Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên m
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Anh Phạm Ngọc Dương Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã giúp đỡ tôi tận tình, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Chị Nguyễn Thị Anh cùng cán bộ, nhân viên thuộc Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã giúp đỡ, quan tâm tôi nhiều trong thời gian thực tập Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Khúc Thị An, Viện Công Nghệ Sinh Học và Môi trường đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô thuộc bộ môn Công Nghệ Sinh Học Đại Học Nha Trang đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Bố mẹ và người thân đã cho tôi điều kiện tốt nhất
về mặt tinh thần, vật chất, giúp tôi hoàn thành khoá học
Cuối cùng tôi cảm ơn tập thể lớp 50CNSH và các bạn cùng đi thực tập tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã giúp tôi trong thời gian qua
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Các nấm Bào ngư Pleurotus spp có khả năng chuyển hoá các chất xơ sợi giàu
cellulose và lignin - thực chất là khả năng phân hủy các polysacchride tự nhiên để tạo nên nguồn carbon cho nấm sinh trưởng phát triển Hầu hết các loại phụ phế liệu, các chất phế thải của nông, lâm, công nghiệp đều có thể được nấm Bào ngư sử dụng hiệu quả Đây là nguồn tài nguyên nấm quý đang được công nghệ hóa rộng rãi ở Việt nam, góp phần phát triển nông thôn, miền núi và giải quyết các loại phụ, phế liệu công, nông, lâm nghiệp giàu chất xơ (lignocellulosic wastes), góp phần cung cấp sinh khối có giá trị kinh tế cao, bã thải lại là nguồn phân bón sinh học sạch sinh thái Do vậy, sản lượng nấm Bào ngư nuôi trồng trên thế giới từ 1986-1991 đã tăng rất nhanh: gần 450% (1993), năm 2005 đã tăng tới >3 triệu tấn (Chang, 2005) Nấm Bào ngư vừa có giá trị là thực phẩm giàu dinh dưỡng (Zadrazil & Kurztman, 1982; Bano & Rajarathnam, 1988) vừa là nguồn dược liệu có tính kháng sinh (P griseus, ) và phòng chống ung thư (Yoshioka et al., 1985; Mizuno et al., 1990,
Zhuang et al., 1993; Zhang et al., 1994) với polysaccharides liên kết protein tách từ
Pleurotus ostreatus (Fr.) Quél., P sajor-caju (Fr.) Sing., P citrinopileatus Sing.,
Các loài nấm Bào ngư được nuôi trồng phổ biến ở Việt nam hiện nay có thể kể
đến như Pleurotus florida, Pleurotus ostreatus, Pleurotus abalones (Bào ngư nhật),
và một số loài khác Các chủng giống nấm này phần lớn có nguồn gốc ngoại nhập được du thực vào nước ta qua nhiều con đường khác nhau Các giống bản địa có nguồn gốc từ tự nhiên của Việt nam ít được quan tâm nghiên cứu
Đề góp phần bảo tồn tài nguyên nấm lớn của Việt nam và góp phần tạo ra một chủng nấm mới mang tính chất bản địa phù hợp với khí hậu Việt nam, chúng tôi
tiến hành đề tài “ Nghiên cứu nuôi trồng loài nấm Bào ngư mới phát hiện ở Vườn
Quốc Gia Cát Tiên Pleurotus cornucopiae”
Trang 3MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về phân loại học của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae: đặc
điểm hình thái, hiển vi, phân bố, bổ sung các dữ liệu cần thiết của loài này tại Việt nam
Khảo sát tốc độ phát triển của tơ nấm trên các môi trường thạch, hạt ngũ
cốc, môi trường nuôi trồng ra thể quả Pleurotus cornucopiae, so sánh với tốc độ lan
tơ của nấm Bào ngư đang trồng phổ biến hiện nay ở Việt nam Pleurotus florida
Phân tích một số chỉ tiêu về dinh dưỡng của nấm Bào ngư Pleurotus
cornucopiae Đề xuất quy trình nuôi trồng phù hợp
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI MỞ ĐẦU ii
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
1.1 Đặc điểm của chi nấm Bào ngư Pleurotus 1
1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng của nấm Bào Ngư.[4] 4
1.1.2 Những lưu ý khi nuôi trồng nấm Bào ngư.[7] 5
1.2 Giá trị của nấm Bào ngư 5
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của nấm Bào ngư.[1] 5
1.2.2 Giá trị dược liệu của nấm Bào ngư.[1] 6
1.2.3 Tầm quan trọng của việc phát triển giống nấm có nguồn gốc Việt nam Nuôi trồng nấm Bào ngư ở Việt nam 7
1.2.3.1 Tầm quan trọng của việc phát triển giống nấm có nguồn gốc Việt nam.[6] 7
1.2.3.2 Nuôi trồng nấm Bào ngư ở Việt nam.[11] 8
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu .15
2.2 Vật liệu và hóa chất sử dụng trong nghiên cứu .15
2.2.1 Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu .15
2.2.2 Hóa chất sử dụng trong nghiên cứu .16
2.3 Phương pháp nghiên cứu .16
2.3.1 Nghiên cứu giải phẫu hình thái nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae .16
Trang 52.3.2 Phân tích thành phần dinh dưỡng nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae .16
2.2.3 Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường thạch dinh
dưỡng .17
2.3.4 Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường hạt (giống cấp 2) 20
2.3.5 Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường cọng mì
(giống cấp 3) .20 2.3.6 Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Bào ngư Hoàng
bạch Pleurotus cornucopiae trên giá thể mạt cưa So sánh với đặc điểm sinh
trưởng, phát triển hệ sợi của loài Bào ngư đang được nuôi trồng phổ biến
hiện nay Pleurotus florida trên giá thể mạt cưa .21 2.3.7 Khảo sát hiệu quả kinh tế nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae So sánh hiệu quả kinh tế của nấm Pleurotus cornucopiae với loài nấm Bào ngư Pleurotus florida đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay.22
2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu .23 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Kết quả giải phẫu hình thái nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae .25
3.2 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae .30 3.3 Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ
Trang 63.3.1 Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường 1 .31
3.3.2 Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 2.36
3.3.3 Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 3 40
3.3.4 Khảo sát so sánh tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae trong ba môi trường khác nhau: môi trường 1, môi
trường 2, môi trường 3 .43
3.4 Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường hạt (giống cấp 2) 46 3.5 Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường cọng mì (giống cấp 3) 48
3.6 Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Bào ngư Hoàng bạch
Pleurotus cornucopiae trên giá thể mạt cưa So sánh với đặc điểm, tốc độ hệ sợi của loài Bào ngư đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên giá thể mạt cưa .49 3.6.1 Khảo sát tốc độ tăng trưởng của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae trên môi trường giá thể 1 và giá thể 2 sử dụng giống hạt làm
