Sau một thời gian thực tập tại công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa và cùng với việc kết hợp nghiên cứu tình hình kinh doanh của công ty về mặt hàng sữa chua Sanest Spirulina, tác
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT. 3
I Marketing, vai trò của Marketing 3
1 Khái niệm Marketing 3
1.1 Khái niệm của viện nghiên cứu Marketing Anh 3
1.2 Khái niệm của hiệp hội Marketing Mỹ 3
1.3 Khái niệm marketing của Philip Kotler 4
2 Vai trò của marketing trog hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 4
3 Vai trò marketing trong hoạt động mở rộng thị trường của các doanh nghiệp 6
II Marketing-Mix 7
1 Khái niệm về Marketing-Mix 7
2 Các thành phần của Marketing-Mix 7
2.1 Chính sách sản phẩm 7
2.2 Chính sách giá cả 11
2.3 Chính sách phân phối 12
2.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp 13
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng Marketing-Mix 14
3.1 Môi trường bên ngoài 14
3.1.1 Môi trường vĩ mô 14
3.1.2 Môi trường vi mô trong kinh doanh 16
3.2 Môi trường bên trong 17
3.3 Chu kỳ sống của sản phẩm 18
III Khả năng cạnh tranh 18
1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh 18
2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh 20
2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân 21
2.2 Đối với doanh nghiệp 21
Trang 22.3 Đối với ngành 22
2.4 Đối với sản phẩm 22
3 Các yếu tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 23
3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 23
3.1.1 Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp 24
3.1.2 Trình độ thiết bị, công nghệ 24
3.1.3 Trình độ lao động trong doanh nghiệp 25
3.1.4 Năng lực tài chính của doanh nghiệp 25
3.1.5 Năng lực marketing của doanh nghiệp và khả năng xác định lượng cầu 26
3.1.6 Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp 26
3.1.7 Yếu tố liên quan đến mức độ cạnh tranh lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh 27
3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 27
3.2.1 Thị trường 28
3.2.2 Thể chế, chính sách 29
3.2.3 Kết cấu hạ tầng 30
3.2.4 Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ 30
3.2.5 Trình độ nguồn nhân lực 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX HIỆN TẠI CỦA CÔNG TY YẾN SÀO KHÁNH HÒA ĐỐI VỚI SẢN PHẨM SỮA CHUA SANEST SPIRULINA. 32
I Giới thiệu khái quát về công ty YẾN SÀO KHÁNH HÒA 32
1.Quá trình hình thành và phát triển: 32
2 Chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của công ty 37
2.1Ngành nghề kinh doanh của Công ty: 37
2.2 Các đơn vị trực thuộc : 38
2.3Chức năng, nhiệm vụ của Công ty: 38
3 Cơ cấu tổ chức của công ty 39
3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Yến sáo Khánh Hòa 39
Trang 33.2 Chức năng, nhiệm vụ của các Phòng Ban : 41
4 Thuận lợi, khó khăn và phương hướng của công ty 44
4.1Thuận lợi mà Công ty đang có : 44
4.2Khó khăn hiện nay 45
4.3 Phương hướng phát triển của công ty 45
5 Môi trường kinh doanh của công ty 46
5.1 Môi trường vĩ mô 46
5.1.1 Môi trường kinh tế: 46
5.1.2 Môi trường chính trị và pháp luật: 46
5.1.3 Môi trường công nghệ: 47
5.1.4 Môi trường xã hội: 47
5.1.5 Môi trường tự nhiên: 48
5.2 Môi trường vi mô 48
5.2.1 Đối thủ cạnh tranh: 48
5.2.2 Khách hàng: 49
5.2.3 Sản phẩm thay thế 50
5.2.4 Nhà cung cấp 50
6 Tình hình sản xuất kinh doanh từ năm 2008 – 2010 51
6.1 Tình hình tài sản 51
6.2 Tình hình lao động 59
6.3 Tình hình máy móc, trang thiết bị và công nghệ 60
6.4 Các hoạt động chủ yếu của công ty 60
6.4.1 Tình hình thu mua nguyên vật liệu của công ty 60
6.4.2 Các loại hình kinh doanh khác 63
6.5 Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 63
6.6 Phân tích các chỉ số 66
6.6.1 Phân tích các chỉ số khả năng thanh toán 66
6.6.2 Phân tích các chỉ số khả năng sinh lời của doanh nghiệp 69
7 Thực trạng các hoạt động khác 70
Trang 47.1 Quản trị chiến lược 70
7.2 Quản trị chất lượng 71
7.3Quản trị Marketing 72
7.4 Quản trị rủi ro 73
7.5 Quản trị nhân sự 74
7.6 Quản trị sản xuất 75
II Một số hoạt động Marketing-Mix hiện tại của công ty và phân tích đối thủ cạnh tranh 75
1.Tổng quan về thị trường sữa chua tại Việt Nam 75
2 Giới thiệu về sản phẩm sữa chua tảo thiên nhiên Sanest Spirulina của công ty Yến Sào Khánh Hòa 78
3 Xác định đối thủ cạnh tranh 80
3.1 Công ty Vinamilk: với hai dòng sản phẩm là sữa chua dành cho mọi lứa tuổi và dòng sản phẩm sữa chua Susu dành cho trẻ em 81
3.2 Công ty cổ phần Kido 85
4 Phân tích SWOT 92
4.1 Điểm mạnh: 92
4.2 Điểm yếu 93
4.3 Cơ hội 93
4.4 Thách thức 93
5 Thực trạng hoạt động Marketing-Mix cho sản phẩm sữa chua tảo thiên nhiên Sanest Spirulina của công ty Yến Sào Khánh Hòa 94
5.1 Chính sách giá 94
5.2 Chính sách sản phẩm 94
5.3 Chính sách phân phối 96
5.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp 98
5.5 Tình hình tiêu thụ sản phẩm sữa chua tảo thiên nhiên Sanest Spirulina 101
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING-MIX NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CHO SẢN PHẨM SỮA CHUA SANEST
SPIRULINA CỦA CÔNG TY YẾN SÀO KHÁNH HÒA 102
I Căn cứ đề xuất giải pháp 102
1 Tiềm năng của thị trường sữa chua 102
2 Xu hướng cạnh tranh 103
3 Mục tiêu và phương hướng của công ty trong thời gian tới 104
II Đề xuất một số giải pháp Markeitng-Mix cho sản phẩm sữa chua ăn Spirulina của Công ty Yến Sào Khánh Hòa 105
1 Về giá 105
2 Về sản phẩm 106
3 Về phân phối 107
4 Về xúc tiến 114
4.1 Về quảng cáo: bên cạnh các phương tiện truyền thông truyền thống, công ty nên tăng cường cường sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại như Internet 114
4.2 Tăng cường hoạt động khuyến mãi 116
4.3 Tăng cường đội ngũ bán hàng trực tiếp 118
4.4 Đẩy mạnh hoạt động PR 119
5 Xây dựng hệ thống cửa hàng trực thuộc công ty tại các tỉnh thành có tiềm năng kinh tế 120
LỜI KẾT 122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình tài sản 51
Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn 55
Bảng 2.3: Tình hình lao động 59
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất kinh doanh 64
Bảng 2.5: Các chỉ số khả năng thanh toán 67
Bảng 2.6: Các chỉ số khả năng sinh lời 69
Bảng 2.7: Tóm tắt một số chỉ tiêu tài chính của Vinamilk 83
Bảng 2.8: Doanh thu theo nhóm sản phẩm của Kido 88
Bảng 2.9: Lợi nhuận kinh doanh các nhóm sản phẩm của Kido 88
Bảng 2.10: Tóm tắt một số chỉ tiêu tài chính của Kido 89
Bảng 2.11: Danh sách một số nhà cung cấp nguyên vật liệu chính cho Kido 90
Bảng 2.12: Sản lượng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm sữa chua Sanest Spirulina 101
Bảng 3.1: Hệ thống phân phối trong nước của công ty Yến Sào Khánh Hòa.Error!
