Nghề lưới vây được ngư dân sử dụng rất phổ biến,tuy thế thiết bị khai thác của nghề chủ yếu được sản xuất và lắp ráp theo kinh nghiệm của ngư dân, do vậy trong quá trình khai thác có thể
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHÍ HẬU CỦA TỈNH NINH THUẬN 3
1.1.1 Vị trí địa lí 3
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, khí hậu của tỉnh Ninh Thuận 3
1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA CỦA NINH THUẬN 4
1.2.1 Về kinh tế 4
1.2.1.1 Về thủy sản 4
1.2.1.2 Về công – nông nghiệp, lâm nghiệp… 6
1.2.1.3 Tiềm năng phát triển du lịch 7
1.2.2 Về chính trị, văn hóa 8
1.3 TÌNH HÌNH KHAI THÁC NGHỀ LƯỚI VÂY CỦA NINH THUẬN 8
1.4 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TRANG THIẾT BỊ KHAI THÁC 13
1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 14
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ NHIỆM VỤ THƯ 15
2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG 15
2.1.1 Khái niệm về lưới vây 15
2.1.2 Phân loại nghề lưới vây 16
2.1.2.1 Phân chia theo phương pháp khai thác 16
Trang 22.1.2.2 Phân chia theo đối tượng khai thác 16
2.1.2.3 Phân chia theo số lượng tàu 16
2.1.3 Cấu tạo lưới vây 17
2.1.3.1 Lưới vây 17
2.1.3.2 Phụ tùng cho lưới vây 17
2.1.4 Kỹ thuật khai thác nghề lưới vây(Nguyên lí đánh bắt) 18
2.1.4.1 Thả lưới (bủa lưới) 18
2.1.4.2 Thu lưới 19
2.1.5 Trang thiết bị khai thác nghề lưới vây 19
2.1.5.1.Máy tời lưới vây(cảo) 19
2.1.5.2.Máy thu lưới vây 21
2.1.5.3 Trụ cảo 22
2.1.5.4 Con lăn 22
2.1.6 Hệ thống trang bị vô tuyến điện 23
2.1.6.1 Máy thu phát vô tuyến điện từ 100 W trở lên 23
2.1.6.2 Máy thu phát VTĐ từ 50 W trở lên 24
2.1.6.3 Ra đi ô nghe thông báo thời tiết 25
2.1.7 Trang bị hàng hải 25
2.1.7.1 Máy đo sâu dò cá 26
2.7.1.2 Máy thu định vị vệ tinh GPS 27
2.7.1.3 Đồng hồ thời gian 28
2.1.8 Phương tiện tín hiệu 28
2.1.9 Trang thiết bị cứu sinh 30
2.1.10 Hệ thống neo 32
2.1.11 Thiết bị lai dắt và thiết bị cập tàu 34
2.2 NHIỆM VỤ THƯ 36
CHƯƠNG III: THIẾT KẾ HỆ THỐNG THIẾT BỊ KHAI THÁC 37
Trang 33.1 THIẾT KẾ MÁY TỜI DÂY RÚT 37
3.1.1 Các phương án truyền động cho cơ cấu chấp hành tang ma sát đơn 37
3.1.2 Lựa chọn sơ đồ thiết kế 40
3.1.3 Xác định lực kéo định mức trên máy tời lưới vây 41
3.1.4 Tính chọn cáp 41
3.1.5 Chọn cơ cấu chấp hành 42
3.1.6 Xác định công suất yêu cầu 43
3.1.7 Chọn động cơ thủy lực 43
3.1.8 Chọn bơm thủy lực 44
3.1.9 Phân phối tỉ số truyền 44
3.1.10 Thiết kế bộ truyền bánh răng 45
3.1.11 Thiết kế trục tải máy tời 51
3.1.12 Tính chọn ổ đỡ cho trục tang ma sát đơn 56
3.1.13 Chọn then 56
3.2 THIẾT KẾ MÁY THU LƯỚI VÂY 58
3.2.1 Xác định vận tốc máy thu lưới vây 58
3.2.2 Xác định tải trọng tác dụng lên máy thu lưới vây 58
3.2.3 Thiết kế cơ cấu chấp hành máy thu lưới vây 62
3.2.4 Tính chọn tang 64
3.2.5 Xác định công suất yêu cầu của tang 66
3.2.6 Chọn động cơ thuỷ lực 66
3.2.7 Chọn bơm thuỷ lực 67
3.2.8 Phân phối tỉ số truyền 67
3.2.9 Thiết kế bộ truyền bánh răng 68
3.2.10 Thiết kế trục tải máy thu lưới 73
3.2.11 Tính chọn ổ đỡ cho trục tải tang thu lưới 77
Trang 43.2.12.Thiết kế cần cẩu 77
3.2.13 Tính chọn thiết bị phụ cho hệ thống thủy lực 81
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
4.1 KẾT LUẬN 85
4.2 KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 11
Bảng 2.1 Trang bị hệ thống vô tuyến điện trên tàu 23
Bảng 2.2 Trạng bị VTĐ theo quy phạm 25
Bảng 2.3 Trang thiết bị hàng hải trên tàu 26
Bảng 2.4 Trang thiết bị hàng hải theo quy phạm 28
Bảng 2.5 Phương tiện tín hiệu theo quy phạm 29
Bảng 2.6 Trang bị cứu sinh cho đội tàu khảo sát 31
Bảng 2.7 Trang thiết bị cứu sinh theo quy phạm 31
Bảng 2.8 Trang bị neo trên tàu 33
Bảng 2.9 Trang bị neo theo quy phạm 34
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hình ảnh tổng quan về lưới vây 16
Hinh 2.2 Hình ảnh lưới vây rút mùng 18
Hình 2.3 Hình ảnh máy tời dây rút 21
Hình 2.4 Máy thu lưới vây 21
Hình 2.5 Trụ cảo 22
Hình 2.6 Con lăn 22
Hình 2.7 Bộ đàm tầm xa 24
Hình 2.8 Bộ đàm tầm gần 24
Hình 2.9 Máy đo sâu, dò cá 27
Hình 2.10 Máy định vị vệ tinh GPS 27
Hình 2.11 Đèn mạn trái 29
Hình 2.12 Đèn mạn phải 29
Hình 2.13 Đèn cột trước mũi 30
Hình 2.14 Đèn trên cabin 30
Hình 2.15 áo phao cứu sinh 30
Hình 2.16 Dụng cụ nổi 30
Hình 2.17 Neo hải quân 33
Hình 2.18 Cọc bích mũi tàu 35
Hình 2.19 Thiết bị cập tàu 35
Hình 3.1 Sơ đồ truyền động điện 37
Hình 3.2 Sơ đồ truyền động thủy lực 38
Hình 3.3 Sơ đồ truyền động cơ khí 39
Hình 3.4 Tang ma sát đơn 42
Hình 3.5.Các kích thước chủ yếu của trục 52
Hình 3.6 Ổ trượt 56
Trang 7Hình 3.7 Then ghép tang 58
Hình 3.8 Sơ đồ tính toán 59
Hình 3.9 Kích thước chủ yếu của tang 65
Hình 3.10 Sơ đồ lực tác dụng 74
Hình 3.11 Ổ lăn 77
Hình 3.12 Sơ đồ tính toán 78
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là nước có diện tích biển khoảng một triệu km2, tiềm năng về biển là rất lớn, kinh tế biển có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, trong đó nghề khai thác và đánh bắt thuỷ sản diễn ra khắp ven biển Việt Nam Nghề lưới vây được ngư dân sử dụng rất phổ biến,tuy thế thiết bị khai thác của nghề chủ yếu được sản xuất và lắp ráp theo kinh nghiệm của ngư dân, do vậy trong quá trình khai thác có thể mang lại hiệu quả không cao Trong quá trình học tập tại trường em đã được các thầy trong khoa cung cấp, chia sẻ cho chúng em những kiến thức vô cùng quý báu, và để học tập được đi sát với