giống sản xuất .49
3.6.2 Khảo sát tốc độ tăng trưởng của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường giá thể 1 sử dụng giống
hạt làm giống sản xuất .53
Trang 73.6.3 Khảo sát tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae trên môi trường giá thể 1 trong hai trường hợp sử dụng giống
hạt làm giống sản xuất và sử dụng giống cọng làm giống sản xuất .55
3.6.4 Khảo sát hiệu quả kinh tế nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae So sánh hiệu quả kinh tế của nấm Pleurotus cornucopiae với loài Pleurotus florida đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay .57
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
4.1 KẾT LUẬN .66
4.2 KIẾN NGHỊ .66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của một số loài nấm Bào ngư (%) 6
Bảng 3.1 Chỉ tiêu phân tích thành phần dinh dưỡng của Pleurotus cornucopiae 30 Bảng 3.2 Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 1 32 Bảng 3.3 Tốc độ lan tơ của loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 2 37 Bảng 3.4 Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 3 40 Bảng 3.5 Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae nuôi
cấy trên 3 môi trường 43
Bảng 3.6 Tốc độ lan tơ của loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida trên môi trường hạt lúa 46 Bảng 3.7 Tốc độ lan tơ của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae trên
môi trường giá thể 1 và môi trường giá thể 2 giống hạt làm giống sản xuất 50
Bảng 3.8 Tốc độ lan tơ của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường giá thể 1 giống hạt làm giống sản xuất.53 Bảng 3.9 Tốc độ lan tơ của loài nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae
trên môi trường giá thể 1 trong hai trường hợp sử dụng giống hạt và giống cọng làm giống sản xuất 56
Bảng 3.10 Thời gian hình thành quả thể của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae
và Pleurotus florida sau khi bịch mạt cưa lan kín 58 Bảng 3.11 Thời gian và tỷ lệ nhiễm tạp của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida trong hai đợt thu hái quả thể 58
Bảng 3.12 Giá trị trung bình khối lượng mẫu tươi/ 1 cụm quả thể hai loài nấm Bào
ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida ở đợt 1 thu hái quả thể 59
Bảng 3.13 Giá trị trung bình và giá trị lớn nhất khối lượng quả thể tươi/ 1 bịch mạt
cưa hai loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida ở đợt 1 thu
hái quả thể 59
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 1 32 Biểu đồ 3.2 Tốc độ lan tơ của Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy
trên môi trường 2 37
Biểu đồ 3.3 Tốc độ lan tơ của loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường 3 40 Biểu đồ 3.4 Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae
nuôi cấy trên 3 môi trường 44
Biểu đồ 3.5 Tốc độ lan tơ của loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida trên môi trường hạt lúa 47 Biểu đồ 3.6 Tốc độ lan tơ của hệ sợi nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae trên môi
trường giá thể 1 và môi trường giá thể 2 giống hạt làm giống sản xuất 51
Biểu đồ 3.7 Tốc độ lan tơ của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida nuôi cấy trên môi trường giá thể 1 giống hạt làm giống sản xuất 54 Biểu đồ 3.8 Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae trên giá
thể 1 trong hai truờng hợp sử dụng giống hạt và giống cọng làm giống sản xuất 56
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Giai đoạn phát triển quả thể của nấm Bào ngư 3
Hình 3.1 Bào tử nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae dưới kính hiển
cấy trên 3 môi trường 45
Hình 3.9 Tốc độ lan tơ của hai loài Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida sau
11 ngày cấy giống trên môi trường hạt lúa 48
Hình 3.10 Môi trường cọng (sắn) của hai loài Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida sau 13 ngày cấy chuyền 49 Hình 3.11 Mầm quả thể nhỏ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae hình
thành trong giá thể 1 sau 29 ngày cấy giống 52
Hình 3.12 Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida trên môi trường giá thể 1 giống hạt làm giống sản xuất 55 Hình 3.13 Quả thể nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae trên giá thể 1
giống cọng làm giống sản xuất 62
Hình 3.14 Quả thể nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae và Pleurotus florida trên môi trường giá thể 1 giống cọng làm giống sản xuất 63
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN` TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm của chi nấm Bào ngư Pleurotus
Trên thế giới hiện nay, chi nấm Bào ngư Pleurotus đã được định danh nhiều
hơn 40 loài Để định danh các loài trong chi này cũng như các loài nấm lớn khác, thường người ta dựa vào màu sắc, hình dạng, kích thước của mũ nấm, cuống nấm, hình dạng màu sắc của bào tử, thậm chí Singer (1986) sử dụng tỉ lệ kích thước đảm trên kích thước bào tử để định danh một số loài Tuy những đặc điểm này không phải là những đặc điểm chung đặc trưng để định danh nhưng nó thể hiện tính đặc trưng và đa dạng của chi Các nhà nghiên cứu hiện nay thường định danh dựa vào đặc điểm của: giá (basidia), lớp sinh sản, cuống bào tử, liệt bào nằm ở bề mặt phiến (pleurocystidia), liệt bào ở mép phiến (cheilocystidia), mấu (inflat), khóa (clamp), cấu trúc mô bất thụ ở phiến nấm, hệ sợi nấm, sợi cứng, sợi nguyên thủy, đặc tính nhuốm màu iot của bào tử (amyloid)…Đó là những đặc điểm đặc trưng nỗi bật của
hệ sợi, bào tử hiện nay các chuyên gia nấm học sử dụng để phân loại Trên thế giới,
có nhiều nhà nghiên cứu nấm Bào ngư và có một số tác giả đưa ra khoá phân loại về chi nấm này như Singer (1986), Fr.Quél (1981), Julich (1981), Kuhner et Romagnesi (1989)… Tuy có nhiều tranh luận trong vấn đề định danh nấm Bào ngư nhưng khóa phân loại của Fr.Quél (1986) được nhiều chuyên gia ghi nhận.[9]
Theo phân loại cổ điển, người ta xếp chi Pleurotus vào họ nấm Nhung thông
Tricholomataceae (Pleurotaceae), bộ nấm Tán Agaricales, lớp đảm tầng Hymenomycetes, ngành nấm đảm Basidiomycota.[7]
Theo phân loại hiện đại, người ta có khuynh hướng xếp Pleurotus vào bộ nấm lỗ (Polyporaceae) và tách riêng với Lampteromyces, Omphalotus trong họ nấm nhung thông (Tricholomataceas) Nhưng Pleurotus và Panus không thuộc cùng với Lentinus và Polyporus Khi phân biệt, Pleurotus, Lampteromyces và Omphalotus
Trang 12được xếp cùng với Clitocybe Theo Fr.Quél, đây không phải là một sáng kiến cho