Bookmark not defined
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty 39
Sơ đồ 2.2: Quy trình thu mua nguyên vật liệu 62
Sơ đồ 2.3: Mạng lưới kênh phân phối của công ty 96
Sơ đồ 3.1: Biểu đồ tiêu dùng các sản phẩm từ sữa 102
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU Sau nhiều năm đổi mới nền kinh tế, nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Một nền kinh tế mở như hiện nay cho phép các doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động kinh doanh của mình,
đó là cơ hội tốt cho doanh nghiệp Mà đã hoạt động theo cơ chế thị trường thì không thể không nói đến cạnh tranh Để tạo tiền đề cho cạnh tranh thắng lợi của các doanh nghiệp, cùng lúc phải đề cập đến uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, các điều kiện mua bán, trao đổi Do đó , một vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là làm sao tổ chức các hoạt động marketing để nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Bởi nếu không làm tốt các hoạt động marketing thì các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ vô cùng khó khăn trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay Trong bối cảnh đó công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa đã tìm được hướng đi đúng cho mình là kết hợp các hoạt động marketing để tạo khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp mình Với thế mạnh là công ty đi đầu trong việc khai thác và chế biến các sản phẩm cao cấp bổ dưỡng có giá trị cao từ nguồn tài nguyên Yến sào - ngành nghề truyền thống của công ty, công ty đã bước đầu thành công trong việc xây dựng thương hiệu Yến Sào Khánh Hòa trở thành một thương hiệu mạnh “vì lợi ích sức khỏe cộng đồng” Không dừng lại ở đó, công ty không ngừng tìm tòi, nghiên cứu phát triển những sản phẩm
bổ dưỡng có giá trị khác ngoài Yến sào để đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao
về các sản phẩm bổ dưỡng tốt cho sức khỏe người tiêu dùng Sản phẩm sữa chua tảo thiên nhiên Sanest Spirulina là một sản phẩm trong số đó Tuy nhiên, do mới xuất hiện trên thị trường và là sản phẩm đầu tiên của công ty trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ sữa nên sản phẩm chưa được biết đến nhiều và sản lượng tiêu thụ cũng chưa cao
Sau một thời gian thực tập tại công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa và cùng với việc kết hợp nghiên cứu tình hình kinh doanh của công ty về mặt
hàng sữa chua Sanest Spirulina, tác giả đã chọn đề tài “ Một số giải pháp
marketing-mix nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm sữa chua Sanest Spirulina của công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa “ làm
chuyên đề cho khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 9* Mục tiêu nghiên cứu: mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất ra một số giải
pháp marketing-mix cụ thể, phù hợp với nguồn lực công ty và điều kiện thị trường Với hy vọng những giải pháp này sẽ góp phần tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm đồng thời góp phần nâng cao hình ảnh của công ty
* Đối tượng nghiên cứu: Các thông tin của bài viết được thu thập từ các nguồn :
- Thông tin của các phòng ban trong công ty đặc biệt là phòng kinh doanh xuất nhập khẩu và phòng kế toán
- Quan sát tình hình kinh doanh sản phẩm của công ty
- Quan sát khách hàng đến giao dịch tại công ty
* Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu được sử dụng là:
- Phương pháp nghiên cứu bàn giấy: tổng hợp và phân tích các thông tin thứ cấp thu thập được
- Phương pháp điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp chuyên gia
* Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu của tác giả đề xuất giải pháp marketing-mix
cho sản phẩm sữa chua Sanest Spirulina của công ty trong giai đoạn từ 2011 –
2015 Các giải pháp được đề xuất ra trong đề tài cũng chỉ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa chua Sanest Spirulina của công ty trên thị trường sữa chua Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu trên thị trường Khánh Hòa, các tỉnh miền Trung và Tp Hồ Chí Minh
Bố cục của đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lý thuyết
Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing-mix của công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa đối với sản phẩm sữa chua Sanest Spirulina
Chương 3: Một số giải pháp marketing-mix nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm sữa chua sanest spirulina của công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa
Trang 10CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I Marketing, vai trò của Marketing
1 Khái niệm Marketing
Có nhiều định nghĩa về Marketing, tùy theo từng quan điểm, góc độ nhìn nhận
mà giữa các định nghĩa có sự khác nhau nhưng bản chất của chúng thì không thay đổi, tựu chung lại ta có 3 khái niệm cần quan tâm sau:
1.1 Khái niệm của viện nghiên cứu Marketing Anh
“ Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ
các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đưa hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo cho công ty thu hút được lợi nhuận dự kiến “
Khái niệm này liên quan đến bản chất của marketing là tìm kiếm và thỏa mãn nhu cầu, khái niệm nhấn mạnh đến việc đưa hàng hóa tới người tiêu dùng, các hoạt động trong quá trình kinh doanh nhằm thu hút lợi nhuận cho công ty Tức là
nó mang triết lý của marketing là phát hiện, thu hút, đáp ứng nhu cầu một cách tốt nhất trên cơ sở thu được lợi nhuận mục tiêu
1.2 Khái niệm của hiệp hội Marketing Mỹ
“ Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá,
khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức “ ( Quản trị Marketing – Philip
Kotler – NXN Thống Kê – 1997, trang 20 )
Khái niệm này mang tính chất thực tế khi áp dụng vào thực tiễn kinh doanh Qua đây ta thấy nhiệm vụ của marketing là cung cấp cho khách hàng những hàng hóa và dịch vụ mà họ cần Các hoạt động của marketing như việc lập kế hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phối, và thực hiện các dịch vụ khách hàng
… nhằm mục đích đưa ra thị trường những sản phẩm phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh thông qua các nổ lực marketing của mình
Trang 111.3 Khái niệm marketing của Philip Kotler
“ Marketing là hoạt động của con người hướng tới thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi “ ( Philip Kotler – marketing
căn bản – NXB Thống Kê – 1997, trang 9 )
Định nghĩa này bao gồm cả quá trình trao đổi không kinh doanh như là một bộ phận của marketing Hoạt động marketing diễn ra trong tất cả các lĩnh vực trao đổi nhằm hướng tới thỏa mãn nhu cầu với các hoạt động cụ thể trong thực tiễn kinh doanh
2 Vai trò của marketing trog hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Ngày nay không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh lại không muốn gắn hoạt động kinh doanh của mình với thị trường Không còn thời các doanh nghiệp hoạt động sản xuất theo hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh Doanh nghiệp nhận chỉ tiêu sản xuất, định mức đầu vào và hiệu quả hoạt động được thể hiện qua mức hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu Sản phẩm sản xuất ra được phân phối qua tem phiếu,
