1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính thống nhất trong đa dạng các quốc gia đông nam á

30 2,6K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 214 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦUĐông Nam Á từ lâu được biết đến là một khu vực chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu trên thế giới. Đây là một vùng rộng lớn nằm chắn ngang tất cả các con đường hàng hải từ Ên Độ Dương sang Thái Bình Dương, từ Châu Á xuống châu Óc. Đo điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, nên từ buổi bình minh của lịch sử khu vực, Đông Nam Á đã giữ một vai trò đặc biệt trên con đường buôn bán Đông – Tây, và là nơi gặp gỡ, giao thoa của các nền văn hoá lớn trên thế giới. “Đông Nam Á là ống thông khói, tích tụ và lan toả các nền văn hoá trên thế giới” (Hall). Đây là một khu vực địa lý – lịch sử – văn hoá, có bản sắc riêng biệt, là một trung tâm văn minh cổ, có nhiều đóng góp lớn trong lịch sử nhân loại. Một đặc điển tiêu biểu và đặc sắc của khu vực Đông Nam Á là tính thống nhất trong đa dạng, điều này được thể hiện trên mọi lĩnh vực: điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá và lịch sử.Vậy tính thống nhất, tính đa dạng là gì? Được biểu hiện cụ thể như thế nào? Làm rõ vấn đề trên chúng ta sẽ hiểu chính xác và toàn bộ tiến trình lịch sử của khu vực Đông Nam Á từ khi hình thành, phát triển đến tận ngày nay, trên tất cả các lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội.Tính thống nhất giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á sẽ tạo ra một nét chung, nét tương đồng, giúp các quốc gia gần gũi với nhau hơn, đây là nhân tố, là nền tảng, là chất kết dính các nước thắt chặt quan hệ với nhau.Tính đa dạng được thể hiện rất khác nhau giữa các lĩnh vực kinh tế – xã hội trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Đây là nhân tố để giữ gìn bản sắc truyền thống của dân téc, là điểm để phân biệt quốc gia này với quốc gia khác, mỗi quốc gia có những nét riêng biệt tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, sự tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá bên ngoài, tạo nên sự đa dạng, phong phó cho khu vực. Khu vực có tính thống nhất, nhưng từng quốc gia lại có nét đa dạng, đa dạng trong thống nhất, thông nhất trong đa dạng là một nét đặc sắc trong lịch sử các quốc gia Đông Nam Á.B. PHẦN NỘI DUNG1. Tính thống nhất trong đa dạng về mặt điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á Là mét khu vực nằm ở Đông Nam lục địa châu Á, Đông Nam Á có diện tích khá lớn 4476000 km2 với 55 triệu dân.Hiện nay Đông Nam Á có 11 quốc gia, trong đó Đôngkimo là quốc gia trẻ tuổi nhất. Đông Nam Á có phạm vị lãnh thổ bao gồm 2 phần là: Đông Nam Á lục địa: Việt Nam, Lào, Campuchia, Miama, Thái LanĐông Nam Á hải đảo: Inđônêxia, Malaixa, Singapo, Philipin, Brunây và Đôngkimo

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

Đông Nam Á từ lâu được biết đến là một khu vực chiến lược có tầm quantrọng hàng đầu trên thế giới Đây là một vùng rộng lớn nằm chắn ngang tất cảcác con đường hàng hải từ Ên Độ Dương sang Thái Bình Dương, từ Châu Áxuống châu Óc Đo điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, nên từ buổi bìnhminh của lịch sử khu vực, Đông Nam Á đã giữ một vai trò đặc biệt trên conđường buôn bán Đông – Tây, và là nơi gặp gỡ, giao thoa của các nền văn hoálớn trên thế giới “Đông Nam Á là ống thông khói, tích tụ và lan toả các nền vănhoá trên thế giới” (Hall) Đây là một khu vực địa lý – lịch sử – văn hoá, có bảnsắc riêng biệt, là một trung tâm văn minh cổ, có nhiều đóng góp lớn trong lịch

sử nhân loại Một đặc điển tiêu biểu và đặc sắc của khu vực Đông Nam Á là tínhthống nhất trong đa dạng, điều này được thể hiện trên mọi lĩnh vực: điều kiện tựnhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá và lịch sử

Vậy tính thống nhất, tính đa dạng là gì? Được biểu hiện cụ thể như thếnào? Làm rõ vấn đề trên chúng ta sẽ hiểu chính xác và toàn bộ tiến trình lịch sửcủa khu vực Đông Nam Á từ khi hình thành, phát triển đến tận ngày nay, trên tất

cả các lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội

Tính thống nhất giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á sẽ tạo ramột nét chung, nét tương đồng, giúp các quốc gia gần gũi với nhau hơn, đây lànhân tố, là nền tảng, là chất kết dính các nước thắt chặt quan hệ với nhau