thực tế nhà trường đã giao cho em đề tài : “ Phân tích thực trạng và thiết kế
hệ thống thiết bị khai thác phù hợp với tàu đánh cá lưới vây theo mẫu truyền thống của tỉnh Ninh Thuận ”
Nội dung đề tài gồm 4 phần sau:
Chương I : Đặt vấn đề
Chương II : Phân tích thực trạng và nhiệm vụ thư
Chương III : Thiết kế hệ thống thiết bị khai thác
Chương IV : Kết luận – Kiến nghị
Được sự hướng dẫn của thầy Th.s Huỳnh Văn Nhu, các thầy trong khoa
Kỹ Thuật Tàu Thuỷ và sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè em đã hoàn thành đề tài này Do trình độ còn hạn chế nên khó có thể tránh khỏi các thiếu sót trong đề tài này, nên em mong thầy xem xét để đề tài này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy Th.s Huỳnh Văn Nhu cùng các thầy trong khoa Kỹ Thuật Tàu Thủy đã ân cần chỉ bảo, em xin cảm ơn các anh, chú trong chi cục khai thác và bảo về nguồn lợi thủy sản Ninh Thuân, trạm kiểm ngư Cà Ná đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành đề tài này
Trang 9Em xin chúc toàn thể các thầy, anh, chú và gia đình sức khỏe, hạnh phúc thành công!
Nha Trang, ngày 05 tháng 07 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Duẩn
Trang 10CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHÍ HẬU CỦA TỈNH NINH THUẬN
1.1.1 Vị trí địa lí:
- Ninh Thuận là tỉnh có diện tích khoảng 3360,1km2[10], phía bắc giáp Khánh Hòa, phía nam giáp Bình Thuận, phía tây giáp Lâm Đồng và phía đông giáp với biển đông, nằm trong giới hạn 11018’14” đến 120 09015’ vĩ độ bắc và
108009’08”- 109014’28” kinh độ đông [10] Ninh Thuận có bờ biển dài 105km rất thuận lợi cho khai thác, sản xuất và chế biển thủy hải sản Ninh Thuận có 1 thành phố (Phan Rang- Tháp Chàm) và 6 huyện (Bác Ái, Ninh Hải, Ninh Phước, Ninh Sơn, Thuận Bắc và Thuận Nam) Ninh Thuận có 64 đơn vị hành chính cấp xã gồm 46 xã, 15 phường và 3 thị trấn
- Ninh Thuận được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển Phía tây là vùng núi cao giáp Đà Lạt, phía bắc và phía nam có hai dãy núi chạy ra biển Ở phía Tây Nam có một hệ thống núi thuộc dãy Nam Trường Sơn đâm ra sát biển, đoạn cuối của Ninh Thuận, nơi giáp ranh với Bình Thuận thuộc địa phận
Cà Ná, đường QL1A năm sát biển và núi giữa tỉnh và ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền viễn tây của Việt Nam Vùng núi cao chiếm 63,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng gò đồi chiếm 15,4%
và đồng bằng là 22,4%[10]
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, khí hậu của tỉnh Ninh Thuận
- Việt Nam là một vùng đất có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mà đặt điểm nổi bật nhất của kiểu khí hậu này là nóng ẩm và mưa nhiều Nhưng không phải trên khắp cả Việt Nam thì vùng nào cũng vậy, điểu đó thể hiện rõ tại Ninh Thuận, một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, Ninh Thuận nằm
Trang 11trong khu vực có vùng khô hạn nhất nước, khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều và bốc hơi mạnh, không có mùa đông ít mưa, nhiều nắng, độ ẩm thấp Nhiệt độ trung bình năm 27ºC, lượng mưa trung bình 705mm và tăng dần theo độ cao lên đến 1.100mm ở vùng miền núi Một năm ở đây có 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng
12 đến tháng 4 năm sau Ninh Thuận có khoảng 105km đường bờ biển và có khí hậu chịu chi phối khá nhiều từ biển Ngoài khơi biển Đông thuộc khu vực Ninh Thuận có hai dòng hải lưu đối ngược nhau di chuyển gần bờ qua vùng biển này Trong đó có một dòng nóng di chuyển từ Phía Nam và một dòng lạnh từ phía Bắc xuống Vị trí của hai dòng này đã quyết định khá lớn đến chi phối mưa từ biển vào Ninh Thuận Dòng biển lạnh di chuyển gần bờ, trong khi đó dòng biển nóng di chuyển ở ngoài, làm cản trở quá trình tạo mưa cho khu vực đất liền
1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA CỦA NINH THUẬN 1.2.1 Về kinh tế
Ninh Thuận bao gồm nhiều thành phần kinh tế: như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, du lịch, thủy sản…
cư sống ở các vùng nông thôn ven biển và hải đảo Nguồn lợi thủy sản nước
ta vào loại phong phú trong khu vực Ngoài cá biển là nguồn lợi chính, còn có
Trang 12nhiều loại đặc sản có giá trị kinh tế cao Số liệu thống kê cho thấy, trong vùng biển Việt Nam có khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau Đến nay
đã xác định được 15 bãi cá lớn quan trọng, ngoài ra, còn có các bãi tôm quan trọng ở vùng biển gần bờ thuộc vinh Bắc Bộ và biển Tây Nam Bộ Ven biển
có trên 37 vạn ha mặt nước lợ, thích hợp để nuôi các loại thủy sản xuất khẩu như: cá, tôm, cua, rong câu ,
Các hệ sinh thái biển - ven biển nước ta có ý nghĩa và vị trí cao Tiềm năng nguồn lợi cá biển ước tính khoảng 3,1 - 4,2 triệu tấn, sản lượng khai thác bền vững khoảng 1,4 - 1,7 triệu tấn Ngoài ra, trữ lượng nguồn lợi cá rạn san
hô, vùng dốc thềm lục địa, vùng biển sâu > 150m
