế, trong khi vẫn phải đảm bảo yêu cầu về sự gia tăng của thu nhập và toàn dụng nhân lực của quốc gia mình (European Commission, 1999)
Trang 14Năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định trước hết bằng mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã được thực hiện Năng lực cạnh tranh không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực
Chính phủ có chức năng cải thiện môi trường thúc đẩy nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả các công trình hạ tầng, ban hành chính sách nhằm kích thích sáng tạo và tăng năng suất của các DN Vai trò phù hợp của chính phủ là người thúc đẩy và là kẻ thách thức.Ở cấp độ rộng nhất, một trong những vai trò thiết yếu của chính phủ là báo hiệu (dự báo, định hướng) Vì thế đo lường NLCT quốc gia suy cho cùng là đo lường năng lực chỉ đạo và điều hành kinh tế của chính phủ
1.1.3 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :
Ngày nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sự vững mạnh của khu vực kinh
tế tư nhân được xem là có vai trò then chốt đối với sự thịnh vượng của nền kinh
tế quốc gia Nhưng xét trong cùng một quốc gia không phải địa phương (vùng) nào cũng phát triển được đồng đều các khu vực kinh tế tư nhân Đặc biệt là đối với Việt Nam, một nước với một Đảng cầm quyền và một chính quyền Trung ương vững mạnh nhưng các chính quyền địa phương vẫn có vai trò đáng kể trong việc tạo ra tốc độ và mô hình phát triển riêng của mình Sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm, thẩm quyền về quản lý kinh tế của TW cho chính quyền địa phương đã làm xuất hiện sự ganh đua giữa các vùng hay các cấp địa phương Đây được gọi là cạnh tranh vùng hay địa phương mà ở Việt Nam đang tồn tại, gọi là cạnh tranh cấp tỉnh
NLCT cấp tỉnh là khả năng thu hút được các DN, các tổ chức và cá nhân đầu
tư phát triển kinh tế- xã hội theo những mục tiêu đã định của tỉnh (địa phương) đó Một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các
DN, nhà đầu tư hay đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại tỉnh đó
Trang 15Trong khi cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế
-xã hội, có tính chất và phương thức cạnh tranh gay gắt hơn, đa dạng hơn thì trong phạm vi một quốc gia, cạnh tranh giữa các tỉnh (hay vùng) được hiểu ở mức độ mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế- xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó Đồng thời trong
sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển, phân chia nguồn lực đang ngày càng hạn hẹp để mang lại hiêu quả sử dung nguồn lực đầu vào tốt nhất cho các địa phương
Vậy năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ? Làm thế nào để đánh giá và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ? Trước hết quan điểm hiện nay cho rằng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút nguồn đầu tư phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết
với địa phương khác trong phạm vi quốc gia
Trong xu thế hiện nay, việc phân cấp và phân quyền trong quản lý được
thực hiện khá nghiêm túc và dần đi vào hiệu quả Vì thế chính quyền cấp tỉnh
đươc chủ động hơn trong quá trình thực hiện các chính sách nhằm thu hút sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Vận dụng mô hình kim cương vào nghiên cứu xác định NLCT cấp tỉnh (Sơ đồ1.1) cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của chính quyền cấp tỉnh Trong điều kiện phân cấp mạnh mẽ, chính quyền cấp tỉnh có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp, tích cực hay tiêu cực đến sức hấp dẫn của các yếu tố đầu vào (nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tri thức nguồn vốn và cơ sở hạ tầng…); các yếu tố liên quan đầu ra(quy mô thị trường, tập quán tiêu dùng…); hệ thống các
DN và nhà đầu tư tại địa phương, các ngành dịch vụ hỗ trợ và liên quan
Trang 16Sơ đồ1.1:Vận dụng mô hình kim cương của Michael E Porter vào cạnh tranh cấp tỉnh
Đối với các yếu tố sản xuất thể hiện chủ yếu ở lĩnh vực đào tạo lao động (số lượng và chất lượng hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thông tin thị trường lao động…) và chất lượng cơ sở hạ tầng (đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh…) Trong phạm vi địa phương, chính quyền cấp tỉnh có thể trực tiếp thực hiện các dịch vụ hỗ trợ DN (trợ giúp pháp lý, xúc tiến thương mại đầu tư…) hoặc khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển các dịch vụ hỗ trợ này
Đối với điều kiện cầu chính quyền địa phương có thể tác động lên thị trường tiêu thụ sản phẩm của DN thông qua những dự báo, định hướng sản xuất nhưng sự ảnh hưởng này không rõ nét như ở cấp quốc gia Chính quyền tỉnh cũng có thể đóng vai trò là khách hàng trong một số trường hợp cần thiết
Sự ảnh hưởng của chính quyền cấp tỉnh lên yếu tố cơ cấu hệ thống DN, nhà đầu tư tại tỉnh khá rõ nét Xuất phát từ định hướng chiến lược phát triển các ngành kinh tế của địa phương, chính quyền cấp tỉnh sẽ có những cơ chế chính
Cơ cấu, hệ thống
DN, nhà đầu tư tại tỉnh
Các ngành hỗ trợ và liên quan
Điều kiện cầu Điều kiện các
nhân tố
Chính quyền cấp tỉnh
Cơ hội
Trang 17sách cụ thể (như chính sách thuế, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, liên kết…) để khuyến khích mở rộng hay hạn chế đầu tư vào lĩnh vực nào đó Do đó có thể thay đổi cơ cấu, hệ thống DN, nhà đầu tư tại tỉnh
Ngoài ra, cơ hội cũng có vai trò ảnh hưởng nhất định lên các nhân tố trong mô hình, như sự phát triển khoa học công nghệ, cơ chế chính sách riêng của TW, hoạt động liên kết hợp tác của các địa phương khác đối với tỉnh