do đó hoạt động của doanh nghiệp hoàn toàn tách khỏi thị trường và hoạt động marketing không hề tồn tại
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tự do cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất Kinh tế thị trường càng phát triển thì mức độ cạnh tranh càng cao Cạnh tranh vừa là động lực thúc đẩy vừa là công cụ đào thải, chọn lựa khắt khe của thị trường đối với các doanh nghiệp Vì vậy, muốn tồn tại
và phát triển các doanh nghiệp phải định hướng theo thị trường một cách năng động, linh hoạt Khi khách hàng trở thành người phán quyết cuối cùng đối với sự sống còn của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò của khách hàng Lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ có được khi làm vừa lòng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng và khi đó marketing trở thành yếu tố then chốt để đi đến thành công của doanh nghiệp
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không thể tách khỏi thị trường, họ cũng không hoạt động một cách đơn lẻ mà diễn ra trong mối quan hệ với thị trường, với môi trường bên ngoài của công ty Do vậy, bên cạnh các chức năng như: tài chính,
Trang 12sản xuất, quản trị nhân sự thì chức năng quan trọng và không thể thiếu được để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển đó là chức năng quản trị Marketing – chức năng kết nối hoạt động của doanh nghiệp với thị trường, với khách hàng, với môi trường bên ngoài để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, lấy thị trường – nhu cầu khách hàng làm cơ sở cho mọi quyết định kinh doanh
Hoạt động marketing trong doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Bắt đầu từ việc nghiên cứ thị trường, lập danh mục hàng hóa đến việc thực hiện sản xuất, phân phối và khi hàng hóa được bán hoạt động marketing vẫn được tiếp tục Cho nên chức năng quản trị marketing có liên quan chặt chẽ đến các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp và nó có vai trò định hướng, kết hợp các chức năng khác để không chỉ nhằm lôi kéo khách hàng
mà còn tìm ra các công cụ có hiệu quả thỏa mãn nhu cầu khách hàng từ đó đem lại lợi nhuận cho công ty
Nói chung, chức năng của hoạt động marketing trong doanh nghiệp luôn luôn chỉ cho doanh nghiệp biết rõ những nội dung cơ bản sau đây:
_ Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Họ mua hàng ở đâu? Họ mua bao nhiêu?
Họ mua như thế nào? Vì sao họ mua?
_ Họ cần loại hàng hóa nào? Loại hàng hóa đó có những đặc tính gì? Vì sao họ cần đặc tính đó mà không phải đặc tính khác? Những đặc tính hiện thời của hàng hóa còn phù hợp với hàng hóa đó nữa không?
_ Hàng hóa của doanh nghiệp có những ưu điểm và hạn chế gì? Có cần phải thay đổi không? Cần thay đổi đặc tính nào? Nếu không thay đổi thì sao? Nếu thay đổi thì sẽ như thế nào?
_ Giá cả hàng hóa của doanh nghiệp nên quy định như thế nào, bao nhiêu? Tại sao lại định mức giá như vậy mà không phải mức giá khác? Mức giá trước đây còn thích hợp không? Nên tăng hay giảm? Khi nào tăng, giảm? Tăng, giảm bao nhiêu, khi nào thì thích hợp? Thay đổi với khách hàng nào, hàng hóa nào?
Trang 13_ Doanh nghiệp nên tự tổ chức lực lượng bán hàng hay dựa vào tổ chức trung gian khác? Khi nào đưa hàng hóa ra thị trường? Đưa khối lượng là bao nhiêu? _ Làm thế nào để khách hàng biết, mua và yêu thích hàng hóa của doanh nghiệp? Tại sao lại phải dùng cách thức này chứ không phải cách thức khác? Phương tiện này chứ không phải phương tiện khác?
_ Hàng hóa của doanh nghiệp có cần dịch vụ sau bán hàng hay không? Loại dịch vụ nào mà doanh nghiệp có khả năng cung cấp cao nhất? Vì sao? Vì sao doanh nghiệp lại lựa chọn loại dịch vụ này chứ không phải loại dịch vụ khác?
Đó là các vấn đề mà ngoài chức năng marketing ra không có chức năng nào có thể trả lời được Dựa vào các vấn đề cơ bản trên, doanh nghiệp xây dựng cho mình một chính sách marketing-mix phù hợp với thị trường, đáp ứng một cách tốt nhất các nhu cầu của khách hàng
Nói tóm lại, chức năng quản trị marketing đóng vai trò rất quan trọng và là một trong bốn chức năng không thể thiếu trong các doanh nghiệp ( chức năng sản xuất, chức năng tài chính, quản trị nhân sự và chức năng marketing ) Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú ý phát triển chức năng marketing nếu muốn tồn tại và phát triển trên thị trường
3 Vai trò marketing trong hoạt động mở rộng thị trường của các doanh nghiệp
Marketing ảnh hưởng đến sự thành bại trong thực hiện chiến lược của doanh nghiệp Tuy nhiên hai biến số quan trọng nhất trong việc thực hiện chiến lược là: phân khúc thị trường và định vị sản phẩm
Trang 14Thứ hai, nó cho phép doanh nghiệp hoạt động một cách có hiệu quả với nguồn
II Marketing-Mix
1 Khái niệm về Marketing-Mix
“ Marketing-Mix là một tập hợp các biến số mà công ty có thể kiểm soát và
quản lý được và nó được sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ thị trường mục tiêu “ ( Theo Marketing – NXB Thống Kê – 1998, trang 166 )
Marketing-Mix là một tập hợp các biến số có thể điều khiển được, chúng được quản lý để thỏa mãn thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tổ chức Trong Marketing-Mix có rất nhiều công cụ khác nhau, mỗi công cụ là một biến số
có thể điều khiển được và được phân loại theo 4 yếu tố gọi là 4Ps
Marketing- mix
Sản phẩm (Product)
Gía (Price)
Phân phối (Place)
Xúc tiến khuyêchs trương (Promotion)
Trang 15_ Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa
_ Quyết định về chất lượng sản phẩm
_ Quyết định về nhãn hiệu và bao bì sản phẩm
_ Quyết định về dịch vụ khách hàng
* Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa
+ Quyết định về chủng loại hàng hóa
“ Chủng loại hàng hóa là một nhóm hàng hóa có liên quan chặt chẽ với nhau
do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho một nhóm khách hàng, hay thông qua các kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá “ (
Marketing – NXB Thống Kê – 1998, trang 185 )
Thường thì mỗi doanh nghiệp có cách thức lựa chọn chủng loại sản phẩm hàng hóa khác nhau Lựa chọn như thế nào là phụ thuộc vào mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi
Doanh nghiệp theo đuổi cung cấp một chủng loại sản phẩm đầy đủ hay phấn đấu để chiếm lĩnh một phần lớn thị trường hoặc mở rộng thị trường thì thường thì thường có chủng loại sản phẩm rộng Để làm được như vậy, doanh nghiệp phải đặt
ra vấn đề là mở rộng và duy trì bề rộng của chủng loại sản phẩm bằng cách nào? Giải quyết vấn đề này công ty có hai hướng lựa chọn:
Một là, phát triển chủng loại sản phẩm trên cơ sở các cách thức sau: phát triển
hướng xuống dưới, phát triển hướng lên trên và phát triển theo cả hai hướng trên
Hai là, bổ sung chủng loại sản phẩm Có nghĩa là doanh nghiệp cố gắng đưa
thêm những mặt hàng mới vào chủng loại sản phẩm hiện có