- Ninh Thuận có vùng lãnh hải rộng khoảng 18,5 nghìn km², là một trong những ngư trường quan trọng của Việt Nam với 500 loài hải sản, cho phép khai thác mỗi năm 5- 6 vạn tấn Tập trung khai thác thế mạnh về sản xuất giống và phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng phát triển theo hướng bền vững, đa dạng đối tượng nuôi, mở rộng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở vùng quy hoạch nuôi tôm công nghiệp An Hải, Sơn Hải, Nâng cao hiệu quả nghề khai thác xa bờ, có chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi thuyền nghề, đầu tư thiết bị khai thác hiện đại, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm; phấn đấu đạt sản lưọng 53.000 tấn, đáp úng tốt nhất nhu cầu nguyên liệu cho chế biến, với bờ biển dài 105 km nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng và khai thác thủy hải sản Phát huy những tiềm năng, lợi thế này tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các cảng cá và hình thành các trung tâm nghề cá nên tàu đã thu hút được nhiều tàu thuyền trong và ngoài tỉnh để trao đổi mua bán thủy hải sản, cung ứng các dịch vụ hậu cần phục vụ đánh bắt hải sản
Trang 131.2.1.2 Về công – nông nghiệp, lâm nghiệp…
- Sản xuất công nghiệp: Phát triển trọng tâm là năng lượng và công nghiệp chế biến, là những nhóm ngành động lực tạo tăng trưởng cao cho ngành công nghiệp và thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn; chú trọng
mở rộng qui mô sản xuất các cơ sở chế biến hiện có; đi đôi với phát huy cao nhất năng lực sản xuất mới như chế biến muối cao cấp, Ninh Thuận là địa phương sản xuất muối lớn nhất cả nước với sản lượng 130 nghìn tấn/năm với các nhà máy sản xuất muối lớn như: Cà Ná, Phương Cựu,sản xuất xi măng, điện, chế biến thủy sản xuất khẩu, đồng thời đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự
án qui mô lớn tạo tăng trưởng cho giai đoạn tới, như một số dự án điện gió, điện mặt trời tăng cường công tác khuyến công, đào tạo lực lượng công nhân
kỹ thuật có tay nghề, làm tốt công tác dự báo và thông tin thị trường, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và quãng bá sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm các làng nghề, đổi mới thiết bị công nghệ thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng
- Nông - lâm nghiệp: Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch, ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, nâng giá trị sản xuất trên ha đất canh tác Kịp thời các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tập trung rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới, ưu tiên nguồn lực khắc phục cơ sở hạ tầng nông thôn bị hư hỏng do lũ lụt để khôi phục nhanh sản xuất, tiếp tục đầu tư cơ
sở hạ tầng thiết yếu về giao thông nông thôn, thuỷ lợi nhỏ, cấp nước sinh hoạt Chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất nội bộ ngành Tập trung triển khai các chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chuyển giao các loại giống mới có năng suất cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện từng vùng, chú trọng các loại cây trồng sử dụng ít nước; mở rộng
Trang 14qui mô sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày bảo đảm tốt nhất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; đồng thời có giải pháp và lộ trình cụ thể để phục hồi và phát triển cây nho gắn với chế biến rượu và sản phẩm từ nho
Phát triển ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, chiếm tỷ trọng từ 36- 37% GDP toàn ngành nông nghiệp theo hướng đầu tư thâm canh, bán công nghiệp, kết hợp chăn nuôi trang trại và hộ gia đình gắn với quy hoạch đồng cỏ, thực hiện tốt các khâu giống, thức ăn, phòng chống dịch bệnh,
ổn định qui mô tổng đàn và tập trung nâng cao chất lượng đàn gia súc, triển khai đề án xây dựng lò giết mổ tập trung theo quy hoạch để bảo đảm an toàn
vệ sinh thực phẩm, cung cấp thực phẩm sạch, an toàn cho siêu thị của tỉnh và thị trường cả nước
Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương phát triển kinh tế rừng, tập trung triển khai đề án phát triển cây cao su giai đoạn 2011- 2015 định hướng đến năm
2020, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất rừng; tăng cường công tác bảo vệ, phòng chống phá rừng, khoanh nuôi tái sinh, phấn đầu trồng 1.000 ha rừng tập trung, nâng cao chất lượng độ che phủ rừng Các công trình đê, kè và triển khai đề án sắp xếp dân cư để sớm ổn định cuộc sống và phòng tránh giảm nhẹ thiên tai vùng ven biển
1.2.1.3 Tiềm năng phát triển du lịch
- Ninh Thuận là một bức tranh hài hoà giữa đồng bằng, đồi núi và biển cả Nằm trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt - Nha Trang - Phan Rang, Ninh Thuận có vườn quốc gia Núi Chúa và nhiều thắng cảnh đẹp như: bãi biển Ninh Chữ, bãi biển Cà Ná, thủy điện Đa Nhim và di tích lịch sử quí giá là các tháp Chàm: Pôklông Garai, Pôrômê, Hoà Lai, hầu như còn nguyên vẹn Đến thăm nơi đây du khách có thể tham gia nhiều loại hình du lịch: tắm biển, nghỉ dưỡng, du thuyền, leo núi, săn bắn, tham quan các di tích lịch sử, hoặc tham
dự các lễ hội của người Chăm Phát triển du lịch gắn với khai thác lợi thế từ