Như vậy vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh
nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế- xã hội
Trang 181.1.5 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp :
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần, tạo thu nhập cao và phát triển bền vững Đây là một quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp
Một quan điểm khác cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu
tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M.Porter(1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên các quan điểm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Từ các cách tiếp cận trên ta thấy rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ “thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao hơn” Như vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải được tạo ra từ thực lực của nó Đây là yếu tố nội lực của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí
về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối thủ của
Trang 19mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm- dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng
để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Một doanh nghiệp có thể sản xuất kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ nên người ta còn phân biệt NLCT của DN với NLCT của sản phẩm dịch vụ
1.1.6 Năng lực cạnh tranh sản phẩm :
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh chóng khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo lường qua các chỉ tiêu giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm và bao gói; doanh thu của sản phẩm; thị phần của sản phẩm, tổ chức phân phối sản phẩm, khả năng cung ứng của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được tạo ra từ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có NLCT của sản phẩm cao trong khi NLCT của bản thân doanh nghiệp thấp điều này cho thấy mối quan hệ giữa NLCT DN ảnh hưởng cơ bản và lâu dài đến NLCT sản phẩm
1.1.7 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ
Khi nói đến năng lực cạnh tranh, các nhà nghiên cứu thường xem xét dưới các cấp độ như: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ ngành, năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch vụ Giữa các cấp độ này đều có mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau rất mật thiết, tạo điều kiện cho nhau hay chế định nhau, phụ thuộc lẫn nhau Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể tạo cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp khai thác điểm mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngược lại, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm tính bền vững của năng lực cạnh tranh quốc gia Năng lực cạnh tranh quốc gia cao đòi hỏi phải có nhiều doanh nghiệp mạnh Đối với quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch
Trang 20vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì NLCT của sản phẩm phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp NLCT của sản phẩm được đo bằng NLCT của doanh nghiệp tạo ra, và ngược lại khi sản phẩm dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao sẽ nâng cao NLCT của doanh nghiệp trên cấp độ sản phẩm-dịch vụ
1.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI):
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, viết tắt là PCI (Provincial Competitiness Index) là chỉ số định lượng để đo lường và đánh giá công tác quản lý của các tỉnh thành Việt Nam trên chín lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế dân doanh
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI:
Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu trước đây của Qũy châu Á và VCCI Đó là nghiên cứu “Những thực tiễn tốt trong điều hành kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 - 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam Nghiên cứu đã tập trung làm rõ mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triển của tỉnh, thành đó Kết quả của dự án nghiên cứu này sau đó đã trở thành cơ sở khởi động một dự án nghiên cứu khác
có quy mô lớn hơn, nghiên cứu về sự khác biệt giữa các tỉnh, thành Dự án nghiên cứu thứ hai do VNCI đảm nhận, VNCI là dự án phát triển kinh tế do Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh tại Việt Nam (PCI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa VNCI và VCCI Chỉ số PCI được xây dựng nhằm mục đích lý giải nguyên nhân tại sao trong cùng một nước, một số tỉnh, thành có sự phát triển năng động của khu vự tư nhân, tạo ra việc làm và tăng trưởng kinh tế… tốt hơn các tỉnh, thành khác Bằng cách thực hiện điều tra mới đối với DN để tìm hiểu đánh giá của các DN đối với môi trường kinh doanh
ở tỉnh, thành; kết hợp dữ liệu điều tra với các dữ liệu khác thu thập được từ các nguồn chính thức về các địa phương
Trang 21Năm 2005, lần đầu tiên VCCI công bố chỉ số PCI với điều tra hơn 2000 doanh nghiệp tại 42 tỉnh, thành phố Về tổng thể, 42 tỉnh thành phố này chiếm khoảng 90% giá trị GDP của Việt Nam
Theo Báo cáo chi tiết chỉ số PCI năm 2005 do VCCI công bố, chỉ số PCI được cấu thành từ 9 chỉ số thành phần, bao gồm: (1) Chi phí gia nhập thị trường, (2) Tiếp cận đất đai, (3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin, (4) Chi phí về thời gian