+ Quyết định về danh mục hàng hóa
“ Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các nhóm chủng loại sản phẩm và các đơn vị sản phẩm do một nhà cung cấp cụ thể đem chào bán cho người mua “ (
Marketing – NXB Thống Kê – 1998, trang 186 )
Danh mục sản phẩm của một doanh nghiệp sẽ có chiều rộng, chiều dài, chiều sâu, mức độ phong phú và hài hòa nhất định phụ thuộc vào mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi Chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện doanh nghiệp có bao
Trang 16nhiêu nhóm chủng loại sản phẩm khác nhau do doanh nghiệp sản xuất Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong danh mục sản phẩm Chiều sâu của danh mục sản phẩm thể hiện tổng số các sản phẩm cụ thể được chào bán trong từng mặt hàng riêng của nhóm chủng loại sản phẩm Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm phản ánh mức độ gần gũi của hàng hóa thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng, những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó
Các thông số đặc trưng trên cho danh mục sản phẩm mở ra cho doanh nghiệp các chiến lược mở rộng danh mục sản phẩm:
+ Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ xung sản phẩm mới
+ Kéo dài từng loại sản phẩm làm tăng chiều dài danh mục
+ Bổ xung các phương án sản phẩm cho từng loại sản phẩm và làm tăng chiều sâu của danh mục sản phẩm
+ Tăng hay giảm mật độ của loại sản phẩm tùy thuộc doanh nghiệp có ý muốn tăng uy tín vững chắc trên một lĩnh vực hay trên nhiều lĩnh vực
* Quyết định về nhãn hiệu và bao gói sản phẩm
Khi hoạch định chiến lược marketing cho từng loại sản phẩm, doanh nghiệp phải quyết định hàng loạt vấn đề có liên quan đến nhãn hiệu sản phẩm Việc gắn nhãn hiệu là một chủ đề quan trọng trong chiến lược sản phẩm
Nhãn hiệu về cơ bản là một sự hứa hẹn của người bán đảm bảo cung cấp cho người mua một tập hợp nhất định những tính chất, lợi ích và dịch vụ Các quyết định có liên quan đến nhãn hiệu thường là:
+ Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không?
+ Ai là chủ nhãn hiệu sản phẩm?
+ Tương ứng với nhãn hiệu đã chọn chất lượng sản phẩm có những đặc trưng gì?
+ Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào?
+ Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không?
Trang 17+ Sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các sản phẩm có những đặc tính khác nhau của cùng một mặt hàng?
Những quyết định về nhãn hiệu là những quyết định quan trọng trong chiến chiến lược sản phẩm bởi vì nhãn hiệu được coi như là tài sản lâu bền quan trọng của một công ty Việc quản lý nhãn hiệu cũng được coi như là một công cụ marketing chủ yếu trong chiến lược sản phẩm
* Quyết định về chất lượng sản phẩm
“ Chất lượng sản phẩm là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản
phẩm hay dịch vụ đem lại cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu được nói ra hay được hiểu ngầm “
Giữa chất lượng sản phẩm và dịch vụ, sự thỏa mãn của khách hàng và khả năng sinh lời của doanh nghiệp có một mối liên hệ mật thiết Mức chất lượng càng cao thì mức độ thỏa mãn của khách hàng cũng càng cao, và khi đó có thể tính giá cao hơn
Chất lượng sản phẩm là thuộc tính đầu tiên và quan trọng nhất mà khách hàng chú ý đến khi lựa chọn người cung ứng sản phẩm cho mình Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp được thể hiện thông qua các thông số sau:
+ Độ bền của sản phẩm: Nó bao gồm các yếu tố như tuổi thọ của sản phẩm, khả năng chịu đựn các điều kiện tự nhiên của sản phẩm, mức độ quá tải hàng sản xuất …
+ Đảm bảo thiết kế kỹ thuật: Các sản phẩm được sản xuất phải đảm bảo được đúng các thiết kế kỹ thuật, các thông số kỹ thuật…
+ Khả năng thích ứng: sản phẩm dễ sử dụng, dễ sửa chữa, dễ thay thế, bảo dưỡng, tiện lợi…
Để đánh giá được chất lượng sản phẩm thông thường các kỹ sư thường dùng phương pháp đánh giá và cho điểm, xếp loại để đánh giá sản phẩm của mình Như vậy, để đảm bảo cho chất lượng sản phẩm cao đòi hỏi doanh nghiệp phải chú ý đến cả thiết kế kỹ thuật và chất lượng của quá trình chế tạo sản phẩm Việc
Trang 18sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp thu hút được nhiều khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Thời gian gao hàng:
Các sản phẩm của doanh nghiệp phải đảm bảo giao hàng đúng thời hạn quy định của khách hàng trong hợp đồng Giao hàng đúng thời hạn đảm bảo chi phí thấp, góp phần làm giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Ngoài ra doanh nghiệp còn quan tâm đến các vấn đề khác về dịch vụ của khách hàng như:
- Mua bảo hiểm cho khách hàng
- Sửa chữa và bảo hành sản phẩm
Trang 19Chiến lược định giá phụ thuộc vào mục tiêu marketing của doanh nghiệp Khi xác định giá cho sản phẩm, doanh nghiệp cần xem xét các bước của quá trình định giá như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp lựa chọn được mục tiêu marketing của mình thông qua
định giá, đó là: chi phí, lợi nhuận, tăng tối đa thu nhập trước mắt, tăng mức tiêu thụ, tăng việc giành phần “ngon” của thị trường hay giành vị trí dẫn đầu về mặt chất lượng sản phẩm
Thứ hai, doanh nghiệp xác định, ước lượng quy mô cầu và độ co dãn của cầu
để có căn cứ định giá cho thích hợp
Thứ ba, doanh nghiệp ước tính giá thành và đây là mức giá sàn của sản phẩm Thứ tư, tìm hiểu giá của đối thủ cạnh tranh để làm cơ sở xác định vị trí cho giá
của mình
Thứ năm, lựa chọn phương pháp định giá, nó bao gồm các phương pháp: định
giá theo phụ giá, định giá theo lợi nhuận mục tiêu, định giá theo giá trị cảm nhận của khách hàng, định giá theo giá trị, định giá theo giá cả hiện hành, định giá đấu thầu
Thứ sáu, doanh nghiệp lựa chọn giá cuối cùng của mình, phối hợp với các yếu
tố khác của marketing-mix
Do vấn đề cạnh tranh và sự thay đổi của thị trường kéo theo doanh nghiệp phải thay đổi, điều chỉnh giá cho thích hợp, có thể có các chiến lược điều chỉnh sau: định giá theo nguyên tắc địa lý, chiết giá và bớt giá, định giá khuyến mãi, định giá phân biệt và định giá cho danh mục sản phẩm
Khi thực hiện việc thay đổi, điều chỉnh giá doanh nghiệp cần xem xét thận trọng những phản ứng của thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh
2.3 Chính sách phân phối
Phân phối cũng là một công cụ then chốt trong marketing-mix, nó bao gồm những hoạt động khác nhau mà doanh nghiệp tiến hành nhằm đưa sản phẩm đến những nơi khách hàng mục tiêu có thể tiếp cận và mua chúng
Trang 20Hầu hết những nhà sản xuất đều cung cấp sản phẩm của mình cho thị trường thông qua những người trung gian marketing Do vậy, nhà sản xuất sẽ phải quan
hệ, liên kết với một số tổ chức, lực lượng bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu phân phối của mình
Những quyết định quan trọng nhất trong chính sách phân phối là các quyết định