Tính đa dạng được thể hiện rất khác nhau giữa các lĩnh vực kinh tế – xãhội trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau Đây là nhân tố để giữ gìnbản sắc truyền thống của dân téc, là điểm để phân biệt quốc gia này với quốc giakhác, mỗi quốc gia có những nét riêng biệt tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vịtrí địa lý, sự tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá bên ngoài, tạo nên sự đa dạng,phong phó cho khu vực Khu vực có tính thống nhất, nhưng từng quốc gia lại cónét đa dạng, đa dạng trong thống nhất, thông nhất trong đa dạng là một nét đặcsắc trong lịch sử các quốc gia Đông Nam Á

B PHẦN NỘI DUNG

Trang 2

1 Tính thống nhất trong đa dạng về mặt điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á

Là mét khu vực nằm ở Đông Nam lục địa châu Á, Đông Nam Á có diệntích khá lớn 4476000 km2 với 55 triệu dân

Hiện nay Đông Nam Á có 11 quốc gia, trong đó Đôngkimo là quốc gia trẻtuổi nhất Đông Nam Á có phạm vị lãnh thổ bao gồm 2 phần là:

- Đông Nam Á lục địa: Việt Nam, Lào, Campuchia, Miama, Thái Lan

- Đông Nam Á hải đảo: Inđônêxia, Malaixa, Singapo, Philipin, Brunây

Trang 3

Đông Nam Á nằm ở vị trí bản lề giữa lục địa Á - Âu rộng lớn với một bên làThái Bình Dương và Ên Đé Dương, cho nên Đông Nam Á nằm giữa các đơn vịđịa lý tự nhiên mang tính độc lập: Lục địa - đại dương: Lục địa bán cầu bắc –lục địa bán cầu nam, tạo nên cho Đông Nam Á những đặc điểm phong phú và đadạng về các mặt như khí hậu, sông ngòi

Mặc dù Đông Nam Á như một vùng bị nát vụn nhưng Đông Nam Á luôn

là một khối thống nhất bao gồm 2 bộ phận: Bán đảo Trung Ên và quần đảo MãLai, Đông Nam Á nằm gọn trong khoảng 95 độ đến 141 độ kinh Đông và từ 28

độ vĩ Bắc đến 11 độ vĩ Nam Đông Nam Á nằm trong vòng nóng của địa cầu,nên các yếu tố địa lý, tự nhiên ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có những nét tươngđồng, gần gũi với nhau như ở bất cứ quốc gia nào cũng có kết cấu văn hoá biển,núi và đồng bằng

Do nằm trong vành đai nóng của địa cầu nên Đông Nam Á có khí hậunhiệt đới cận xích đạo, gió mùa nóng Èm Nhờ có gió mùa và khi hậu biển đãlàm cho Hà Nội, Mandalay, Cancuta trở nên xanh tốt, trù phú, bên các vĩ độ gầnxích đạo đáng lẽ chỉ có cây cối rậm rạp, dân cư thưa thít thì lại tạo nên những đôthị đông đúc, thịnh vương như Kulalămpua, Singapo… Gió mùa giảm bớt sựkhông thuần nhất và tạo nên 2 mùa rõ rệt cho khu vực, mùa khô lạnh và mát vàmùa nóng, Èm Chính nhờ yếu tố khí hậu này đã tạo nên một cảnh quan tự nhiênhết sức đa dạng, ở Đông Nam Á hầu như có toàn bộ các loài các chủng loài củagiới tự nhiên Các cánh rừng thưa, rừng xavan ở cao nguyên Còrạt, Camphuchia,

có rừng ngập mặn ở Inđônêxia, Malaixia, Việt Nam…

Đông Nam Á có một mạng lưới sông ngòi dày đặc, với các hệ thống sốnglớn như Mê công, sông Hồng, Sông Mênam, sông Iraoadi… tạo nên những đồngbằng phù sa màu mỡ, trong đó cây lúa nước với những điều kiện sinh trưởngthích hợp trở thành cây trồng chủ yếu trong nền nông nghiệp của dân cư ĐôngNam Á Đây cũng là một nét thống nhất của khu vực Đông Nam Á, nhưng tuymỗi vùng của quốc gia, tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia mà cây lúa có nhiều chủngloại và chất lương khác nhau

Trang 4

Sự thống nhất đó là kết cấu liên hoàn núi, đồng bằng và sông suối, mặtkhác cũng tạo nên tính đa dạng của địa hình như ở Việt Nam có hệ thống núirộng lớn ở miền Đông và Tây Bắc, ở Philipin có núi lửa Những đặc điểm củađiều kiện tự nhiên Đông Nam Á từ vị trí địa lý, khí hậu, địa hình… đều thể hiện

rõ nét tính thống nhất trong đa dạng của khu vực, tạo nên một đặc điểm riêngbiệt, một nét đặc sắc của Đông Nam Á Sự thống nhất và đa dạng về điều kiện tựnhiên là cơ sở, nền tảng tạo ra sự thống nhất trong các lĩnh vực đời sống xã hội

2 Tính thống nhất trong đa dạng về mặt lịch sử

2.1: Cư dân.

Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu và dùa trên các kết luận của khảo cổ học,

có thể kết luận rằng toàn bộ cư dân Đông Nam Á thuộc tiểu chủng MôngôlôitPhương nam, tiểu chủng này được hình thành do sự hỗn dung giữa 2 đại chủngMôngôlôit và Ôxtralôit Nhưng từ tiểu chủng Mônôgôit Phương Nam phân hoáthành 2 loại hình nhân chủng là Nam Á và Anh đônêdiên, và từ 2 nhóm này lạiphân hoá thành các téc người khác nhau tạo nên sự phong phú, đa dạng trongthành phần téc người ở Đông Nam Á

Ở bất cứ quốc gia nào cũng có mặt các téc người thuộc cả nhóm Nam Á

và Anhđônêdien, hoặc cùng một téc người nhưng sống ở nhiều nước khác nhaunhư người Thái có mặt ở Thái Lan, Việt Nam, Lào, người Khơme có ở ViệtNam, Campuchia Nhưng có điều đặc biệt là dù sống ở những nơi khác nhaunhưng người Thái ở Thái Lan, Việt Nam … vẫn có những đặc tính, truyềnthống, phong tục, tập quán giống nhau

Trang 5

* Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X Đây là thời kỳ hình thành các nhà

nước ở nhiều nơi, dù tổ chức nhà nước khác nhau nhưng đều được gọi chung làcác quốc gia sơ kỳ, giai đoạn này gồm 2 thời kỳ nhỏ:

- Thời kỳ thứ I: Từ đầu công nguyên đến thế kỷ VII.

Thời kỳ này có khoảng 30 tiểu quốc đã được hình thành ở phía Nam ĐôngNam Á như Champa ở Nam – Trung Bộ (Việt Nam), Phù Nam ở trung và hạ lưusông Mêcông, tiểu quốc Lancasuca, Tambrahinga, Takôla ở bán đảo Malaya,…

Các nhà nước được xuất hiện ở 3 khu vực là hạ lưu và châu thổ sôngMêcông; Phía Bắc Huế thuộc Trung kỳ hiện nay ở Việt Nam và phần phía Bắcbán đảo Mãlai

- Thời kỳ thứ II: Từ thế kỷ VII – X, là thời kỳ các tiểu quốc hợp nhất

lại với nhau theo téc người và theo địa vực, hình thành nên các quốc gia lớn vàlấy một bộ téc tương đối đông làm nòng cốt như Srivijaya, Kalinga ở Inđônêxia,Đại Việt và Chămpa ở Việt Nam

* Giai đoạn 2 từ thế kỷ X – XV: Là thời kỳ phát triển thịnh đạt của các

quốc gia Đông Nam Á, so với các khu vực khác, Đông Nam Á là nơi phát triểnthịnh đạt nhất của chế độ phong kiến, đạt đến đỉnh cao cụ thể như sau:

Vương quốc Camphuchia bước vào thời kỳ phát triển – thời kỳ Ăng co, từ

802 – 1434

Đại Việt: Bước vào thời kỳ thịnh đạt dưới triều Lý – Trần, Lê Sơ (thế kỷ

XI - XV)

Vương quốc Miama thinh vượng dưới triều đại Pagan 1044 – 1287

Inđônêxia đạt tới thịnh vương dưới chiều đại Môjopahit (1213 - 1527)Vương quốc Lanxang ở Lào 1353

Triều đại Trailock ở Xiêm

Ở thời kỳ này còn xuất hiện nhiều quốc gia mới như Giava chinh phụcSumatra vào thế kỷ VII – XIII ở Inđônêxia

Vương quốc Lavô và Sukhathay tạo thành vương quốc A Yuthay củangười Thái

Trang 6

Sự phát triển đa dạng của Đông Nam Á được thể hiện qua các mặt sau:+ Kinh tế: Các khu vực kinh tế quan trọng được hình thành, xuất hiện cácvựa lúa, “bát gạo lớn” của Đông Nam Á và thế giới như Đồng bằng Mênam(Thái Lan), đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long (Việt Nam ), đồng bằngIraoađi ở Mianma…

Thủ công nghiệp bắt đầu xuất hiện, thành thị ra đời nh Sukhothay,Authay, Thăng Long, Pagan, Palembang, Ăngco…

Hoạt động thương mại bắt đầu sôi động, các nước Đông Nam Á có quan

hệ buôn bán với các nước Trung Quốc, Ên Độ, Ba Tư, Ả Rập, các hải cảng lớn

ra đời và hoạt động tấp nập như Hội An, Vân Đồn (Việt Nam ) Palembang(Inđônêxia), nổi bật hơn cả là Malacca

+ Chính trị: Công cuộc xây dựng nhà nước đạt tới trình độ tương đối hoànchỉnh và ổn định, thể chế nhà nước là quân chủ chuyên chế, phù hợp với nềnnông nghiệp xóm làng như: Đại Việt ở Việt Nam, LanXang ở Lào… Sự thịnhđạt về chính trị còn biểu hiện qua cuộc kháng chiến chống quân xâm lược MôngNguyên của nhân dân Đông Nam Á (Trừ Myanma)