cách phân loại mới, nhưng nó giúp tìm kiếm những đặc điểm chung.[9]
Bên cạnh đó, Fr.Quél cũng cho rằng nên xếp Nothopanus vào thuộc chi Pleurotus, loài này được Singer xếp nó vào họ nấm nhung thông Tricholomataceae
Tuy nhiên, không thể phân biệt sự khác nhau giữa 2 chi này, chỉ có một đặc điểm
khác nhau nỗi bật duy nhất là bào tử hình elip của Pleurotus lớn hơn bào tử hình elip của Nothopanus Ông cho rằng quan niệm của Singer mô tả Pleurotus không có mấu là không đúng Với Nothpanus, Singer cũng cho rằng không có dạng cấu trúc
mà các nhà nấm học gọi là cấu trúc Rameales: “Mũ nấm đan dệt bởi các sợi nấm có đầu mút và cách sắp xếp không đồng đều”, tuy nhiên những sợi nấm bất thường ở
mũ nấm của N.porrigens (Fr.)Singer rất phát triển cấu trúc này Thêm nữa, khi mô
tả về Nothopanus, Singer cũng đã mô tả liệt bào ở mép phiến (cheilocystidia) không
có dạng chỉ, nhưng đặc điểm này không thể xác định ở loài N.eugrammus (Singer 1952) Vì vậy, Fr.Quél không lưỡng lự xếp Nothopanus vào thuộc cùng chi Pleurotus.[9]
Nấm Bào ngư có 2 nhóm lớn: nhóm chịu nhiệt (nấm tạo thể quả thể từ 20 -
300C và nhóm chịu lạnh (nấm tạo thể quả từ 15 - 250C).[7]
Hình thức sinh dưỡng chủ yếu sống dị dưỡng, lấy ăn từ các nguồn hữu cơ qua màng tế bào hệ sợi và hệ enzyme phân giải, chúng có thể sử dụng các đại phân tử như chất xơ xenllulose, protein, ligin Với cấu trúc hệ sợi, tơ nấm len lỏi vào cơ chất lấy thức ăn nuôi quả thể.[7]
Chu trình sống của nấm Bào ngư cũng như các loài nấm đảm khác, bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính, nảy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng (sơ và thứ cấp), kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm Tai nấm sinh ra các đảm bào tử
và chu trình lại tiếp tục
Quả thể nấm Bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn dựa theo hình dạng tai nấm mà có tên gọi cho từng giai đoạn
Trang 13a: Dạng san hô d: Dạng bán cầu lệch
b: Dạng dùi trống e: Dạng lá lục bình
c: Dạng phễu
Hình 1.1 Giai đoạn phát triển quả thể của nấm Bào ngư
Từ giai đoạn phễu sang phễu lệch có sự thay đổi về chất (giá trị dinh dưỡng tăng), còn từ giai đoạn phễu lệch sang dạng lá có sự nhảy vọt về khối lượng (trọng lượng tăng)
Quả thể nấm có cuống đính bên hoặc không đính cuống, mọc trên thân cây một lá mầm, thực vật hoa mạch hoặc một số loài mọc dưới đất Mũ nấm có hoặc không có lông mịn, nhẵn, mép cong vào trong, có hoặc không có bao (veil), một số loài không có vòng trên cuống Phiến tiếp xúc với cuống ở khoảng rất rộng và men xuống cuống, hiếm khi phân đôi Mép phiến đều Thịt nấm dày đến rất mỏng, mọng nước hoặc có lớp nước nhầy.[9]
Nhìn chung, bào tử có màu trắng hoặc hồng nhợt, nhẵn Giá (basidia) ngắn đến dài nhất là (11)18-80 µm, gấp 2-6 lần bào tử, không có dạng tương tự giá (basidioles) Giá (basidia) có kích thước thường biến đổi từ 12 x 4,3 µm đến 5,7 x 7
µm Tuy nhiên, kích thước này thay đổi tùy vào các loài có bào tử khác nhau thì khác nhau: đối với các loài có bào tử hình elip đến hình trụ giá (basidia) có kích thước 4,7 x 8,5 µm và với các loài có bào tử hình elip đến hình cầu giá (basidia) có kích thước từ 12 x 3,8 µm đến 6,7 x 15,5 µm Giá (basidia) ít biến đổi về chiều rộng Có hoặc không có liệt bào tại mép phiến (cheilocystidia), có mấu thường dạng mấu nhọn Liệt bào tại bề mặt phiến nấm (pleurocystidia) có ở một số loài.[9]
Lớp sinh sản không dày, dưới lớp sinh sản dày 5 µm đến 50 µm Dưới lớp sinh
Trang 141977), 6-7 µm với loài P.eous (Peger 1977) đến 12-20 µm với loài P.djamor và dày nhất là 25-50 µm đối với hai loài P.cornucopiae, P.ostreatus Nó có thể dày trong
những loài có quả thể nhỏ và nhìn chung ở gần mép phiến nó mỏng hơn ở dưới phiến.[9]
Hệ sợi nấm đơn độc (monomitic) hoặc hệ sợi nấm hai loại (dimitic) gồm sợi cứng thóp dần, hiếm khi phân nhánh và sợi nguyên thủy Sợi nguyên thủy có nhiều,
ít hoặc không có mấu (inflate) Mấu (inflate) trở thành vách mỏng ở một số loài, sợi nguyên thủy có khóa (clamp) ở một số loài bất thường Các tế bào sợi nấm hiếm khi dài quá 300 µm.[9]
Cấu trúc mô bất thụ ở phiến nấm có dạng hướng xuống, sợi nấm phân nhánh đan dệt vào nhau, một số loài có cấu trúc mô bất thụ ở phiến nấm dạng tia xòe Có hoặc không có cấu trúc phiến nấm dạng đan dệt.[9]
1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng của nấm Bào Ngư.[4]
Ngoài yếu tố dinh dưỡng từ các chất có trong nguyên liệu trồng nấm Bào ngư thì sự tăng trưởng và phát triển của nấm có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau như: nhiệt độ, ẩm độ, pH, ánh sáng, oxy …
Nhiệt độ: Nấm Bào ngư mọc nhiều ở nhiệt độ tương đối rộng Ở giai đoạn ủ
tơ, một số loài cần nhiệt độ từ 20-30 0C, một số loài khác cần từ 27- 32 0C, thậm chí
35 0C như loài P tuber-regium Nhiệt độ thích hợp để nấm ra quả thể ở một số loài
cần từ 15-25 0C, số loài khác cần từ 25-32 0C
Độ ẩm: độ ẩm rất quan trọng đối với sự phát triển tơ và quả thể của nấm Trong giai đoạn tăng trưởng tơ, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 50 - 60%, còn độ ẩm không khí không được nhỏ hơn 70% Ở giai đoạn phát triển quả thể, độ ẩm không khí tốt nhất là 80-95% Ở độ ẩm không khí 50%, nấm ngừng phát triển và chết, nếu nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa mũ nấm Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95%, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống
pH: Nấm Bào ngư có khả năng chịu đựng sự giao động pH tương đối tốt Tuy nhiên pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm Bào ngư trong khoảng 5 - 7
Trang 15Ánh sáng: yếu tố này chỉ cần thiết trong giai đoạn ra quả thể nhằm kích thích
nụ nấm phát triển Nhà nuôi trồng nấm cần có ánh sáng khoảng 200-300 lux (ánh sáng khuếch tán - ánh sáng phòng)
Thông thoáng: Nấm cần có oxy để phát triển vì vậy nhà trồng cần có độ thông thoáng vừa phải, nhưng phải tránh gió lùa trực tiếp
Thời vụ nuôi trồng: Nhìn chung với khí hậu miền nam nấm Bào ngư có thể trồng quanh năm, nhưng thời vụ thích hợp nhất là vào mùa mưa, vì lúc này độ ẩm không khí tương đối cao sẽ tiết kiệm được nước tưới
1.1.2 Những lưu ý khi nuôi trồng nấm Bào ngư.[7]
Tính nhạy cảm với môi trường:
Nấm Bào ngư là một trong những loài nấm nhạy cảm với môi trường nhất Ngoài yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, pH, nồng độ CO2 nấm còn đặc biệt nhạy cảm với các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, như hoá chất, thuốc trừ sâu, các kim loại nặng cả trong nguyên liệu cũng như trong không khí môi trường Tai nấm thường biến dạng hoặc ngưng tạo quả thể Do đó, cần kiểm tra điều kiện nuôi trồng hoặc nguồn nguyên liệu khi nấm có biểu hiện không bình thường