về kênh marketing Kênh marketing được tạo ra như một dòng chảy có hệ thống được đặt trưng bởi số các cấp của kênh bao gồm người sản xuất, các trung gian và người tiêu dùng Kênh marketing thực hiện việc chuyển sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng, vượt qua những ngăn cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu xen giữa hàng hóa và dịch vụ với người sử dụng chúng Các quyết định cơ bản về kênh bao gồm:
_ Quyết định về thiết kế kênh
_ Quyết định về quản lý kênh
Với việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm và mở rộng thị trường thì một hệ thống phân phối rộng rãi, bao gồm các cấp trung gian, kết hợp phân phối trực tiếp trên phạm vi lớn sẽ đem lại hiệu quả cho chính sách phân phối của doanh nghiệp
2.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp
Đây cũng là một trong bốn công cụ chủ yếu của marketing-mix và nó trở nên ngày càng có hiệu quả và quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu Bản chất của các hoạt động xúc tiến chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua hàng
Chính sách xúc tiến bao gồm 5 công cụ chủ yếu là:
_ Quảng cáo: Bao gồm bất kỳ hình thức nào được giới thiệu một cách gián tiếp
và đề cao những ý tưởng, sản phẩm hoặc dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí
_ Marketing trực tiếp: Sử dụng thư, điện thoại và những công cụ liên lạc gián
tiếp khác để thông tin cho những khách hàng hiện có và khách hàng triển vọng hay yêu cầu họ phản ứng đáp lại
Trang 21_ Kích thích tiêu thụ: Là những hình thức thưởng trong thời gian ngắn để
khuyến khích dùng thử hay mua một sản phẩm hay dịch vụ
_ Quan hệ quần chúng và tuyên truyền: Là các chương trình khác nhau được
thiết kế nhằm đề cao hay bảo vệ hình ảnh của doanh nghiệp hay những sản phẩm
cụ thể của nó
_ Bán hàng trực tiếp: Là sự giới thiệu trực tiếp bằng miệng về sản phẩm và
dịch vụ của doanh nghiệp thông qua cuộc đối thoại của một hoặc nhiều khách hàng tiềm năng nhằm mục đích bán hàng
Mỗi công cụ xúc tiến hỗn hợp đều có những đặc điểm riêng và chi phí của nó,
do vậy khi lựa chọn các công cụ và phối hợp các công cụ trong chính sách xúc tiến hỗn hợp, người làm marketing phải nắm được những đặc điểm riêng của mỗi công
cụ khi lựa chọn cũng như phải xét tới các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu công cụ xúc tiến hỗn hợp như: kiểu thị trường sản phẩm, chiến lược đẩy và kéo, giai đoạn sẵn sàng của người mua, giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm
Thực hiện nội dung của các hình thức trên thì doanh nghiệp cần chú ý đến các vấn đề sau:
+ Xác định ai là khách hàng của doanh nghiệp
+ Hình thức nào là phù hợp nhất
+ Nội dung cần nhấn mạnh điểm gì ở sản phẩm
+ Thời gian và tần xuất sử dụng hình thức này
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng Marketing-Mix
3.1 Môi trường bên ngoài
3.1.1 Môi trường vĩ mô
Có rất nhiều nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến hoạt đọng kinh doanh của doanh nghiệp Chúng tạo ra những cơ hội và cả những thách thức cho
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
* Môi trường kinh tế
Các yếu tố kinh tế chi phối hoạt động của doanh nghiệp như là chính sách kinh
tế, tài chính, tiền tệ, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, lực lượng lao động…Ngoài
Trang 22ra doanh nghiệp còn phải chú ý đến việc phân bố lợi tức trong xã hội Xét tổng quát thì có bốn yế tố thuộc lĩnh vực kinh tế mà công ty cần xử lý là: tỷ lệ phát triển kinh tế, lãi suất, hối suất, tỷ lệ lạm phát
* Môi trường chính trị và pháp luật
Bao gồm các chính sách, quy chế, định chế luật, chế độ đãi ngộ, thủ tục và quy định của nhà nước Luật pháp và các cơ quan Nhà nước có vai trò điều tiết các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích:
+ Bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trong quan hệ cạnh tranh tránh những hình thức kinh doanh không chính đáng
+ Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong các trường hợp khách hàng không được tôn trọng về chất lượng sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến Bảo
vệ khách hàng chống lại cách thức kinh doanh tùy tiện vô trách nhiệm của các công ty
* Môi trường xã hội
Bao gồm các yếu tố như nhân khẩu, phong cách sống, xu hướng của nền văn hóa, tỷ lệ tăng dân số…Những biến đổi trong các yếu tố xã hội cũng tạo nên cơ hội hay nguy cơ cho doanh nghiệp, nó thường diễn ra chậm và khó nhận biết do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hết sức nhạy cảm và có sự điều chỉnh kịp thời
* Môi trường tự nhiên
Đó là những vấn đề như ô nhiễm môi trường, khan hiếm năng lượng, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, nhiên liệu bị khai thác bừa bãi…Buộc các cơ quan chức năng và doanh nghiệp phải có những giải pháp cứu chữa và đưa ra các biện pháp thích nghi
* Môi trường công nghệ
Mỗi công nghệ phát sinh sẽ hủy diệt những công nghệ trước đó không ít thì nhiều Đây là sự hủy diệt mang tính sáng tạo, đối với doanh nghiệp thì các yếu tố công nghệ luôn có hai mặt Một mặt tích cực đó là những công nghệ mới sẽ đem lại phương pháp chế tạo mới giúp giảm giá thành, nâng cao chất lượng, giảm chi
Trang 23phí theo quy mô…Mặt khác công nghệ tiến bộ sẽ là sự lo ngại cho các doanh nghiệp khi họ không có đủ nguồn lực để chạy theo công nghệ
3.1.2 Môi trường vi mô trong kinh doanh
* Đối thủ tiềm năng
Bao gồm các công ty hiện nay chưa ra mặt cạnh tranh nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai Đó là mối lo ngại mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tính đến
* Đối thủ cạnh tranh
Ta đã biết cơ cấu cạnh tranh là sự phân bổ số lượng và tầm cỡ các doanh nghiệp cạnh tranh nhau trong cùng một ngành kinh doanh Cơ cấu cạnh tranh khác nhau sẽ tạo ra động lực cạnh tranh khác nhau Ngành phân tán manh mún tức là co nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động riêng biệt không có sự thống nhất, các doanh nghiệp dễ phát sinh cạnh tranh về giá cả dẫn đến nhiều nguy cơ hơn là cơ hội Ngành hợp nhất là ngành có sự tương trợ giữa các doanh nghiệp vì thế cơ cấu cạnh tranh cũng hết sưc phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp đến ngành
* Tình hình thị trường
Là yếu tố chi phối mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Nhu cầu thị trường tăng làm giảm áp lực cạnh tranh là cơ sở hàng đầu mở rộng thị phần của doanh nghiệp và ngược lại khi nhu cầu thị trường giảm sút là nguy cơ để doanh nghiệp tìm cách chống chọi, bảo vệ thị phần của mình
Trang 243.2 Môi trường bên trong
* Marketing
Nhân tố marketing ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh nhất là trên quan điểm chiến lược Nó giúp doanh nghiệp định hướng và phối hợp các hoạt động kinh doanh sao cho đạt hiệu quả cao nhất ( lựa chọn những phân khúc thị trường trọng điểm, hoạch định chiến lược marketing-mix, định vị thị trường…)
- Xây dựng mục tiêu: rất ít các doanh nghiệp chỉ theo đuổi một mục tiêu mà hầu hết các doanh nghiệp đều theo đuổi một số các mục tiêu bao gồm khả năng sinh lời, tăng doanh số bán, tăng thị phần, ngăn chặn rủi ro, đổi mới, danh tiếng…Để cho hệ thống này có hiệu lực thì các mục tiêu khác nhau của doanh nghiệp phải được xếp thứ tự theo thứ bậc, định lượng, có tính hiện thực và nhất quán