+ Văn hoá: NÒn văn hoá dân téc của các quốc gia Đông Nam Á phát triểnmạnh trên tất cả các lĩnh vực và đã đóng góp lớn vào kho tàng văn hoá nhânloại, các khu đền như Ăng covat, Ăngcothom (Campuchia), Thạt Luông (Lào)…bên cạnh sự phát triển chung đó cũng có sự phát triển riêng của từng quốc gia,tạo nên sự thông nhất trong đa dạng trên lĩnh vực văn hoá

* Giai đoạn 3: Từ thế kỷ XVI – XIX:

Là thời kỳ suy thoái của các quốc gia Đông Nam Á, nhưng sự suy thoáikhông đồng đều về mặt thời gian, đầu tiên là Campuchia suy thoái từ thé kỷXIII, Mianma vào thế kỷ XVI, XVII, Chămpa thế kỷ XV, Đại Việt thế kỷ XVII;XVIII Còn Xiêm và LanXang lại tiếp tục phát triển

Sù suy thoái được biểu hiện trên các mặt sau:

- Kinh tế: Suy thoái, trì trệ, mọi hoạt động sản xuất bị đình đốn…

- Chính trị: Sự khủng hoảng và bất lực của giai cấp phong kiến cầm quyền

Trang 7

- Xã hội: Mâu thuẫn trong xã hội diễn ra gay gắt, các cuộc khởi nghĩa nổ

Sự đa dạng của khu vực thể hiện qua 2 xu hướng chính sau:

Thứ nhất: Là đóng cửa, không hợp tác với phương Tây Ở Việt Nam , nhàNguyễn đã thực hiện chính sách” bế quan toả cảng”, ngăn cấm sự xâm nhập củavăn hoá phương Tây, cấm hàng, cấm đạo, cấm người tây vào nước

Thứ hai: Một số nước đã mở cửa, đón nhận ảnh hưởng của văn minhphương Tây, đây chính là một phương pháp bảo vệ nền độc lập dân téc Tiêubiểu cho xu hướng này là Xiêm dưới triều Rama IV và Rama V Xiêm đã tìmcho mình một con đường đặc sắc đó là cải cách đất nước, tiến hành đường lốingoại giao độc đáo, “đầu nhọn đầu tù” Xiêm đã kí kết các hiệp ước với tư bảnbên ngoài, cải cách kinh tế, xã hội trong nước mở đường cho nền kinh tế Xiêmphát triển Nh xoá bỏ độc quyền của nhà nước trong việc xuất khẩu gạo, cải cáchnày được đánh giá là cấp tiến nhất vì giải phóng sức sản xuất, kích thích tăngnăng suất lao động Xiêm tham gia vào nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và hội nhậpkinh tế toàn cầu một cách tự nhiên

Xu hướng hội nhập là cái chung, là điều tất yếu đặt ra đối với mỗi quốcgia nhưng con đường hội nhập của mỗi quốc gia lại khác nhau Người phươngTây nhận xét: “Kinh tế Xiêm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là hình mẫu điểnhình cho các nước và bước đầu cho sự cạnh tranh với bên ngoài” Nhờ đó màXiêm thoát khỏi cảnh thuộc địa, đưa Xiêm ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế,chính trị – xã hội của chế độ phong kiến

Trang 8

* Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến nay: Là thời kỳ đấu tranh giành độc lập

dân téc của các quốc gia Đông Nam Á

Sự thống nhất ở giai đoạn này là độc lập dân téc, nhưng nét đa dạng là sựlùa chọn các con đường khác nhau của mỗi nước kết quả đạt được, mức độgiành độc lập cũng rất khác nhau

Sau khi giành được độc lập, con đường đi lên xã hội hiện đại của từngquốc gia là không giống nhau nhưng cùng hướng tới một mục tiêu chung là pháttriển khu vực Đông Nam Á giàu mạnh Đây chính là sự thống nhất đa dạng vềmặt lịch sử

3: Tính thống nhất trong đa dạng về mặt văn hoá

3.1 Văn hoá vật chất:

Đông Nam Á được coi là khu vực có nền văn hoá cổ xưa của thế giới, vănhoá Đông Nam Á là nơi hội tụ của nền văn hoá Đông - Tây vừa có nét chung,thống nhất vừa mang tính độc đáo, đa dạng Cuộc sống của cư dân Đông Nam Áluôn gắn liền với những hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, do đónhững phong tục, tập quán của các quốc gia Đông Nam Á gắn bó chặt chẽ vớinền nông nghiệp lúa nước và mang tính bản địa sâu sắc Điều này đã tạo nên sựthống nhất trong văn hoá của khu vực Đông Nam Á và cũng hình thành nên sự

đa dạng, đặc sắc trong văn hoá của từng quốc gia

* Ăn uống: Do có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi nên Đông Nam

Á có thảm động vật, thực vật rất phong phú, đa dạng, cây cối quanh năm xanhtốt, cây lương thực chủ yếu của cư dân Đông Nam Á là lúa, ngô, khoai và cácloại hoa mầu Tuy nhiên gạo là quan trọng nhất trong cuộc sống hàng ngày,thông thường mỗi bữa ăn gồm có cơm, rau, thịt, cá, do có nhiều thuận lợi nênngười Đông Nam Á không chế biến và dự trữ đồ ăn với khối lượng lớn Họthường sử dụng đồ ăn tươi, sống để làm món ăn như món phở ở Việt Nam, mãnTomyam của Thái Lan, món Xiêmlo của Campuchia Trong khi chế biến món