Dị ứng do bào tử nấm Bào ngư:
Trong các loài nấm trồng, thì đặc biệt thận trọng với bào tử nấm Bào ngư Nhiều người nhạy cảm với loại bào tử này, sẽ biểu hiện ngay trong 8 giờ hoặc 4-6 tuần Bào tử nấm xâm nhập vào cuống phổi, gây triệu chứng khó thở, mệt mỏi, nhiều vết đỏ ở tay, nhức đầu, ho và sốt Bệnh kéo dài vài ngày rồi dứt, nhưng có thể tái đi tái lại khi tiếp xúc lại với nguồn bệnh
Để tránh hít phải bào tử nấm Bào ngư nên đeo khẩu trang khi vào khu vực nhà trồng, nhất là vào sáng sớm khi trời còn lạnh
1.2 Giá trị của nấm Bào ngư
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của nấm Bào ngư.[1]
Nấm ăn nói chung và nấm Bào ngư nói riêng là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng protein chỉ đứng sau thịt, cá, giàu các chất khoáng và các
Trang 16acid amin chứa nhóm lưu huỳnh Ngoài ra chúng còn chứa một lượng lớn vitamin quan trọng
Thành phần các chất dinh dưỡng chính của một số loài nấm Bào ngư bao gồm: carbohydrate, protein, amino acid, chất béo, khoáng chất, hoạt chất và các vitamin được nhiều nhà dinh dưỡng học quan tâm nghiên cứu, nhằm đánh giá vai trò của nấm như nguồn thực phẩm cho con người
Carbonhydrate và protein là thành phần chính, chiếm từ 70 đến 90% trọng lượng khô quả thể, tro ~ 10% chứa nhiều loại chất khoáng Chất béo có hàm lượng
thấp trong hầu hết các loại, dao động trong khoảng 1-2 %, ngoại trừ P.limpidus (9,4%)
Giá trị về mặt năng lượng được đánh giá trên cơ sở thành phần protein thô, chất béo và carbohydrate, trị số này thấp khoảng từ 261-367 Kcal/100g chất khô
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của một số loài nấm Bào ngư (%)
Tên loài Protein
thô Chất béo Cacbohydrate sợi Tro
Năng lượng (Kcal)
1.2.2 Giá trị dược liệu của nấm Bào ngư.[1]
Nấm Bào ngư được bổ sung vào nhóm nấm chống ung thư ở Việt nam, một
loại thông dụng có giá trị cao: nấm Bào ngư Pleurotus sajor-caju (Lê Xuân Thám-
Trần Hữu Độ, tạp chí dược học-số 7/1999, bộ y tế xuất bản)
Các loại nấm thuộc nhiều taxon: Polyporus, Lyophyllum (Shimeiji), Pleurotus (Hiratake), Lentinus, Grifola, Flammulia, Lentinula (Shiitake), Ganoderma (Mannentake), Schizophyllum, Trametes,…các loại quả thể nấm tươi;
Trang 17thể quả ty nấm (hệ sợi) (kí hiệu bằng Mizuno là YF, YM, YE) đã được khảo nghiệm Các nhà nghiên cứu bằng các phương pháp Sarcoma180/mice ip hoặc po,
đã chứng minh rằng các dẫn xuất trao đổi của acid nucleic, Polysaccharide, Heteroglucan C-D, Glucan có hoạt tính kháng ung thư một cách rõ rệt, chức năng
tăng cường miễn dịch kháng ung thư của Polysaccharides nấm Pleurotus sajor-caju
đã được chứng minh (Zhuang et al.,1993)
Đặc tính kháng đã được biết rõ với hoạt tính Pleurotin, xác định được từ năm
1994 Năm 1993, Mizuno và cộng sự đã tách được từ phân đoạn plysaccharide có
chứa protein từ Pleurotus sajor-caju và chứng minh hiệu lực chống u Sarcoma 180
trên chuột khá rõ ràng, có thể so sánh với hoạt lực của Plysaccharid, PSK, PSP tách
từ nấm kê tọa Grifolafrondosa, nấm Donko Lentinula edodes, nấm Vân chi Trametes versicolor (Lê Xuân Thám et al., 1989,1999a)
1.2.3 Tầm quan trọng của việc phát triển giống nấm có nguồn gốc Việt nam Nuôi trồng nấm Bào ngư ở Việt nam
1.2.3.1 Tầm quan trọng của việc phát triển giống nấm có nguồn gốc Việt nam.[6]
Việt nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao trên thế giới với khoảng 12000 loài thực vật bậc cao và 3000 loài động vật xương sống đã được
mô tả, trong đó có những loài đặc hữu Cấu trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, những sinh thái khác nhau…đã góp phần tạo nên
sự đa dạng cho khu hệ nấm
Nếu ước tính số loài nấm có trên lãnh thổ Việt nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (Hawksworth 1991, 2001) thì số loài có thể có lên tới 72000 loài Điều đó
có nghĩa là hơn 90% loài nấm có thể có ở Việt nam còn chưa được định loại và nêu tên trong danh mục Hiện ở Việt nam có 10 loài Bào ngư được định danh và nêu tên
vào danh mục, gồm các loài: Pleurotus chioneus, Pleurotus cornucopiae, Pleurotus eryngii, pleurotus globulifer, Pleurotus ostreatus, Pleurotus pulmonarius, Pleurotus salmoneostramineus, Pleurotus spiculifer, Pleurotus versiformis [4] Và khi định
danh loài nấm, chúng ta hiện nay chủ yếu dựa vào các khóa phân loại và mô tả loài
Trang 18Mỹ, Nhật Bản và một số khu hệ nấm châu Phi, Trung Quốc, Liên Xô cũ Bởi vì, vấn
đề nghiên cứu khu hệ nấm Việt nam nói chung và nấm lớn nói riêng chỉ bước đầu nghiên cứu Qua đó, dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa các loài nấm Việt nam và các nước khác, nhất là nấm ôn đới
Nấm lớn Việt nam có khoảng hơn 200 loài trong đó khoảng 50 loài là nấm ăn quý Tuyệt đại đa số của nấm ăn Việt nam thuộc nấm Đảm Basidiomycota và một
số loài thuộc nấm Túi Ascomycota Bào ngư có khoảng hơn 40 loài và một số loài được xếp vào loài có giá trị lớn về mặt dinh dưỡng và dược liệu
Cũng cần nói thêm rằng, việc nuôi trồng nấm ăn ở Việt nam đã thúc đẩy việc nhập nhiều chủng giống nấm ăn ở nước ngoài để tiến hành nghiên cứu, thuần hóa và nuôi trồng ở Việt nam dẫn tới sự có mặt của tập đoàn giống với khoảng 50 chủng giống ăn và nấm cho dược liệu Riêng Bào ngư hiện khoảng hơn 4 giống được nhập ngoại, thuần hóa và nuôi trồng phổ biến ở nước ta Bởi vậy, để khắc phục tình trạng tụt hậu so với nghiên cứu thực vật bậc cao và động vật có xương sống, cần đầu tư thích đáng đẩy mạnh nghiên cứu khu hệ nấm có nguồn gốc Việt nam để nghiên cứu, nuôi trồng thử nghiệm, thuần hóa và thương mại hóa trên quy mô công nghiệp
1.2.3.2 Nuôi trồng nấm Bào ngư ở Việt nam.[11]
Chi nấm Bào ngư Pleurotus được nuôi trồng ở nước ta cách nay hơn hai chục năm, với nhiều chủng loại: Pleurotus florida, Pleurotus ostreatus, Pleurotus sajor- saju, Pleurotus pulmonarius…và trên nhiều nguồn nhiên liệu khác nhau như rơm rạ,
bã mía, mạt cưa, bàng, lát, bông, phế thải, cùi bắp…Kết quả cho thấy nấm mọc tốt trên nhiều loại nguyên liệu và hiệu suất sinh học rất cao Điều này cho thấy, nấm Bào ngư có loài nấm dễ trồng, năng suất cao, lại ăn ngon nhưng do chưa đuợc quảng bá, hướng dẫn nuôi trồng và chế biến nên dù được nghiên cứu, nuôi trồng hơn hai chục năm nay, nhưng nấm Bào ngư vẫn còn xa lạ với nhiều người Việt nam
a Giới thiệu về một số loài nấm thuộc chi Pleurotus được nuôi trồng phổ
biến ở Việt nam
Pleurotus ostreatus
Theo mô tả của (Fr.) Kummer [9]