để thực hiện các quy định của Nhà nước, (5) Chi phí không chính thức, (6) Thực hiện chính sách của Nhà nước, (7) Ưu đãi đối với DNNN, (8) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, (9) Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân Năm 2006, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) đã chính thực công bố chỉ số Năng lực cạnh tranh Cấp tỉnh năm 2006 Tiến hành điều tra trên 6300 doanh nghiệp địa phương của cả 64 tỉnh thành phố và các chỉ số cấu thành nên chỉ số tổng hợp
PCI cũng có sự thay đổi so với năm 2005 Chỉ số Thực hiện chính sách của Nhà
nước được thay thế bằng hai chỉ số mới là: Đào tạo lao động và Thiết chế pháp lý,
hình thành nên 10 chỉ số thành phần Nguyên nhân của sự thay đổi này:
Đào tạo lao động: trong nhiều năm qua, các DN liên tục phàn nàn về năng lực yếu kém của lực lượng lao động Các DN gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Chính vì vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động địa phương sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với môi trường kinh doanh trên địa bàn
Thiết chế pháp lý: việc phát triển pháp luật và giải quyết các tranh chấp một cách chính quy luôn là một mắc xích trong quá trình cải cách, chuyển đổi ở Việt Nam Tăng cường thể chế cho các cơ quan tư pháp và tòa án địa phương trở nên cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO Ngoài ra, có rất ít DN thực sự hiểu biết một cách thấu đáo về các trình tự, thủ tục pháp lý để có thể phân biệt rạch ròi, chi tiết các thiết chế pháp lý khác nhau
Trang 22Đến năm 2009, khi quá trình cổ phần hóa các DNNN diễn ra một cách mạnh
mẽ, ảnh hưởng của các DNNN không còn tác động mạnh đến khu vực kinh tế tư
nhân, nhóm nghiên cứu của VCCI đã thay thế chỉ số Ưu đãi đối với DNNN và
Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân bằng chỉ số mới: Dịch vụ hỗ trợ DN
Thông qua việc đối thoại với các lãnh đạo tỉnh, doanh nghiệp, đại diện các hiệp hội và các chuyên gia nghiên cứu cho thấy nên bổ sung chỉ số này vào các chỉ số thành phần Tất cả các chuyên gia đều đồng tình với quan điểm các dịch vụ hỗ trợ
DN có vai trò then chốt để các DN thành công trong hoạt động kinh doanh Tại thời điểm này, những đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư nhân như: các công ty tư vấn, công ty kế toán, tư vấn chiến lược, và các luật sư vốn vẫn còn “xa lạ” đối với
số đông các DN Việt Nam và cũng chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và
Tp Hồ Chí Minh Trong khi đó, các DN lại có nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ này nhưng lại thiếu đi những dịch vụ mang tính chuyên nghiệp và đáng tin cậy PCI được xem là điều tra doanh nghiệp lớn nhất và toàn diện nhất đối với hoạt động điều hành của chính quyền cấp tỉnh trong việc hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân
Cho đến nay, VCCI đã công bố thường niên Báo cáo chi tiết chỉ số PCI (từ năm 2005 - 2011), nhằm tạo điều kiện để các tỉnh, thành phố theo dõi tiến bộ trong môi trường kinh doanh của tỉnh mình qua các năm, không chỉ ở thứ hạng PCI mà còn ở điểm số PCI Báo cáo đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cải thiện môi trường kinh doanh tại các tỉnh, thành trên cả nước; giúp cho các chính quyền địa phương nhận biết được đâu là điểm mạnh và điểm yếu của địa phương mình, từ đó đề ra hướng giải quyết nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu, đưa kinh tế địa phương phát triển
1.2.1.2 Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :
Có nhiều cách để phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cấp tỉnh, trong đó có cách phân loại theo nhóm yếu tố truyền thống (như điều kiện tự nhiên – địa lý, xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường…) và nhóm yếu tố
Trang 23nguồn lực mềm bao gồm những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác ñộng trực tiếp từ thái ñộ và hành ñộng của chính quyền cấp tỉnh Nhóm yếu tố truyền thống là những nhân tố căn bản, quan trọng cho hoạt ñộng sản xuất kinh doanh nhưng rất khó hoặc thậm chí không ñạt ñược trong thời gian ngắn Nhóm yếu tố nguồn lực mềm là nhân tố quyết ñịnh ñến sự hấp dẫn ñầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh của DN Vì vậy, NLCT cấp tỉnh ñược xác ñịnh theo các tiêu chí xác định khả năng của nguồn lực mềm và chỉ số NLCT cấp tỉnh hiện nay ñược cấu thành từ hệ thống các chỉ số thành phần sau:
(1) Chi phí gia nhập thị trường: là chỉ số thành phần xác định về thời gian
hoàn thành các thủ tục và giấy tờ cần thiết để DN chính thức đi vào hoạt động Chỉ
số này nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các DN mới thành lập giữa các tỉnh với nhau Được đo lường bởi các chỉ tiêu cụ thể như sau:
- Thời gian đăng ký kinh doanh – số ngày
- Thời gian đăng ký kinh doanh bổ sung – số ngày
- Số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh cần thiết để chính thức hoạt động
- Thời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- % doanh nghiệp mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh
- % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh
(2) Tiếp nhận đất đai và sự ổn định tròn sử dụng đất: là chỉ số đo lường về
hai khía cạnh là việc DN tiếp cận đất dễ dàng không và có được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không Được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:
- % doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- % diện tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp)
- Nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thỏa đáng (% luôn luôn hoặc thường xuyên)
Trang 24- Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị trường (% đồng ý)
- DN không gặp cản trở về mặt bằng kinh doanh
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: là chỉ số đo lường khả năng tiếp
cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định
đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp Nó được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:
- Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch
- Tính minh bạch của các tài liệu pháp lý
- Cần có "mối quan hệ" để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh (% quan trọng)
- Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh (% đồng ý)
- Khả năng tiên liệu việc thực thi pháp luật của tỉnh (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên)
- Độ mở của trang web tỉnh
- Các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phản biện các chính sách, quy định của tỉnh (% Quan trọng hoặc Rất quan trọng)
(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: là chỉ số
dùng để đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Nó được đo lường bởi các chỉ tiêu:
- % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
- Số lần thanh tra (tất cả các cơ quan)
Trang 25- Số giờ làm việc với thanh tra thuế
- Các cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn (% Đồng ý)
- Số lần doanh nghiệp phải đi lại để lấy các con dấu và chữ ký cần thiết giảm(% Đồng ý)
- Thủ tục giấy tờ giảm (% Đồng ý)
- Các loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục giảm (% Đồng ý)
- Không có bất kỳ sự thay đổi nào sau khi thực hiện CCHCC (% Có)
(5) Chi phí không chính thức: là chỉ tiêu dùng để đo lường các khoản chi
phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:
- % DN cho rằng các DN cùng ngành trả chi phí không chính thức
- % DN phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức
- Chính quyền tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương để trục lợi (% Đồng ý)
- Công việc được giải quyết sau khi đã trả chi phí không chính thức (% thường xuyên)
- DN trả hoa hồng để có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước (% Đúng)
- DN chi trả chi phí không chính thức
(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: là chỉ số đo lường
lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp Nó được
đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Cán bộ tỉnh nắm vững các chính sách, quy định hiện hành trong khung khổ pháp luật để giải quyết khó khăn, vướng mắc cho DN (% Đồng ý)
Trang 26- Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp tư nhân (% Đồng ý)
- Cảm nhận của DN về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân (% Tích cực hoặc Rất tích cực)
(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Chỉ số này dùng để đo lường các dịch vụ
của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin
tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm trước hoặc đăng ký tổ chức cho năm nay
- Số lượng các nhà cung cấp dịch vụ công là tư nhân trong tỉnh
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh trên (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ tư vấn
về thông tin pháp luật (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- DN đã sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)
Trang 27- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)
- DN đã sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
(8) Đào tạo lao động: Chỉ số này dùng để đo lường các nỗ lực của lãnh đạo
tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục phổ thông (% Tốt hoặc Rất tốt)
- Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Dạy nghề (% Tốt hoặc Rất tốt)
- DN đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm (%)
- DN đã sử dụng dịch vụ giới thiệu việc làm nói trên của nhà cung cấp dịch
vụ tư nhân (%)
- DN có ý định sẽ sử dụng lại nhà cung cấp dịch vụ nói trên cho dịch vụ giới thiệu việc làm (%)
- % tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động
- % tổng chi phí kinh doanh cho tuyển dụng lao động
- % doanh nghiệp hài lòng với chất lượng lao động
- Số lượng học viên tốt nghiệp trường đào tạo nghề/số lao động chưa qua đào tạo
- Số lao động tốt nghiệp THCS (% tổng lực lượng lao động)
Trang 28(9) Thiết chế pháp lý: Chỉ số này dùng để đo lường lòng tin của doanh
nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Hệ thống tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của các công chức (% thường xuyên)
- Doanh nghiệp tin tưởng và khả năng bảo vệ của pháp luật (bản quyền hoặc thực thi hợp đồng (% Đồng ý)
- Số lượng vụ việc tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Tòa án kinh tế cấp tỉnh thụ lý trên 100 doanh nghiệp
- Tỉ lệ % nguyên đơn không thuộc nhà nước trên tổng số nguyên đơn tại Toàn án kinh tế tỉnh
- Doanh nghiệp sử dụng tòa án hoặc các thiết chế pháp lý khác để giải quyết tranh chấp (%)
- Số tháng trung vị để giải quyết vụ kiện tại tòa
- % Chi phí (chính thức và không chính thức) để giải quyết tranh chấp trong tổng giá trị tranh chấp
1.2.1.3 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :
Theo cách làm hiện nay, nhóm nghiên cứu đã xây dựng chỉ số PCI bằng cách xây dựng chín chỉ số thành phần dựa trên các yếu tố đã được nhiều nhà nghiên cứu
và nhà hoạt động thực tiễn ở Việt Nam nhấn mạnh từ trước tới nay PCI được tiến hành theo ba bước : (1) thu thập dữ liệu, (2) Xử lý dữ liệu, (3) xây dựng chỉ số NLCT cấp tỉnh
(1) Thu thập số liệu : dữ liệu thu thập được bao gồm dữ liệu cứng và dữ liệu mềm
Dữ liệu “mềm” phản ánh đánh giá của doanh nghiệp, được thu thập từ hình thức gửi phiếu điều tra đến các doanh nghiệp Phiếu điều tra có ý nghĩa quyết định đến tính chính xác của kết quả điều tra bởi nó là cơ sở cung cấp dữ liệu ban