ăn, một loại gia vị không thể thiếu đó là vị cay, hầu hết các quốc gia Đông Nam

Á đều ăn cay trong bữa ăn của mình Ở mỗi nước, mỗi dân téc lại có sự khác

Trang 9

nhau về cách nấu gạo thành cơm cũng như sự kết hợp các loại thức ăn, gia vịtrong mỗi bữa ăn, tạo nên những nét riêng biệt và đặc trưng cho mỗi vùng

Mặc dù cách ăn, cách chế biến thức ăn khác nhau nhưng tính thống nhấtcủa văn hoá Èm thực Đông Nam Á là văn hoá Èm thực nhiệt đới

* Trang phục:

Do nằm trong khu vực khí hậu nóng Êm, nhiệt độ trung bình cao, nên cưdân Đông Nam Á rất thích mặc đồ thoáng nhẹ, thoải mái, theo truyền thống mọigia đình đều trồng bông, dệt vải, như vải lụa, tơ tằm ở Việt Nam, vải thổ cẩmcủa ngưòi Lào, Thái…Trang phục truyền thống của phụ nữ Đông Nam Á là áo,váy và khăn, đối với nam là đóng khố cởi trần Cã những điểm thống nhất,nhưng mỗi quốc gia, mỗi dân téc, trang phục lại có những nét đặc sắc riêng tạonên một bức tranh đa dạng trong cách ăn mặc của người Đông Nam Á

Cư dân ở Đông Nam Á hải đảo thường gọi váy là Kain – Kain, còn đốivới cư dân Đông Nam Á lục địa gọi váy là Sarông

Sự đa dạng trong trang phục truyền thống của phụ nữ Đông Nam Á đượctạo nên bởi sự kết hợp hài hoà và tinh tế trong một bộ trang phục Thông thườngphần dưới cơ thể là các loại Kain, Sarông có độ dài ngắn khác nhau, còn phầntrên cơ thể là áo cánh dày tay hoặc áo chui đầu, đại diện tiêu biểu là phụ nữThái, người Giava, người Sunđa (Inđônêxia)

Còn phụ nữ ở Campuchia, miền Bắc Việt Nam lại có sự kết hợp độc đáogiữa váy với áo yếm, có nơi váy được kết hợp với khăn tạo nên sự hấp dẫn, lôicuối cho trang phục Phụ nữ ở đảo Bali (Inđônêxia) thường quấn khăn che phầntrên cơ thể khi đi chùa chiền

Trang phục của nam giới phổ biến là đóng khố cởi trần, như Êđê, Bana,téc người Papua, Tôratja… Còn ở một số nơi Kain và Sarông là trang phụctruyền thống của cả nam và nữ như người Mianma, Malaixia Sự phân biệt trangphục của nam và nữ được phân biệt ở độ dài ngắn và cách quấn Kain và Sarông,

ở Mianma trang phục của nam thường ngắn và quấn dầy hơn rất nhiều lần vàgấp thành 2 nếp ở phía trước

Trang 10

* Nhà ở:

Nhà không đơn thuần là nơi cư trú của mỗi gia đình mà còn phản ánh đờisống tinh thần phong phó, quan hệ huyết téc cũng như mọi phong tục, nghi lễnông nghiệp gắng liền với ngôi nhà Do điều kiện tư nhiên mà cư dân ĐôngNam Á cư trú chủ yếu bằng nhà sàn, trở thành kiến trúc dân gian phổ biến toànĐông Nam Á

Nhà sàn được làm bằng gỗ, tre, nứa, hầu hết các nhà sàn có mái hiên rộngngay trước cửa, từ hiên có bậc cầu thang để lên xuống, hiên nhà là nơi mọingười làm việc như quay tơ, dệt vải… Gầm nhà sàn thường được dùng để nuôitrâu bò, lợn gà hoặc là nơi để công cụ lao động Một dấu hiệu thống nhất có thểthấy ở các quốc gia Đông Nam Á là sự tồn tại phổ biến của những “ngôi nhàchung”, đây là kiểu nhà thường được xây dựng ở giữa làng hoặc giữa bản có quy

mô lớn hơn các ngôi nhà bình thường “Ngôi nhà chung” được sử dụng làm nơihội họp, tế lễ và tổ chức các hoạt động văn hoá chung cho cả làng – bản Ở ViệtNam có nhà Rông Tuy nhiên kiến trúc nhà ở của cư dân Đông Nam Á ở mỗidân téc, vùng lại có những nét riêng biệt độc đáo về hình thức, kích thước vàcách bài trí, đây không chỉ là sự khác biệt về mặt hình thức mà là sự khác biệt vềphong tục, lối sống, nghi thức của gia đình

Sự đa dạng, phong phú của nhà sàn của cư dân Đông Nam Á còn được thểhiện ở trong phạm vi một quốc gia Ở Inđônêxia, téc người Minang Kabau gọingôi nhà của mình là Rumacgadang (ngôi nhà lớn), kiểu nhà này được dựng trênsàn cao, có 2 mái dốc vểnh lên như 2 hình yên ngựa, và kết thúc ở 2 đầu nócbằng hình mô phỏng cặp sừng trâu Còn téc người Toratja lại làm nhà theo hìnhthuyền, người Papua làm nhà sàn trên cây

* Phương tiện đi lại.