Trang 19Bào tử có kích thước (8)9-11(12) x 3-3,7(4) µm, màu hồng nhợt đến màu cà xám, nhẵn, hình chữ nhật đến gần hình trụ, hình tù hoặc có dạng giọt, bào tử dưới kính hiển vi không nhốm màu iot (inamyloid) Giá (basidia) có kích thước 40-55 x 6-7,7 µm, có 4 cuống bào tử, không có liệt bào (cystidia) Lớp sinh sản không dày,
từ đế cuống lên phiến nấm có độ dày 50 µm và 25 µm ở gần mép phiến Lớp sinh sản này gồm các tế bào sợi nấm ngắn (có chiều rộng là 2,5-6 µm) tạo nên nhiều hoặc ít góc cho mô bất thụ ở phiến nấm dạng hướng xuống
Hệ sợi đơn độc (monomitric), có khóa (clamp), có mấu (inflat), thường chia nhánh góc rộng, có nhiều hoặc ít vách mỏng, bào tử dưới kính hiển vi không nhốm màu iot (inamyloid) Mấu (inflat) có chiều rộng là 11 µm, trở thành vách mỏng Độ dày của vách là 1-3 µm nhưng ở phần cuối mô đặc biệt là phần vừa qua phiến có nhiều vách mỏng hơn hình trụ Các sợi nấm chứa dầu nằm thưa thớt trong mô
Mũ nấm có màu nâu đen và có lớp vảy cứng màu nâu nhợt Bề mặt mũ nấm gồm các tế bào có kích thước chiều rộng 3-11 µm, chiều dài 40-250 µm Mặt dưới
mũ nấm gồm các tế bào có chiều rộng 3-11 µm Mô bất thụ ở phiến nấm có dạng hướng xuống, đan dệt vào nhau, mô sợi nấm không đều
Hiện nay, các loại nấm P.ostreatus ở châu Âu và Bắc Mỹ, nếu không nói là tất
cả mọi nơi đều giống nhau về mọi mặt Thật vậy, chúng giống với P.cornucopiae
nhưng sợi nấm hẹp, rộng 4-8 µm và thóp dần về cuối với đầu mút có chiều rộng 3-5
µm Chúng không có giới hạn cuối cùng nào về hình dạng như dạng móc, dạng hình trụ, dạng tù hay dạng thóp dần về cuối Bào tử có các khoảng kích thước khác nhau biến đổi từ 7,5-9 x 3,5 µm, 8,5-12 x 3,8-5 µm đến 8-11 x 4-4,5 µm (Dennis 1970, Pegler 1977, Pilat 1935) và có màu trắng Một sưu tập khác ở Tây Ban Nha (Corner
s.n.30 March 1926, on Agave) P.ostreatus có bào tử lớn 9-11,5 x 4-4,5 µm và sợi cứng có chiều rộng 3-5 µm Sưu tập P.ostreatus ở Oregon, M.S.Doty 80, có thể do
Anderson, Wang và Schawandt (1973) nghiên cứu cho rằng loài này có bào tử lớn,
có sợi cứng giống với loài P.opuntiae
Trang 20Theo PGs.Ts.Trịnh Tam Kiệt mô tả.[3]
Quả thể dạng sò với cuống ngắn, lệch, mũ màu nâu tim lối, phiến trắng men dài xuống cuống Mũ nấm rất thay đổi về hình dạng, từ dạng phễu lệch đến dạng sò, dạng thận… phụ thuộc vào vị trí mọc và điều kiện sinh thái Mặt mũ phẳng nhẵn, không có lông; mép mũ đầu tiên cuộn vào trong nhiều, sau phẳng ra, chỉ hơi cuộn vào, lượn sóng và chia thùy ít hay nhiều, nứt ra khi già Mũ khi mới hình thành màu tim đen, màu tím, màu đen nhạt với sắc thái xanh, đến màu nâu xám, nhạt dần khi trưởng thành, khi khô, già Kích thước 5-15(30) cm đường kính Phiến nấm màu trắng, xếp xít nhau, men dài xuống cuống và có thể dính lại thành dạng phân nhánh Cuống dài màu trắng có khi có sắc thái nâu, đặc, phần gốc phủ lông ngắn và hay mọc dính liền với những cuống khác, đính lệch hay đính bên, kích thước 1-3 cm Thịt nấm màu trắng lúc đầu nạc, mềm, sau già dai Khi phơi khô có mùi thơm Giá (basidia) hình chùy, kích thước 5,5-7,5 x 19-21 µm Bào tử hình elip dài gần hình trụ, không màu, nhẵn, kích thước 3-4,5 x 7-9(10) µm Hệ sợi nấm hai loại (dimitric) gồm sợi nguyên thủy có vách ngăn với khóa và sợi cứng, không vách ngăn ngang, màng dày Kích thước sợi 3,5-6,5 µm đường kính
Nấm sống trên gỗ mục hay kí sinh nhẹ mọc trên cây lá rộng Thường thành từng cụm lớn, nhất là vào đầu mùa xuân hay cuối mùa thu Đây là loài nấm ăn quý khi non Lúc già hơi dai, nên dùng để làm bột nấm Nấm có tác dụng chữa béo bệu Loài nấm này đang được nuôi trồng chủ động ở nhiều nước, nấm cho năng xuất rất cao (ở Hungari, CHDC Đức) Nấm cần độ nhiệt thấp để ra quả thể Ở Việt Nam, có thể trồng chúng vào mùa lạnh và quanh năm nếu có thiết bị hạ độ nhiệt
Pleurotus florida
Ở Việt nam, P.florida là nấm Bào ngư được nuôi trồng nhiều nhất vì một số ưu
điểm của nó Đến nay, có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã công bố các bài báo
mô tả, phân tích thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là thành phần amino axit trong loài nấm này Tuy nhiên lĩnh vực nghiên cứu về nấm lớn ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung đang ở bước đầu, bởi vậy, nguồn tài liệu cũng ở mức độ hạn chế
Trang 21Tôi đã không tìm được bất kì tư liệu nào mô tả P.florida Sau đây là một vài chú ý của tôi trong quá trình nuôi trồng thử nghiệm loài P.florida:
Quả thể nấm hình chùy, mọc thành cụm thường từ 5 -10 tai nấm cá biệt có thể lên đến gần 100 tai nấm Khi còn non, quả thể có hình dùi trống, hình chùy; bề mặt
mũ nấm màu nâu nhợt đến đậm hoặc trắng hoàn toàn, có lớp nước nhầy tạo thành
lớp màng mỏng, lớp này dày hơn so với P.cornucopiae, hơi láng bóng Càng phát
triền màu nâu càng nhợt dần Khi trưởng thành mũ nấm nhẵn, có màu trắng hoàn toàn, không có lớp lông mịn, rộng 2,5-7 cm đường kính Từ lúc hình thành quả thể đến lúc thu hái chỉ trong 4 ngày, từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 3 mũ nấm có mép cong xuống, nhưng đến ngày thứ 4 mép cong lên tạo dạng nông cạn cho mũ nấm Cuống đính tâm, không có vòng, kích thước chiều dài là 1,5-7 cm, đế cuống rộng 0,5-0,75 mm Mép trơn, màu trắng đến màu nâu nhợt Thịt nấm màu trắng, dạng
bông nạc, mọng nước, mềm, dai và dai nhất ở cuống Thịt nấm P.florida xốp và dai hơn so với P.cornucopiae, dày nhất ở đỉnh cuống 0,5-1,75 cm Phiến tiếp xúc với
cuống một khoảng rộng và men sâu xuống cuống, màu trắng, đan dệt lỏng lẻo vào nhau kết thành mạng lưới mỏng từ gần đế cuống lên đỉnh cuống và toàn bộ mép, có 4-5 rãnh, khoảng cách giữa các rãnh rộng Ở giữa mũ nấm phiến dày 0,3-0,75 mm
Pleurotus pulmonarius.[3]
Theo PGs.Ts.Trịnh Tam kiệt mô tả:
P.pulmonarius có quả thể dạng sò, màu trắng có cuống ngắn, lệch, phiến trắng
mọc men xuống Mũ nấm hình phễu nông, lệch hình sò đến hình thìa, có kích thước 3-8(15) cm Mặt mũ nấm nhẵn, phẳng, có thể hơi có lông mịn, màu trắng, hơi có sắc thái vàng bẩn, khi khô hơi vàng bẩn Mép mũ đầu tiên cuộn vào trong, sau phát triển hơi cuộn lại hoàn chỉnh, lượn sóng và chia thùy ít hay nhiều; khi già có thể nứt ra Cuống nấm ngắn, màu trắng có khi có sắc thái vàng bẩn, hơi phủ lông mịn ở gốc và mọc đính vào với cuống nấm khác thành cụm; kích thước 9,5–2(5) x 0,2–1 cm Phiến nấm màu trắng, xếp xít nhau, men dần xuống cuống Khi già hay khô có sắc thái vàng
Trang 22Giá (basidia) dạng chùy, không màu, kích thước 13,5–19 x 6,5–7,5 µm Bào tử hình elip dài gần đến hình trụ, không màu, màng nhẵn, kích thước 3,5–4 x 8,5–9,5
µm Hệ sợi nấm hai loại (dimitric) gồm sợi nguyên thủy và sợi cứng Sợi nguyên thủy có vách ngăn ngang, có khóa (clamp) Sợi cứng không có vách ngăn, màng dày, kích thước 2,5–7,5 µm đường kính Hệ sợi nấm trong môi trường nuôi cấy thuần khiết màu trắng, mọc khá nhanh, phần lớn tạo thành sợi nguyên thủy; khi đưa