- Xây dựng chiến lược: các chỉ tiêu cho thấy đơn vị kinh doanh muốn đạt được những gì Còn chiến lược thì trả lời làm thế nào để được chỉ tiêu đó Mọi doanh nghiệp đều phải xây dựng một chiến lược để đạt được nhũng chỉ tiêu đã đề ra Theo Michael Porter thì có ba kiểu chiến lược chung nhất như sau:
+ Chiến lược dẫn đầu về tổng chi phí thấp: ở đây doanh nghiệp phấn đấu để đạt được chi phí sản xuất và phân phối thấp nhất nhằm có thể định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh và giành được thị phần lớn Những doanh nghiệp theo đuổi về chiến lược này phải giỏi về kỹ thuật, cung ứng, sản xuất, phân phối vật chất và ít cần đến kỹ năng marketing hơn
+ Chiến lược tạo sự khác biệt hóa: với chiến lược này doanh nghiệp tập trung vào việc đạt cho được kết quả hơn hẳn trong một lĩnh vực ích lợi quan trọng của khách hàng được phần lớn thị trường đánh giá Doanh nghiệp có thể phấn đấu chiếm vị trí dẫn đầu về dịch vụ, về chất lượng, về mẫu mã, về công nghệ…nhưng rất khó khăn để dẫn đầu về tất cả những mặt này Doanh nghiệp sẽ phát huy những điểm mạnh nào có lợi thế cạnh tranh hơn
Trang 25+ Chiến lược tập trung: với chiến lược này doanh nghiệp tập trung vào một khúc thị trường hẹp chứ không theo đuổi một khúc thị trường lớn Doanh nghiệp
sẽ phải nắm vững nhu cầu của các khúc thị trường đó và theo đuổi dẫn đầu về chi phí thấp hay một đặc điểm
Tuy nhiên, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều không áp dụng duy nhất một chiến lược mà kết hợp nhiều chiến lược với nhau để đạt được mục tiêu của mình
và đem lại hiệu quả cao nhất
* Nguồn nhân lực
Là nguồn không thể thiếu được và là vốn quý nhất của doanh nghiệp Việc quản trị nguồn nhân lực có thể hiểu là công tác tuyển mộ sắp xếp, đào tạo và điều động nhân sự
Mục tiêu của quản trị nhân lực là phát triển một kế hoạch nhân sự phù hợp với yêu cầu chiến lược của doanh nghiệp trong cả ngắn hạn và dài hạn
* Bản sắc văn hóa doanh nghiệp
Đó chính là tổng hợp các kinh nghiệm, cá tính và phong thái sinh hoạt liên kết với nhau tạo thành động tái hoặc phong cách ứng xử của doanh nghiệp trong quan
hệ với môi trường xung quanh và trong cả môi trường nội bộ Văn hóa của doanh nghiệp còn gắn liền với các mục tiêu lâu dài mà doanh nghiệp theo đuổi qua các chương trình hành động của mình
3.3 Chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng và thực hiện các chiến lược marketing-mix Sản phẩm ở trong mỗi giai đoạn khác nhau của chu kỳ sống sẽ có những đặc điểm khác nhau nên cần có các chiến lược marketing-mix khác nhau
III Khả năng cạnh tranh
1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh
Phải nói rằng thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, trong giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh doanh Nhưng cho đến nay
Trang 26vẫn chưa có sự nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khả năng cạnh tranh của công ty
* Tiếp cận khả năng cạnh tranh ở cấp ngành, cấp doanh nghiệp
+ Quan điểm của M.Poter
Dựa theo quan điểm quản trị chiến lược được phản ánh trong các cuốn sách của M.Poter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng lực chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của doanh nghiệp đó Với cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài nước năng lực cạnh tranh được quy định bởi các yếu tố sau:
- Số lượng các doanh nghiệp mới tham gia
- Sự có mặt của các sản phẩm thay thế
- Vị thế của khách hàng
- Uy tín của nhà cung ứng
- Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh
Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với từng giai đoạn, thời kỳ phát triển của nền kinh tế
+ Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản phẩm
Quan điểm này dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống, đã xem xét khả năng cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất Như vậy, khả năng cạnh tranh của ngành, công ty cao hay thấp tùy thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt hay không vì chi phí các yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh
+ Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E Martin và R Westgren
VarDwer, E Martin và R Westgren là những đồng tác giả của cuốn
“Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”-1991 Theo các tác giả này thì khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty được thể hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong nước và ngoài nước Như vậy, lợi nhuận và thị phần là hai chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh
Trang 27của công ty Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao Ngược lại, lợi nhuận và thị phần giảm hoặc nhỏ phản ánh năng lực cạnh tranh của công ty bị hạn chế hoặc chưa cao Tuy nhiên, chúng chỉ là những chỉ số tổng hợp bao gồm các chỉ số thành phần khác nhau như:
- Chỉ số về năng suất bao gồm năng suất lao động và tổng năng suất các yếu tố sản xuất
- Chỉ số về công nghệ bao gồm các chỉ số về chi phí cho nghiên cứu và triển khai
- Sản phẩm bao gồm các chỉ số về chất lượng, sự khác biệt
- Đầu vào và các chi phí khác: giá cả đầu vào và hệ số chi phí các nguồn lực Nói tóm lại có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh Song bài viết này không nhằm mục đích phân tích ưu nhược điểm của quan điểm đó mà chỉ mong muốn giới thiệu khái quát một số quan điểm điển hình giúp cho việc tiếp cận một phạm trù phổ biến nhưng còn nhiều tranh cãi về khái niệm được dễ dàng hơn
2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu như không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanh nghiệp hầu như
đã được nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về nhà nước Vì vậy,
vô hình dung nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỷ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp Chính điều đó đã không tạo được động lực cho doanh nghiệp phát triển Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng và nền kinh tế quốc dân nói chung
Trang 282.1 Đối với nền kinh tế quốc dân
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa quan hệ xã hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của những sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hóa Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu
và rộng Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến có những manh mối làm
ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, làm hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà nhà nước và pháp luật nghiêm cấm
2.2 Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và phát triển Để tồn tại và phát triển doanh nghiệp cần có những chiến lược cạnh tranh mang tính cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để có được khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng , kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển Do vậy, cạnh tranh là rất cần thiết
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào?