Trang 29đầu phục vụ cho những bước thực hiện phân tích và đánh giá tiếp theo Mỗi câu hỏi trong phiếu điều tra là cơ sở dữ liệu để xây dựng các chỉ tiêu của mỗi chỉ số thành phần để tổng hợp thành PCI của tỉnh Dữ liệu “mềm” được kết hợp với các
số liệu có sẵn hay còn gọi là dữ liệu “cứng”, được công bố trong Niên giám Thống kê, ghi nhận từ các cuộc phỏng vấn bên thứ ba
(2) Xử lý dữ liệu : sau khi thu thập dữ liệu, nhóm nghiên cứu tiến hành xây
dựng các chỉ số thành phần Mỗi chỉ số thành phần được được xây dựng từ các chỉ tiêu khác nhau, các chỉ tiêu đều phải qua kiểm định để chọn những chỉ tiêu có ý nghĩa thống kê Giá trị của các chỉ tiêu này có được là từ kết quả điều tra bằng phiếu
và tham khảo thêm số liệu “cứng” Sau khi chọn chỉ tiêu cho các chỉ số thành phần, chuẩn hóa chúng theo thang điểm 10 như sau :
Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốt thì sử dụng công
thức sau đây để chuẩn hóa điểm: 9*[
Minimum Maximum
Minimum ovince i
Pr
]+1 Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt thì lấy 11
trừ đi công thức ở trên: 11-{9*[Pr ]
Minimum Maximum
Minimum ovince i
(3) Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI : sau khi thu thập và xử lý số liệu, tính toán
được các chỉ tiêu, chỉ số thành phần của 63 tỉnh thành; gắn trọng số cho mỗi chỉ số thành phần để tính PCI tổng hợp theo thang điểm 100 Lý do gắn trọng số là vì trong các chỉ số thành phần, có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ số còn lại khi lí giải sự khác biệt về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân Do đó mỗi chỉ số thành phần cần được tính toán trọng số tương ứng với mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân Để làm được việc này, trong giai đoạn 2005-2009, VCCI sử dụng phương pháp hồi qui đa biến để đo lường
Trang 30tác động của từng chỉ số thành phần tới một số chỉ số vốn được coi là có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân (tỉ lệ doanh nghiệp dân doanh, vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính trên bình quân đầu người, lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp tính theo triệu đồng), khống chế ảnh hưởng
mà các điều kiện truyền thống (khoảng cách tới thị trường tính bằng số km từ trung tâm tỉnh lị tới Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng ban đầu) đem lại cho sự phát triển kinh tế tư nhân, từ đó tính ra mức độ đóng góp tương đối (hay còn gọi là trọng số) của chúng đối với các chỉ số thành phần Nhưng từ năm 2009 về sau VCCI sử dụng phương pháp tính trọng số mới bằng cách cũng chọn ra ba biến kết quả quan trọng thể hiện sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp tư nhân trên 1000 dân, mức đầu tư trên đầu người, lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp) Các biến số này được hồi qui theo từng chỉ số thành phần, trong
đó loại trừ tác động của các nhân tố cấu trúc (mật độ dân số, diện tích, khoảng cách từ
Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh theo kilomet), cơ sở hạ tầng (đo bằng tỉ lệ đường được rải nhựa trong tỉnh) và sử dụng thêm các biến giả (biến phân đôi) cho 7 vùng ở Việt Nam để tính ra trọng số cho mỗi chỉ số thành phần
Công thức tính PCI cho mỗi tỉnh được xác định như sau :
Sau đây là mô hình tính chỉ số PCI với 10 chỉ số năm 2005
Trang 31
( Nguồn: Báo cáo PCI năm 2005)
Hình 1.1 : Mô hình 3 bước xây dựng PCI
1.2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Nhân tố khách quan :
Nhân tố khách quan là tập hợp những nhân tố mà chính quyền tỉnh không có khả năng hoặc ít có khả năng tác động thay đổi được Mỗi tỉnh có điều kiện tự nhiên, kinh tế-văn hóa- xã hội khác nhau, nên sức hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài cũng khác nhau
Nhóm nhân tố khách quan ảnh hưởng đến chỉ số NLCT cấp tỉnh bao gồm :
Điều kiện tự nhiên : Có những tỉnh có ưu đãi lớn về tự nhiên có thể phát triển
một số ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, nông nghiệp ngư nghiệp, công nghiệp… , ngược lại có những tỉnh lại thường xuyên đối mặt với thiên tai hạn hán…gây khó khăn trong sự phát triển kinh tế
Văn hóa – xã hội : Một số tỉnh có trình độ dân trí cao thuận lợi cho sự phát
triển khoa học công nghiệp và nhu cầu đa dạng, nhưng cũng có những tỉnh có đời
Trang 32sống hết sức khó khăn trình độ dân trí thấp nhất là những tỉnh chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số
Kinh tế : Nền kinh tế thị trường mang đến cho các địa phương nhiều cơ hội để
phát triển kinh tế của tỉnh Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế góp phần giải phóng năng lực sản xuất, kích thích sự phát triển của mọi thành phần kinh tế Nếu tỉnh nào biết tận dụng lợi thế sẵn có kết hợp với hệ thống chính sách pháp luật thống nhất của TW có sự tương đồng về lợi thế tiềm năng trong điều kiện nền kinh
tế thị trường thì tỉnh, địa phương đó thu hút được đầu tư nhiều hơn, sản xuất kinh doanh phát triển hơn và nền kinh tế sẽ tiến nhanh hơn Tuy nhiên, nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực đến các mặt đời sống văn hóa xã hội Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng
vô cảm và nhiều tệ nạn khác, cản trở sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh
Khoa học công nghệ : Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ mà