ra sáng có khả năng hình thành mầm nấm, nấm non
Nấm mọc trên gỗ mục các cây lá rộng, thường thành từng cụm Nấm mọc nhiều vào mùa nóng ẩm
Pleurotus saijor-caju.[3]
Theo PGs.Ts.Trịnh Tam Kiệt mô tả :
Quả thể dạng phểu nông, chất thịt mềm khi non, có vòng nấm lớn màu trắng trên cuống ngắn Mũ nấm dạng bán lệch, dẹp, sau hơi lõm, lệch dạng phểu nông, mặt mũ nhẵn đến hơi có lông, vảy mịn khi già Mép mũ đầu tiên cuộn vào trong, sau trải phẳng, thường lượn sóng, nhất là khi già Bề mặt mũ nấm màu nâu tối nhạt, nâu đất nhạt đến màu trắng nhuốm sắc thái nâu tối Kích thước mũ 3-8(15) cm đường kính Phiến nấm mỏng, hẹp, xếp xít nhau men xuống cuống, đầu tiên màu trắng, sau hơi có sắc thái vàng bẩn Cuống nấm đính lệch hay gần đính bên, to, hình trụ, đặc, màu tương tự mũ nấm, kích thước 1-2(4) cm x 0,5-1(2) cm
Giá (basidia) hình chùy, có 4 cuống bào tử; kích thước 6,5-7,5 x 16-19 µm Bào tử hình elip đến hình trụ, không màu, nhẵn, kích thước 2-3(4) x 5-7,5(8,5) µm Lớp sinh sản màu trắng đến vàng nhạt, kích thước 20-35 x 30-55 µm Hệ sợi nấm hai loại (dimitric) gồm sợi nguyên thủy và sợi cứng Sợi nguyên thủy có vách ngăn
và khóa (clamp) Sợi cứng không có vách ngăn, ít phân nhánh, có kích thước 2,5–4
µm đường kính
Nấm mọc trên gỗ mục, thường thành từng đám và mọc nhiều trong mùa nóng
ẩm, thường gặp với số lượng lớn Có thể là loại nhiệt đới Đây là loại nấm ăn quý khi còn non Ở một số nước đã nghiên cứu nuôi trồng chủ động ( Ấn Độ, đảo Đài Loan) cùng các loại nấm sò
Trang 23b Giới thiệu về loài nấm Pleurotus cornucopiae
Trên thế giới Romagnesi (1969) và (Fr.) Kummer đã mô tả, định danh và ghi
tên P.cornucopiae vào danh mục nấm Bào ngư Ở Việt nam, PGs.Ts.Trịnh Tam
Kiệt đã định danh và ghi loại nấm này vào danh mục, song chưa có bất kì tư liệu về
mô tả sơ lược hay bất kì tư liệu ảnh nào Hiện nay, P.cornucopiae đã được nuôi
trồng trên một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và một
số nước Châu Âu, đặc biệt ở nước Pháp rất ưa chuộng loại nấm này
Theo mô tả của Romagnesi (1969).[9]
Bào tử có kích thước thay đổi từ 8-9,5 x 3,5-4 µm đến 7,5-11 x 3,5-5 µm (Kuhner và Romagnesi) Nhìn chung bào tử có màu xám hồng nhợt đến màu cà xám nhợt, có dạng giọt, bào tử dưới kính hiển vi không nhuốm màu iot (inamyloid) Giá (basidia) có kích thước 27-35 x 7-8 µm, có 4 cuống bào tử, không có liệt bào ở mép phiến (cheilocystidia) và liệt bào ở bề mặt phiến (pleurocytidia) Lớp sinh sản
không dày, dưới lớp sinh sản như P.ostreatus
Hệ sợi nấm hai loại (dimitic) gồm sợi cứng và sợi nguyên thủy Sợi nguyên thủy có mấu (inflat), khóa (clamp), các tế bào nguyên thủy rộng 3-23 µm đến 40
µm (Chang Kiaw Lan), phân nhánh góc rộng, vách mỏng 1µm Tế bào sợi cứng thóp dần, có chiều dài 200-600 µm, rộng 8-18 µm, hẹp nhất ở mũ và phiến nấm 4-7
µm, không hoặc hiếm khi phân nhánh, đan dệt vào nhau
Mô bất thụ ở phiến nấm có dạng hướng xuống Bề mặt của mũ nấm nhẵn Theo mô tả của (Fr.)Kummer và giáo sư cùng làm việc ở trường Đại học
Y.Otani ở Hokkaido, họ đã mô tả P.cornucopiae không giống ở Châu Âu: bào tử
ngắn, hẹp và sợi cứng hẹp hơn Mũ nấm có kích thước 5,5 cm, nhẵn, màu đục, màu vàng đậm đến vàng ong Cuống nấm có kích thước 1,5-3 cm x 3-5 mm, cuống đính giữa hoặc cuống đính lệch, đặc kết thành cụm có kích thước gốc cụm là 3 x 2 cm, phủ phấn màu trắng đến màu vàng nhẹ Phiến tiếp xúc với cuống một khoảng rộng
và men xuống cuống, đặc, kích thước chiều rộng là 5 mm, 3-4 rãnh, màu trắng Thịt nấm mỏng, dai, màu trắng Có mùi thơm nhưng có lớp bụi mỏng
Trang 24Trên cây phân nhánh của Ulmus Japan, Hokkaido, Mt Keisaizura, Otani và
Corner ngày 17 tháng 9 năm 1966: bào tử P.cornucopiae có kích thước 6,5-8,5 x
2-3 µm, hình trụ hẹp, bào tử dưới kính hiển vi không nhuốm màu iot (inamyloid) Giá (basidia) có kích thước 26-38 x 5,5-6,5 µm, có 4 cuống bào tử, không có dạng tương tự giá (basidioles) Dưới lớp sinh sản dày 20-25 µm, sợi nấm có kích thước 2-
3 µm đan dệt vào nhau Liệt bào ở mép phiến (cheilocystidia) bất thụ nhỏ như giá (basidia) Không có liệt bào ở bề mặt phiến (pleurocystidia), nhưng có một vài tế bào gần đảm (basidium-like) bất thụ có kích thước chiều rộng 7-9 µm, nằm thưa thớt trong lớp sinh sản
Hệ sợi nấm hai loại (dimitic) gồm sợi cứng và sợi nguyên thủy Sợi nguyên thủy có khóa (clamp), mấu (inflat), tế bào sợi nguyên thủy có kích thước 30-160 x 2,5-19 µm Tế bào sợi cứng thóp dần với đầu mút rộng 2-3 µm, có kích thước là
600 x 3-7 µm, vách mỏng 2,5 µm, xuyên suốt trong các mô từ đế nấm đến mũ và phiến nấm
Mô bất thụ ở phiến nấm có dạng hướng xuống Bề mặt mũ nấm được nén chặt bởi các sợi nấm dạng tia xòa ra có kích thước là 3-7 µm, thưa thớt, sợi cuối cùng không chặt
Trang 25CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae (còn gọi tên khác là nấm Hoàng Bạch) là
một loài mới được phát hiện tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên – Đồng Nai
Giống nấm Pleurotus cornucopiae được lấy từ phòng thí nghiệm nấm Cát Tiên
sử dụng cho các nghiên cứu thử nghiệm nuôi trồng
Mẫu nấm Pleurotus cornucopiae được sưu tập từ Vườn Quốc Gia Cát Tiên, sử
dụng cho các nghiên cứu hình thái, hiển vi của loài nấm này
Ngoài ra, giống nấm Pleurotus florida cũng được lấy từ phòng thí nghiệm nấm
Cát Tiên Đây là loài nấm được nuôi trồng phổ biến hiện nay Bởi vậy, chúng tôi
chọn loài nấm này để nuôi trồng thử nghiệm đối chứng với Pleurotus cornucopiae
2.2 Vật liệu và hóa chất sử dụng trong nghiên cứu
2.2.1 Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu
Tủ cấy
Nồi hấp Autoclave
Tủ sấy
Cân điện tử
Máy đảo trộn mạt cưa
Máy cắt đoạn cây sắn mì
Trang 262.2.2 Hóa chất sử dụng trong nghiên cứu
Sacroza
Dung dịch dinh dưỡng bổ sung cho nấm HVP 301.N
Dung dịch dinh dưỡng bổ sung B1 bổ sung cho nấm
Super lân
CaCO3
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu giải phẫu hình thái nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae
Để nghiên cứu hình thái của nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae
chúng tôi tiến hành làm tiêu bản các lát cắt phiến nấm, quan sát, điều chỉnh dưới kính hiển vi điện tử, sau đó chụp hình các tiêu bản hệ sợi nấm hai loại (dimitric),
mô bất thụ ở phiến nấm, lớp sinh sản và liệt bào ở bề mặt phiến nấm (pleurocystidia) Đồng thời quan sát, mô tả đặc điểm, lưu lại hình ảnh quả thể ngoài
tự nhiên và quả thể nuôi trồng từ khi hình thành đến khi trưởng thành nhằm mục
đích lưu trữ dữ liệu hình ảnh loài nấm Pleurotus cornucopiae ở Việt nam