Đông Nam Á có một mạng lưới sông ngòi dày đặc và hầu hết các quốcgia tiếp giáp với biển, hệ thống sông ngòi tạo nên một hệ thống giao thông rấtthuận lợi cho cư dân trong vùng Do đó người ta thường dùng thuyền, bè để đilại, để giao lưu buôn bán, chuyển tải văn hoá - kinh tế giữa các quốc gia trong

Trang 11

khu vực Cư dân Đông Nam Á sớm biết buôn bán bằng đường sông, đường biển

và hình thành nên các chợ nổi tiếng trên sông và sớm tham gia vaò nền thươngmại thế giới Kĩ thuật đóng thuyền của cư dân Đông Nam Á ngày càng hoànthiện để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và phục vụ mục đích quân sự củanhà cầm quyền Tuỳ vào đặc điểm thuỷ văn từng vùng mà người Đông Nam Á

có những cách đóng thuyền khác nhau

Cư dân hải đảo đi lại chủ yếu trên biển nên thuyền, bè thường được đóngvới kích thước lớn chuyên chở với số lượng nhiều, còn việc đi lại trên sông, trênlạch nhỏ, trong đảo người Đaiăk trên đảo Kalimantan (Inđônêxia) thường đóngnhững con thuyền nhỏ nhưng dài tới 50m Còn ở lục địa các loại thuyền có hìnhdáng và kích thước rất phong phú Những cư dân miền núi thường đóng bè hoặcmảng để di chuyển trên các dòng sông còn cư dân đồng bằng thường đóng thuyền

có kích thước nhỏ hơn để dễ dàng đi lại ví dụ như ở Việt Nam loại thuyền thúngrất phổ biến ở đồng bằng Bắc Bé Còn thuyền ba lá, hoặc ghe chèo được sử dụngtrong điều kiện kênh rạch chằng chịt ở miền Đông Nam Bé

Phương tiện đi lại bằng thuyền gắn bó chặt chẽ với đời sống cư dân ĐôngNam Á, vì thế biểu tượng con thuyền luôn gắn với cuộc sống văn hoá ở đây

3.2:Văn hoá tinh thần

3.2.1:Chữ viết

Đông Nam Á là khu vực có nhiều thành phần dân téc, sắc téc cùng chungsống, trải qua các giai đoạn phát triển mỗi dân téc đã sáng tạo ra rất nhiều kiểuchữ để ghi lại ngôn ngữ của mình Nhưng điểm chung, điểm thống nhất trongchữ viết của cư dân Đông Nam Á là thời gian xuất hiện vào những thế kỉ tiếpgiáp công nguyên cùng với sự ra đời của hàng loạt quốc gia cổ của Đông Nam

Á, là quá trình truyền bá mạnh mẽ văn hoá Ên Độ, Trung Hoa vào khu vực.Trong dòng chảy văn hoá đó chữ viết đã được các téc người ở đây tiếp thu vàsáng tạo ra kiểu chữ riêng cho dân téc mình Do đó mỗi téc người lại có nhữngkiểu chữ khác nhau: Chữ Chăm cổ (thế kỉ IV), chữ Nôm cổ (thế kỉ V), ChữKhơme cổ (thế kỉ VI) Mặc dù vậy ta vẫn nhận thấy nét tương đồng trong chữ

Trang 12

viết của các quốc gia Đông Nam Á là nguồn gốc ra đời của chữ viết Chữ viếtcủa Đông Nam Á trải qua 3 giai đoạn phát triển sau:

Thứ nhất là sự vay mượn trực tiếp từ chữ viết của Ên Độ và Trung Hoa Thứ hai là sáng tạo ra các kiểu chữ dùa trên nhưng kiểu chữ ban đầu

Thứ ba là sử dụng chữ viết truyền thống và dùng chữ latinh

Trải qua những giai đoạn, những biến động của tình hình kinh tế, chính trị

và xã hội cũng ảnh hưởng tới sự hình thành chữ viết, đây là điều kiện quan trọngtạo nên sự phong phú đa dạng trong bức tranh ngôn ngữ của khu vực Hầu hếtchữ viết của cư dân Đông Nam Á đều được sáng tạo trên cơ sở chữ Ên Độ vàchữ Trung Hoa, nhưng quá trình vay mươn này diễn ra vào những thời điểmkhác nhau nên khi du nhập vào các quốc gia nó được biến thể thành muôn hìnhmuôn vẻ kiểu chữ khác nhau

Sự đa dạng phong phú của ngôn ngữ chữ viết Đông Nam Á còn được biểuhiện ở vị trí từng kiểu chữ Do điều kiện chính trị, xã hội, lịch sử khác nhau màngôn ngữ và chữ viết của mỗi dân téc có địa vị và chức năng xã hội khác nhau