cụ thể là lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông giúp cho quá trình xử lý và trao đổi thông tin được nhanh hơn và chính xác hơn Điều này cho phép chính quyền các tỉnh làm việc tốt hơn (tăng năng suất, hiệu quả quản lý) với chi phí thấp hơn, mất ít thời gian giải quyết công việc hơn từ đó làm hài lòng các nhà đầu tư và doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh , mở ra kênh tương tác giữa chính quyền địa phương với công dân và doanh nghiệp làm cho bộ máy chính quyền gần gũi hơn với người dân và DN
Nhân tố chủ quan :
Nhân tố chủ quan là những nhân tố có thể tác động để cải thiện theo ý chí của mình Năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lí và chất lượng đội ngũ công chức cấp tỉnh có ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc nhất tới chỉ
số NLCT cấp tỉnh
Năng lực của bộ máy quản lý là khả năng thực hiện chức năng quản lý và phục vụ của bộ máy hành chính Trong đó, bao hàm khả năng huy động tổng hợp các yếu tố: 1- Hệ thống tổ chức các cơ quan; 2- Hệ thống thể chế, thủ tục hành
Trang 33chính (đảm bảo tính hợp lý, khoa học và đồng bộ); 3- đội ngũ cán bộ, công chức
có phẩm chất đạo đức, trình độ, kỹ năng hành chính với cơ cấu, chức danh, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu cụ thể của việc thực thi công vụ; 4- Tổng thể các điều kiện vật chất kỹ thuật cần và đủ đảm bảo hoạt động công vụ hiệu quả Năng lực hoạt động phụ thuộc vào chất lượng các yếu tố này
Hiệu lực hoạt động thể hiện ở việc thực hiện đúng, có kết quả chức năng của
bộ máy để đạt đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Ở khía cạnh thực tiễn, gắn với tính khả thi, hiệu lực thể hiện ở sự nghiêm túc, khẩn trương, triệt để của tổ chức, công dân trong việc thi hành chính sách, pháp luật của nhà nước trên phạm vi toàn
xã hội Nó phụ thuộc vào năng lực, chất lượng của nền hành chính
Hiệu quả hoạt động là những kết quả đạt được của bộ máy trong sự tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội
Trong những nội dung trên thì năng lực quyết định hiệu quả và hiệu lực hoạt động Hiệu lực, hiệu quả là thước đo, tiêu chuẩn đánh giá năng lực Các nguyên tắc hoạt động chủ yếu của bộ máy thể hiện ở các nội dung : phục vụ, công khai, phối hợp trong hoạt động quản lý theo vùng, ngành, lãnh thổ, hiệu lực, hiệu quả, hiện đại, khoa học, phân định rõ chức năng
1.3 Chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :
Trang 341.3.2 Vai trò của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :
Chỉ số PCI là cơ sở hữu ích để lãnh đạo tỉnh có thể nhận diện rõ hơn điểm mạnh và điểm yêú của tỉnh mình Bởi việc phân tích và đánh giá từng chỉ số thành phần là cơ sở để tỉnh biết được mình đang làm tốt những mặt nào và chưa làm tốt ở đâu Hằng năm, thời gian mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để giải quyết vấn đề thủ tục giấy tờ liên quan đến quản lý hành chính của các cơ quan Nhà Nước khiến các doanh nghiệp bỏ dở công việc kinh doanh của mình Đây là vấn
đề mà các doanh nghiệp cảm thấy rườm rà gây mất thời gian và là yếu tố gây cản trở hoạt động của doanh nghiệp Thực tế những năm qua khi chưa có chính sách cải cách thủ tục hành chính của Nhà Nước, các doanh nghiệp phải tốn nhiều chi phí để hoàn thành đúng thủ tục quy định Vì vậy, mỗi tỉnh (vùng) muốn thu hút được đầu tư phát triển kinh tế thì cần phải thực hiện cải cách hành chính, bôi trơn bộ máy hành chính, cắt giảm chi phí không cần thiết cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Năm 2005 chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước chiếm 9,6% (trọng số làm tròn 10%) nhưng năm 2009 vai trò đóng góp của chỉ số này trong đáng giá chỉ số tổng hợp PCI tăng lên 14,12% (trọng số làm tròn 15%) Điều này cho thấy vấn đề về chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà nước ngày càng có tầm quan trọng cao trong việc thu hút đầu tư, phát triển khu vực kinh
tế tư nhân
1.3.3 Các chỉ tiêu và cách đo lường chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian :
Chỉ số được đo lường thông qua các chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu đo lường theo tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp trong tổng thể các doanh nghiệp điều tra trên địa bàn tỉnh, thành phố Để phản ánh các chỉ tiêu, các nhà nghiên cứu đưa ra các câu hỏi có thể trực tiếp hoặc gián tiếp để cho các doanh nghiệp lựa chọn phương án trả lời Sau đó thống kê phần trăm các doanh nghiệp lựa chọn chỉ tiêu đó là bao nhiêu
Trang 35Các chỉ tiêu phản ánh chỉ số được thay đổi qua các năm để phù hợp với những cải cách, sự thay đổi chính sách cũng như những thách thức mới của nền kinh tế Các chỉ tiêu có thể được lược bỏ bớt và thêm vào các chỉ tiêu mới nhằm đảm bảo thể hiện đúng vai trò mới của các lĩnh vực điều hành, đánh giá đúng thực trạng công tác điều hành kinh tế cấp tỉnh Đây là ưu điểm của chỉ số cũng như về phương pháp đánh giá, đó là vẫn phản ánh được đầy đủ năng lực điều hành của chính quyền tỉnh một cách linh động mà không làm thay đổi quá nhiều phương pháp và cách thức đo lường chỉ số qua các năm
Ngay từ khi công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2005, chỉ số thành phần chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước đã được đưa vào với các chỉ tiêu sau :
- Số ngày làm việc với chính quyền địa phương giảm đi sau khi có Luật Doanh nghiệp: chỉ tiêu này nhằm đánh giá sự tiến bộ của chính quyền tỉnh so với trước khi có Luật Doanh nghiệp, nhưng năm 2007 trước khi kiểm định tiến hành điều tra PCI cho thấy rất nhiều doanh nghiệp không nhớ rõ thời điểm trước Luật Doanh nghiệp Do đó năm 2008, số ngày làm việc với chính quyền địa phương được so sánh với hai năm trước đó (2 năm trước năm tiến hành điều tra) Sự thay đổi nhỏ về mặt câu chữ này lý giải phần nào cho kết quả tỷ lệ phần trăm thấp hơn
- % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để làm việc với chính quyền địa phương
- Số lần thanh tra trung vị (tất cả các cơ quan)
- Số cuộc thanh tra, kiểm tra giảm đi sau khi có Luật doanh nghiệp : năm 2007 chỉ tiêu này cũng được thay đổi, nhóm điều tra tiến hành so sánh số cuộc thanh kiểm tra có giảm so với 2 năm trước thay vì so với thời điểm sau khi có Luật Doanh nghiệp
- Số cuộc thanh tra thuế và số giờ làm việc với thanh tra thuế
Trang 36Các chỉ tiêu này được chia thành 2 khía cạnh : thời gian giải quyết các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính và thời gian làm việc với các đoàn thanh tra, kiểm tra Năm 2009, công cuộc CCHCC nhằm gỡ bỏ những rào cản đối với sự phát triển của doanh nghiệp đã thúc đầy các nhà nghiên cứu phải đưa vào một số chỉ tiêu mới
để đánh giá những tiến bộ trong việc thực hiện các cam kết cải cách thủ tục hành chính Các lĩnh vực này bao gồm : (1) Cán bộ các cơ quan giải quyết công việc liên quan đến kinh doanh hiệu quả hơn; (2) Giảm thời gian xin chữ ký và con dấu; (3) Giảm thủ tục giấy tờ hành chính nói chung; (4) Giảm các khoản phí, lệ phí khi thực hiện các thủ tục hành chính và năm 2010 thêm chỉ tiêu không quan sát thấy bất kỳ
sự thay đổi nào trong thủ tục hành chính
Như vậy cho đến nay, qua những lần thay đổi bổ sung chỉ số chi phí thời gian được đo lường qua 8 chỉ tiêu sau:
% các DN sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước : đây là tỷ lệ thời gian của các nhà quản lý doanh nghiệp phải bỏ ra để giải quyết các công việc liên quan đến giấy tờ và thủ tục hành chính Chỉ tiêu này khảo sát qua câu hỏi D6, các doanh nghiệp trả lời phiếu điều tra được yêu cầu chấm theo thang 5 điểm (thang đo likert) Dựa vào số doanh nghiệp chấm từ mức 3 trở lên, tương đương với số phần trăm doanh nghiệp phải bỏ ra trên 10% quỹ thời gian để giải quyết các công việc liên quan đến giấy tờ, thủ tục hành chính theo yêu cầu của chính quyền
Số cuộc thanh tra trung vị ( tất cả các cơ quan) : có nghĩa là doanh nghiệp của bạn thanh tra kiểm tra bao nhiêu lần trong năm Theo quy định pháp luật, mỗi năm doanh nghiệp chỉ chịu tối đa hai lần thanh tra các loại của tất cả cơ quan chức năng Chỉ tiêu này được đo lường bằng một câu hỏi mở (câu hỏiD1) cho các doanh nghiệp trả lời bao nhiêu lần trong năm (trước năm điều tra)
Số giờ trung vị làm việc với thanh tra thuế : Để bù lại số lần thanh kiểm tra
bị rút bớt, ở một số tỉnh đã có hiện tượng kéo dài thời gian thanh kiểm tra Do đó chỉ tiêu thứ 3 này nhằm đánh giá số thời gian tiến hành thanh tra thuế Chỉ tiêu này
Trang 37được đo lường bằng số giờ mà doanh nghiệp trả lời trực tiếp câu hỏi D4 trong bảng câu hỏi mà nhóm nghiên cứu đưa ra
Các cán bộ nhà nước làm việc hiệu quả hơn sau khi thực hiện Cải cách hành chính công (CCHCC) (%có): chỉ tiêu này nhằm đo lường năng lực quản lý điều hành của tỉnh Các doanh nghiệp được yêu cầu đánh dấu vào các nhận định trong câu hỏi D9 và sẽ được tính bằng tỷ lệ % các doanh nghiệp trả lời đồng ý cho nhận định này
Số lần đi xin dấu và xin chữ ký của doanh nghiệp giảm sau khi thực hiện CCHCC ( %có ): số lần đi xin dấu và chữ ký của doanh nghiệp tương đương với chi phí đi lại mà doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thành công việc có liên quan đến cơ quan hành chính Chỉ tiêu này được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp đánh dấu vào nhận định thứ 2 của câu hỏi D9 trong bảng câu hỏi điều tra
Thủ tục giấy tờ giảm sau khi thực hiện CCHCC (%có) : gánh nặng giấy tờ hành chính luôn là vấn đề khiến các nhà doanh nghiệp thấy phiền hà và cản trở nhiều đến tiến độ công việc của mỗi doanh nghiệp; nhất là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có liên quan đến thông quan xuất nhập khẩu….Đo lường chỉ tiêu này cũng tương tự như chỉ tiêu hai chỉ tiêu trên
Các loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục giảm sau khi thực hiện CCHCC (%có) : thường đi kèm với mỗi thủ tục hành chính đều có phí, lệ phí Chỉ tiêu này đánh giá xem sau khi thực hiện CCHCC các loại phí lệ phí có giảm bớt hay không ? Chỉ tiêu này cũng được đo lường bằng tỷ lệ % các doanh nghiệp đồng ý nhận định thứ 4 trong câu hỏi D9
Không có bất kỳ sự thay đổi nào sau khi thực hiện CCHCC(%có): chỉ tiêu này cũng tương tự các chỉ tiêu trên đánh giá ý kiến của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp cho rằng sau CCHCC tỉnh vẫn không có sự thay đổi tích cực nào, thì chỉ tiêu này là tỷ
lệ % doanh nghiệp lựa chọn đồng ý với nhận định cuối của câu hỏi D9
Nhìn chung có một số chỉ tiêu là nhất quán và ổn định theo thời gian Sự ổn định không có nghĩa là cố định mà có thay đổi phù hợp với điều kiện thực tế bên
Trang 38cạnh đó phương pháp nghiên cứu và đo lường các chỉ tiêu trong từng chỉ số tương đối là giống những năm trước đó Do đó sự so sánh chỉ số qua thời gian là không quá khập khiễng
Tuy nhiên trong chỉ số này, có một số cách mà các doanh nghiệp hiểu lầm về vai trò của cán bộ thuế Có một số doanh nghiệp nhận xét các cuộc viếng thăm của cán bộ thuế là bổ ích cho họ Cụ thể là ở một số tỉnh, cán bộ thuế được cử xuống các doanh nghiệp để đánh giá và nắm bắt nhanh chóng về tình hình sổ sách kế toán thuế và hướng dẫn các quy định mới về thuế cho các doanh nghiệp Các cuộc viếng thăm như vậy về thực chất không mang tính thanh kiểm tra, nhưng các doanh nghiệp thường bị nhầm lẫn, không phân biệt chúng với các cuộc thanh tra kiểm tra thực sự Vì vậy, đôi lúc trả lời cho chỉ tiêu về thời gian làm việc với đoàn thanh kiểm tra không được chính xác và đúng với yêu cầu phản ánh của chỉ số