2.3.2 Phân tích thành phần dinh dưỡng nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae
Nhằm xác định thành phần dinh dưỡng của nấm Bào ngư Hoàng Bạch
Pleurotus cornucopiae, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng:
protein, lipit, hydratcacbon và chất xơ của loài nấm này Tuy nhiên, do phòng thí nghiệm Vườn Quốc Gia Cát Tiên không đủ điều kiện để thực hiện các thí nghiệm
Vì vậy, chúng tôi đã gửi mẫu phân tích tại phòng hoá lý phân tích, Viện Khoa Học
Và Công Nghệ Việt Nam, 01 Mạc Đĩnh Chi, Phường Bến nghé, Quận 1, Thành Phố
Hồ Chí Minh
Trang 272.2.3 Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng
phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường thạch dinh dưỡng
Để xác định môi trường thích hợp cho việc bảo quản và nhân giống cấp 1, chúng tôi khảo sát tốc độ tăng trưởng của hệ tơ nấm trên các loại môi trường có thành phần có công thức như sau:
nguội, chúng tôi tiến hành cấy giống hai loài nấm Bào ngư P.cornucopiae, P.florida
trong điều kiện vô trùng và đưa vào phòng ủ ở nhiệt độ phòng 26 -300C, độ ẩm 85% Quan sát hệ sợi từ khi bắt đầu bung tơ và đo kích thước chiều dài của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư trên môi trường 1 ở các thời điểm 3, 4, 5, 6 ngày sau khi cấy Sau đó tiếp tục theo dõi quá trình tăng trưởng, phát triển của hệ sợi nấm hai loài đến ngày thứ 14 Vẽ biểu đồ và so sánh hai loài
Trang 28(**) Trong đó dung dịch dinh dưỡng là: dinh dưỡng bổ sung nấm HVP 301.N, Super chuyên dùng cho các loại nấm do công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh Thành phần chính trong 250ml HVP là: đạm tổng số (N) w/v 70g/l, lân hữu hiệu (P2O5) w/v 70g/l, Kali (K2O) w/v 40g/l, Magnesium (Mg) w/v 180g/l và các thành phần khác như Boron (B), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Axit Humic…Công dụng chính của thành phần dinh dưỡng này là giúp tơ nấm phát triển tốt, lan nhanh, rộ Đối với giá thể thu quả thể mùn cưa bổ sung HVP có thể tăng năng suất lên 20-30%, nấm rộ, không dập
Môi trường 2 được khử trùng bằng nồi Autoclave ở nhiệt độ 1210C, áp suất 1,4 atm, 30-40 phút, sau đó rót ra ống nghiệm, đĩa petri, bình tam giác dùng để phân lập, cấy chuyền và khảo sát tốc độ lan tơ của hai giống nấm Sau khi môi trường
nguội, chúng tôi tiến hành cấy giống hai loài nấm Bào ngư P.cornucopiae, P.florida
trong điều kiện vô trùng và đưa vào phòng ủ ở nhiệt độ phòng 26 -300C, độ ẩm 85% Quan sát hệ sợi nấm từ khi bắt đầu bung tơ và đo kích thước chiều dài của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư trên môi trường 2 ở các thời điểm 3, 4, 5, 6 ngày sau khi cấy Sau đó tiếp tục theo dõi quá trình tăng trưởng, phát triển của hệ sợi nấm hai loài đến ngày thứ 14 Vẽ biểu đồ và so sánh hai loài
Trang 29Dung dịch dinh dưỡng có Vitamin B1*** 5 ml
(***) Trong đó dung dịch dinh dưỡng có Vitamin B1 sản xuất tại công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh, gồm các thành phần chính trong 250ml dung dịch: Vitamin B1 (w/c) ≥ 250 ppm, Alpha Naphthalene Acetic Acid (w/c) ≥ 800 ppm, P2O5 (w/c) 4%, Amino trie thanoic acid (w/c) 3,5%,
Mn (w/c) 450mg/l, Zn (w/c) 350 mg/l, inert ingredients 99,9% và một số thành phần khác như Co, Calcium, K2O, Copper total, Poly Hydroxydioic…Công dụng chính của dung dịch dinh dưỡng có vitamin B1*** là giúp tơ nấm khỏe, dễ dàng hút được chất dinh dưỡng hơn, đồng thời tăng khả năng đề kháng, chống lại sâu bệnh
Chú ý chỉ bổ sung dung dịch dinh dưỡng có vitamin B1*** sau khi nấu nước chiết*, Agar, cao nấm men tan đều với nhau và đợi nguội khoảng 500C Bởi vì, nếu
bổ sung dinh dưỡng có bổ sung vitamin B1 ở nhiệt độ cao sẽ thay đổi một số thành phần hoặc bay hơi dinh dưỡng
Môi trường 3 được khử trùng bằng nồi Autoclave ở nhiệt độ 1210C, áp suất 1,4 atm, 30-40 phút, sau đó rót ra ống nghiệm, đĩa petri, bình tam giác dùng để phân lập, cấy chuyền và khảo sát tốc độ lan tơ của hai giống nấm Sau khi môi trường
nguội, chúng tôi tiến hành cấy giống hai loài nấm Bào ngư P.cornucopiae, P.florida
trong điều kiện vô trùng và đưa vào phòng ủ ở nhiệt độ phòng 26 -300C, độ ẩm 85% Quan sát hệ sợi từ khi bắt đầu bung tơ và đo kích thước chiều dài của hệ sợi hai loài nấm Bào ngư trên môi trường 3 ở các thời điểm 3, 4, 5, 6 ngày sau khi cấy Sau đó tiếp tục theo dõi quá trình tăng trưởng, phát triển của hệ sợi nấm hai loài đến
Trang 3080-2.3.4 Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng
phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường hạt (giống cấp 2)
Môi trường hạt lúa có bổ sung cám gạo là môi trường được chọn để nhân
giống cấp hai với hai loài nấm P.cornucopiae và P.florida Đây là môi trường dễ
kiếm, dễ thực hiện và chi phí ít Để chọn môi trường thích hợp nhất nhân giống cấp hai cho hai loài nấm này chúng tôi sử dụng công thức như sau:
sau khi cấy chuyền, vẽ đồ thị và so sánh hai loài nấm P.cornucopiae, P.florida
2.3.5 Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae và so sánh tốc độ lan tơ với loại nấm Bào ngư đang được trồng
phổ biến hiện nay Pleurotus florida trên môi trường cọng mì (giống cấp 3)
Môi trường cọng là môi trường được chọn để tiến hành nhân giống cấp 3 đối với hai loại nấm Bào ngư này Cọng thân mì được cắt đoạn khoảng 10 cm, ngâm trong nước vôi khoảng 1% 1 ngày Sau đó, vớt các đoạn cọng mì ra, rửa sạch, để ráo Công thức môi trường cọng như sau:
Trang 312.3.6 Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Bào ngư Hoàng bạch
Pleurotus cornucopiae trên giá thể mạt cưa So sánh với đặc điểm sinh trưởng,
phát triển hệ sợi của loài Bào ngư đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay
Pleurotus florida trên giá thể mạt cưa
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm hai loài nấm Bào ngư P.cornucopiae và P.florida trên cơ chất mạt cưa cao su bổ sung super lân, cám và một số thành phần
khác theo công thức sau:
Môi trường giá thể 1:
Trang 32(****) Trong đó Cám bao gồm 2/3 cám gạo, 1/3 cám ngô
Môi trường giá thể 2:
(*****) Trong đó Cám bao gồm 2/3 cám gạo, 1/3 cám ngô
Trong thí nghiệm này, chúng tôi vừa sử dụng môi trường hạt vừa sử dụng môi trường cọng để cấy chuyền sang giá thể mạt cưa Độ tuổi thích hợp của giống ở môi
trường hạt lúa và môi trường cọng đều là 13 ngày đối với hai loài P.cornucopiae, P.florida Chuyển bịch đã cấy vào trại ủ ở nhiệt độ thích hợp 26-300C, độ ẩm khoảng 55-60%, ánh sáng khuếch tán nhẹ (200-300 lux) Theo dõi, quan sát đặc điểm, tốc độ phát triển của hệ sợi từ khi bắt đầu lan tơ đến ngày thứ 32 sau khi cấy giống Đo kích thước hệ sợi ở các khoảng thời gian ngày 6, 8, 10, 15, 18, 21, 26 Thu nhận kết quả, vẽ đồ thị và so sánh hai loài