Trang 15tuyến đường ven biển để phát huy lợi thế về du lịch biển, nhất là các dự án có quy mô lớn, có đẳng cấp, có sức cạnh tranh cao, gắn với du lịch văn hoá, các làng nghề truyền thống; đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ làm công tác du lịch chuyên nghiệp để nâng cao chất lượng dịch vụ
1.2.2 Về chính trị, văn hóa
- Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ
và là tỉnh có đông người Chăm sinh sống Ninh Thuận còn là nơi gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hoá Chămpa, bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Nghệ thuật dân ca và múa Chăm đã trở thành di sản quí giá của nền văn hóa Việt Nam Phong tục tập quán theo chế độ mẫu hệ của người Chăm vẫn được đồng bào địa phương gìn giữ và lưu truyền đến ngày nay, người Chăm vẫn giữ các nghi lễ như: lễ khai mương, đắp đê, lễ chặn đầu nguồn sông, lễ mừng lúa non, lễ xuống gặt, lễ mừng cơm mới Đặc biệt một bộ phận người Chăm vẫn sống bằng nghề đánh cá, mà tục thờ cá voi ở tất cả các tỉnh ven biển ngày nay, chính là bắt nguồn từ tín ngưỡng của người Chăm Ninh Thuận có gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chàm xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hoà Lai, cụm tháp Poklong Garai, và cụm tháp Pôrômê.[10]
1.3 TÌNH HÌNH KHAI THÁC NGHỀ LƯỚI VÂY CỦA NINH THUẬN
- Trong bối cảnh thế giới tiến mạnh ra biển ở thế kỷ 21 với các chiến lược biển của những quốc gia đầy tham vọng thì quy mô phát triển kinh tế biển nước ta như hiện nay hoàn toàn chưa tương xứng với tiềm năng và những giá trị mà biển sẽ đem lại cho dân tộc Cho nên, muốn tiến ra biển phải chấp nhận đầu tư lớn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phải duy trì được tỉnh bền vững về mặt tài nguyên - môi trường
Trang 16- Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47- 48% GDP cả nước Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, thủy sản, hàng hải (bao gồm dịch vụ vận tải và dịch
vụ cảng biển), du lịch biển Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy sản, thông tin liên lạc, bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ
bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước) So với các nước , năng lực khai thác biển của Việt Nam chỉ bằng 1/7 của Hàn Quốc, 1/20 của Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/260 của thế giới.[9]
- Gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách
di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo Tuy vậy, quy mô kinh
tế biển Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước đạt 1 300 tỷ USD, Nhật Bản 468 tỷ USD, Hàn Quốc 33
tỷ USD[9] Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu
và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Các chỉ tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực
- Đến nay Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một
hệ thống kinh tế biển liên hoàn, các sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ,
bé Các thành phố, thị trấn, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển đang trong thời kỳ xây dựng Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển , các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn còn nhỏ bé, trang bị thô sơ
- Đối với lĩnh vực kinh tế biển liên quan trực tiếp đến biển như, chế biến thủy sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các
Trang 17dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tim kiếm cứu nạn hàng hải ) hiện mới bắt đầu được xây dựng và hình thành, quy mô còn nhỏ bé Các nhà chiến lược cho rằng, biển là di sản của nhân loại, là nơi dự trữ cuối cùng của loài người nói chung và của dân tộc ta nói riêng về lương thực, thực phẩm và nguyên, nhiên liệu Vì vậy, phải cân nhắc đến tính bền vững trong phát triển các kế hoạch và chính sách biển mà nguyên tắc chính là phát triển một nền kinh tế sinh thái biển Khai thác biển đảo đã đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội bước đầu quan trọng, nhưng việc sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững Trình độ khai thác biển của nước ta đang ở tình trạng lạc hậu trong khu vực Việt Nam tuy là một quốc gia biển, song đến nay chúng ta vẫn chưa thực sự dựa vào biển để phát huy đúng tiềm năng và thế mạnh
- Thủy sản là một ngành kinh tế biển quan trọng của cả nước nói chung
và của Ninh Thuận nói riêng, khai thác thủy sản đã gắn bó với cuộc sống của hàng triệu ngư dân Do đó việc đầu tư phát triển đội ngũ tàu thuyền khai thác
xa bờ là cần thiết, vừa bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo đảm vùng biển Việt Nam đồng thời nâng cao đời sống của bà con ngư dân
- Trong 5 năm từ 2006- 2010 Ninh Thuận mặc dù gặp nhiều khó khăn
về thời tiết, thiên nhiên bão lụt, tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới đã dẫn đến giá cả nhiên liệu tăng cao, giá cả sản phẩm không ổn định Tuy nhiên dưới sự chỉ đạo sát sao của sở, sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân hoạt động trên lĩnh vực khai thác thủy sản nên trong những năm qua công tác khai thác và bảo vệ nguồn lợi cũng đã đạt được một số kết quả nhất định Sản lượng khai thác hàng năm đều tăng, tuy với tốc độ không cao nhưng vẫn vượt kế hoạch đề ra Công tác đăng ký đăng kiểm ngày càng được hoàn thiện, tỷ lệ tàu thuyền đưa vào đăng ký, tỷ lệ kiểm tra an toàn kỹ thuật tàu cá ngày càng cao, đạt kế hoạch đề ra Công tác tái tạo nguồn lợi, thả giống