Và sản xuất cho ai? Nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp xác định được nhu cầu thị trường và chỉ sản xuất ra những gì thị trường cần chứ không sản xuất những gì
Trang 29mà doanh nghiệp có Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm
có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Muốn vậy các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, cử các cán bộ đi học để nâng cao trình độ chuyên môn Cạnh tranh thắng lợi
sẽ tạo cho doanh nghiệp một vị trí xứng đáng trên thị trường, tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo đà phát triển cho nền kinh tế
2.3 Đối với ngành
Cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó, thu hút được một nguồn lao động dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó
Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô hoạt động lớn hay nhỏ, dù là hoạt động có đứng ở tầm vĩ mô hay vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh
2.4 Đối với sản phẩm
Nhờ có cạnh tranh mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi ích của người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn Ngày nay, các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu ở bất kỳ một lĩnh vực nào của nền kinh tế Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực
sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh
tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội Bởi vậy, cạnh tranh là một yếu tố rất cần
có sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng đoạn, xáo trộn thị trường
Trang 303 Các yếu tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau Theo mô hình Kim cương của M Porter
có thể thấy, có ít nhất 5 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), các ngành cung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), các yếu tố ngẫu nhiên và yếu tố nhà nước Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Có nhiều yếu tố bên trong doanh nghiệp tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đang sử dụng các chỉ tiêu thuộc 5 nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp trong việc xác định năng lực cạnh tranh gồm: năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản lý nghiệp vụ, sự hiện diện chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo nhân viên), năng lực marketing (định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã, tăng cường tiếp thị, mở rộng thị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân phối ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới bán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu cho nghiên cứu và phát triển)
Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh gồm: năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp, trình độ công nghệ, năng lực tài chính, trình độ tay nghề của người lao động… Có thể phân bổ thành 4 nhóm yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:
- Trình độ, năng lực và phương thức quản lý
Trang 313.1.1 Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt sau:
+ Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý
Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng, … đến kiến thức về xã hội, nhân văn
+ Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ
và hiệu quả cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, ra quyết định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của doanh nghiệp Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp… Điều này có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3.1.2 Trình độ thiết bị, công nghệ
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm của doanh nghiệp Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh
nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp
Trang 323.1.3 Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trực tiếp
sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát kiến và sáng chế… Do vậy, trình độ của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp Đây là một yếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng lao động, nâng cao tay nghề của người lao động dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí thỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế, cải tiến…
3.1.4 Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanh nghiệp Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản
và là một đầu vào của doanh nghiệp Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhân công, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát triển nguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dưới nhiều hình thức Đồng thời, điều quan trọng là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, hoạt động
Trang 33kinh doanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, với ngân hàng và những người cho vay vốn
3.1.5 Năng lực marketing của doanh nghiệp và khả năng xác định lượng cầu
Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (Product, Place, Price, Promotion) trong hoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Vì vậy, điều tra cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanh nghiệp
để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu được người sử dụng chấp nhận
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càng cao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu
uy tín Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với những doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường
Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều khâu như tiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng và sau bán hàng đóng vai trò quan trọng đến doanh số tiêu thụ - vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp
3.1.6 Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóa sản xuất
Trang 343.1.7 Yếu tố liên quan đến mức độ cạnh tranh lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh
Vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng loại khẳng định mức
độ cạnh tranh của nó trên thị trường Doanh nghiệp nào lựa chọn lĩnh vực có mức
độ cạnh tranh càng thấp thì càng thuận lợi, vì vậy, hiểu biết thị trường để quyết định kinh doanh ở lĩnh vực có mức độ cạnh tranh thấp là yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công và mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nhiều hơn
là môi trường độc quyền
Vị thế của doanh nghiệp được thể hiện qua thị phần sản phẩm so với sản phẩm cùng loại, uy tín thương hiệu sản phẩm đối với người tiêu dùng, sự hoàn hảo của các dịch vụ và được đo bằng thị phần của các sản phẩm dịch vụ đó trên thị trường
Ngoài ra, một số yếu tố khác nhau như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp… có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) dựa trên mô hình Kim cương của M.Porter để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dưới tiêu đề môi trường kinh doanh của doanh nghiệp” với 56 chỉ tiêu cụ thể (các chỉ tiêu này được lượng hóa để xếp hạng cho các quốc gia) thuộc 4 nhóm yếu tố như sau:
Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng vật
chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài chính
Trang 35Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật về
tiêu dùng, về công nghệ thông tin…
Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng các
nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết và phụ kiện máy móc
Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm
hai phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh của các nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền)
Theo logic truyền thống, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được chia thành các nhóm sau đây: thị trường, thể chế - chính sách, kết cấu hạ tầng, các ngành hỗ trợ…
3.2.1 Thị trường