1.3.4 Kinh nghiệm của một số địa phương rất thành công về cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :
Thành phố Đà nẵng:
Thành phố Đà nẵng nằm trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, là một trong năm tỉnh thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Đà nẵng được xác định là trung tâm của vùng vì có vị trí địa lý kinh tế rất quan trọng trong giao lưu khu vực và quốc tế, nằm trên trục giao thông Bắc- Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không
Trong những năm qua, bên cạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh
để phát huy yếu tố lợi thế truyền thống, Đà Nẵng đặc biệt quan tâm xây dựng yếu tố
“mềm” như chính sách, cách làm, tinh thần thái độ nhằm tạo dựng môi trường đầu
tư kinh doanh thật sự thông thoáng, thân thiện với cộng đồng DN trong nước cũng như nước ngoài Một trong chính sách tiến bộ đó là việc cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước Từ vị trí 14 (năm 2008) lên đến vị trí thứ 2 (2009) với điểm số được cải thiện rõ rệt từ 5,69 năm 2008 lên 8,6 vào năm 2009
Trang 39Đà Nẵng có được vị trí cao về chỉ số này là nhờ nổ lực của các cơ quan ban ngành trong việc thực hiện công khai các thủ tục hành chính công theo Đề án : “một cửa liên thông” Hiện nay, hầu như sở ban ngành nào cũng có tổ một cửa chịu trách nhiệm nhận và trả hồ sơ cho doanh nghiệp khi đến làm việc với cơ quan nhà nước Tại bộ phận một cửa, các sở ngành đều đã bố trí các cán bộ kiểm tra sơ bộ hồ sơ, những thiếu xót được chỉnh sửa kịp thời Việc làm này góp phần đáng kể vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục hành chính công, qua đó góp phần làm giảm bớt thời gian và chi phí cho doanh nghiệp Tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có 65 thủ tục hành chính, trong
đó có 9 thủ tục đã giảm thời gian giải quyết cho tổ chức từ 30- 40% Sở Công thương là một ví dụ điển hình về việc thực hiện tốt sự thay đổi về thời gian giải quyết hồ sơ cấp phép, giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính so với thời gian quy định của Trung Ương như : Đăng ký khuyến mại (3 ngày/ 7 ngày), cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp (10 ngày/ 20 ngày)
Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước là một nhân tố khác giúp Đà Nẵng duy trì vị trí cao trong chỉ số này Hiện nay, phần mềm quản lý hồ sơ văn bản tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đang được triển khai thí điểm trên 50% số phường, xã và hầu hết các sở ban ngành Với các ứng dụng của mình, phần mềm góp phần giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến việc lưu hồ sơ văn bản và quy trình công việc tại cơ quan trên địa bàn thành phố.Một minh chứng
về vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cắt giảm thời gian thực hiện các quy định của nhà nước cho doanh nghiệp là việc khai báo hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu được thực hiện tại Cục Hải quan thành phố Theo quy định tại Điều 19, Luật Hải quan thì thời hạn làm thủ tục hải quan tối đa đối với hàng hóa xuất nhập khẩu là không quá 08 giờ làm việc; đối với hàng nhập khẩu là không quá
02 ngày làm việc Tuy nhiên, trong thực tế với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và hiện đại hóa hải quan, việc làm thủ tục đối với hàng hóa xuất nhập khẩu được rút ngắn rất nhiều so với quy định trên Đối với các lô hàng của doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan được miễn kiểm tra (hàng luồng xanh) thì
Trang 40được thông quan ngay, cụ thể hàng xuất khẩu khoảng từ 30-60 phút; hàng nhập khẩu khoảng từ 01-02 giờ Trong năm 2009 đã có trên 200 doanh nghiệp đăng ký khai điện tử với 24.315 tờ khai khai báo điện tử góp phần làm tổng thu ngân sách nhà nước vượt 23,6% chỉ tiêu do Bộ Tài chính và HĐND thành phố giao
Tỉnh Lào Cai:
Năm 2011, tỉnh Lào Cai vượt lên đứng đầu về chỉ số xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Trong đó có nhiều chỉ số thành phần đạt điểm cao, nhưng thủ tục hành chính là chỉ số được nhiều doanh nghiệp hoan nghênh Đây là “thương hiệu” đồng thời cũng là động lực để Lào Cai thu hút đầu tư, cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh
Trong chỉ số chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà Nước có các chỉ tiêu : cán bộ Nhà nước làm việc hiệu quả hơn sau khi thực hiện cải cách thủ tục hành chính công, số lần đi xin dấu và chữ ký của doanh nghiệp, thủ tục giấy tờ… thì Lào Cai có điểm số cao nhất đạt 8,28 điểm Để có kết quả này, cải cách thủ tục hành chính được lãnh đạo tỉnh đặt vào một trong những chỉ số được ưu tiên hàng đầu Trong đó tập trung vào đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa”, “ một cửa liên thông”
Hải Quan Lào Cai là hình ảnh đầu tiên trong việc cải cách thủ tục hành chính Đây cũng là một trong ba đơn vị đầu tiên của ngành Hải Quan thực hiện hải quan điện tử Việc hỗ trợ các doanh nghiệp cài đặt, hướng dẫn sử dụng khai báo hải quan điện tử, ban hành chính sách ưu tiên hỗ trợ cho các doanh nghiệp tại Lào Cai khi tham gia thủ tục hải quan điện tử góp phần khuyến khích và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu qua Lào Cai
Tỉnh thường xuyên rà soát các thủ tục để tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp Bên cạnh đó, cũng tổ chức hội nghị trao đổi với các doanh nghiệp trên địa bàn, thông tin về chính sách, định hướng những vấn đề về đầu tư lớn và cũng tháo
gỡ khó khăn