ra tự nhiên các năm đều được chú trọng, ngày càng đa dạng hóa các đối tượng
Trang 18thả ra tự nhiên đã góp phần giảm bớt sự suy giảm của nguồn lợi thủy sản gần
bờ Tuy nhiên ngoài kết quả đạt được, vẫn còn những tồn tại trong thời gian đến phải tập trung giải quyết Đó là chất lượng công tác kiểm tra an toàn kỹ thuật tàu cá chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc bảo đảm an toàn cho người và phương tiện khi hoạt động trên biển nhất là trong mùa mưa bão Tình trạng sử dụng chất nổ, xung điện, hóa chất độc để khai thác thủy sản còn xảy ra ở nhiều nơi Tàu cá xa bờ tuy có phát triển nhưng chưa đạt yêu cầu, số lượng tàu cá dưới 20 CV còn nhiều dẫn đến khai thác gần bờ quá tải làm cho nguồn lợi thủy sản gần bờ càng cạn kiệt
- Từng bước nâng cao số lượng và chất lượng tàu thuyền tham gia khai thác thủy sản một cách hợp pháp, đúng quy định Nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản một cách bền vững, kết hợp với công tác bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng vùng biển, góp phần nâng cao đời sống nhân dân vùng biển Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Ninh Thuận đã đề ra kế hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 5 năm 2011- 2015 như sau:
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản:
Kế hoạch Chỉ số đánh
Trang 20ở Ninh Thuận chủ yếu tập trung ở cảng Cà Ná và cảng Ninh Chữ
- Nghề lưới vây khai thác quanh năm, nhưng tập trung mạnh vào từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, chủ yếu đánh các loại cá cơm, cá nục…
- Đội tàu khai thác ở Ninh Thuận hầu hết dưới 20 m, thiết bị khai thác được sản xuất ở các cơ sở sản xuất địa phương Số người tham gia trên một tàu thường từ 10 - 15 người, số ngày hoặt động trên biển tùy theo từng chuyến, nếu đầy cá thì sẽ vào bờ sớm còn không thì khoảng 1 tuần đến 10 ngày sẽ về lại bờ
- Sản lượng khai thác nghề vây chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu sang Trung Quốc, các nhà máy thức ăn gia súc, cơ sở nuôi trồng thủy sản và làm nguyên liệu cho các nhà máy, xí nghiệp chế biến nước mắn của địa phương
1.4 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TRANG THIẾT BỊ KHAI THÁC
- Có thể nói nghề khai thác đánh bắt cá bằng lưới vây có vị trí hết sức quan trọng cả hiện tại và tương lai đối với ngành công nghiệp thủy sản ở nước
Trang 21ta Chính vì thế, việc đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ vào khai thác là cần thiết
- Hiện nay ở nước ta cũng như các nước trên thế giới đang phải đối mặt với sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, trong đó tài nguyên biển không tránh khỏi sự cạn kiệt đó Tiềm năng thủy hải sản gần bờ hầu như còn rất ít vì vậy thay thế vào đó là khai thác thủy hải sản xa bờ, do đó đòi hỏi cần thiết trang bị các máy móc, thiết bị trên tàu nhằm đẩy mạnh quá trình khai thác rút ngắn thời gian hoặt động trên biển Những thiết bị thô sơ đã được hủy bỏ bởi các tính năng hạn chế, thay vào đó là các trang thiết bị hiện đại hơn, hiệu quả sản xuất được nâng cao Vì vậy việc cơ giới hóa nghề cá cho quá trình đánh bắt
có vai trò rất lớn cho ngư dân
1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
- Điều tra lại tình hình cụ thể của nghề khai thác lưới vây, trang thiết bị
an toàn… để đưa ra những thông tin chính xác, sát thực cho cơ quan chức năng địa phương đánh giá lại thực trạng ngành nghề khai thác thủy hải sản ở địa phương mình và từ đó đưa ra những khuyến cáo cần thiết, phù hợp để đảm bảo an toàn cho ngư dân trên biển, có những chính sách, chiến lược để phát triển kinh tế biển phù hợp với thời đại
- Thiết kế lại hệ thống thiết bị khai thác phù hợp với thực tiễn, thiết bị khai thác đơn giản, thao tác dễ dàng để phục vụ tốt cho ngư dân trong quá trình khai thác
Trang 22CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ NHIỆM VỤ THƯ
2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
- Theo điều tra khảo sát, Ninh Thuận đóng tàu có chiều dài dưới 20(m),
được tính toán kiểm tra theo “ quy phạm phân cấp và đóng tàu cá biển cỡ
nhỏ” TCVN 7111:2002
Vùng biển ngư dân khai thác là trong khoảng 10- 150 hải lý
2.1.1 Khái niệm về lưới vây
- Lưới vây là một trong những loại ngư cụ đánh bắt có năng suất cao và được sử dụng rộng rãi ở các nước có nghề cá trên thế giới Sự hình thành nghề lưới vây được bắt nguồn từ những yêu cầu đánh bắt các đàn cá nổi ở những vùng nước khác nhau, mà ở đấy các loại ngư cụ khác không thể thực hiện được hoặc thực hiện với hiệu quả thấp
- Lưới vây (hay còn gọi là lưới bao, lưới rút, lưới rút chì) là một giải lưới có dạng gần giống hình chữ nhật, thường được sử dụng để bao vây đàn
cá nổi đang di chuyển hoặc tập trung
- Lưới vây khác lưới lưới kéo, lưới rê ở chỗ ngư cụ này chỉ chuyên khai thác các loài cá , tôm đi thành đàn lớn với kích thước cá tương đối đồng đều
và thuần loài Do vậy sản phẩm lưới vây mang lại rất thuận lợi cho công nghiệp chế biến cá
Trang 23Hình 2.1 Hình ảnh tổng quan về lưới vây.