2.3.7 Khảo sát hiệu quả kinh tế nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae So sánh hiệu quả kinh tế của nấm Pleurotus cornucopiae với loài
nấm Bào ngư Pleurotus florida đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay
Khi hệ sợi đã lan trắng hết bịch, chuyển chúng đến trại nuôi có độ ẩm cao hơn 65-70%, ánh sáng khuếch tán nhẹ (200-300 lux) Sau đó, tiến hành rạch bịch, mỗi bịch rạch khoảng 4-8 vạch, mỗi vạch có độ dài khoảng 4-6 cm Tưới nước mỗi ngày
để duy trì độ ẩm cho nấm Quan sát, theo dõi so sánh thời gian hình thành quả thể ở
cổ nút bịch mạt cưa, thời gian ổn định và hình thành quả thể ở vết rạch trên bịch của
loài P.cornucopiae so với loài P.florida Đồng thời, chúng tôi tiến hành cân khối
lượng quả thể tươi/ 1 bịch mạt cưa, cân khối lượng mẫu tươi/ 1 cụm quả thể hai loài
P.cornucopiae và P.florida trong hai đợt sau 45 ngày bằng thiết bị cân điện tử Tuy
Trang 33nhiên, trong thời hạn cho phép của đề tài tôi chỉ thu được kết quả khối lượng quả thể tươi/ 1 bịch mạt cưa, khối lượng mẫu tươi/ 1 cụm quả thể của 22 bịch từng loài thu hái đợt 1, còn đợt 2 tôi chỉ quan sát những thay đổi bước đầu và số liệu tính toán chưa đầy đủ Theo dõi, so sánh giá trị trung bình khối lượng mẫu tươi/ 1 cụm quả
thể, trung bình khối lượng quả thể tươi / 1 bịch mạt cưa của hai loài P.cornucopiae, P.florida ở đợt 1 và so sánh tỷ lệ nhiễm tạp của hai loài đợt 1 và đầu đợt 2 thu hái quả thể
n i
xi: mẫu được đo
Độ lệch chuẩn (Standard Deviation):
1
)(
SD
n i i
Tiến hành lập bảng số liệu tính toán các thông số, vẽ biểu đồ được xử lý và thực hiện bằng phần mềm Excel
Trang 34Quy trình dự kiến nuôi trồng loài nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae và loài nấm Bào ngư đang được nuôi trồng phổ biến hiện nay Pleurotus florida như sau:
Sản phẩm
Nhiệt độ 26-300C
30 ngày, trong tối
Trại nấm Nhiệt độ 26-300C Ánh sáng khuếch tán nhẹ
Trang 35CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả giải phẫu hình thái nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae
Nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae thường mọc nhiều vào đầu
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 6 hàng năm, trên các thân cây gỗ đã chết đang trong thời kì phân hủy Mẫu nấm được chúng tôi sưu tập vào tháng 5/2012 tại khu vực phía Nam Vườn Quốc Gia Cát Tiên, trên các khu rừng xanh mưa rụng lá
Quả thể nấm lệch dạng phễu nông, dạng sò hoặc dạng thìa, thường mọc đính với cuống nấm khác thành cụm từ 5-10 tai nấm, cá biệt có khi lên đến vài chục tai
nấm Khác với Pleurotus florida, giai đoạn còn non, mũ nấm có màu trắng, trên bề
mặt mũ nấm có lớp nhầy tạo thành lớp màng mỏng Giai đoạn trưởng thành, bề mặt
mũ nấm nhẵn, có màu trắng tươi, trắng kem đến màu nâu nhợt đến màu xám-nâu nhợt, càng tiến gần mép màu càng nâu đậm hoặc có màu xám-hồng nhạt, màu càng trắng khi gần tâm mũ nấm Từ lúc hình thành đến khi thu hái quả thể chỉ trong 4 ngày Mũ nấm rộng 3-7 cm Cuống đính bên, có kích thước chiều dài thường từ 1,5-
3 cm, một số mũ nấm cá biệt ở các tai nấm hình thành đầu cổ nút có kích thước lớn chiều dài cuống nấm lên tới 7-10 cm, không có vòng, đế cuống có đường kính 3-5
mm Phiến tiếp xúc với cuống một khoảng rộng và men xuống cuống, dày đặc, màu trắng, dạng tia xòe, có 3-4 rãnh Mép nấm thường bị phân thùy mạnh Thịt nấm mỏng, màu trắng, dạng bông-nạc, mềm, mọng nước, dai, dai nhất ở đế cuống Thịt nấm dày 0,5-2 cm ở phần đỉnh của cuống nấm, thịt nấm ở giữa mũ nấm có kích thước 4-5 mm
Bào tử hình elip, thon ở hai đầu, kích thước bào tử từ 6-7 x 3-3,5 µm
Hệ sợi hai loại (dimitric) điển hình, gồm sợi nguyên thủy có khóa (clamp) và
có vách ngăn Các sợi cứng không có khóa (clamp)
Trang 36Có liệt bào ở bề mặt phiến (pleurocystidia)
Bụi bào tử màu trắng hoặc màu vàng nhạt Có mùi thơm đặc trưng
Hình 3.1 Bào tử nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae dưới kính
hiển vi điện tử
Trang 37Hình 3.2 Mặt cắt phiến nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae dưới
kính hiển vi điện tử
a1, a2: Hệ sợi nấm hai loại (dimitric)
b1, b2: Cấu trúc mô bất thụ (trama) dạng phiến
c1, c2: Lớp sinh sản và liệt bào ở bề mặt phiến nấm (pleurocystidia)
Sợi cứng Sợi nguyên
Trang 38Hình 3.3 Quả thểnấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus cornucopiae ngoài tự
nhiên và nuôi trồng.
a1, b1, c1: Quả thể nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae ngoài tự nhiên
a2, b2, c2: Quả thể nấm Bào ngư Pleurotus cornucopiae nuôi trồng
Trang 39Nhận xét:
Dựa vào hình 3.1 nhận thấy rằng: bào tử nấm Bào ngư Hoàng Bạch Pleurotus
cornucopiae có màu cà xám nhợt, kích thước từ 6-7 x 3-3,5 µm Đặc điểm màu sắc bào tử giống với những mô tả P.cornucopiae của Kuhner và Romagnesi (The Agaric Genera And Lentinus, Panus, and Pleurotus, 1981) và kích thước bào tử
nằm trong khoảng hai ông mô tả: 8-9,5 x 3,5-4 µm, 7,5-11 x 3,5-5 µm Tuy nhiên, trên cây phân nhánh của Ulmus Japan, Hokkaido, Mt Keisaizura, Otani và Corner
ngày 17 tháng 9 năm 1966 (The Agaric Genera And Lentinus, Panus, and Pleurotus, 1981) cho rằng bào tử P.cornucopiae hình trụ hẹp, trong khi những ghi
nhận của chúng tôi về bào tử của loài nấm nghiên cứu có hình elip Sự sai khác này
có thể do sự khác nhau về khu phân bố của loài nấm khác nhau thì khác nhau
Nấm Bào ngư P.cornucopiae có hệ sợi nấm hai loại (dimitric) gồm sợi cứng và
sợi nguyên thủy (hình 3.2.a1) Sợi nguyên thủy có khóa (clamp) (hình 3.2.a2)
Những đặc điểm hệ sợi giống mô tả P.cornucopiae của Romagnesi năm 1969 (The Agaric Genera And Lentinus, Panus, and Pleurotus, 1981), tuy nhiên trong điều
kiện giới hạn của phòng thí nghiệm và kỹ thuật chúng tôi chưa tìm được khoảng kích thước và đặc điểm của hệ sợi
Tiêu bản lát cắt phiến nấm thấy rõ cấu trúc mô bất thụ ở phiến có dạng hướng
xuống, giống mô tả P.cornucopiae của Romagnesi (1969) và mô tả trên cây phân
nhánh của Ulmus Japan, Hokkaido, Mt Keisaizura, Otani và Corner ngày 17 tháng
9 năm 1966 (The Agaric Genera And Lentinus, Panus, and Pleurotus, 1981) (Hình
3.2.b1, 3.2.b2)
Lớp sinh sản không dày, những tế bào bất thụ nằm trên bề mặt phiến nấm liệt bào (pleurocystidia) mọc lên cao hẳn các giá (basidia) trên lớp sinh sản (Hình
3.2.c1, 3.2.c2) Đặc điểm này khác với mô tả loài P.cornucopiae trên cây phân
nhánh của Ulmus Japan, Hokkaido, Mt Keisaizura, Otani và Corner ngày 17 tháng
9 năm 1966 (The Agaric Genera And Lentinus, Panus, and Pleurotus, 1981), trên cây phân loại này cho rằng P.cornucopiae không có liệt bào nằm trên bề mặt phiến