Có ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trở thành ngôn ngữ quốc gia như tiếngViệt ở Việt Nam, tiếng Malaixia ở Malaixia, tiếng Khơme ở Campuchia

3.2.2: Tín ngưỡng- tôn giáo

Đông Nam Á là một khu vực đa tôn giáo hầu hết các tôn giáo lớn trên thếgiới đều có mặt ở đây như đạo Phật, đạo Thiên chóa, đạo Ixlam…Do cùngchung sống trên một khu vực địa lí có nhiều điểm tương đồng nên tín ngưỡng,tôn giáo ở Đông Nam Á có nhiều điểm thống nhất với nhau

Cuộc sống của cư dân Đông Nam Á gắn bó chặt chẽ với hoạt động nôngnghiệp, điều kiện tự nhiên luôn tác động tới cuộc sống của họ nên trong cư dânxuất hiện tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Đây là những nhận thức sơ khai của conngười về các hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, sấm…Xuất phát từ thuyết “vạnvật hữu linh” người Đông Nam Á đã sáng tạo ra mét hệ thống tín ngưỡng sùngbái tự nhiên như thờ thần mặt trời, thờ thần nước, thờ hòn đá…nhưng mỗi quốc

Trang 13

gia nghi thức hành lễ và tên gọi các nghi thức Êy còng khác nhau, tạo nên sựthống nhất nhưng cũng rất đa dạng trong đời sống tâm linh của họ.

Từ tín ngưỡng thờ thần mặt trời ở Việt Nam có lễ hội rước đèn trung thuvào ngày 15-8 âm lịch, ở Mianma cũng có lễ hội “đèn trời”, ở Lào, Thái lan có

lễ hội hoa đăng trên các dòng sông Ở Thái Lan có lễ hội tạ ơn “mẹ nước”vàobuổi tối trăng tròn tháng 10 âm lịch hàng năm Ở Campuchia, Lào có lễ hội ténước đầu năm để cầu mong nhiều phóc nhiều léc Ở Inđônêxia, Mianma,Philipin có tục thê thần sông

Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, tín ngưỡng phồn thực được thể hiện

đa dạng ở nhiều hình thức khác nhau nhưng những điểm chung về điều kiện tựnhiên, xã hội, đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đã tạo nên sựthống nhất trong tín ngưỡng này

Ở Thái Lan có tục nặn hình người bằng đất sét để cầu nguyện cho mùamàng tốt tươi, tượng là một cặp nam nữ ôm nhau Ở miền bắc Việt Nam thì thờcóng cột đá có hình sinh thực khí khá phổ biến thể hiện qua tượng Linga vàYôni Trong các nghi lễ phồn thực người ta thường làm các loại bánh từ lúa, gạomang hình dáng các sinh thực khí để cóng, cư dân Việt Nam có tục làm bánh tét,bánh tày Ở Campuchia làm bánh hình sinh thực khí nam và nữ trong nhữngngày lễ liên quan tới nông nghiệp như lễ PchemBel Ở Mianma có tục làm bánhHatamane

Tín ngưỡng phồn thực trở thành một nghi lễ quan trọng trong đời sống tínngưỡng của cư dân Đông Nam Á , mỗi quốc gia mỗi dân téc lại có những nghi lễ phồnthực khác nhau nhưng đều mang đậm nét sinh hoạt của nền nông nghiệp lúa nước

Ngoài ra cư dân Đông Nam Á còn có tín ngưỡng thờ cóng tổ tiên, họ quanniệm rằng con người gồm hai phần là hồn và xác Người Thái cho rằng khi conngười chết thì hồn biến thành Phỉ (ma) Còn người Việt dùng từ ma để chỉnhững người đã chết

Việc thê cóng tổ tiên được thể hiện qua nhiều hình thức như thờ cóngngười đã chết có quan hệ huyết thống, thờ những người đã sinh ra cộng đồng,

Trang 14

thờ người đã tạo nên những yếu tố văn hoá Nhưng điểm thống nhất là đối tượngthờ cóng là những người đã chết Việc thờ cóng tổ tiên thể hiện sự nhớ ơn cộinguồn, lòng mong ước được người đã chết phù hộ cho mình Đây là một nét đặcsắc trong tín ngưỡng và văn hoá của người Đông Nam Á

3.2.3 Lễ hội

Hầu hết các lễ hội cổ truyền ở Đông Nam Á đều xoay quanh hai chủ đềchính là cầu nắng và cầu mưa, thực chất của lễ hội này là mong ước có một kếtquả sản xuất nông nghiệp tốt đẹp.Vì thế các lễ hội cổ truyền ở Đông Nam Á đềuđược hình thành trên cơ sở nền nông nghiệp lúa nước: Ở Việt Nam có lễ hộixuống đồng, người Chăm có lễ hội dựng chòi cày, người Campuchia có lễ hộiban phát giống thiêng