2.1.2 Phân loại nghề lưới vây
Nghề lưới vây thông dụng được phân loại như sau:
2.1.2.1 Phân chia theo phương pháp khai thác
- Lưới vây tự do
- Lưới vây kết hợp ánh sáng
2.1.2.2 Phân chia theo đối tượng khai thác
- Lưới vây cá ngừ, nục : Loại lưới này có đường kính sợi và mắt lưới lớn, tùy theo từng tàu mà ngư dân dùng loại lưới nào
- Lưới vây cá cơm: Loại lưới này có mắt lưới nhỏ hơn nhiều so với lưới vây cá ngừ, nục, cấu tạo giống nhau nhưng chỉ khác là áo lưới là những tấm lưới giống nhau
2.1.2.3 Phân chia theo số lượng tàu
- Lưới vây 1 tàu
- Lưới vây 2 tàu
Ở Ninh Thuận hiện nay ngư dân dùng hai phương pháp đánh bắt chính là :
Trang 24- Lưới vây tự do: người ta có thể dò tìm đàn cá bằng mắt thường hoặc
sử dụng thiết bị dò tìm đàn cá sau đó vây bẳt đàn cá
- Lưới vây kết hợp ánh sáng: sử dụng ánh sáng để tập trung cá, rồi tiến hành thả lưới đánh bắt đàn cá
- Lưới vây cá cơm và lưới vây cá nục, ngừ
2.1.3 Cấu tạo lưới vây
2.1.3.2 Phụ tùng cho lưới vây
a Dây cáp rút chính: Dây cáp rút chính trong lưới vây là dây quan trọng nhất, nó quyết định hiệu quả đánh bắt của lưới vây rút chì Nhiệm vụ chính của dây cáp rút chính là cuộn rút giúp thu gom các đoạn giềng chì lại với nhau thành một mối (điểm), nhằm không cho cá có thể lặn chui thoát ra ở phía dưới lưới
- Chiều dài dây cáp rút chính ít nhất phải bằng với chiều dài giềng chì cộng với chiều dài dự trữ hai đầu cánh lưới và tùng lưới nhằm giúp cho việc thu rút lưới của máy tời thu cáp rút chính
b Phao: Phao được lắp ráp trên giềng phao nhằm tạo lực đảm bảo để giềng phao luôn nổi trên mặt nước trong quá trình thả và thu lưới
Trang 25c Chì: Chì được lắp ráp vào giềng chì để tăng tốc độ rơi chìm của lưới nhằm ngăn chặn đàn cá trốn thoát
d Vòng khuyên: Vòng khuyên được chế tạo từ nhiều loại vật liệu, được liên kết với giềng chì dùng để cuộn rút giềng chì khi thu lưới bắt cá
Ở Ninh Thuận ngư dân dùng lưới vây rút mùng và vây rút thưa
Hinh 2.2Hình ảnh lưới vây rút mùng
2.1.4 Kỹ thuật khai thác nghề lưới vây(Nguyên lí đánh bắt)
- Lưới vây đánh bắt theo nguyên lí lọc nước lấy cá, toàn bộ quá trình khai thác của lưới vây được tiến hành trên một tàu với các trang bị máy móc chuyên dùng hiệu quả đánh bắt của lưới vây phụ thuộc vào tính năng kỹ thuật
và trang thiết bị trên tàu
- Quá trình khai thác lưới vây bao gồm các bước sau: chuẩn bị, thăm dò
và phát hiện cá, thả lưới, thu lưới và bắt cá
2.1.4.1 Thả lưới (bủa lưới) :
- Khi phát hiện được đàn và hướng di chuyển của chúng thì tiến hành thả lưới bao vây đàn cá
- Quá trình thả lưới được tiến hành qua các bước sau: thả phao tiêu (hoặc đèn nếu trời tối) rồi lần lượt thả lưới, phải thả lưới nhanh chóng để cá khỏi thoát ra ngoài, khi kết thúc bao vây thả lưới thi tiến hành thu lưới
Trang 26Giai đoạn 2:
Thu lưới: Đây là là giai đoạn mất nhiều thời gian và nặng nhọc, giai đoạn này cần có nhiều người làm việc để thu lưới lên tàu Thu lưới ở bên mạn tàu, cho máy thu lưới hoặt động sau đó tiến hành thu lưới và xếp lưới lên tàu, sau đó ta tiến hành thu gom cá
2.1.5 Trang thiết bị khai thác nghề lưới vây
- Trang thiết bị khai thác nghề lưới vây gồm máy tời lưới vây và máy
thu lưới vây
2.1.5.1.Máy tời lưới vây(cảo)
- Là thiết bị cơ giới dùng để thu dây rút chì, đây là thiết bị tối thiểu của mọi tàu đánh cá lưới vây, vì thu dây rút chì là thao tác nặng nhọc, tốn nhiều công sức và có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả đánh bắt cá
- Đặc điểm tàu lưới vây ở Ninh Thuận là có chiều dài dưới 20m, chiều rộng dưới 5m Máy tời lưới vây được đặt ở giữa tàu và nằm trước cabin tàu khoảng 0,4m
Trang 27- Máy tời lưới vây được truyền động từ động cơ chính theo phương pháp truyền động cơ khí Cơ cấu chấp hành là hai tang ma sát đơn được liên kết với trục tải, trục tải bố trí vuông góc với mặt cắt dọc giữa tàu để cân bằng lực khi kéo dây rút, việc thu dây được luồn từ trước mũi tàu thông qua các con lăn và cuốn vào tang ma sát đơn
- Qua điều tra thì 100% ngư dân trang bị đầy đủ máy thu dây rút và máy thu lưới