Thị trường là môi trường kinh doanh rất quan trọng đối với doanh nghiệp Thị trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm đầu vào thông qua hoạt động mua – bán hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trường còn đồng thời là công cụ định hướng, hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp, thông qua mức cầu, giá cả, lợi nhuận… để định hướng chiến lược, kế hoạch kinh doanh Như vậy, sự
ổn định của thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Để phát huy vai trò của các yếu tố thị trường đối với doanh nghiệp, cần có sự can thiệp của nhà nước vào thị trường nhằm ổn định thị trường (hạn chế những biến động lớn của thị trường), thông qua việc xây dựng và thực hiện tốt, nghiêm pháp luật thương mại, tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực và hiệu quả, chống gian lận thương mại, hạn chế độc quyền kinh doanh,…
Điều quan trọng là tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực, tăng sức
ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng thành tựu khoa học –
Trang 36công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm,… tạo động lực cho doanh nghiệp để vươn lên
Trong điều kiện thị trường lành mạnh và ổn định thì doanh nghiệp mới có điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Ngoài ra, cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, tạo ra nhiều nhà cung cấp cũng như nhiều đối tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp
3.2.2 Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngành nghề, địa bàn… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là các biện pháp điều tiết cả đầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp Do vậy, đây là nhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng
Các thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp có thể được đánh giá theo từng chính sách hoặc bằng chỉ tiêu tổng hợp với nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, để đánh giá việc thực hiện thể chế, chính sách đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam, Quỹ Châu Á và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá môi trường kinh doanh với 9 chỉ tiêu thành phần: về đăng ký kinh doanh, chính sách đất đai, tình hình thanh tra – kiểm tra, chính sách phát triển, tính minh bạch, chi phí giao dịch, năng động của chính quyền
Trang 373.2.3 Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất – kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục – đào tạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã sử dụng tới tiêu chí phản ánh kết cấu hạ tầng trong tổng số 56 tiêu chí đánh giá về môi trường kinh doanh được sử dụng để tính năng lực cạnh tranh quốc gia
Để bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lực cạnh tranh, cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt Điều đó đòi hỏi có sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
3.2.4 Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ
Hoạt động sản xuất kinh doanh với mỗi doanh nghiệp sẽ liên quan tới một chuỗi các ngành khác và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như: những ngành cung cấp nguyên liệu đầu vào, dịch vụ vận tải, cung cấp điện, cung cấp nước… Nếu sử dụng các dịch vụ với chi phí thấp, chất lượng phục vụ tốt sẽ tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh, bởi vì mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ có cơ hội
để thực hiện mức độ chuyên môn hóa cao hơn làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Vì vậy, doanh nghiệp rất cần duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài với các ngành có liên quan nhằm tạo ra lợi thế tiềm tàng cho cạnh tranh
Trong nền sản xuất hiện đại, cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì sự liên kết, hợp tác cũng phát triển mạnh mẽ Thực tế chỉ ra rằng, khi trình độ sản xuất càng hiện đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn
3.2.5 Trình độ nguồn nhân lực
Trình độ nguồn nhân lực quốc gia nói chung có vai trò rất quan trọng đối với
sự phát triển doanh nghiệp Trong nền sản xuất hiện đại, đặc biệt là trong xu hướng chuyển sang nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia hay của một vùng lãnh thổ là yếu tố được quan tâm nhất khi các doanh nghiệp lựa
Trang 38chọn đầu tư Trình độ và các điều kiện về nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng của nguồn nhân lực, mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe và an toàn, đầu tư cho đào tạo, vai trò của công đoàn Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần chú trọng giáo dục và đào tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ
sở đào tạo, các hoạt động đào tạo phát triển thông qua cơ chế, chính sách và các biện pháp khác của Nhà nước
Trang 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX HIỆN TẠI CỦA CÔNG TY YẾN SÀO KHÁNH HÒA ĐỐI VỚI SẢN PHẨM SỮA CHUA SANEST SPIRULINA
I Giới thiệu khái quát về công ty YẾN SÀO KHÁNH HÒA
ty sản xuất kinh doanh chuyên ngành yến các loại (các sản phẩm liên quan đến yến)
Tên thương mại : Công ty YẾN SÀO KHÁNH HÒA
Tên công ty bằng tiếng Anh: KHANH HOA SALANGANES
Giấy phép kinh doanh số : 103819 ngày 29/01/1993
Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc : Ông LÊ HỮU HOÀNG
- Quá trình phát triển :
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc mở rộng ngành nghề kinh doanh và đa dạng hóa sản phẩm, trong những năm qua, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã không ngừng phát triển và mở rộng các loại hình sản xuất kinh doanh
Trang 40Năm 2001, Công ty TNHH nhà nước một thành viên Yến sào Khánh Hòa
đã đầu tư xây dựng Xí nghiệp chế biến hạt điều xuất khẩu công suất 2.000 tấn nguyên liệu/năm, thu hút trên 700 lao động tại địa phương và đạt doanh thu bình quân hơn 20 ty đồng/năm Cuối năm 2001, Công ty TNHH nhà nước một thành viên Yến sào Khánh Hòa đã tiếp nhận Trại dừa Cam Thịnh, thực hiện quản lý và khai thác 237 ha dừa với sản lượng bình quân 450.000 quả/năm Đầu năm 2003 tiến hành xây dựng Xưởng chế biến xơ dừa và hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa
Chào mừng tháng Du lịch Khánh Hòa và chuẩn bị cho năm Du lịch Khánh Hòa-08/2003, được sự cho phép của UBND Tỉnh Khánh Hòa, Công ty Yến Sào đã khai trương khu du lịch Hòn Nội đầu tư bằng vốn tự có của công ty và hợp tác kinh doanh cùng Ban Quản lý khu bảo tồn biến Hòn Mun thành lập du lịch Hòn Mun phục vụ nhu cầu ngày càng cao của du khách trong và quốc tế
Thực hiện theo chỉ đạo của UBND Tỉnh Khánh Hòa, đầu năm 2004, công
ty Yến sào Khánh Hòa đã thành lập Ban quản lý Dự án thực nghiệm Nuôi chim yến trong nhà với trách nhiệm quản lý, triển khai Dự án thực nghiệm này Cũng dựa vào các nghiên cứu sinh học sinh sản chim yến của Việt Nam và các thử nghiệm nuôi chim yến hang động tại các đảo mà công ty đã triển khai hơn mười năm qua, Trung tâm kỹ thuật Công nghệ Nuôi Chim Yến SANATECH trực thuộc Công ty Yến sào Khánh Hòa được hình thành Trung tâm với chức năng chính là : thực hiện khảo sát, chuyển giao bí quyết, kỹ thuật, công nghệ ấp nuôi nhân tạo chim yến cho các cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị nuôi chim yến trong nhà Giải pháp tăng đàn nhân rộng nhà yến, hang yến trong và ngoài nước Giải pháp kỹ thuật công nghệ xây dựng nhà yến, làng Yến sào Việt Nam Liên kết đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật phát triển nhà yến Thực hiện các dự án và đề án nghiên cứu khoa học về chim yến Hiện nay, trung tâm Sanatech cũng đã chuyển giao kỹ thuật công nghệ nuôi chim yến để lấy tổ ở các tỉnh trong cả nước như Đà Năng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Dương, Bình Thuận, Ninh Thuận, Gò Công, Tiền Giang, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Côn Đảo, Bạc Liêu, Kiêng Giang,… Và một số ngôi nhà yến đã bắt đầu thu hoạch tổ