Sau khi thu hoạch lúa người dân thường tổ chức nghi lễ để cảm ơn trờiđất, tổ tiên nh lễ hội vun thóc trên sàn của người Lào, hay lễ hội mừng cơm mớicủa nhiều nước trong khu vực Trong lễ hội cổ truyền đón năm mới các dân técĐông Nam Á thường dùng nước để chức mừng nhau, bởi họ cho rằng nước làyếu tố đem đến sù Êm no, hạnh phóc và may mắn: Ở Phó Thọ Việt Nam có lễhội” cướp bưởi cầu mưa cướp dừa cầu nước”, Ở Thái Lan tổ chức lễ hội cầumưa thông qua các hành động như múa cờ, chọi voi trắng và dựng đu, ỞMianma, Inđônêxia, Mãlai có lễ hội đua thuyền rồng, Ở Campuchia có lễ hộiLoipratit

Qua các lễ hội ở Đông Nam Á ta thấy chính cây lúa đã tạo dùng nhữngnét tương đồng cho các lễ hội nhưng vẫn thể hiện tính đa dạng, phong phú vềkiểu loại sắc thái của từng quốc gia, dân téc

4 Tính thống nhất trong đa dạng về mặt kinh tế

Do có vị trí địa lý tương đồng nên các quốc gia trong khu vực Đông Nam

Á không chỉ có tính thống nhất trong đa dạng về lĩnh vực văn hoá xã hội, ngay

cả lĩnh vực kinh tế các quốc gia Đông Nam Á còng mang đặc điểm thống nhấttrong đa dạng

Trang 15

Nền kinh tế chủ yếu của các quốc gia Đông Nam Á là nền kinh tế nôngnghiệp lúa nước, đây là điểm chung, điểm thống nhất xuyên suốt từ thời cổ đại.Nhưng những năm gần đây do nhiều nguyên nhân tác động mà kinh tế các nướcĐông Nam Á mang tính đa dạng, mỗi nước có một xu hướng phát triển, mộtđường đi khác nhau Mặc dù vậy ta vẫn thấy những điểm chung và điểm thốngnhất của các quốc gia Đông Nam Á là:

Các quốc gia Đông Nam Á đều có mẫu số chung là tiến hành công nghiệphoá để đưa đất nước thoát khỏi sự yếu kém, lạc hậu về kinh tế, sự lệ thuộc vàonước ngoài và phù hợp với xu thế chung của nền kinh tế thế giới Quá trình thựchiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá được chia lầm hai thời kỳ là công nghiệp hoáhướng nội và công nghiệp hoá hướng ngoại

Đặc điểm chung nữa là các quốc gia Đông Nam Á có nền kinh tế nôngnghiệp là chủ yếu, các nước Thái Lan, Việt Nam, Lào, Mianma… có tới 3/4 sốdân làm nông nghiệp, các quốc gia ở Đông Nam Á là nơi cung cấp nguyên liệu

và là thị trường tiêu thụ hàng hoá cho các nước công nghiệp phương Tây.Nhưng sự nghèo nàn lạc hậu ở mỗi nước lại có mức độ khác nhau:

- Inđônêxia: Trên 70% dân số là nông dân, đóng góp khoảng 70% thunhập quốc dân, nhưng vẫn phải nhập khẩu lương thực, bởi vì các đồn điền, cơ

sở kinh tế quan trọng nằm trong tay tư bản Hà lan

- Philipin: Sau khi được trao trả độc lập, Philipin cũng gặp nhiều khó khănnhư lương thực thiếu hụt trầm trọng, đời sống nhân dân thấp kém, hệ thống giáodục rối loạn, tình hình xã hội căng thẳng, kinh tế Philipin cơ bản là nền kinh tếnửa phong kiến nửa thuộc địa, mang tính tự cấp tự túc rất lạc hậu

- Malaixia: Sau khi được độc lập (1957) kinh tế Malaixia mang tính chÊtnửa thuộc địa nửa phong kiến Tư bản Anh vẫn nắm giữ 2/3 sản lượng thiếc, sởhữu 60% diện tích đồn điền cao su, nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn với 80% dân

số là nông dân, công nghiệp chỉ chiếm 8,2% GDP, cơ sở sản xuất nghèo nàn, lạchậu

Ngày đăng: 29/07/2014, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Ninh (chủ biên). Lịch sử Đông Nam Á , Nxb Giáo dục , 2005 Khác
2. D.G.E Hall. Lịch sử Đông Nam Á . Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1997 Khác
3. Phan Ngọc Liên (chủ biên). Lược sử Đông Nam Á , Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999 Khác
4. Lương Ninh (chủ biên). Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999 Khác
5. Trương Hữu Quýnh (chủ biên). Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Khác
6. Mai Ngọc Chữ. Văn hoá Đông Nam Á . Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 1998 Khác
7. Vũ Dương Ninh. Một số vấn đề về sự phát triển của các nước ASEAN. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Khác
8. Nguyễn Văn Chiến. Vài nét về chữ viết Đông Nam Á . Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á , sè 1, 1991 Khác
9. Lương Ninh. Văn hoá Việt Nam và giao lưu văn hoá Á Châu. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á. sè 3, 1995 Khác
10. Vò Quang Thiệu - Ngô Văn Doanh. Những phong tục độc đáo Đông Nam Á. Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1994 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w