Trang 28Hình 2.3 Hình ảnh máy tời dây rút
2.1.5.2.Máy thu lưới vây
- Máy thu lưới vây là thiết bị quan trọng, nó giúp ngư dân kéo lưới lên tàu nhưng tốn ít sức lực để kéo lưới lên bờ
- Nguyên lí làm việc của máy thu lưới: khi đưa lưới lên tàu, lưới được
bó lại và dải lưới ôm lấy tang, lúc này sẽ xuất hiện lực mà sát giữa lưới và tang cho lên khi thu lưới thuyền viên chỉ cần tì và kéo nhẹ là thu lưới lên được tàu:
Hình 2.4 Máy thu lưới vây
- Máy thu lưới vây có cấu tạo
đơn giản, dễ sử dụng, do máy đặt trên
boong lên ít ảnh hưởng đến ổn định
của tàu khai thác
Trang 292.1.5.3 Trụ cảo
- Trụ cảo có nhiệm vụ : khi kéo dây rút giềng gần hết và giềng lưới chụm lại thì lúc đó ta đưa dây rút giềng lên trên trụ cảo để kéo toàn bộ vòng khuyên lên tàu
Hình 2.5 Trụ cảo
2.1.5.4 Con lăn
Hình 2.6 Con lăn
- Con lăn có nhiệm vụ
là dẫn dây rút giềng trong
quá trình thu lưới, đồng thời
dùng để kéo neo tàu
Trang 302.1.6 Hệ thống trang bị vô tuyến điện
- Trang bị vô tuyến điện bao gồm các thiết bị như máy thu phát vô tuyến điện, bộ đàm, vô tuyến tầm phương
- Theo điều tra thực trạng thì trên tàu khai thác lưới vây thì trang bị hệ thống vô tuyến điện như sau
Bảng 2.1: Trang bị hệ thống vô tuyến điện trên tàu
Số tàu điều tra
1 cái 1 cái 1 cái
2 Máy thu phát VTĐ thoại
3 Máy bộ đàm VHF hai
chiều từ 15 W trở nên
4 Ra đi ô trực canh nghe
thông báo thời tiết 1 cái 1 cái 1 cái 1 cái
5 Máy thu trực canh tần số
6 Ra đa hàng hải (khuyến
khích trang bị)
2.1.6.1 Máy thu phát vô tuyến điện từ 100 W trở lên:
- Máy thông tin liên lạc dùng để liên lạc thông tin giưa các tàu với nhau, giữa tàu với đất liền Trên mỗi tàu thường được trang bị từ 1- 2 máy thông tin liên lạc, thông thường là một máy liên lạc tầm gần và 1 máy liên lạc tầm xa
- Máy được bố trí trong cabin tàu, máy được bố trí gần vô lăng để thuyền trưởng vừa điều khiển tàu vừa có thể sử dụng được máy liên lạc.Ăng ten của máy thường được bố trí trên nóc cabin và có dây chằng để cố định
Trang 31- Máy sử dụng nguồn 220 (v) được cung cấp từ hệ thống điện trên tàu thông qua ổn áp Máy cẩn được bảo quản cận thận để nước biển không thể vào máy và sau mỗi chuyến đi biển cần được bảo dưỡng cà cất máy cẩn thận
xa, có khả năng liên lạc
tới vài trăm hải lí,có khả
năng liên lạc được với
người nhà
Trang 322.1.6.3 Ra đi ô nghe thông báo thời tiết:
- Máy bộ đàm có thể nhận được thông tin từ đài tiếng nói Viêt Nam theo phương thức phát song AM và đài dự báo khí tượng dài ngày cho nghề biển: đài Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh
- Theo điều 4.2.1 “quy phạm phân cấp và đóng tàu cá cơ nhỏ” TCVN 7111:2000 thì định mức thiết bị VTĐ trang bị cho tàu cá cỡ nhỏ phải tuân thủ theo bảng sau:
4 Ra đi ô trực canh nghe thông
5 Máy thu trực canh tần số cấp
6 Ra đa hàng hải (khuyến khích
trang bị)
- Thực trạng điều tra khảo sát thì toàn bộ tàu lưới vây đều trang bị đầy
đủ hệ thống vô tuyến điện
2.1.7 Trang bị hàng hải
- Trang bị hàng hải bao gồm các dụng cụ như là bàn, ống nhòm, hải đồ,
đô sâu, ra đa hàng hải, định vị vệ tinh…
Trang 33- Theo điều tra thực trạng thì trên tàu khai thác lưới vây thì trang bị hàng hải như sau :
Bảng 2.3 Trang thiết bị hàng hải trên tàu
Số tàu điều tra
TT Tên thiết bị
NT90286 NT90532 NT90303 NT90620
1 La bàn từ lái
3 Máy thu định vị vệ tinh
4 Hải đồ vùng biển Việt
tay(dây đo,sào đo)
2.1.7.1 Máy đo sâu dò cá
- Máy đo sâu dò cá bằng phương pháp siêu âm là một trong những thiết
bị chuyên dùng được dùng trong các nghề khai thác thủy sản để dò tìm các đàn cá
- Đối với nghề lưới vây tỉnh Ninh Thuận máy đo sâu dò cá là thiết bị rất cần thiết và không thể thiếu trên các tàu khai thác, ngư dân thường trang bị các loại máy như : Furuno, koden do Nhật sản xuất và máy được bố trí trong cabin của tàu
Trang 34Hình 2.9: Máy đo sâu, dò cá
2.7.1.2 Máy thu định vị vệ tinh GPS
- Máy định vị FURUNO – GPS/WASS NAVIGATOR: Máy định vị có thể biết được vị trí tàu đang hoặt động, hướng đi của tàu có thể thay cho là bàn từ đồng thời có thể lưu lại thông tin về đường đi của tàu và thông thường thì mỗi tàu trang bị một máy thu định vị vệ tinh
Hình 2.10: Máy định vị vệ tinh GPS
- Khi chùm tia siêu âm phát ra từ
máy dò chạm vào đàn cá thì một phần
năng lượng bị phản xạ trở lại, một phần
bị cá hấp thu Sóng siêu âm phản xạ trở
lại sẽ được đầu dò của máy dò cá thu lại
và hiển thị trên màn hình, cho biết rõ vị
trí, độ lớn đàn cá
- Máy định vị GPS còn
có nhiều tính năng khác như:
cài đặt báo động điểm đến, cài
đặt báo động khi rê neo…
Trang 35Bảng 2.4: Trang thiết bị hàng hải theo quy phạm
Số lượng trang bị theo vùng hoặt động
TT Tên thiết bị
Hạn chế I Hạn chế II Hạn chế III
khích
5 Bản thủy triều vùng hoạt động 1 quyển 1 quyển nt
7 Dụng cụ đo sâu bằng tay (dây
- Từ kết quả điều tra thực tế thì trên tàu cá có trang bị một số trang thiết
bị hàng hải nhưng so với quy phạm thì đều chưa đủ so với quy phạm
2.1.8 Phương tiện tín hiệu
- Phương tiện tín hiệu bao gồm các dụng cụ như các loại cờ hiệu, các vật hiệu, pháo hiệu, đèn hiệu, vật phát khói…
- Theo điều 3.2.2 “quy phạm phân cấp và đóng tàu cá cơ nhỏ” TCVN 7111:2000 thì định mức trang bị tín hiệu trên tàu cá cỡ nhỏ phải thỏa mãn bảng sau:
Trang 36Bảng 2.5: Phương tiện tín hiệu theo quy phạm
Đỏ (trái)
Đèn cột trắng
Đèn lai trắng Trắng Đỏ Xanh
Hình nón đen
Cờ trắng
- Theo điều tra thực trạng thì trên tàu khai thác lưới vây thì trang bị tín
hiệu gồm có: 2 đèn mạn (1 đèn xanh và 1 đèn đỏ), 1 đèn cột trên mũi tàu (đèn
trắng) 1 đèn trên thượng tầng cabin tàu, cờ phục vụ đánh bắt, cờ quốc gia và
các đèn pha, đèn chiếu sáng phục vụ quá trình đánh bắt cá
Hình 2.11: Đèn mạn trái Hình 2.12: Đèn mạn phải
Trang 37Đèn cột trước mũi và đèn trên cabin
Hình 2.13: Đèn cột trước mũi Hình 2.14: Đèn trên cabin
- Như vậy trên tàu khai thác ngư dân trang bị đủ thiết bị phục vụ quá trình khai thác
2.1.9 Trang thiết bị cứu sinh
- Phương tiện cứu sinh bao gồm các dụng cụ như phao bè, phao tròn, phao áo,bè nổi…
Hình 2.15.áo phao cứu sinh Hình 2.16.Dụng cụ nổi
Trang 38Bảng 2.6:Trang bị cứu sinh cho đội tàu khảo sát
Trang bị Tàu Thuyền viên
Phao bè Phao tròn Phao áo Dụng cụ nổi
Bảng 2.7: Trang thiết bị cứu sinh theo quy phạm
Vùng hoặt động (sức chở tính theo % thuyền viên)
Có thể thay bằng dụng cụ nổi cứu sinh hoặc phao tròn, đủ 100%
Đủ cho 100% thuyển viên+ (Dụ trữ 10% hoặc 1 cái
Trang 39- Đối chiếu với quy phạm thì hầu hết các tàu ở Ninh Thuận đều không trang bị đủ thiết bị cứu sinh theo yêu cầu, trang bị sơ sài, có nhiều tàu áo phao còn cho vào trong hòm không trang bị ra ngoài để khi gặp nạn thì có thể nhanh chóng trang bị áo phao cho thuyền viên
2.1.10 Hệ thống neo
- Thiết bị neo là một tổ hợp kết cấu, cơ cấu dùng để neo tàu (cố định tàu)
1 Yêu cầu- Nhiệm vụ
- Đảm bảo độ tin cậy neo tàu trong mọi vị trí và trong mọi trường hợp khi gió, dòng chảy và sóng đồng thời tác dụng lên than tàu
- Thao tác nhanh khi thả và nhổ neo cũng như khi cố định neo vào tàu
2 Bố trí thiết bị neo
- Loại neo : Theo điều 6.2.5 của quy phạm phân cấp và đóng tàu biển
cá cỡ nhỏ TCVN 7111: 2002 thì các loại neo được bố trí trên tàu là như sau: Neo dạng Hall, neo hải quân, neo Matroxop
- Số lượng neo
- Trọng lượng neo
3 Lựa chọn thiết bị neo
- Việc lựa chọn thiết bị neo phụ thuộc vào số đặc trưng trang bị Ne
- Số đặc trưng trang bị Ne (m2) được xác định theo công thức theo điều 6.2.2 của quy phạm phân cấp và đóng tàu cá biển cỡ nhỏ TCVN 7111:2002
Ne = L(B+D) + k l h
- Theo điều tra thực trạng tình hình thiết bị neo của tàu khảo sát như sau:
Trang 40Bảng 2.8: Trang bị neo trên tàu
Tàu Đặc trưng
trang bị Ne
Số lượng neo (cái)
Trọng lượng neo (kg)
Chiều dài cáp (m) Vị trí neo
Hình 2.17: Neo hải quân
- Theo điều 6.2.7 của quy phạm phân cấp và đóng tàu cá biển cỡ nhỏ thì trang bị neo như sau:
- Trên các tàu lưới
vây tỉnh Ninh Thuận, neo
ngư dân chuyền dùng là neo
hải quân, cáp kéo neo là cáp
tổng hợp và kéo neo bằng
cách là đưa dây neo vào
tang ma sát đơn để kéo lưới
lên boong tàu